intTypePromotion=1
ADSENSE

Xây dựng đại học thông minh đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

11
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết tập trung làm rõ quan niệm cơ bản về Đại học thông minh, trong đó nhấn mạnh vai trò nổi bật của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đối với việc xây dựng Đại học thông minh. Bên cạnh đó, tác giả trình bày những nội dung về xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn mới; khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng trường Đại học thông minh nhằm mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật dưới tác động cuộc CMCN này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Xây dựng đại học thông minh đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0

  1. HUFLIT International Conference On Ensuring A High-Quality Human Resource In The Modern Age - Oct 16, 2020 doi: 10.15625/vap.2020.0075 XÂY DỰNG ĐẠI HỌC THÔNG MINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO CÁN BỘ KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 Nguyễn Trọng Luật Học viện Kỹ thuật Quân sự trongluat3288@gmail.com TÓM TẮT: Bài viết tập trung làm rõ quan niệm cơ bản về Đại học thông minh, trong đó nhấn mạnh vai trò nổi bật của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đối với việc xây dựng Đại học thông minh. Bên cạnh đó, tác giả trình bày những nội dung về xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn mới; khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng trường Đại học thông minh nhằm mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật dưới tác động cuộc CMCN này. Từ đó gợi mở một số định hướng trong việc xây dựng nhà trường thông minh tại các cơ sở đào tạo cán bộ kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cán bộ kỹ thuật, quân sự, Đại học thông minh. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực quân sự. Quá trình xây dựng quân đội, xây dựng tiềm lực quốc phòng nước ta nói chung, xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ nói riêng buộc phải có những điều chỉnh nhất định. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật quân sự, nhất là đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu tác chiến của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới. Việc xây dựng mô hình Đào tạo thông minh, trường Đại học thông minh, ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ của cuộc CMCN 4.0 trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự là yêu cầu cấp thiết để thực hiện nhiệm vụ này. II. QUAN NIỆM, ĐẶC TRƯNG CỦA ĐẠI HỌC THÔNG MINH A. Quá trình hình thành nhận thức về Đại học thông minh CMCN 4.0 có sự ảnh hưởng rất lớn tới giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Các trường đại học phải đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực (nhiều yêu cầu mới, thay đổi liên tục về kiến thức và kỹ năng). Giáo dục thông minh (SmE), Đại học thông minh (SmU), Đại học 4.0 là khái niệm phản ánh quá trình phát triển của giáo dục đại học nhằm đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu và triết lý giáo dục mới. Giáo dục đại học phát triển liên tục, luôn song hành với các cuộc CMCN và cũng được phân chia từ 1.0 - 4.0. Tuy nhiên, sự phân chia của giáo dục đại học không giống như cách phân chia của CMCN. Cách phân chia của CMCN thường dựa vào sự thay đổi của tư liệu lao động, phương thức sản xuất và phương thức giao tiếp. Đối với giáo dục đại học có một số cách phân chia như sau: Theo tiếp cận của công nghệ dạy học: Đại học 1.0, 2.0 liên quan đến mức độ ứng dụng công nghệ web tương ứng (web 1.0, web 2.0). Đại học 4.0 là đại học IoT hoặc CPS (hệ thống thực - ảo, Cyber Physical System). Phân chia theo giai đoạn lịch sử và theo các đặc trưng hoạt động: Trước năm 1980: Đại học 1.0 - Đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng; Giai đoạn 1980 -1990: Đại học 2.0 - Đào tạo nguồn nhân lực có tri thức; Giai