BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

BÙI HỒNG ĐIỆP

XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

BÙI HỒNG ĐIỆP

XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành : Quản lý công nghiệp Mã số : 62340414

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1. PGS. TS. Nghiêm Sĩ Thương 2. GS. TS. Trần Chí Thành

HÀ NỘI - 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng. Các kết quả

của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào. Nếu có sai

sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.

NGHIÊN CỨU SINH

Bùi Hồng Điệp

i

LỜI CẢM ƠN

Luận án là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của tác giả trong một thời gian dài, bằng nỗ lực của bản thân, sự hướng dẫn nhiệt tình chu đáo của PGS.TS Nghiêm Sĩ Thương, GS.TS Trần Chí Thành và đóng góp của quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp.

Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nghiêm Sĩ Thương và GS.TS Trần Chí Thành đã hướng dẫn, định hướng, ủng hộ và động viên tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu.

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới quý thầy cô giáo, những người đã đem lại cho tác giả những kiến thức bổ trợ, tạo nền tảng lý luận cần thiết để nghiên cứu đề tài này. Đặc biệt là sự đóng góp và giúp đỡ tận tình của quý thầy cô Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo sau đại học trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, trường Đại học Xây dựng, Học Viện Ngân hàng,Viện Hàn lâm Khoa học-Xã Hội Việt Nam..

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Học viện Tài chính, Viện Kế toán-Kiểm toán và Tài chính Doanh nghiệp,Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, Ban Kinh tế Trung ương, Tổng Cục Thuế, Cục Thống kê TP.HCM, Cục Thuế TP.HCM, Cục Thuế Tỉnh Đồng Nai, Cục Thuế Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ để tác giả hoàn thiện luận án.

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn

ủng hộ, động viên và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành công trình này.

Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2015

TÁC GIẢ

Bùi Hồng Điệp

ii

Trang

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục bảng biểu, hình vẽ, biều đồ, đồ thị, sơ đồ vii

Lời mở đầu x

1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 6

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 10

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 13

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

1.5 Phương pháp nghiên cứu 14

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 15

1.7 Tên và kết cấu của luận án 15

Kết luận chương 1 16

17 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ TÀI SẢN

2.1 Tài sản và phân lọai tài sản 17

2.1.1 Tài sản 17

2.1.2 Phân loại tài sản 19

2.2 Thuế tài sản 19

2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế tài sản 19

2.2.2 Vai trò của thuế tài sản 21

2.2.3 Quan điểm chung về đánh thuế tài sản 23

2.2.4 Các hình thức đánh thuế tài sản 25

2.2.5 Vị trí của thuế tài sản trong hệ thống thuế 26

2.3 Thuế tài sản trong các lý thuyết kinh tế 28

2.3.1 Lịch sử nghiên cứu thuế tài sản 28

2.3.2 Lý thuyết đánh thuế tài sản 30

2.4 Những nhân tố cơ bản của mô hình thuế tài sản 34

2.5 Những nguyên tắc xây dựng mô hình thuế tài sản 35

2.6 Mô hình thuế tài sản ở một số nước trên thế giới 44

iii

2.6.1 Quá trình hình thành và phát triển thuế tài sản ở các nước trên thế giới 44

2.6.2 Mô hình thuế tài sản ở một số nước trên thế giới 47

2.6.3 Nhận xét về các mô hình thuế tài sản ở một số nước trên thế giới 53

Kết luận chương 2 57

58 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VỀ THU NGÂN SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

3.1 Tổng quan về thuế và ngân sách Việt nam giai đoạn 2003-2013 58

3.1.1 Cấu trúc nguồn thu từ thuế 58

3.1.2 Cấu trúc nguồn thu ngân sách 60

3.2 Tài sản liên quan đến thuế tài sản hiện nay 65

3.3 Thực trạng chính sách về thu ngân sách liên quan đến tài sản ở Việt Nam 67

3.3.1 Tổng quan về các chính sách thuế liên quan đến tài sản 67

3.3.2 Thực trạng về các chính sách thuế liên quan đến tài sản 67

3.3.2.1 Nguồn thu liên quan đến tài sản 67

3.3.2.2 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 69

3.3.2.3 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 71

3.3.2.4 Thuế nhà đất 72

3.3.2.5 Lệ phí trước bạ 74

3.3.2.6 Tiền sử dụng đất 76

3.3.2.7 Tiền thuê đất 77

3.3.2.8 Thuế chuyển quyền sử dụng đất 77

3.3.2.9 Thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 78

3.3.2.10 Thuế tài nguyên 78

3.3.2.11Lệ phí địa chính 79

3.3.3 Đánh giá chung về chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt nam 79

Kết luận chương 3 81

82 CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

4.1.1 Các bước xây dựng mô hình thuế tài sản 82

4.1.2 Mô hình nghiên cứu thuế tài sản 82

4.1.3 Phương pháp nghiên cứu đối với xây dựng mô hình 83

4.1.4 Thiết kế nghiên cứu 84

4.1.5 Nghiên cứu định tính 85

4.1.5.1 Giới thiệu 85

4.1.5.2 Kết quả nghiên cứu thảo luận nhóm chuyên gia 86

4.1.6 Nghiên cứu định lượng 99

iv

4.2 Phân tích và đánh giá mô hình thuế tài sản 104

4.2.1 Giới thiệu 104

104

4.2.2 Mô tả mẫu và xử lý dữ liệu 4.2.3 Phân tích độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha 105

4.2.4 Phân tích nhân tố 108

4.2.5 Phân tích hồi quy 110

4.2.6 Kết quả nghiên cứu định lượng 111

4.2.7 Các trường hợp nghiên cứu tình huống 113

4.2.7.1 Trường hợp nghiên cứu 1 113

4.2.7.2 Trường hợp nghiên cứu 2 119

4.2.8 Các trường hợp nghiên cứu thực nghiệm 126

4.2.8.1 Thuế tài sản và tính công bằng 126

4.2.8.2 Thuế tài sản và hiệu quả kinh tế 128

4.2.8.3 Thuế tài sản và tổn thất xã hội (DWL) 129

4.2.8.4 Độ đàn hồi của thuế tài sản (tax buoyancy) 131

4.3 Kết luận mô hình thuế tài sản 132

Kết luận chương 4 135

136 CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN VÀO VIỆC XÂY DỰNG CÁC CHÍNH SÁCH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

5.1 Những khuyến nghị ứng dụng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam 136

5.2 Những khuyến nghị xây dựng chính sách thuế tài sản dựa trên mô hình 136

5.2.1 Thuế đăng ký tài sản 136

5.2.2 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 138

5.2.3 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 140

5.2.4 Thuế nhà 142

5.2.5 Thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất 145

5.2.6 Thuế phương tiện giao thông 145

5.3 Một số gợi ý chính sách và điều kiện để triển khai mô hình thuế tài sản 146

Kết luận chương 5 149

Kết luận 150

Các công trình khoa học đã công bố của luận án

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Tiếng việt Tiếng Anh

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á Asian Development Bank

AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN ASEAN Free Trade Area

ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asian Nations

ATIGA

BĐS

CEPT

CP CQSDĐ FTA GDP GINI GTGT Ha NSĐP NSNN Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN Bất động sản Hiệp định về chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung Chính phủ Chuyển quyền sử dụng đất Hiệp định thương mại tự do Tổng sản phẩm quốc nội Hệ số Gini Giá trị gia tăng héc ta Ngân sách địa phương Ngân sách nhà nước

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

QH SDĐ SDĐNN SDĐPNN SXKD TNCN TNDN Quốc hội Sử dụng đất Sử dụng đất nông nghiệp Sử dụng đất phi nông nghiệp Sản xuất kinh doanh Thu nhập cá nhân Thu nhập doanh nghiệp

TPP Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương

Tài sản ASEAN Trade in Goods Agreement Common Effective Preferential Tariff Free Trade Agreement Gross Domestic Product Gini Index Organization for Economic Co-operation and Development Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement TS

Tiêu thụ đặc biệt TTĐB

Ủy ban nhân dân UBND

Tổ chức Thương mại Thế giới Xã hội chủ nghĩa Xuất nhập khẩu World Trade Organization WTO XHCN XNK

vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Bảng Tên Bảng 2.1 Tỷ lệ thuế tài sản trên GDP của nhóm các nước OECD Trang 45

2.2 Thuế tài sản ở Liêng bang Hoa kỳ 47

Thuế tài sản cá nhân ở cộng hòa Pháp 48

2.3a 2.3b 49 Thuế tài sản thừa kế, cho tặng ở cộng hòa Pháp

2.3c Thuế tài sản ở Cộng hòa Pháp 49

Thuế tài sản ở Thụy Điển 2.4 51

Thuế tài sản ở Đài Loan 2.5 52

Nhận xét về mô hình thuế tài sản ở các nước trên thế giới 2.6 53

3.1a Kết cấu nguồn thu từ thuế giai đoạn 2003-2013 59

3.1b Kết cấu nguồn thu so với GDP giai đoạn 2003-2013 59

3.2 Kết cấu nguồn thu NSNN giai đoạn 2003-2013 61

So sánh cán cân NSNN Việt nam và các nước đang phát triển

(%GDP) 3.3 63

Độ đàn hồi của thuế (tax buoyancy) 3.4 64

Tình trạng nhà ở tính đến ngày 1/4/2009 3.5 66

Tình trạng phương tiện giao thông đường bộ giai đoạn 2003-2013 3.6 66

Kết cấu nguồn thu liên quan đến TS so với tổng thu ngân sách 3.7 68

Kết cấu nguồn thu liên quan đến TS so với tổng thu thuế 3.8 68

Kết quả điều tra chính sách thuế SDĐNN hiện nay 3.9 70

3.10 Kết quả điều tra về chính sách thuế nhà đất 73

3.11 Kết quả điều tra về chính sách lệ phí trước bạ 75

3.12 Kết quả khảo sát các sắc thuế liên quan đến tài sản hiện nay 79

Các bước thực hiện trong nghiên cứu 4.1 84

4.2 Kết quả nghiên cứu đối tượng chịu thuế tài sản 87

Kết quả nghiên cứu hình thức đánh thuế tài sản 4.3 90

4.4 Kết quả nghiên cứu căn cứ tính thuế tài sản 93

Kết quả nghiên cứu tính hiệu quả thuế tài sản 4.5 96

Các bước phân tích nhân tố EFA 4.6 102

4.7 Mô tả các biến trong phương trình hồi quy đa biến 104

Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến D09, D06 và D08 4.8 106

Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến H12 4.9 107

4.10 Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến C19 và C23 108

vii

4.11 Độ tin cậy thang đo “Tính hiệu quả của thuế tài sản” 109

4.12 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 110

4.13 Mô hình thuế tài sản trong trường hợp nghiên cứu 1 117

4.14 Doanh thu thuế tài sản dựa trên trường hợp 1 118

4.15 Mô hình thuế tài sản trong trường hợp nghiên cứu 2 124

125

130

130

131

4.16 Doanh thu thuế tài sản dựa trên trường hợp 2 4.17 DWL đối với thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ) 4.18 DWL đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp 4.19 DWL đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 4.20 Độ đàn hồi thuế tài sản (2004-2013) 132