đoạn 1990 - 2000: Đại học 3.0 - Vừa đào tạo vừa nghiên cứu sáng tạo ra tri thức mới; Từ 2000 đến nay: Đại học phát triển theo mô hình “Sáng tạo khởi nghiệp 4.0”. B. Quan niệm về Đại học thông minh Nền tảng của Đại học thông minh (Smart University - SmU) là triết lý Giáo dục thông minh (Smart Education - SmE). Smart không chỉ là thông minh, hơn thế nữa, S-M-A-R-T còn là từ viết tắt để diễn tả đặc trưng của Giáo dục thông minh, đó là: Self-directed (Tự định hướng); Motivated (Có động cơ); Adaptive (Khả năng tương thích); Resource enriched (Nguồn học liệu phong phú) và Technology embledded (Có áp dụng công nghệ). Theo đó, sự dịch chuyển của giáo dục truyền thống sang SmE sẽ được hình dung như sau:
  2. 154 XÂY DỰNG ĐẠI HỌC THÔNG MINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO CÁN BỘ KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG ĐIỀU KIỆN CMCN 4.0 (3) Có khả năng tương thích (Adaptive) - Xây dựng giáo trình điện tử - Sử dụnng giáo trình điện tử - Tạo điều kiện phát triển giáo dục - Khuyến khích học, đánh giá trực tuyến cộng đồng (2) (4) Có động cơ Nguồn học liệu (Motivated) phong phú (Resourse Enriched) Giáo dục truyền thống (Traditional Education) - Trường học dựa trên công nghệ điện toán đám mây - Điện toán đám mây - Thể chế hóa lớp học trực tuyến - Lớp học trực tuyến (1) (5) Tự định hướng Ứng dụng (Self-Directed) công nghệ (Technology Embedded) Hình 1: Mô hình mô tả sự dịch chuyển từ giáo dục truyền thống sang SmE [1] Đại học thông minh (SmU) là một khái niệm bao hàm sự hiện đại hóa một cách toàn diện các quá trình giáo dục đào tạo (Education Process). SmU có khả năng tạo ra một trường đại học mới nơi được trang bị hệ thống Công nghệ thông tin & Truyền thông (Informatiom Communication Technology - ICT) và các khoa/viện/chuyên ngành đào tạo thông minh hướng đến mục tiêu đạt tiêu chuẩn, chất lượng cao trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động giáo dục khác trong trường đại học. Khái niệm “Smart – Thông minh” trong giáo dục yêu cầu sự có mặt của nhiều công nghệ mới (Phòng học thông minh, Thư viện thông minh, Kết nối Internet không dây mọi lúc, mọi nơi…). Tác giả Cocoli và các cộng sự cho rằng “Nền giáo dục trong một môi trường thông minh, được hỗ trợ bởi công nghệ thông minh và sử dụng hiệu quả các công cụ, thiết bị thông minh” [1]. Trên quan điểm này, các nhà nghiên cứu cho rằng, các công nghệ mới như: Công nghệ điện toán đám mây (Clouds), điện toán lưới (Grid Computing), dịch vụ mạng thế hệ mới (Next Generation Network), các thiết bị di động… đã được ứng dụng rộng rãi tại nhiều trường đại học trên thế giới. Bên cạnh đó, SmU còn bao gồm: Khuôn viên Đại học thông minh (Sm_Camp), Phòng học thông minh (Sm_Class), Giáo viên thông minh (Sm_Teacher), và Cộng đồng học tập thông minh (Sm_Communities). C. Đặc trưng của Đại học thông minh Thứ nhất, Đại học thông minh đóng vai trò là trung tâm đổi mới, sáng tạo. Đây là xu thế tất yếu, là nơi hiện thực hóa các ý tưởng, các triết lý của giáo dục thông minh. Trong cuộc CMCN 4.0, Đại học thông minh tạo điều kiện cho người học có nhiều cơ hội để học hỏi ở nhiều thời điểm khác nhau, ở những nơi khác nhau. Các công cụ học trực tuyến tạo điều kiện cho việc học tập từ xa, tự học. Môi trường lớp học sẽ được giảm tải, phần học lý thuyết sẽ được tiếp cận ngoài khuôn khổ lớp học trong khi phần thực hành là những hoạt động trực quan, tương tác giữa người dạy và người học. Điều này có nghĩa, người học có thể cá nhân hóa và chủ động trong việc quyết định nội dung, phương pháp học tập cho phù hợp với nhu cầu của bản thân. Đây là sự thay đổi tư duy cũng như cách tiếp cận đối với mô hình Đại học thông minh: Trường đại học không chỉ là nơi đào tạo, nghiên cứu mà còn là trung tâm đổi mới sáng tạo, giải quyết các vấn đề thực tiễn, mang lại giá trị thiết thực cho xã hội. Kết quả là một nền tảng cho triết lý hệ sinh thái giáo dục phục vụ việc học suốt đời được hình thành.
  3. Nguyễn Trọng Luật 155 Thứ hai, Đại học thông minh trang bị cho người học nền tảng kiến thức mang tính liên ngành. CMCN 4.0 với đặc trưng rõ nét là sự liên ngành chặt chẽ giữa các lĩnh vực đòi hỏi người lao động, với tư cách là sản phẩm của quá trình giáo dục phải có được “tính liên môn” và “tính xuyên suốt các môn học”. Điều này khiến cho hàng loạt môn học, ngành học đơn thuần trở nên lỗi thời, do đó, trong quá trình học tập tại Đại học thông minh người học cần thấy được cấu trúc tổng quát của lĩnh vực để chủ động lựa chọn kiến thức cần thiết cho nhu cầu của mình. Trong quá trình học tập, nhất là tự học, cần trang bị công cụ để mỗi sinh viên có thể tự đánh giá kiến thức của mình thông qua việc giải quyết các bài tập, các ngân hàng câu hỏi cũng như tiếp cận những tình huống đặt ra trong thực tiễn. Đây đều phải là những vấn đề mang tính tổng hợp, vận dụng kiến thức ở nhiều lĩnh vực để đưa ra phương án tối ưu. Để làm được điều này, chương trình đào tạo của Đại học thông minh phải linh hoạt, nội dung phù hợp với nhu cầu và xu thế thị trường lao động trong điều kiện CMCN 4.0. Đó là hệ thống vừa đáp ứng tính định hướng xã hội, vừa phải cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Chương trình đào tạo vừa phải thỏa mãn tính chuyên môn cao trong lĩnh vực nhất định, vừa phải đáp ứng tính liên ngành. Cụ thể, các năng lực và trình độ mà Đại học thông minh cần trang bị cho người học có thể chia thành 3 nhóm: (i) các kiến thức và kỹ năng liên quan đến nhận thức, tư duy hệ thống, tư duy phản biện, kỹ năng thích nghi, kỹ năng sáng tạo; (ii) kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng số, kỹ năng kết nối; (iii) kỹ năng về xã hội như giao tiếp, ứng xử, tạo lập mối quan hệ, làm việc nhóm. Đây là tiêu chí buộc phải trang bị trong chương trình đào tạo của Đại học thông minh thế hệ mới. Thứ ba, Đại học thông minh định hình lại quá trình học tập cũng như những cơ sở cấu thành nên một hệ sinh thái mới của quá trình học tập thông minh. Thực tiễn xã hội cũng như nền sản xuất trong điều kiện CMCN 4.0 đưa tới yêu cầu mới trong việc định hình lại khái niệm “Học” (learning), “Học từ xa” hay “Học trực tuyến” (E-learning) không còn là đặc trưng của mô hình giáo dục thông minh nữa, thay vào đó, “Học suốt đời” (Long live WE-learning) đang dần khẳng định vị trí của mình. Ở một khía cạnh khác, SmU định hình lại mối quan hệ giữa người dạy và người học. Khả năng gần như vô tận của Internet đã khiến quá trình đào tạo từ “giảng dạy” (teaching) sang “huấn luyện” (Coaching). Ở đó, người dạy đóng vai trò định hướng nền tảng trong quá trình tự tiếp thu kiến thức của người học. Điều này thúc đẩy đội ngũ giáo viên phải thâm nhập vào thực tiễn để có thể nhận định chính xác các vấn đề, hướng dẫn người học giải quyết các trường hợp cụ thể trong đời sống dựa trên nền tảng kiến thức đã được trang bị; góp phần tăng tính ứng dụng, hữu dụng của khối lượng tri thức trong việc đáp ứng những yêu cầu của nền sản xuất mang đặc trưng của CMCN 4.0. Từ đây xuất hiện quan niệm về Giảng dạy thích ứng, theo Borich là “… áp dụng các chiến lược giảng dạy khác nhau cho các nhóm người học khác nhau để sự đa dạng tự nhiên trong lớp không cản trở bất kỳ người học nào đạt được sự thành công…” [2]. Với những đặc trưng trên, trường Đại học thông minh là biểu hiện rõ ràng nhất của giáo dục thông minh đáp ứng yêu cầu của CMCN 4.0, thông qua việc ứng dụng những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng này. CMCN 4.0 vừa là động lực, vừa là môi trường để xây dựng đại học thông minh. Điều này càng trở nên có ý nghĩa hơn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự; trang bị cho đội ngũ này những phẩm chất cần thiết đáp ứng những yêu cầu mới của công tác kỹ thuật quân sự hiện đại trong điều kiện CMCN 4.0. III. ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG ĐẠI HỌC THÔNG MINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO CÁN BỘ KỸ THUẬT QUÂN SỰ HIỆN NAY A. Thực tiễn xây dựng Đại học thông minh đào tạo cán bộ kỹ thuật trong quân đội và những vấn đề đặt ra Cán bộ kỹ thuật quân sự là một bộ phận cán bộ của Đảng, Nhà nước và Quân đội, được lựa chọn, đào tạo, bồi dường, rèn luyện, giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các mặt hoạt động khác nhau của công tác kỹ thuật. Đội ngũ này là tổng hòa các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu của những cán bộ, nhân viên kỹ thuật ở các lĩnh vực khác nhau thuộc các đơn vị khoa học công nghệ trong quân đội. Đây là lực lượng có tiềm năng sáng tạo lớn, tích cực tiếp thu, chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật quân sự nước ngoài