4.21 Diễn giải Mô hình thuế tài sản 133

Hình Tên Hình Trang

Khung nghiên cứu của luận án 1.1 14

Cung vốn hoàn toàn co dãn 2.1 31

Cung đất đai không co dãn 2.2 31

2.3 Mức độ ảnh hưởng tài sản do nhu cầu 33

Các nhân tố cơ bản của thuế tài sản 2.4 35

Các bước xây dựng mô hình thuế tài sản 4.1 82

4.2 Mô hình nghiên cứu thuế tài sản 83

Các nhân tố ảnh hưởng mô hình thuế tài sản 4.3 111

Đường cong Lorenz 4.4 127

Hệ thống thuế tài sản 4.5 133

Hộp Tên hộp Trang

Các ý kiến nhận định mô hình thuế tài sản với mục tiêu bền vững,

4.1 khả thỉ và giảm chi phí thực thi chính sách thuế tài sản 115

Các ý kiến nhận định mô hình thuế tài sản với mục tiêu cần thể

hiện tính công bằng, đạt hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ

4.2 đàn hồi cao và ổn định 120

Biểu đồ Tên Biểu đồ Trang

2.1 Tỷ lệ thuế tài sản so với GDP của các nhóm nước 46

Tỷ lệ đóng góp từ thuế tài sản cho chi tiêu của chính quyền địa

phương 2.2 47

3.1 Kết cấu nguồn thu từ thuế giai đoạn 2003-2013 58

Cấu trúc nguồn thu thuế của Việt Nam so với một số nền kinh tế

3.2 mới nổi ở Châu Á, giai đoạn 2000-2013. 60

viii

3.3 Kết cấu nguồn thu NSNN giai đoạn 2003-2013 60

Tỷ lệ thu ngân sách so GDP của một số nền kinh tế mới nổi ở Châu

3.4 Á 62

3.5 Mức độ minh bạch của Ngân sách Việt Nam 63

Hiện trạng sử dụng đất của cả nước tính đến ngày 1/3/2013 65 3.6

Kết cấu nguồn thu đối với tài sản 67 3.7

3.8 Mức phụ thuộc vào thuế tài sản ở một số Quốc gia 2000-2013 69

Kết quả nghiên cứu đối tượng chịu thuế tài sản 88 4.1

Kết quả nhận định đối tượng chịu thuế tài sản 89 4.2

Kết quả nghiên cứu hình thức đánh thuế tài sản 91 4.3

Kết quả nhận định hình thức đánh thuế tài sản 92 4.4

Kết quả nghiên cứu căn cứ tính thuế tài sản 94 4.5

Kết quả nhận định căn cứ tính thuế tài sản 95 4.6

Kết quả nghiên cứu tính hiệu quả thuế tài sản 97 4.7

Xu hướng kết quả nhận định đối với đối tượng chịu thuế tài sản 112 4.8

Xu hướng kết quả nhận định đối với hình thức đánh thuế tài sản 113 4.9

4.10 Xu hướng kết quả nhận định đối với căn cứ tính thuế tài sản 113

Sơ đồ Tên Sơ đồ Trang

Sơ đồ biểu diễn chu kỳ vận động của thu nhập 27 2.1

Quy trình nghiên cứu 85 4.1

Đồ thị Tên đồ thị Trang

Độ đàn hồi của thuế (2004-2013) 64 3.1

Độ đàn hồi của thuế tài sản (2004-2013) 132 4.1

ix

LỜI MỞ ĐẦU

Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng.

Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nghề nông, đến nay đã

xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng

được cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) và chuyển toàn bộ

mọi hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền kinh tế có tư duy

công nghiệp. Quy mô của nền kinh tế tăng nhanh, thu nhập bình quân đầu người vượt

khỏi ngưỡng thu nhập thấp, đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở

thành nước có mức thu nhập trung bình. Kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu

vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất

nước, Việt Nam đặt ra mục tiêu về cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển vào

năm 2020. Những năm qua, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình

tăng trưởng bước đầu đạt được một số kết quả nhất định. Hội nhập quốc tế ngày càng

sâu rộng và hiệu quả đã đem lại nhiều nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công

nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Đồng thời, làm cho hệ thống chính sách, pháp

luật, thể chế và quá trình thực thi có những bước tiến quan trọng và ngày càng hiệu

quả.

Với những thành quả đạt được đã tạo ra cho Việt nam thế và lực lớn hơn nhiều

so với trước, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên. Đây chính là

những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

của đất nước, đưa Việt Nam sớm trở thành một nước công nghiệp. Tuy nhiên, Việt

Nam vẫn còn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen lẫn nhau, tác động tổng hợp và

diễn biến phức tạp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây đã bị suy

giảm, cho thấy mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam có những điểm

không còn phù hợp. Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của quá trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước trong giai đọan tới, một trong những yêu cầu được đặt ra là tập trung

xây dựng chiến lược quy hoạch, hoàn chỉnh và ban hành đồng bộ hệ thống luật pháp,

chính sách kinh tế - tài chính. Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các văn bản

pháp luật, các chính sách liên quan đến thương mại, tài chính, khoa học công nghệ và

chính sách đào tạo nguồn nhân lực... một cách đồng bộ và phù hợp với thông lệ quốc

tế để giúp cho các thành phần kinh tế có thể tham gia phát triển bền vững, đặc biệt là

kinh tế công nghiệp phải giữ vài trò chủ đạo.

x

Thuế là công cụ tài chính quan trọng của nhà nước nhằm để tạo nguồn thu cho

ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo công bằng xã hội. Thuế trong nền kinh tế

thị trường luôn được các quốc gia quan tâm nghiên cứu, hoàn thiện. Trong cơ cấu hệ

thống thuế hiện nay bao gồm thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản thì thuế tài

sản ngày càng được quan tâm bởi lẽ loại thuế này có số thu ổn định, bền vững, chiếm

tỷ trọng cao trong tổng số thu ngân sách nhà nước, thuế tài sản góp phần điều tiết cung

cầu tài sản trên thị trường, tránh các hiện tượng đầu cơ tích trữ và góp phần điều tiết

thu nhập của các tầng lớp dân cư, hạn chế bất bình đẳng về thu nhập và thực hiện công

bằng xã hội.

Thuế tài sản là một loại thuế ra đời rất sớm trong hệ thống thuế khoá của đại đa

số các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường

phát triển. Việc nghiên cứu và xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt nam hướng theo

các yêu cầu đổi mới sau:

Thứ nhất, Việt nam đang trong quá trình hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu

dẫn đến nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm sút một cách đáng kể, trong khi nhu cầu

chi tiêu của ngân sách phục vụ các chức năng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội của Nhà nước

không ngừng tăng lên. Vì vậy, việc cải cách đối với hệ thống chính sách thuế nội địa

nhằm khai thác thêm nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tiêu không ngừng tăng lên của

ngân sách nhà nước là điều cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đọan tới đòi hỏi

một hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế - tài chính hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp

với yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, quá trình phát triển kinh tế-xã hội, các hoạt động kinh tế, các quan hệ

dân sự, đặc biệt là các quan hệ dân sự về tài sản, nhà, đất diễn ra khá phức tạp, đa

dạng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trong phạm vi quốc tế. Vì vậy, cần có

một hệ thống thuế tài sản phù hợp hơn để góp phần đắc lực vào yêu cầu quản lý, hòa

hợp với cơ chế thị trường và hội nhập

Thứ tư, qua thành tựu gần 30 năm đổi mới, mức thu nhập của một số tầng lớp

dân cư tăng lên đáng kể, thành phần kinh tế tư nhân đã có những đóng góp tích cực

cho nền kinh tế và ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, việc xây dựng, mua sắm tài sản

đang phát triển với tốc độ nhanh chóng và đi liền theo đó là khoảng cách giàu nghèo

cũng ngày một gia tăng. Vì vậy, cần thiết phải xem xét, sửa đổi, bổ sung chính sách

thuế đối với tài sản cho phù hợp với tình hình mới. Qua đó, vừa khai thác thêm nguồn

thu hợp lý cho NSNN, vừa thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội.

xi

Nhìn chung, chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt nam tuy đã phát huy

được nhiều điểm tích cực trên các phương diện kinh tế, xã hội. Song trước xu thế hội

nhập và những diễn biến phức tạp đa dạng về tài sản, thu nhập của dân cư, hệ thống

thuế tài sản hiện hành bộc lộ những nhược điểm cần phải có chính sách thay đổi cho

phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu cải cách quản lý trong lĩnh vực thuế.

Qua số liệu thống kê cho thấy, nguồn thu từ các loại thuế liên quan đến tài sản

chiếm một tỷ trọng thấp trong tổng nguồn thu NSNN và cũng chưa thực sự giữ một vị

trí quan trọng trong ngân sách địa phương như ở các quốc gia trên thế giới. Kết quả

nguồn thu liên quan đến tài sản chưa khuyến khích mọi người sử dụng tài sản hợp lý

và hiệu quả.

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, để có thể duy trì tốc độ tăng trưởng

kinh tế và phấn đấu trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020, việc đối

mặt và giải quyết những vấn đề khuyết tật của kinh tế thị trường phải luôn được quan

tâm, giải quyết bằng các chính sách kinh tế của nhà nước, trong đó có chính sách thuế.

Gần đây, nhà nước đã và đang thực hiện chiến lược cải cách thuế, nhiều sắc thuế được

sửa đổi bổ sung như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh

nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế tài nguyên môi trường và đang

nghiên cứu để ban hành nhiều sắc thuế mới như: thuế tài sản, thuế nhà, thuế sử dụng

đất

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến nhanh và

thay đổi tích cực, vấn đề cải cách thuế tài sản nhằm nâng tỷ trọng thu ngân sách từ

thuế tài sản, ổn định và phát triển lành mạnh nền kinh tế, phù hợp với nền kinh tế thị

trường định hướng XHCN trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa, hạn chế khoảng

cách giàu nghèo, bất bình đẳng về tài sản và thu nhập trong xã hội là vấn đề trở nên

cấp thiết. Vì vậy, tác giả chọn đề tài luận án “XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN

Ở VIỆT NAM” để nghiên cứu với mục đích tìm ra một mô hình thuế tài sản ở Việt

Nam mới hơn, phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế, những thay đổi tích cực nhiều

mặt của xã hội và bên cạnh vấn đề hội nhập quốc tế ngày một sâu rông hơn. Mô hình

thuế tài sản ở Việt Nam được xây dựng trên một giác độ toàn diện và định hướng lâu

dài. Tác giả với mong muốn được đóng góp một số khuyến nghị trong công cuộc cải

cách chính sách thuế trong giai đoạn tới phù hợp với tinh thần và chủ trương của

Chính phủ Việt Nam.

xii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia nằm trong nhóm các nước đang phát triển và phấn

đấu trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Bên cạnh đó, Việt Nam

hiện đang trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, để quá trình hội nhập được thuận

lợi hơn và tạo các tiền đề vững chắc cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước, Chính phủ Việt Nam gần đây đã thực hiện một loạt cải cách về kinh tế, chính

sách thuế, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý tài chính. Kết quả là Việt Nam đã đạt

mức tăng trưởng kinh tế đáng kể trong hai thập kỷ qua và hầu hết các chỉ số kinh tế

đều cho thấy xu hướng tăng trưởng nhanh. Tình hình thu chi ngân sách cũng đáng

khích lệ, mức tăng thu ngân sách đạt được khá ấn tượng. Tuy nhiên, do cần đầu tư

nhiều cho hạ tầng cơ sở nên Việt Nam vẫn còn tỷ lệ nợ công tương đối cao. Việt Nam

cũng đang từng bước tiến hành cải cách pháp luật về thuế và hiện đại hóa quản lý

thuế. Trong hai thập kỷ qua, hệ thống thuế trải qua ba giai đoạn cải cách và giai đoạn

cải cách lần thứ ba hiện nay đang được thúc đẩy do Việt nam gia tăng hội nhập vào

nền kinh tế thế giới với nỗ lực gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Hệ

thống thuế hiện hành ở Việt nam được định hướng theo khuôn khổ của một “hệ thống

thuế tốt”, nghĩa là công bằng, hiệu quả kinh tế, ổn định và hiệu quả về mặt kỹ thuật.

Từ những yêu cầu thực tiễn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong

giai đọan tới, một trong những yêu cầu được đặt ra là tập trung xây dựng chiến lược

quy hoạch, hoàn chỉnh và ban hành đồng bộ hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế -

tài chính. Vì lẽ trên, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật, các chính sách

liên quan đến thương mại, tài chính, trong đó có chính sách thuế… một cách đồng bộ

và phù hợp với thông lệ quốc tế để giúp cho các thành phần kinh tế có thể tham gia

phát triển bền vững, đặc biệt là kinh tế công nghiệp phải giữ vài trò chủ đạo là điều tất

yếu cần phải làm của các nhà hoạch định chính sách.

Các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách như Đỗ Đức Định [10], Ngô

Đăng Thành và cộng sự [22], Chenery và Robinson [44] khi xây dựng bộ tiêu chí về

một nước công nghiệp cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đều đề cập đến

yếu tố “phát triển bền vững”, yếu tố này bao gồm các tiêu chí như: công bằng xã hội,

tỷ lệ nghèo đói, tỷ lệ thất nghiệp, giáo dục và đào tạo, chỉ số phát triển con người, môi

trường tự nhiên. Qua đó chỉ ra rằng, chính sách thuế là một công cụ góp phần hoàn

thiện tiêu chí bền vững cho tiến trình công nghiệp hóa của đất nước. Trong đó, thuế tài

sản là một phần quan trọng thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và giải quyết bất bình

1

đẳng trong xã hội, góp phần tạo nên một hệ thống thuế hoàn thiện bao gồm thuế tiêu

dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản.

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam

tham gia AFTA và thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo CEPT, giai đoạn 1996-

2013 cắt giảm thuế suất đối với 6.000 mặt hàng (97,6% tổng số mặt hàng trong biểu

thuế nhập khẩu). Việt Nam gia nhập WTO và đang trong tiến trình cắt giảm 10.600

dòng thuế suất. Trong năm 2015, Việt Nam sẽ ký kết 8 Hiệp đinh thương mại tự do

(FTA) song phương và đa phương. Với nhiều hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ

được xóa bỏ vào khoảng cuối năm 2020. Thực hiện cam kết ATIGA, Việt Nam đã cắt

giảm 6.859 dòng thuế (72% tổng biểu thuế xuất nhập khẩu) xuống thuế suất 0% tính

đến thời điểm 2014. Dự kiến năm 2015, sẽ có thêm 1.720 dòng thuế được cắt giảm

xuống thuế suất 0%. Số còn lại gồm 687 dòng thuế (chiếm 7% biểu thuế), chủ yếu là

những mặt hàng nhạy cảm trong thương mại giữa Việt Nam và khu vực ASEAN sẽ

xuống 0% vào năm 2018. Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình

Dương (TPP) và Hiệp định tự do thương mại Việt Nam-EU hiện vẫn trong tiến trình

đàm phán và ký kết trong năm 2015. Trong giai đoạn 2015-2020, các hiệp định như

ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Hàn Quốc có mức độ giảm sâu nhất và đạt đến mức

cam kết cuối cùng. Các hiệp định khác như ASEAN-Australia-New Zealand, ASEAN-

Nhật Bản, ASEAN-Ấn Độ, Việt Nam-Nhật Bản và Việt Nam-Chi Lê sẽ có mức độ, lộ

trình giảm thuế dài hơn.

Việc tham gia mạnh mẽ của Việt Nam trên các sân chơi quốc tế và lộ trình cắt

giảm thuế quan theo các hiệp định tự do thương mại FTA đã, đang và sẽ tác động tới

hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam, cơ hội và thách thức đan xen lẫn nhau. Về

thu ngân sách Nhà nước, nếu không vươn lên sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế và do đó

sẽ tác động tới thu ngân sách Nhà nước. Vì lẽ trên, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ

thống thuế sẽ góp phần tích cực tăng thu NSNN, ổn định kinh tế vĩ mô, bù đắp phần

thiếu hụt do thực hiện các cam kết FTA về lộ trình cắt giảm thuế suất, trong đó thuế

tài sản là một mục tiêu cần thiết để nghiên cứu.

Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính

Phủ phê duyệt tại Quyết định 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 tập trung vào các mục tiêu

tổng quát bao gồm: Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công

bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;

mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một

trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà

nước. Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý

2

thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba

nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế

đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm

chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hoá

cao.

Chiến lược cải cách thuế của Chính phủ Việt Nam cũng cụ thể hoá một số mục

tiêu, yêu cầu cụ thể cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 như: Về cải cách hành

chính thuế, xây dựng và thực hiện chính sách huy động từ thuế, phí và lệ phí hợp lý

nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ sản

xuất trong nước, khuyến khích đầu tư; Hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí được

sửa đổi bổ sung phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý

của Nhà nước; Hệ thống chính sách thuế được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm minh

bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện; mở rộng cơ sở thuế để phát triển nguồn thu mới

phát sinh và cơ cấu lại theo hướng tăng nguồn thu nội địa đến năm 2015 đạt trên 70%

tổng thu NSNN và đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu ngân sách nhà nước. Một số

chỉ tiêu cụ thể được đưa vào chiến lược, cụ thể:

Giai đoạn 2011-2015: Giảm thời gian thực hiên thủ tục hành chính thuế để

phấn đấu đến năm 2015 là một trong năm nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á được

xếp hạng cho mức độ thuận lợi về thuế; Đến năm 2015 tối thiểu có 60% doanh nghiệp

sử dụng các dịch vụ thuế điện tử; 50% doanh nghiệp đăng ký thuế, khai thuế qua

mạng internet; 70% số người nộp thuế hài lòng với các dịch vụ mà cơ quan thuế cung

cấp; Tỷ lệ tờ khai thuế đã nộp trên tổng số tờ khai thuế phải nộp tối thiểu là 90%; tỷ lệ

tờ khai thuế đúng hạn đạt tối thiểu là 85%; tỷ lệ tờ khkai thuế được kiểm tra tự động

qua phần mềm ứn dụng của cơ quan thuế đạt tối thiểu là 95%.

Giai đoạn 2016-2020: Thời gian thực hiện thủ tục hành chính thuế đến năm

2020 là một trong bốn nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á được xếp hạng có mức

độ thuận lợi về thuế; Đến năm 2020 tối thiểu có 90% doanh nghiệp sử dụng các dịch

vụ thuế điện tử, 65% doanh nghiệp đăng ký thuế, khai thuế qua mạng internet; 80% số

người nộp thuế hài lòng với các dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp; Tỷ lệ tờ khai thuế

đã nộp trên tổng số tờ khai thuế phải nộp tối thiểu là 95%; tỷ lệ tờ khai thuế đúng hạn

đạt tối thiểu là 95%; tỷ lệ tờ khai thuế được kiểm tra tự động qua phần mềm ứng dụng

của cơ quan thuế là 100%.

Tỷ lệ huy động thu NSNN giai đoạn 2011-2015 khoảng 23-24% GDP, trong đó

tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí bình quân hàng năm từ 16%-18%/năm. Giai đoạn

2016-2020: Tỷ lệ huy động thu NSNN và tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí trên

3

GDP ở mức hợp lý theo hướng giảm mức động viên về thuế trên một đơn vị hàng hoá,

dịch vụ để khuyến khích cạnh tranh, tích tụ vốn cho sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh những thành quả đạt được qua các kỳ cải cách thuế, hệ thống thuế

Việt Nam vẫn còn bộc lộ những khuyết điểm theo đánh giá vào năm 2011 của tổ chức

Ngân hàng thế giới và đưa ra các khuyến nghị [13,22]:

- Về mặt hiệu quả kinh tế: Hiện còn tồn tại một số điểm không trung lập trong

chính sách thuế và thực thi như thiếu sự hài hòa giữa các loại thuế, nhiều thuế

suất, nhiều trường hợp không chịu thuế và chính sách ưu đãi thuế đã tạo ra hiệu

quả kinh tế thấp trong phân bổ nguồn lực do các đối tượng nộp thuế đưa ra

quyết định kinh doanh với mục tiêu giảm thiểu gánh nặng thuế chứ không phải

với mục tiêu tối đa hóa năng lực sản xuất và sản lượng.