vào xây dựng nền khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam hiện đại. Mặt khác, họ đang cùng với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quốc gia đẩy mạnh việc nghiên cứu, sáng chế, phát triển khoa học kỹ thuật dân dụng, dân sinh, gắn kết khoa học và công nghệ quốc phòng với sự phát triển kinh tế của đất nước. Để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong điều kiện CMCN 4.0, đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự phải được xây dựng vững mạnh, có lập trường tư tưởng vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn giỏi; tư duy độc lập, sáng tạo; có trình độ tiếp thu những tiến bộ của ngành Kỹ thuật quân sự, ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn… Đáp ứng yêu cầu này, cần tạo lập những kỹ năng, phẩm chất cho đội ngũ này ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng tại các học viện, nhà trường kỹ thuật của quân đội. Do đó, xây dựng trường Đại học thông minh nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự đáp ứng yêu cầu của CMCN 4.0 là vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết trong xây dựng quân đội trong tình hình mới. Nhận thức được điều này, thời gian qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục, đào tạo trong điều kiện CMCN 4.0. Bộ Quốc phòng đã ban hành Quyết định 889/QĐ-BQP, ngày 22-3-2018 phê duyệt “Kế hoạch hành động của hệ thống nhà trường Quân đội trước tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư giai đoạn 2018 - 2020 và những năm tiếp theo”; đồng thời, chỉ đạo, giao nhiệm vụ cho các học viện, nhà trường Quân đội xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, triển khai thực hiện. Nổi
  4. 156 XÂY DỰNG ĐẠI HỌC THÔNG MINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO CÁN BỘ KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG ĐIỀU KIỆN CMCN 4.0 bật trong đó là nội dung ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng nhà trường theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong Quân đội nhân dân Việt Nam được tiến hành tại một số học viện, nhà trường quân đội như: Học viện Kỹ thuật Quân sự, Học viện Hải quân, Học viện Phòng không - Không quân, Trường Đại học Trần Đại Nghĩa, các Trường Sĩ quan (Phòng hóa, Thông tin liên lạc, Tăng - Thiết giáp…), trong đó Học viện Kỹ thuật Quân sự là cơ sở đào tạo hàng đầu, là trường đại học trọng điểm quốc gia và cũng là cơ sở đào tạo tiên phong trong kế hoạch xây dựng Đại học thông minh toàn quân. Nhìn chung, để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng dựng quân đội và bảo vệ tổ quốc trong điều kiện CMCN 4.0, các nhà trường, học viện kỹ thuật trong toàn quân đã chú trọng đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm; Xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu có chất lượng cao; đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất… tạo chuyển biến tích cực về chất lượng đào tạo; Từng bước hội nhập với các cơ sở đào tạo đại học trên thế giới; Đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với chất lượng và trình độ cao phù hợp khung trình độ quốc gia, quốc tế. Tuy nhiên, các đơn vị này về cơ bản còn nhiều nội dung chưa đáp ứng, theo kịp xu hướng phát triển. Phần lớn chương trình, nội dung đào tạo chưa có định hướng tổng thể đáp ứng CMCN 4.0; Nhân lực nghiên cứu, giảng dạy ở một số lĩnh vực mới đặc trưng cho những thành tựu của CMCN 4.0 còn thiếu; Trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin chưa đồng đều; Tổ chức học trực tuyến còn hạn chế; Cơ sở vật chất thiếu liên thông, chưa đồng bộ… Đặc biệt nhất là vẫn chưa xây dựng đồng bộ những thành tố tạo nên Đại học thông minh. B. Những định hướng cơ bản Cuộc CMCN 4.0 đã và đang ảnh hưởng, tác động lớn đến quá trình xây dựng Đại học thông minh với yêu cầu rất cao về nội dung, chương trình đào tạo, nghiên cứu và mô hình quản trị đại học. Để triển khai ứng dụng thành quả của CMCN 4.0 trong đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự theo mô hình Đại học thông minh, cần tập trung xây dựng những yếu tố cấu thành quan trọng nhất, bao gồm: Thứ nhất, ứng dụng Sư phạm thông minh, Giảng dạy thông minh. Trước sự ảnh hưởng mạnh mẽ của CMCN 4.0, trường Đại học thông minh đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự không thể không áp dụng Sư phạm thông minh, Giảng dạy thông minh nhằm tạo ra các “sản phẩm giáo dục” đáp ứng yêu cầu mới. Đây là những nội dung liên quan trực tiếp đến yếu tố “con người”, đóng vai trò quyết định đến sự phát triển cũng như nâng cao vị thế của trường đại học. Thực tế cho thấy, dù cơ sở vật chất, trang thiết bị có hiện đại đến đâu mà con người