- Tính công bằng: Tính công bằng chiều ngang (horizontal equity) bị vi phạm

theo nhiều cách. Nhiều loại miễn giảm khác nhau cũng dẫn đến vi phạm tính

công bằng theo chiều dọc (vertical equity).

- Tính minh bạch: Minh bạch được đảm bảo trước hết với điều kiện luật thuế

phải không được quá phức tạp và không phân biệt đối xử, còn các quy chế và

đòi hỏi về quản lý thì phải dễ tiếp cận và dễ tuân thủ. Với ý nghĩa đó, Việt Nam

đã đạt nhiều tiến bộ về minh bạch tuy vẫn còn nhiều việc cần cải thiện.

- Tính phù hợp và ổn định của nguồn thu: Tuy không có đủ thông tin để xác định

độ co giãn thuế (tax elasticity) nhưng độ đàn hồi thuế (tax buoyancy) thất

thường cho thấy cần phải cải tiến một số lĩnh vực trong hệ thống thuế. Cơ sở

thuế hạn hẹp nên cần phải đa dạng hóa và mở rộng. Cần theo dõi chặt chẽ các

khu vực đang tăng trưởng trong nền kinh tế để mở rộng cơ sở thuế vào thời

điểm thích hợp. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một hệ thống thuế đơn giản và

có cơ sở thuế rộng sẽ co giãn và đàn hồi cao hơn. Do vậy, cần rà soát các luật

thuế để đơn giản và hợp lý hóa chúng. Cuối cùng, sẽ rất hữu ích nếu như ước

tính phạm vi chi tiêu thuế (tax expenditures) và xem xét tính hợp lý của chúng.

Bên cạnh đó, cũng theo nhận xét của tổ chức Ngân hàng thế giới rằng: Việt

Nam hiện tại không có thuế tài sản. Tuy nhiên, thực tế thì Việt nam có một số chính

sách thuế liên quan đến tài sản. Việc kêu gọi giới thiệu loại thuế này gần đây trở nên

phổ biến hơn, những người có ý kiến đối lập cho rằng loại thuế như vậy sẽ vừa có hiệu

quả và hợp lý [13]. Qua đó cho thấy rằng ở Việt Nam, thuế liên quan đến tài sản đã

được áp dụng từ khá lâu. Tuy nhiên, Luật thuế của Việt Nam lại không gọi là thuế tài

sản. Chính vì vậy vẫn còn rất nhiều người xem đó là một loại thuế mới và chưa hiểu

đó là loại thuế gì, đối tượng chịu thuế ra sao và khái niệm thuế tài sản cũng chỉ được

4

hiểu một cách chung chung. Hiện tại, ở Việt Nam đang có một số thuế, phí, lệ phí liên

quan đến tài sản như: thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông

nghiệp, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, tiền thuê đất và

tiền bán nhà thuộc sở hữu nhà nước.

Trên thế giới, thuế liên quan đến tài sản thường có phạm vi rộng hơn, chẳng

hạn như: nhà, đất, tàu thuyền, ôtô, máy bay, thuyền du lịch, chứng khoán và các động

sản tài chính khác. Tuy nhiên, mỗi nước lại có một cách xác định đối tượng chịu thuế

khác nhau và tùy thuộc vào điều kiện của từng nước mà người ta áp dụng ít hay nhiều,

sớm hay muộn. Tại các nước phát triển, thuế tài sản là nguồn thu chính chiếm 40 -

50% tổng số thu thuế tại các đô thị như Mexico, Brazil, India, Indonesia… và nó

thường chiếm từ 15% - 40% trong thu ngân sách địa phương. Tuy nhiên, ở Việt Nam,

loại thuế này mới chỉ chiếm khoảng nhỏ hơn 1% trên tổng thu ngân sách và chủ yếu

thu từ đất đai.

Có thể nói rằng cải cách thuế tài sản là hết sức cần thiết trong hệ thống thuế của

Việt Nam hiện nay, đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho Ngân sách Nhà Nước, phù hợp với

tinh thần chủ trương của Đảng và Nhà Nước thông qua Quyết định 732/QĐ-TTg của

Thủ Tướng Chính Phủ ngày 17/5/2011. Vì lẽ trên, việc xây dựng mô hình thuế tài sản

ở Việt Nam hiện nay là cần thiết bởi những lý do: Việt Nam đang trong bối cảnh hội

nhập kinh tế toàn cầu và khu vực, cần có một hệ thống thuế phù hợp thông lệ quốc tế.

Quá trình hội nhập và các cam kết đối với WTO, AFTA, ASEAN, TPP… dẫn đến

giảm dần nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt

nam ổn định và thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng tốt, tích lũy tài sản dần dần

được nâng lên. Mục tiêu cải cách thuế của chính phủ tiến tới một hệ thống thuế bền

vững và hiệu quả nhằm cải thiện tình trạng thâm hụt kéo dài của cán cân ngân sách

Nhà nước. Ngoài ra, trước tình trạng thị trường bất động sản ở Việt Nam rất bất ổn mà

nguyên nhân chủ yếu là do việc đầu cơ bất động sản. Vì vậy, chống đầu cơ nhà đất là

một trong những mục tiêu quan trọng của dự thảo luật trong cách tính thuế tài sản.

Khu vực kinh tế tư nhân phát triển điều này đồng nghĩa tài sản có sự tập trung quá

mức vào một nhóm người giàu có, dẫn đến khoảng cách chênh lệch giàu nghèo khá

lớn. Vì vậy, để góp phần thực hiện công bằng xã hội tránh sự phân hóa giàu nghèo

một cách đáng kể thì những người có thu nhập và tài sản nhiều phải có một nghĩa vụ

chia sẽ trách nhiệm đối với xã hội. Thuế tài sản giúp hạn chế việc sử dụng tài sản lãng

phí, để góp phần thúc đẩy cho các thành phần kinh tế phát huy hiệu quả sử dụng tài

sản và cuối cùng là đem lại nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà Nước trong bối

cảnh thâm hụt Ngân sách kéo dài hiện nay. Thuế tài sản là nền tảng vững chắc cho

5

ngân sách địa phương từ các nguồn thu thuế bất động sản để phát triển cơ sở hạ tầng

và các dịch vụ công, đặc biệt đối với các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh

chuẩn bị thí điểm cho mô hình chính quyền đô thị. Thuế tài sản phần nào sẽ góp phần

bảo vệ môi trường và quy hoạch giao thông trước tình trạng nan giải do số lượng

phương tiện giao thông tăng quá mức so với dự báo hiện nay.

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Quan điểm truyền thống về thuế tài sản bắt nguồn từ Simon [67] và Netzer

[61]. Quan điểm truyền thống ủng hộ cách tiếp cận cân bằng từng phần, theo đó thuế

tài sản được xem là khoản thanh toán riêng biệt đối với vốn và đất. Những người đầu

tiên đưa ra quan điểm mới về thuế tài sản là Thomson [69], Mieszkowski [56]. Sau đó,

quan điểm mới được Mieszkowski và cộng sự [57] xây dựng lại. Quan điểm này phân

tích trạng thái cân bằng chung của phạm vi pháp lý ở một quốc gia và cho rằng cả tiền

vốn của quốc gia đó cũng như đất đai nằm trong mọi phạm vi thẩm quyền đều là tài

sản cố định.

Quan điểm lợi ích mở rộng phân tích của quan điểm mới, bổ sung những lợi ích

mà chủ sở hữu tài sản thu được từ thuế tài sản. Theo Hamilton và cộng sự [48], nếu

việc cung cấp các dịch vụ công cộng được xem là chính sách tốt thì quan điểm mới

cho rằng chính quyền nên cung cấp các dịch vụ ưu đãi nhằm tận dụng đất đai ở khu

vực có nhu cầu cao sao cho lợi ích của các dịch vụ công cộng cao hơn những thiệt hại

mà thuế tài sản gây ra. Quan điểm lợi ích cho rằng các phạm vi thẩm quyền sẽ tham

gia vào quá trình phân vùng tài chính theo đó giá trị của các công trình nhà cửa cho

phép trong phạm vi thẩm quyền sẽ bị giới hạn bằng giá trị tối thiểu nào đó, điển hình

là việc sử dụng quyền phân vùng của phạm vi thẩm quyền hoặc thông qua một số

quyền lực khác nhằm kiểm soát việc sử dụng đất đai và các khoản ưu đãi [45].

Những phân tích và nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến giá trị pháp lý của

các quan điểm truyền thống, quan điểm mới và quan điểm lợi ích đều không đi đến kết

luận cuối cùng. Netzer (1973), người đề xướng quan điểm truyền thống, cho rằng việc

thiếu tính đồng nhất khi tính thuế tài sản, khiến cho việc áp dụng một phần thuế vốn

(như thuế tài sản chỉ áp dụng trong một phạm vi thẩm quyền) thậm chí không còn ý

nghĩa, xét về một loại thuế làm giảm mức thu nhập bình quân từ toàn bộ vốn như đề

xuất theo quan điểm truyền thống [62].

Nhiều loại nghiên cứu thực nghiệm khác nhau không thành công khi chỉ ra

quan điểm mới hay quan điểm lợi ích diễn giải thuế tài sản đúng đắn hơn. Theo tổng

hợp của Mieskowski và cộng sự [58], đa số các nghiên cứu thực nghiệm đều tập trung

6

vào quy mô vốn hóa thuế tài sản và phí chính quyền địa phương thành giá trị tài sản.

Các nghiên cứu của Edel và cộng sự, Hamilton, Oates [46], [49], [50], [63] cũng như

nhiều nghiên cứu khác chi ra rằng thuế tài sản và phí chính quyền địa phương đều

được vốn hóa thành giá trị tài sản. Tuy nhiên, những nghiên cứu này không xác nhận

quan điểm lợi ích vì quan điểm mới cũng ám chỉ sự vốn hóa này. Đáp lại đề xuất của

Mieszkowski và cộng sự, Carroll và Wassmer [70] đã tiến hành nghiên cứu xem xét

những biến động của giá trị thuế tài sản cũng như các khoản chênh lệch giá thuê tài

sản trong nội thành.

Nghiên cứu của Harvey S.Rosen [29] cho rằng một trong những nguồn tài trợ

chủ yếu cho chính quyền địa phương tại Mỹ chính là thuế tài sản, loại thuế đánh vào

giá trị của bất động sản, bao gồm cả giá trị của đất và các công trình xây dựng trên

đất. Ước tính thuế tài sản chiếm trên 50% tổng thu từ thuế của chính quyền địa

phương [29]. Thuế tài sản được đánh với thuế suất xác định theo từng địa phương trên

các tài sản thường trú hay tài sản được mua bán, giá trị được xác định thường theo

quyền hạn của chính quyền thành phố. Trong đa phần các trường hợp, chính quyền địa

phương cố gắng đưa giá trị pháp lý tài sản tiệm cận với giá thị trường của tài sản,

nhưng điều khó khăn xảy ra khi không có tài sản tương tự được mua bán trong cùng

thời điểm. Harvey S.Rosen, đưa ra các quan điểm [29]:

(1) Ai phải gánh chịu thuế tài sản

Ở Mỹ, thuế tài sản là nguồn gốc của nhiều tranh luận ở cấp bang cũng như cấp

địa phương. Một số chính quyền bang đặt ra giới hạn với chính quyền địa phương

trong việc tăng thuế tài sản. Tranh luận này phản ánh quan điểm cho rằng thuế tài sản

đặt gánh nặng đáng kể lên thu nhập trung bình của người sở hữu tài sản. Phạm vi tác

động của thuế tài sản là nguồn gốc của những tranh luận dai dẳng giữa những nhà

kinh tế chuyên tài chính công bởi hai lý do. Thứ nhất, thuế tài sản là nguồn thu sử

dụng để tài trợ cho chi tiêu của chính quyền địa phương, chi tiêu này mang lại giá trị

đối với người chủ sở hữu tài sản. Do vậy, thuế tài sản trên góc độ nào đó chính là phí

sử dụng theo mô hình Tiebout [29,tr.184-186], thuế tài sản là giá mà mỗi địa phương

đưa ra để tài trợ cho việc cung cấp hàng hóa công ở mức tối ưu. Nếu địa phương đang

ở điểm cân bằng Tiebout hoàn hảo thì tại đó tất cả dân cư đều định giá của hàng hóa

công chính là số thuế mà họ phải nộp. Vì vậy, sẽ không có gánh nặng đối với thuế tài

sản, đơn giản chỉ là giá cả mà dân cư tự nguyện trả cho hàng hóa công. Nhưng những

hộ gia đình không đánh giá giá trị của hàng hóa công bằng tổng số thuế mà họ phải trả

có thể phải gánh chịu gánh nặng thuế tài sản. Lý do thứ hai cho những tranh luận về

thuế tài sản chính là thuế này đánh trên đất và tất cả tài sản trên đất. Sự phân biệt như

7

vậy là quan trọng bởi vì mặc dù cung về đất đai là hoàn toàn không co dãn nhưng các

tài sản trên đất là một hình thức đầu tư dài hạn sẽ đặt gánh nặng trên một số người như

nhân công xây dựng các công trình trên đất hay nhà đầu tư trong khu vực xây dựng.

Thực tế, nhiều quan điểm phân tích cho rằng thuế tài sản nhìn chung cũng là thuế vốn

và gánh nặng của thuế này sẽ chia sẻ cho tất cả những người sở hữu vốn.

Như vậy, kết luận cuối cùng về phạm vi tác động của thuế tài sản là không rõ

ràng. Nhưng tối thiểu thì gánh nặng thuế cũng đặt lên hai nhóm có thu nhập cao:

người sở hữu đất đai và người sỡ hữu vốn. Kết quả này hàm ý rằng thuế tài sản cần

phải lũy tiến hơn là mức mà người chi trả các khoản thuế cảm nhận được.

(2) Các loại thuế tài sản

Thuế tài sản không nhất thiết phải bằng nhau đối với tất cả các loại tài sản mà

cần có sự phân biệt.

Nhà ở và tài sản kinh doanh: Sự phân biệt thứ nhất khi thiết kế thuế tài sản là

phân biệt giữa nhà đất để ở và tài sản để kinh doanh. Một số ý kiến cho rằng, để

khuyến khích phát triển kinh tế thì thuế đánh vào tài sản dùng để kinh doanh cần thấp

hơn thuế đánh vào nhà ở. Nhưng điều này không chắc sẽ mang lại lợi ích cho những

người kinh doanh nhà đủ bằng số thuế mà chính quyền địa phương sẽ mất đi.

Đất và tài sản trên đất: Sự phân biệt thứ hai phải được đặt ra khi xây dựng

chính sách thuế tài sản là sự phân biệt giữa đánh thuế đất và đánh thuế đối với tài sản

trên đất như: nhà ở, tòa nhà văn phòng hay trung tâm mua sắm… việc phân biệt này

được Hanry Geogre – một nhà tư tưởng của thế kỷ XIX, cho rằng thu nhập nhận được

từ lao động và vốn phản ánh năng suất hoạt động của các yếu tố này, nhưng thu nhập

nhận được từ sở hữu đất đai thi không – nhấn mạnh. Người sở hữu đất đai phải chịu

thuế một mình bởi vì chính họ sở hữu đất chứ không phải bởi vì các nỗ lực đưa đất đai

vào sản xuất. Do vậy, Geogre đưa ra một kiến nghị mang tính căn bản rằng giảm thiểu

thuế đánh vào lao động và vốn, thay vào đó đánh thuế vào các tài sản trên đất.

Suy luận của Geogre được Mark Lubold – một ủy viên hội đồng thành phố

Holyoke, bang Massachussetts – thể hiện [29]. Các thành phố công nghiệp trước đây

phải gánh chịu một cơ sở đánh thuế đang thu hẹp lại bởi vì có qúa nhiều cao ốc không

sử dụng hoặc đang còn trống. Lubold lưu ý rằng hệ thống thuế tài sản hiện hành “đang

xử phạt những người đang duy trì hoặc nâng cấp tài sản của mình bằng việc phải chịu

thuế cao hơn trong khi đó những người bỏ phí tài sản lại là những người có lợi với

việc phải chịu thuế thấp hơn”. Lubold đã thiết lập hệ thống thuế tài sản cho thành phố

Holyoke theo quan điểm của Geogre bằng việc giảm thuế cho các cao ốc nhưng lại

tăng thuế đất. Lubold cho rằng hệ thống này “sẽ khuyến khích các ông chủ của những

8

cao ốc còn trống cải tạo, tìm người cho thuê và thực hiện kinh doanh bởi vì thuế đất

cao hơn hoặc bán những cao ốc hay tài sản này cho người khác”. Lobold nghiên cứu

700 thành phố trên toàn cầu đã áp dụng thuế đánh trên giá trị của đất bao gồm cả

Sydney – Australia, Cape Town – Nam Phi. Tại Harrisburg, Pennsylvania, số cao ốc

giảm còn trống từ 4000 xuống còn 500 sau khi áp dụng thuế đánh trên giá trị đất đai.

Ngoài ra, công trình nghiên cứa gần đây của Jay K. Rosengard [66], Cải cách

thuế tài sản ở các nước đang phát triển. Với những đóng góp rất có giá trị khoa học

cho các nước đang phát triển và trong đó có Việt Nam. Jay K.Rosengard cho rằng,

mô hình thuế tài sản tại các nước đang phát triển cần phải bảo đảm việc tạo ra đủ

nguồn lực dài hạn cho chính phủ địa phương tùy nghi sử dụng. Yêu cầu này tạo nhiều

nguồn thu hơn cho chính quyền địa phương và tăng cường khả năng phát triển trong

tương lai của thuế tài sản bằng cách cải thiện tính hiệu quả về mặt chi phí quản lý, tính

trung lập kinh tế, và sự công bằng trong thực hiện chính sách.

Theo đó, các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng mô hình thuế tài sản tại các

nước đang phát triển đó là hiệu quả phân bổ và quản lý, công bằng theo chiều dọc và

chiều ngang, tính bền vững của hệ thống. Điều này sẽ bảo đảm tạo ra được nguồn thu

một cách bền vững về mặt tài chính, không làm méo mó kinh tế, công bằng chính trị-

xã hội và bền vững theo thời gian. Mô hình thuế tài sản tại các nước đang phát triển

phải đảm bảo giảm thiểu các chi phí và tối đa hóa độ bền của chính sách thuế bằng

cách: tăng phạm vi thu thuế với việc xây dựng và duy trì cơ sở thuế (tax base) rộng,

chú trọng tính đơn giản thông qua việc thúc đẩy sự minh bạch trong chính sách và rõ

ràng về hành chính cũng như việc duy trì độ đàn hồi ổn định của thuế tài sản.

Nghiên cứu của Jay K. Rosengard [66], khuyến nghị các nước đang phát triển

về các nguyên tắc xây dựng mô hình thuế tài sản là những nguyên tắc tạo nguồn thu

cho ngân sách địa phương một cách hiệu quả, công bằng và bền vững có thể đạt được

bằng cách mở rộng phạm vi thu thuế, đơn giản hóa và tối đa độ nổi của thuế tài sản.

- Hiệu quả phân bổ và quản lý là điều quan trọng để duy trì mối quan hệ hợp lý

giữa nguồn thu tạo ra được với chi phí kinh tế và tài chính để huy động được số thu

đó.

- Công bằng theo chiều dọc và chiều ngang là điều tối quan trọng nếu muốn giải

quyết yếu tố kinh tế và chính trị của thuế tài sản. Công bằng theo chiều dọc và chiều

ngang thể hiện ở chỗ các tài sản tương tự cần có nghĩa vụ thuế được xác định và thanh

toán tương tự nhau, trong khi đó sự khác biệt tương đối về giá trị tài sản cần phải được

phản ánh trong các mức khác biệt tương đối có thể so sánh được trong giá trị tài sản

chịu thuế và phần nộp thuế. Sự công bằng cũng đòi hỏi phải áp dụng một cách rõ

9

ràng, nhất quán và khách quan các chính sách và thủ tục được hiểu và chấp nhận rộng

rãi. Để thể hiện tính công bằng, cần đánh thuế theo các quy tắc chung và khách quan

được thừa nhận là hợp lý và thõa đáng. Tổng số tiền thuế phải nộp cần chắc chắn và

không nên được xác định thông qua thương lượng hoặc yêu sách một cách tùy tiện.