không có đủ khả năng, động lực để làm chủ và sáng tạo thì không thể phát huy được ưu điểm mà công nghệ mang lại. Hơn thế nữa, với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của CMCN 4.0, sản phẩm giáo dục, cụ thể ở đây là người cán bộ kỹ thuật quân sự phải đáp ứng không chỉ kiến thức chuyên môn mà cần nhiều kỹ năng, năng lực mới như: Tư duy phản biện, khả năng tự giải quyết vấn đề, hợp tác, cộng tác... Để triển khai có hiệu quả Sư phạm thông minh, Giảng dạy thông minh nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Quân đội, Đại học thông minh có thể triển khai thí điểm trên một số học phần, bài giảng cụ thể của học phần có nội dung kiến thức chung, không bí mật quân sự. Quá trình triển khai nên quan tâm đến các yếu tố chính như: Nguồn nhân lực; Chương trình đào tạo; Nguồn học liệu, tài nguyên thông tin; Cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ; Quy chế, quy định; Đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Thứ hai, xây dựng, phát triển Thư viện thông minh, Trung tâm học liệu. Để có được Thư viện thông minh đúng nghĩa, phục vụ chính xác cho mục tiêu đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới cần tập trung vào việc xây dựng và phát triển kho tài nguyên số trên cơ sở tham gia thực chất, có hiệu quả mô hình “Thư viện số dùng chung” của Bộ Quốc phòng. Việc lựa chọn tài liệu số hóa cần tập trung vào các tri thức nền tảng cơ bản cũng như cập nhật liên tục những thành tựu của công nghệ kỹ thuật quân sự trên thế giới, đặc biệt là các tài liệu quý hiếm, đặc thù; Xây dựng hệ thống phần mềm quản trị thư viện hiện đại đảm bảo chức năng quản trị, lưu trữ và phân phối thông tin đến từng người học, nên đầu tư cho hệ thống phần mềm quản trị thư viện theo tiêu chuẩn quốc tế với đầy đủ các phân hệ, ưu tiên phân hệ quản lý kho số, trong đó áp dụng giải pháp Quản lý bản quyền số (DRM) cho kho tài nguyên số. Đối với tính đặc thù của môi trường Quân đội, có thể cân nhắc việc đầu tư hai hệ thống phần mềm quản trị thư viện và cơ sở dữ liệu tương ứng (trên các máy chủ khác nhau), tách biệt về mặt vật lý cho mạng máy tính quân sự và mạng internet nhằm đảm bảo tốt các quy định về an toàn thông tin, bảo mật thông tin quân sự nhưng vẫn phát huy hết những lợi thế mà CMCN 4.0 mang lại cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, chú ý đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, không gian kích thích sáng tạo. Quan trọng nhất là nâng cao trình độ của cán bộ thư viện, xem như là giải pháp cần đặt lên hàng đầu. Cán bộ thư viện cần hiểu sâu sắc về sự phát triển của ngành trong thời đại CMCN 4.0, về những thời cơ và thách thức để có thể thực sự làm chủ kho tài nguyên số. Cần quan tâm đào tạo, nâng cao kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, công nghệ thông tin của cán bộ thư viện bằng nhiều hình thức phù hợp (tập huấn, cử cán bộ đi đào tạo, đào tạo lại). Với đặc thù của Quân đội, nên tăng cường việc thăm quan, giao lưu học hỏi kinh nghiệm với các thư viện, trung tâm học liệu hiện đại ngoài Quân đội.
  5. Nguyễn Trọng Luật 157 Thứ ba, xây dựng các Phòng học thông minh. Cần áp dụng các giải pháp cho Phòng học thế hệ mới dựa trên cơ sở lựa chọn được các trang thiết bị, phần mềm đảm bảo yếu tố an toàn thông tin, an ninh mạng. Phòng học thông minh cần được thiết kế để có thể đáp ứng nhiều chức năng, mục đích sử dụng khác nhau, nhằm tăng hiệu suất sử dụng. Theo Marian Cata, “Mỗi phòng học đều được cài đặt thông tin chuẩn tùy theo chức năng, theo mùa, theo thời gian biểu… và có khả năng kết nối thiết bị với các phòng học khác trong khuôn viên thông minh” [3]. Căn cứ vào mục đích sử dụng, đặc điểm của các khối kiến thức trong chương trình đào tạo có thể chia Phòng học thông minh phục vụ đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự thành 4 nhóm: Phòng học thông minh dành cho các học phần không bí mật quân sự (khối kiến thức giáo dục đại cương, một số học phần thuộc khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp). Phòng học thông minh thuộc nhóm này có thể được xây dựng để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu triển khai các khóa học e-Leaming, với các trang bị thiết yếu như máy tính có kết nối mạng và cho phép người học sử dụng các thiết bị di động thông minh cá nhân. Việc trao đối thông tin giữa người dạy và người học có thể tiến hành ở ngoài phạm vi phòng học vật lý (học tập từ xa) qua môi trường mạng. Việc cung cấp thông tin, tư liệu học tập cũng có thể hoàn toàn trực tuyến. Phòng thí nghiệm, thực hành thông minh, đây là các Phòng học thông minh được thiết kế đặc biệt dành cho mục đích thí nghiệm, thực