- Tính bền vững của hệ thống là điều cần thiết vì chi tiêu thường xuyên của

chính quyền địa phương thường lấy từ nguồn thu thuế tài sản, chính quyền địa phương

cần một nguồn thu thuế ổn định nhằm phát triển và duy trì mức độ cung cấp dịch vụ

và cơ sở hạ tầng tại địa phương như mong muốn. Để bảo đảm tính bền vững thì hệ

thống thuế tài sản phải cân bằng giữa tính năng động và uyển chuyển với tính ổn định

và nhất quán để cho nó vừa có khả năng thay đổi thích nghi với tình hình, đồng thời

có thể dự báo trước trong quá trình áp dụng.

- Phạm vi thu thuế rộng là điều thiết yếu nếu muốn thuế tài sản phát huy hiệu

quả, công bằng và bền vững. Phạm vi thu thuế được xem là quan trọng bởi vì những

trường hợp bất công nhất và thất thu thuế nhiều nhất là do cơ sở thuế hẹp, bất kể

“hẹp” là do luật định hoặc do cách quản lý trong thực tế. Danh mục tài sản chịu thuế

thường chỉ bao gồm một tỷ lệ nhỏ tài sản chịu thuế. Do vậy, khi nhu cầu tiền thuế tăng

mà lại không mở rộng được danh mục tài sản chịu thuế thì xuất hiện cái vòng tròn lẩn

quẩn từ định giá tài sản chịu thuế cao hơn, giảm mức độ tuân thủ nộp thuế, cơ sở thuế

hiệu dụng nhỏ hơn, số thu thuế thấp hơn và lại tiếp tục định giá tài sản chịu thuế cao

hơn.

- Tính đơn giản phải được thể hiện trong mô hình thuế tài sản, làm gia tăng tính

hiệu quả về mặt chi phí và sự công bằng khi thực thi chính sách thuế. Các thủ tục thuế

tài sản đơn giản sẽ được cán bộ thuế và người nộp thuế nhanh chóng nắm bắt, do vậy

việc quản lý sẽ tương đối dễ dàng và ít tốn kém.

- Độ nổi của thuế - tức số thu thuế tài sản tăng tương ứng với sự gia tăng giá trị

thực của tài sản tăng cũng như những thay đổi chủ quan của chính sách thuế – có vai

trò quan trọng để duy trì và nâng cao giá trị thực của số thu thuế tài sản theo thời gian.

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã có một số công trình khoa học nghiên cứu

về thuế tài sản. Nổi bật là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ tài chính với đề

tài “Mô hình thuế tài sản ở Việt Nam” năm 1995 do Trần Xuân Thắng làm chủ biên,

đề tài “Nghiên cứu thuế tài sản áp dụng tại Việt nam trong những năm tới” năm 2002

do PGS.TS Quách Đức Pháp làm chủ biên và Luận án “Hoàn thiện chính sách thuế

đánh vào tài sản ở Việt nam” năm 2008 của TS. Nguyễn Đình Chiến – Học Viện Tài

Chính. Những đề tài trên đã nghiên cứu những nội dung chủ yếu về thuế tài sản, thực

10

trạng chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam và đề ra các phương hướng

xây dựng chính sách thuế tài sản ở Việc Nam, đây là những công trình nghiên cứu rất

có giá trị về mặt khoa học, đóng góp cho những nhà nghiên cứu cải cách chính sách

thuế ở Việt Nam. Tuy nhiên, các đề tài trên chủ yếu trình bày thực trạng chính sách

thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách

thuế đánh vào tài sản với những căn cứ của nền kinh tế-xã hội Việt Nam tại thời điểm

đó, cụ thể hơn là mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tích lũy tài sản chưa

cao như hiện nay, nguồn thu từ thuế nhập khẩu thời điểm trước đây ở mức rất cao.

Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đưa ra các vấn đề chính sách thuế tài sản

hay liên quan đến tài sản mà chưa chỉ ra mô hình thuế tài sản tối ưu nào cho Việt

Nam, cũng như chưa có một nghiên cứu định lượng nào cho việc kiểm định mô hình

và các giả thuyết đặt ra đối với thuế tài sản. Những nghiên cứu trên chủ yếu tập trung

vào lý luận và so sánh thực tiễn, từ đó khuyến nghị vận dụng chính sách thuế tài sản.

Dưới sự tài trợ kỹ thuật của Cộng đồng Châu Âu cho dự án ETV2 do Bộ tài

Chính chủ trì về thuế tài sản ở Việt Nam, đã có những nghiên cứu, đóng góp ý kiến

thông qua các hội thảo như: Cách đánh thuế tài sản ở Việt Nam, tài liệu Hội thảo ngày

22 và 23/8/2008 tại Hải Phòng; Cải cách thuế của Việt Nam, tài liệu Hội thảo ngày 26

và 27/2/2009 tại TP. Hồ Chí Minh; Thuế Tài Sản ở Việt Nam nên xây dựng theo

hướng nào, tài liệu Hội thảo ngày 31/05/2009; Đánh thuế tài sản để bình ổn thị

trường bất động sản, tài liệu Hội thảo ngày 2/11/2010. Mục đích của các hội thảo trên

nhằm thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu, xây dựng chính sách thuế

tài sản ở Việt Nam, hội thảo là một cơ hội thuận lợi để các nhà nghiên cứu và giới

chuyên môn thảo luận, đề xuất kiến nghị cho việc xây dựng chính sách thuế tài sản

đáp ứng yêu cầu thực tiễn, yêu cầu hội nhập trong những năm tới và phù hợp với

thông lệ quốc tế. Các đại biểu đến từ Văn phòng Chính Phủ, Ban Kinh tế Trung ương,

Cục thuế các tỉnh thành, các Bộ ngành và các chuyên gia trong và ngoài nước đã tập

trung thảo luận về các vấn đề:

- Chính sách thu liên quan đến tài sản ở Việt Nam

- Chính sách thu tài tài chính hiện hành đối với tài sản và khả năng điều chỉnh

của Luật Thuế tài sản.

- Hướng tới hệ thống thuế tài sản hiện đại và toàn diện tại Việt Nam

- Mô hình đánh thuế tài sản ở Việt Nam

Theo quan điểm của TS. Nguyễn Đình Chiến - giảng viên Khoa Thuế và Hải

quan - Học viện Tài chính đã đưa ra ba mô hình chủ yếu khi thiết kế, xây dựng thuế

tài sản trong thời điểm hiện tại: Mô hình thứ nhất, chỉ xây dựng một sắc thuế đánh

11

hàng năm vào giá trị (hoặc giá trị ròng) của toàn bộ các tài sản chịu thuế, còn gọi là

thuế của cải, thuế tài sản. Mô hình thứ hai là xây dựng các sắc thuế khác nhau đánh

hàng năm vào giá trị của các tài sản chịu thuế khác nhau với tên gọi gắn với các tài

sản chịu thuế như: thuế đất, thuế nhà. Mô hình thứ ba, thuế tài sản được thiết kế theo

hình thức kết hợp hai mô hình trên, ngoài thuế tài sản đánh vào giá trị của các tài sản

chịu thuế còn có các sắc thuế khác điều chỉnh đối với các tài sản đặc biệt như: đất, tài

sản thừa kế, biếu tặng.

Đứng trên góc độ một chuyên gia về bất động sản, GS.TSKH Đặng Hùng Võ -

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên môi trường khẳng định: cần xây dựng thuế tài sản

tập trung chủ yếu vào bất động sản để điều chỉnh tình trạng đầu cơ khiến nhà đất tăng

cao. Tuy nhiên, đánh thuế tài sản vào tài sản của đối tượng nào và có đánh thuế vào tài

sản của pháp nhân không cũng là vấn đề đáng quan tâm. Theo TS. Quách Đức Pháp -

Viện trưởng Viện Khoa học Tài chính, chỉ đánh thuế tài sản vào tài sản của các cá

nhân, không đánh thuế tài sản vào tài sản của tổ chức vì mục đích của thuế tài sản là

loại thuế đánh vào thu nhập. Với tư cách là chuyên gia dự án ETV2 về Thuế Tài sản,

TS. Phan Hồng Phúc phân tích: Việc xây dựng Luật Thuế tài sản thể hiện bước cải

cách đáng kể thực trạng chính sách thu tài chính liên quan đến tài sản. Tuy nhiên, khi

nghiên cứu soạn thảo cần lưu ý theo hướng loại bỏ thuế chuyển quyền sử dụng đất (vì

đã đưa vào thuế thu nhập), thuế tài nguyên (chỉ thu đối với tài nguyên khai thác, đất

để khai thác tài nguyên đó được xếp vào đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp)

và lệ phí địa chính (là khoản lệ phí thuần tuý). Các loại thuế sử dụng đất nông nghiệp,

thuế nhà đất, thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, lệ phí trước bạ là các loại thu tài

chính cần nghiên cứu trong quá trình xây dựng dự thảo luật. TS. Nguyễn Văn Phụng,

Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế cho rằng: Đối với thuế tài sản, cần phải xác định rõ

phạm vi áp dụng, cụ thể là nên tập trung vào thuế nhà và đất, đồng thời cần phải quy

định rõ một mức, ngưỡng chịu thuế và miễn thuế phù hợp đối với nhà, đất thuộc các

khu vực thành thị, nông thôn và cho các mục đích sử dụng khác nhau. Thuế tài sản là

loại thuế có ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là thị

trường bất động sản. Vì thế cần nghiên cứu kỹ khi hoạch định và ban hành chính sách

thuế mới hoặc sửa đổi các chính sách thuế hiện hành và đặc biệt hơn là cần xem xét

kinh nghiệm của các nước để chính sách thuế tài sản Việt Nam phù hợp với thông lệ

Quốc tế

Tuy nhiên, kết quả thu được từ những hội thảo trên cũng chỉ dừng lại ở những

góp ý mang tính thảo luận về thuế tài sản, chia sẻ những quan điểm ủng hộ và không

ủng hộ việc đánh thuế tài sản. Vì vậy, cho đến khi thời hạn dự án ETV2 được tài trợ

12

bởi Cộng đồng Châu Âu kết thúc mà vẫn chưa có một kết luận nào cụ thể về “Mô

hình đánh thuế tài sản ở Việt Nam” như mục tiêu đề ra.