hành. Ngoài các trang bị thiết yếu như Phòng học thông minh cơ bản, các phòng này còn có thêm các trang bị phục vụ riêng cho nội dung thí nghiệm, thực hành theo từng chuyên ngành. Phòng học thông minh dành cho các học phần có yếu tố quân sự, dành cho các học phần có tính chất quân sự với yêu cầu đảm bảo bí mật quân sự, an toàn thông tin được đặt lên hàng đầu. Do vậy, các Phòng học thông minh thuộc nhóm này không được sử dụng mạng internet. Các thiết bị, máy tính dành cho người dạy và người học sẽ được lắp đặt cố định và kết nối với mạng truyền số liệu quân sự. Tư liệu học tập sẽ được cung cấp từ Trung tâm học liệu, thư viện thông minh với một hệ thống máy chủ, cơ sở dữ liệu độc lập, không kết nối internet. Việc đào tạo trực tuyến, từ xa chỉ giới hạn bởi các máy tính được lắp đặt tại các vị trí quy định trong mạng truyền số liệu quân sự. Phòng huấn luyện, diễn tập quân sự chuyên ngành thông minh, đây là các phòng huấn luyện thông minh đặc thù theo từng chuyên ngành quân sự (được thiết kế theo một ý tưởng từ trước), với yêu cầu đảm bảo bí mật quân sự, an toàn thông tin được đặt lên hàng đầu, không được sử dụng mạng internet. Phòng học này sử dụng hệ thống máy tính kết hợp với mô hình phần cứng, các công nghệ mô phỏng, thực tại ảo... nhằm tái hiện lại nội dung huấn luyện trên thực địa - thực tế phục vụ việc huấn luyện, đào tạo các nội dung thực hành (Huấn luyện sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật, vận hành các loại phương tiện quân sự, cứu hộ-cứu nạn...) hoặc diễn tập các cấp.... Thứ tư, xây dựng, tích hợp Khuôn viên thông minh Theo Kwok định nghĩa thì Khuôn viên thông minh (i-Campus) “là mô hình tư duy mới liên quan tới một khuôn viên thông minh toàn diện, trong đó có một số yếu tố cốt lõi phải được thông minh hóa” [4]. Để xây dựng Khuôn viên thông minh, cần khảo sát, đánh giá thực trạng về cơ sở vật chất, xác định mục tiêu phát triển của nhà trường. Từ đó, tận dụng tối đa những nguồn lực đã có để tái sử dụng hoặc nâng cấp nhằm tiết kiệm chi phí. Trong quá trình xây dựng Khuôn viên thông minh, dù là nâng cấp hay đầu tư mới, cơ sở vật chất phải luôn đảm bảo khả năng “tương tác” của các thành phần khi đi vào hoạt động. Bản chất của quá trình “thông minh hóa” đó là việc kết nối, tương tác và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống, thành phần trong một nhà trường. Chính quá trình này sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, điều hành cũng như mang lại nhiều tiện ích để thúc đẩy quá trình dạy và học đạt chất lượng cao hơn. Thứ năm, đào tạo trực tuyến, từ xa trên mạng truyền số liệu quân sự Với đặc thù của môi trường quân sự, việc triển khai e-Learning theo đúng nghĩa sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, trường Đại học thông minh đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự có thể triển khai hình thức đào tạo gần “tương tự” như e- Learning, đó là “Đào tạo trực tuyến, từ xa trên mạng truyền số liệu quân sự”. Các nhà trường cần chuẩn bị được kho dữ liệu, học liệu số; đảm bảo tốt về hạ tầng công nghệ thông tin cho mạng máy tính quân sự; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của hình thức đào tạo mới này, như là: Nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, mạng truyền số liệu quân sự; Xây dựng kho dữ liệu, học liệu số; Xây dựng và tăng cường sử dụng các tài nguyên, học liệu dùng chung giữa các nhà trường Quân đội… Ngoài ra, để đa dạng hóa các hình thức đào tạo theo xu thế của CMCN 4.0, trường Đại học thông minh quân đội có thể nghiên cứu, triển khai “e-Learning đầy đủ” đối với một số chuyên ngành, một số khối kiến thức, một số học phần, một số bài giảng cụ thể... không bí mật quân sự. Các khối kiến thức này hoàn toàn có thể triển khai “e-Learning đầy đủ” trên mạng internet. Có thể sửa đổi hoặc ban hành mới các quy định về sử dụng thiết bị di động thông minh cá nhân cho phù họp với hình thức đào tạo mới này. Thứ sáu, xây dựng, phát triển các phần mềm, ứng dụng công nghệ thông tin Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số: 4475/QĐ-BQP ngày 18/10/2018 về việc ban hành Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Bộ Quốc phòng (Phiên bản 1.0), và Quyết định số: 1676/QĐ-BQP ngày 27/4/2019 về việc ban hành Kế hoạch xây dựng Chính phủ điện tử trong Bộ Quốc phòng giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến năm 2025. Theo đó, để thực hiện Chính phủ điện tử trong hệ thống các nhà trường Quân đội, tăng cường cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu
  6. 158 XÂY DỰNG ĐẠI HỌC THÔNG MINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO CÁN BỘ KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRONG ĐIỀU KIỆN CMCN 4.0 quả công tác điều hành nhà trường thì việc ứng dụng công nghệ thông tin là yêu cầu cấp thiết, bắt buộc. Để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống nhà trường Quân đội nói chung, cũng như Đại học thông minh đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự nói riêng, cần quan tâm thực hiện một số công việc sau: Một là, chuẩn hóa và ban hành thống nhất các quy trình trong công tác quản lý giáo dục - đào tạo tại các học viện, nhà trường; chuẩn hóa cấu trúc và nội dung thông tin (danh mục thông tin, dữ liệu dùng chung ngành nhà trường...); Hai là, xây dựng và đưa vào sử dụng các cơ sở dữ liệu dùng chung về công tác quản lý, đào tạo trong hệ thống nhà trường Quân đội bảo đảm thống nhất, hiệu quả và an toàn; Ba là, việc xây dựng, phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin cần theo phương châm đầu tư tập trung, tránh dàn trải. Thứ bảy, xây dựng, phát triển cổng thông tin điện tử Trong đặc thù của Đại học thông minh, người học tiếp cận với các dịch vụ của nhà trường thông qua cổng thông tin điện tử; ngược lại, nhà quản lý cũng như hệ thống các khoa, viện, trung tâm cũng sử dụng cổng thông tin điện tử như là cầu nối đáp ứng yêu cầu của người học. Khái niệm Portal là website được thiết kế để trở thành trung tâm tích hợp thông tin, ứng dụng trực tuyến và dịch vụ mạng. Với Portal, người sử dụng có thể khai thác thông tin từ nhiều nguồn tài nguyên khác nhau, sử dụng nhiều dịch vụ của các hệ thống phần mềm khác nhau một cách tập trung, thống nhất bằng một lần đăng nhập duy nhất. Thông qua cổng Thông tin điện tử, người quản trị Đại học thông minh chỉ cần quản lý, theo dõi tất cả các thông tin điều hành tại một nơi duy nhất. Cổng Thông tin điện tử còn có khả năng tương tác nhiều chiều giúp người sử dụng không chỉ khai thác được thông tin mà còn có thể đưa ra những yêu cầu để được phục vụ và thực hiện một số dịch vụ hành chính qua mạng. Điều này đảm bảo cho người học tiếp cận kịp thời, cũng như sử dụng thành thạo công cụ này trong quá trình học tập, trở thành tiền đề giúp cho cán bộ kỹ thuật quân sự tương lai thành thục trong quá trình công tác về sau, bởi Cổng thông tin điện tử tích hợp cũng áp dụng những công nghệ mới nhất của CMCN 4.0 trong quá trình xây dựng. Thứ tám, xây dựng tạp chí khoa học đạt tiêu chuẩn quốc tế Trong thời đại CMCN 4.0, trở thành tạp chí trực tuyến (có chỉ số Online ISSN) là xu thế chung đối với mọi tạp chí khoa học và cũng là bước đi đầu tiên trên con đường phát triển để đạt tiêu chuẩn quốc tế (có trong cơ sở dữ liệu của Scopus, ISI). Đối với trường Đại học thông minh đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự, có thể cân nhắc các khuyến nghị sau trong quá trình xây dựng, phát triển tạp chí khoa học: Khuyến khích các nhà khoa học có năng lực nghiên cứu khoa học tốt công bố kết quả nghiên cứu của mình trên các tạp chí của nhà tường. Đây là một giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng, đồng thời nâng cao sự nhận diện (Visibility) của các tạp chí. Thông thường, những nhà khoa học này đã có những công bố chất lượng tốt trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín, và họ đã tự “xác lập” được “chuẩn mực” cao đối với các công bố khoa học của mình. Những bài báo của các tác giả này khi đăng trên tạp chí của Đại học thông minh có thể sẽ được trích dẫn nhiều hơn từ các nhà khoa học trong nước và quốc tế. Các tạp chí nên có một số bài tổng quan (Review) của các nhà khoa học có thành tích nghiên cứu khoa học tốt (các “Big Name”): Đây là chính sách rất hiệu quả, đã được các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín áp dụng từ lâu. Đảm bảo tính khách quan trong quá trình phản biện bài báo: Nên tăng tỷ lệ người phản biện là các nhà khoa học có uy tín từ các cơ sở đào tạo/cơ sở nghiên cứu khác trong nước, các nhà khoa học Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài, số lượng người phản biện nên ít nhất là 2 người đối với mỗi bài báo. Việc xây dựng và cập nhật danh sách cộng tác viên, phản biện theo các chuyên ngành hẹp là hết sức quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng của tạp chí. Đa dạng hóa thành phần Hội đồng biên tập, Ban biên tập: Một số tạp chí ở bên ngoài Quân đội đã thực hiện khá tốt việc này (Hội đồng biên tập/Editorial Board có một tỷ lệ đáng kể các nhà khoa học Việt Nam có uy tín, làm việc tại nhiều cơ sở đào tạo/cơ sở nghiên cứu khác nhau cả trong nước và nước ngoài và các nhà khoa học quốc tế). Điều này góp phần tăng tính khách quan và nâng cao chất lượng của tạp chí. Ngoài ra, đây cũng là một tiêu chí được các