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Trước bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay có nhiều chuyển biến tích cực và đặc

biệt là tiến trình hội nhập toàn cầu hóa, chủ trương cải cách thuế của Chính phủ theo

lộ trình có kế thừa chính sách thuế hiện hành, mạnh dạn thay thế những điểm bất hợp

lý và bổ sung những điểm mới sao cho phát huy các vai trò của chính sách thuế, tăng

thu ngân sách, điều tiết vĩ mô, đảm bảo công bằng xã hội. Việc cải cách thuế cũng

phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng bộ với các chính sách khác nhằm

phát triển kinh tế của Việt nam. Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm vào

các nội dung sau:

- Nghiên cứu các mô hình thuế tài sản ở các nước trên thế giới, từ đó rút ra những

kinh nghiệm cho việc xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam

- Phân tích và đánh giá thực trạng về chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt

nam hiện nay, chỉ ra những ưu-nhược điểm của chính sách thuế hiện nay và so

sánh chính sách thuế tài sản với các nước trên thế giới.

- Vận dụng các nguyên tắc xây dựng mô hình thuế tài sản, xác định các nhân tố hình

thành và tác động đến mô hình. Phân tích và đề xuất mô hình thuế tài sản ở Việt

nam theo hướng đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội

hiện nay.

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nội dung lý luận về tài sản, thuế tài

sản, mô hình thuế tài sản và chính sách thuế tài sản ở một số quốc gia, chính sách thuế

và các khoản thu có liên quan đến tài sản ở Việt Nam. Với mỗi sắc thuế đều nghiên

cứu nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật, kết quả đạt được và những hạn chế.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến

thuế tài sản và xu hướng cải cách thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam hiện nay, số

liệu nghiên cứu từ năm 2003 đến năm 2013. Riêng vấn đề tổ chức thực hiện các chính

sách thuế tài sản ra sao thì luận án chỉ đưa ra những đánh giá tổng quát mà không đi

sâu nghiên cứu về phần tổ chức thực hiện các chính sách đó. Tuy nhiên, vì thời gian

nghiên cứu có hạn, nên phần dự báo doanh thu thuế tài sản từ mô hình thuế tài sản

không được nghiên cứu sâu trong luận án.

13

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp diễn

giải, phân tích, điều tra xã hội học, tổng hợp…, lấy phương pháp duy vật biện chứng

làm phương pháp luận nghiên cứu. Với phương pháp này, các chính sách thuế về tài

sản được đặt trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng và được hoàn thiện để

phù hợp với xu thế phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và thế giới. Dựa trên những

lý luận cơ bản về tài sản và thuế tài sản, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên

cứu cụ thể như sau:

- Tiếp cận lý thuyết về thuế nói chung và các sắc thuế liên quan đến tài sản nói

riêng, chú trọng đến vai trò và mục tiêu của chính sách thuế.

- Tham khảo các tài liệu về thuế tài sản của một số quốc gia và các tài liệu

nghiên cứu về chính sách thuế liên quan đến tài sản hiện hành.

- Thảo luận chuyên gia tìm ra các nhân tố hiệu quả cho mô hình thuế tài sản

- Thu thập ý kiến điều tra từ các chuyên gia ngành thuế và tài chính.

- Thống kê số liệu có chọn lọc từ các tài liệu và trang thông tin điện tử có liên

quan (Chính phủ, Bộ tài chính, Tổng cục thống kê, Ngân hàng thế giới…)

- Phân tích mô tả, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của từng sắc thuế liên

quan đến tài sản. So sánh về mức độ đóng góp thu ngân sách, vai trò điều tiết

của các sắc thuế trong hệ thống chính sách thuế liên quan đến tài sản

- Tổng hợp các vấn đề nghiên cứu, suy diễn lô-gíc phục vụ đề xuất mô hình thuế

tài sản

Cơ sở lý thuyết về TS, Thuề TS

Cơ sở thực tiễn, số liệu thống kê, điều tra khảo sát

Phân tích định tính, tìm ra các nhân tố phù hợp cho mô hình thuế TS

Phân tích định lượng, tìm ra các nhân tố tác động mô hình thuế TS

Đánh giá tính phù hợp

Đánh giá mức độ tác động

Tác động của quá trình hội nhập

Chủ trương, chính sách cải cách thuế

Tác động của điều kiện KT-XH

Kiến nghị

Đề xuất mô hình Thuế TS

Hình 1.1: Khung nghiên cứu của luận án

14

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án được nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành cải cách

thuế, trong đó có thuế tài sản. Việc đóng góp ý kiến cho nghiên cứu sửa đổi các văn

bản pháp luật của nhà nước về thuế tài sản là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn,

đặc biệt là các dự thảo Luật sẽ ban hành trong tương lai liên quan đến thuế tài sản.

Luận án đã nghiên cứu, phân tích một cách toàn diện và hệ thống các vấn đề lý

luận về tài sản, chính sách thuế đánh vào tài sản, nghiên cứu kỹ lưỡng mô hình thuế

tài sản của các quốc gia, phân tích chi tiết thực trạng chính sách thuế liên quan đến tài

sản ở Việt Nam hiện nay. Từ đó có những nhận xét, đánh giá về ưu-nhược điểm hiện

nay và định hướng cho mô hình thuế tài sản phù hợp với điều kiện và đặc điểm ở Việt

Nam.

Những kết quả đạt được đáng chú ý qua việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản

trong đề tài luận án:

 Nhận dạng các nhân tố và xây dựng mô hình lý thuyết thuế tài sản.

 Hình thành khung nghiên cứu của Luận án để giải quyết các nội dung và mục

tiêu đưa ra.

 Phân tích thực trạng chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam

 Khảo sát điều tra các nhân tố cấu thành mô hình thuế tài sản và đề xuất mô

hình thuế tài sản trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay.

 Đề xuất định hướng xây dựng chính sách thuế tài sản trên mô hình mới nhằm

hoàn thiện thuế tài sản ở Việt Nam hoàn chỉnh hơn trong tiến trình công nghiệp

hóa-hiện đại hóa và hộp nhập Quốc tế.

1.7 Tên và kết cấu của luận án

Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, ngoài phần mở đầu và

kết luận, nội dung chính của luận án “Xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam”

gồm có 5 chương :

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về thuế tài sản

Chương 3: Thực trạng chính sách về thu ngân sách liên quan đến tài sản ở Việt Nam

Chương 4: Phân tích và đề xuất mô hình thuế tài sản ở Việt Nam

Chương 5: Khuyến nghị ứng dụng mô hình thuế tài sản vào việc xây dựng các chính

sách thuế tài sản ở Việt Nam

15

Kết luận chương 1

Thực ra, ở Việt Nam đã có chính sách thu ngân sách đối với tài sản như đất đai

từ rất lâu. Cụ thể như thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi giao đất hoặc cho thuê đất.

Trong quá trình sử dụng đất có thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất (nay đã

chuyển thành thuế sử dụng đất phi nông nghiệp), khi chuyển nhượng đất có thuế

chuyển quyền sử dụng đất (nay đã chuyển thành thuế thu nhập). Trong thủ tục đăng

ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản có lệ phí trước bạ, khi được giải quyết một

số công việc liên quan đến địa chính phải nộp lệ phí địa chính. Đó là tám khoản thu

đối với tài sản được quy định bởi bốn luật thuế. Việc xây dựng mô hình Thuế tài sản

sẽ gộp các khoản thu trên vào một hệ thống thuế tài sản và mở rộng thêm cơ sở tính

thuế cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay là vấn đề được Chính Phủ Việt

Nam đặc biệt quan tâm.

Cùng với thành tựu gần 30 năm đổi mới của đất nước, thu nhập và đời sống của

người dân ngày càng tăng lên nhanh chóng. Việc xây dựng nhà cửa khang trang, mua

sắm tài sản có giá trị lớn đang phát triển mạnh từ thành thị đến nông thôn cùng với sự

phát triển mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân. Theo đó, chênh lệch giàu nghèo

trong xã hội cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, cần có một mô hình thuế tài sản phù

hợp tình hình mới, vừa khai thác thêm nguồn thu cho NSNN vừa đảm bảo mục tiêu

công bằng xã hội trong chính sách động viên. Mặt khác, thực hiện các cam kết trong

quá trình hội nhập, nguồn thu về thuế nhập khẩu của quốc gia giảm nhiều; các sắc

thuế nội địa, trong đó có các sắc thuế liên quan đến tài sản cần được cải cách để bù

đắp khoản thu bị giảm sút, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng, bảo đảm mối

quan hệ hữu cơ trong hệ thống chính sách thuế mới. Trước thực tế các giao dịch tài

sản, nhà, đất đang biến động khá phức tạp, đa dạng cả trong phạm vi quốc gia và quốc

tế, chính sách thuế liên quan đến tài sản cần phải có những chế tài rõ ràng hơn để góp

phần tích cực vào yêu cầu kiểm kê, kiểm soát vừa phù hợp cơ chế thị trường định

hướng XHCN và vừa phù hợp với thông lệ Quốc tế.

16

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ THUẾ TÀI SẢN

2.1 Tài sản và phân lọai tài sản

2.1.1 Tài sản

Từ thời cổ xưa các đồ vật không phân biệt về mặt giá trị cao hay thấp đều được xem là tài sản. Nhưng thời đại ngày càng phát triển thì càng xuất hiện nhiều dạng tài sản mới, tức là cấu trúc các dạng tài sản càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Trong thực tế thì việc xác định của cải nào thuộc về tài sản là vấn đề rất phức tạp và càng khó khăn hơn khi phải xác định giá trị đích thực của tài sản đó. Theo hai nhà kinh tế học người Anh là Simon James và Christopher trong quyển “Kinh tế học đánh thuế” đã viết: “Tài sản giống như là thu nhập, là những của cải mà một người có được nhờ những nguồn lợi thu được từ hoạt động kinh tế. Sự khác nhau giữa tài sản và thu nhập ở chỗ tài sản là khối lượng của cải ở một thời điểm nào đó còn thu nhập là số của cải thu được trong một khoảng thời gian”

Theo Luật của Anh-Mỹ, tài sản là một công cụ để duy trì sự liên tục của quyền sở hữu của chủ thể trong một thời gian. Vì vậy, khi một người đã quá cố, người ta kiểm kê tất cả tài sản mà họ để lại, xác định các khoản phải thanh toán, các khoản công nợ phải thu-phải trả, từ đó xác định giá trị ròng tài sản còn lại của người quá cố để lại mà những người có đủ tư cách thừa kế được nhận.