cơ sở dữ liệu trong khu vực ASEAN và trên thế giới ưu tiên, cân nhắc khi lựa chọn một tạp chí khoa học vào hệ thống của họ. Trực tuyến hóa: Giải pháp này sẽ giúp các tạp chí tăng độ nhận diện một cách hiệu quả. Hình thức truyền thống (dạng bản in) của các tạp chí đã không còn phù hợp trong thời đại công nghệ thông tin, kỷ nguyên số hóa như hiện nay. Tất cả các tạp chí thuộc danh mục ISI và Scopus hiện nay đều có phiên bản trực tuyến (Online ISSN). Đây là cách hữu hiệu để các bài báo của mỗi tạp chí có thể được truy cập nhanh chóng “mọi lúc - mọi nơi” và công việc nghiệp vụ của tạp chí (nhận bài, phản biện, phát hành...) được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả. Với các tạp chí của các nhà trường Quân đội mới chỉ có phiên bản in (Print ISSN), cần có lộ trình thích hợp để số hóa và trực tuyến hóa. Sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ công bố: tạp chí của Đại học thông minh nên thành lập một bộ phận chuyên trách để chuyển ngữ các bài báo gốc tiếng Việt sang tiếng Anh. Sau một thời gian phù hợp, cần đặt ra yêu cầu bắt buộc lả chỉ nhận, xuất bản các bài báo bằng tiếng Anh. Hiện nay, một số tạp chí ở bên ngoài Quân đội đã thực hiện được điều này. Có định dạng (Format) tạp chí phù hợp với chuẩn mực quốc tế: Đây là một yếu tố tuy mang tính hình thức nhưng cũng khá quan trọng khi muốn nâng cao chất lượng tạp chí. Đồng thời, đây cũng là một tiêu chí được cân nhắc khi lựa chọn một tạp chí nào đó vào cơ sở dữ liệu khu vực ASEAN (Asean Citation Index- ACI) và các cơ sở dữ liệu uy tín trên thế giới (Scopus, ISI). Mỗi tạp chí cần có quy định cụ thể về cấu trúc bài báo; cách trích dẫn tài liệu tham khảo
  7. Nguyễn Trọng Luật 159 (References); cách trình bày hình vẽ, bảng số liệu minh họa, sử dụng đơn vị đo... phù hợp với thông lệ của tạp chí khoa học quốc tế. Cần nâng cao nhận thức về chống đạo văn: Đạo văn là hiện tượng nhức nhối hiện nay. Chính vì vậy, các tạp chí cần phải đặc biệt quan tâm tới vấn đề này và cương quyết chống đạo văn dưới mọi hình thức. Có như vậy, tạp chí khoa học của nhà trường mới có thể nâng tầm và hướng tới tiêu chuẩn quốc tế. IV. KẾT LUẬN Xây dựng Đại học thông minh trong đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự là xu thế tất yếu nhằm trang bị cho đội ngũ này những năng lực, phẩm chất đáp ứng được những yêu cầu của chiến tranh hiện đại trong điều kiện CMCN 4.0. Với việc ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng này vào mọi yếu tố cấu thành của Đại học thông minh, CMCN 4.0 vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật quân sự; trong đó cần tập trung vào nhóm các nội dung về Xây dựng chương trình, Khuôn viên thông minh, Đào tạo trực tuyến… Nhưng trên hết cần đảm bảo định hướng Sư phạm thông minh, Giảng dạy thông minh được thấm nhuần vào mọi cá nhân, thành tố của quá trình này, bởi đây là nội dung liên quan trực tiếp tới nhân tố con người, chủ thể quyết định tới việc đảm bảo ứng dụng có hiệu quả thành tựu của khoa học - công nghệ của CMCN 4.0. V. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Vladimir L. Uskov, Jeffer P. Bakken, Robert J. Howlett and Lakhmi C. Jain (2018), Smart University: A new concept and technologies, Switzerland: Spinger. [2] S. N. Ikwumelu, Ogene A. Oyibe and E. C. Oketa (2015) Adaptive teaching: An Invaluable Pedagogic Practice in Social Studies Education, Journal of Education and Practice, Vol.6, No.33. [3] Marian Cata (2015). The Smart University, a new Concept in the Internet of Things. International Conference - Networking in Education and Research, IEEE, 2015. [4] Kwok, L.F (2015), A vision for the Development of i-Campus, Smart Learning Environments, https://link.springer.com/article/10.1186/s40561-015-0009-8 (Acceesed date: 28/5/2020). BUILD A SMART UNIVERSITY TO MEET THE REQUIREMENTS OF TRAINING MILITARY TECHNICIANS IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0 Nguyen Trong Luat ABSTRACT: The paper focused on clarifying the basic concept of Smart University, which emphasized the remarkable role of the Fourth Industrial Revolution (Industrial Revolution 4.0) in building Smart University. Besides, the author presented the contents of building a technical staff in the Vietnam People's Army in the new period; confirmed the indispensability of building a smart university with the aim of training technical staff under the impact of Industrial Revolution 4.0. From that point, it is suggested that some orientations in building smart schools at the organizations of training technicians in the Vietnam People's Army today.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2