Ở Việt Nam, theo luật và tục lệ cổ truyền, các tài sản tư thuộc về gia đình, các quyền đối với tài sản tư của gia đình do người chủ gia đình thực hiện và nghĩa vụ về tài sản chỉ có thể do chủ gia đình quyết định trực tiếp hoặc thông qua các thành viên trong gia đình. Tài sản thuộc về tất cả những người có quan hệ trực tiếp hoặc quan hệ hôn nhân trong gia đình, nhưng việc quản lý tài sản được giao cho cha, mẹ, ông, bà ... nói chung là những người đứng đầu trong gia đình. Cũng có khi ông, bà, cha, mẹ quyết định chia các tài sản của gia đình cho con cháu để có cơ sở kinh tế thành lập các hộ gia đình mới và tài sản được chia đã trở thành tài sản của hộ gia đình mới đó và cứ lần lượt theo cách truyền thống đó mà phát triển.

Theo Bộ Luật Dân sự Việt Nam (2005), tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Như vậy, quyền đối với tài sản phải có đủ hai yếu tố: được thể hiện trị giá bằng tiền và chuyển nhượng được trong giao dịch dân sự. Chủ tài sản có những quyền nhất định đối với tài sản của họ như quyền sử dụng, quyền chuyển đổi, quyền chuyển nhượng, quyền mua bán, quyền cho thừa kế, quyền thế chấp, quyền hủy bỏ…. Ngược lại, quyền bầu cử, quyền tự do, quyền được tôn trọng danh dự không thể hiện được giá trị bằng tiền và cũng không thể chuyển nhượng nên không có tính chất tài sản.

17

Từ những trích dẫn và phân tích trên theo Bộ Luật Dân sự, khái niệm “tài sản”

có thể được hiểu theo những cách sau:

- Thứ nhất, về phương diện pháp lý, tài sản là của cải được con người sử dụng, bản thân “của cải” là một khái niệm luôn được biến đổi và tự hoàn thiện theo sự hoàn thiện của quan niệm về giá trị vật chất. Ở thời La Mã cổ đại, thuật ngữ của cải chỉ khiến người ta liên tưởng đến ruộng, đất, gia súc, nô lệ, hoa lợi từ thiên nhiên… Trong xã hội hiện đại ngày nay, có những của cải rất đặc biệt và đa dạng như sóng vệ tinh, năng lượng nguyên tử, quyền phát minh sáng chế, quyền tác giả, thương hiệu…

- Thứ hai, trong ngôn ngữ thông dụng, tài sản là một vật được con người sự dụng, một vật cụ thể có thể nhận biết được bằng giác quan trực tiếp như: ô tô, máy bay, tàu thuyền, giấy bạc, nhà cửa… Trên phương diện khác, mọi tài sản có thể được xem là hữu hình hay đều có thể trở thành hữu hình hóa, ví dụ như quyền sử dụng đất có thể chuyển nhượng, có thể nhận tiền đền bù và chuyển thành tiền hoặc một tài sản hữu hình khác. Tóm lại, của cải vật chất chỉ có thể là tài sản khi chúng có thể được sở hữu, tức là có thể thuộc quyền sở hữu của một cá nhân, một tập thể hay một quốc gia nào đó. Tài sản phải có khả năng mua bán, chuyển nhượng được, có hao mòn và biến mất.

- Thứ ba, tài sản là những vật có thực như nhà cửa, phương tiện giao thông, tiền, vàng, giấy tờ trị giá được bằng tiền … của một chủ thể ở một thời điểm nhất định. Tài sản được tạo ra có thể từ sự bắt nguồn khác nhau như từ lao động, sản xuất kinh doanh, thu nhập mang lại, từ đầu tư vốn, nhận biếu tặng, được hưởng thừa kế… Tài sản có thể thường xuyên thay đổi trạng thái và giá trị tùy thuộc vào hành động của chủ sở hữu hay do nguyên nhân khách quan tác động và nó có thể tăng hoặc giảm với nhiều lý do khác nhau.

Qua đó rút ra nhận xét, khái niệm tài sản không phải là một khái niệm bất biến mà nó được biến đổi và tự hoàn thiện theo quan niệm về giá trị vật chất. Vì vậy, khi nghiên cứu khái niệm tài sản, cần phải chú ý đến các khía cạnh sau: - Tài sản có thể đồng nghĩa với của cải tồn tại dưới dạng hữu hình hay vô hình trong trường hợp của cải đó trị giá được bằng tiền và chủ sở hữu có thể ứng xử những quyền đối với của cải đó.

- Tài sản phải luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. - Tài sản hoàn toàn khác với thu nhập - Tài sản khác với vốn, tài sản chỉ có thể trở thành vốn khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, còn tài sản cất giữ nó chỉ là vốn tiềm năng trong tương lai. - Quan niệm về tài sản trong kinh tế phải nhất quán với quy định trong luật dân sự về tài sản. Bời vì, các tài sản, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có những quyền và nội dung, hình thức và phương thức thực hiện các quyền đó do Luật xác định.

18

2.1.2 Phân loại tài sản

Tài sản rất phong phú và đa dạng, người ta có thể phân loại tài sản theo những

tiêu thức khác nhau: - Căn cứ nguồn hình thành tài sản: gồm tài sản do thiên nhiên đem lại như đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên khoáng sản, thắng cảnh ... và tài sản do con người tạo ra do lao động, được thừa kế, cho tặng như nhà cửa, tàu thuyền, xe cộ…

- Theo yêu cầu hình thái biểu hiện: gồm tài sản hữu hình (đất đai, nhà cửa, vật kiến trúc ...) và tài sản vô hình (thương hiệu, quyền tác giả, bằng sáng chế phát minh....) - Căn cứ theo đặc điểm: gồm có bất động sản và động sản. Bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai, nhà công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng, các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định; động sản là những tài sản không phải là bất động sản

- Căn cứ theo yêu cầu quản lý: có tài sản thuộc diện quản lý của nhà nước, phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng như nhà, đất, phương tiện vận tải, súng thể thao, súng săn,.... và tài sản không thuộc diện quản lý, không bắt buộc phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (máy vi tính, thiết bị văn phòng, hàng kim khí điện máy...)

Theo Bộ Luật Dân sự năm 2005, các loại tài sản bao gồm:

 Bất động sản và động sản

- Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng, các loại tài sản khác gắn liền với đất đai.

- Động sản là những tài sản không phải là bất động sản

 Hoa lợi, lợi tức

- Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại - Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản

 Vật chính và vật phụ  Vật chia được và vật không chia được  Vật tiêu hao và không tiêu hao  Vật cùng loại và vật đặc định  Vật đồng bộ  Quyền tài sản

2.2 Thuế tài sản

2.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế tài sản

Thuế tài sản là tên gọi chung của các sắc thuế đánh vào quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản. Sắc thuế tài sản phổ biến nhất là thuế bất động sản, ở một số quốc gia, chính quyền tách bất động sản thành nhà ở và đất ở và tương ứng là hai sắc

19

thuế riêng. Thời phong kiến Việt Nam, thuế điền thổ, còn gọi là thuế ruộng đất là một loại thuế tài sản phổ biến. Có một sắc thuế tài sản được thu khi phát sinh sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản, như thuế trước bạ, thuế thừa kế.

Theo Huỳnh Huy Quế-một nhà nghiên cứu có gần 50 năm kinh nghiệm về

chính sách thuế, cho rằng [18]:

- Thuế tài sản là tên gọi để chỉ sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Đây là một trong ba cách phân loại theo nội dung của hệ thống thuế gồm: thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập là được tích luỹ và vật chất hoá dưới dạng tài sản). Việc phân biệt rõ đối tượng đánh thuế tài sản, đối tượng đánh thuế thu nhập và thuế tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng để có căn cứ xác định chính xác thời điểm cũng như cơ sở đánh thuế, tránh được sự trùng lắp, chồng chéo về nội dung động viên thu nhập của đối tượng chịu thuế .

- Thuế tài sản là loại thuế ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại với hình thức đầu tiên là thuế đất được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các xã hội cổ đại, vì lúc đó đất đai hầu như là tài sản duy nhất thật sự có giá trị và nhà nước có điều kiện thuận lợi để nắm chắc, quản lý và đánh thuế. Khi nền kinh tế-xã hội của các quốc gia ngày càng phát triển, trên thế giới dần dần xuất hiện nhiều loại của cải khác thuộc đối tượng đánh thuế tài sản. Thông thường, việc đánh thuế vào tài sản không tính đến nguồn gốc thu nhập tạo ra tài sản có từ đâu, lúc nào… mà chỉ quan tâm đến trị giá tài sản của chủ thể có quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) vào thời điểm nhất định.

- Thuế tài sản được điều chỉnh theo quyền sở hữu, quyền sử dụng, khai thác hay chuyển nhượng tài sản tại thời điểm nhất định, theo quy định của pháp luật, với nhiều hình thức tên gọi khác nhau, chủ yếu là: thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ, lệ phí trước bạ); thuế thừa kế; thuế quà biếu; thuế nhà đất; thuế tài sản (đánh tổng hợp trên toàn bộ giá trị bất động sản, động sản và tài sản tài chính của một chủ thể); thuế chuyển nhượng tài sản (nhà, đất, vốn, trái phiếu…); thuế khai thác tài nguyên quốc gia. Thuế tài sản được đánh giá là loại thuế trực thu có thể động viên tương đối sát với khả năng đóng góp thực tế của người chịu thuế vì thuế đánh vào những tài sản cụ thể, nhất là nhà và đất, là những vật thực có, dễ nhận biết hơn các đối tượng đánh thuế thu nhập hay tiêu dùng. Thuế tài sản được thể hiện dưới nhiều hình thức với tên gọi khác nhau như thuế mua tài sản, thuế nhà, thuế đất, thuế đăng ký tài sản, thuế chuyển nhượng tài sản… với những đặc điểm như sau:

Thuế tài sản là loại thuế dựa trên quan điểm đánh thuế theo lợi ích, những người được hưởng lợi ích nhiều thì phải nộp thuế nhiều hơn. Điều này xuất phát từ thực tế là nhiều loại tài sản được bảo tồn, phát triển và sinh lợi là do được thừa hưởng

20

rất nhiều từ các dịch vụ công cộng của nhà nước. Ví dụ, giá trị đất có thể tăng lên rất nhiều nhờ việc mở đường, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, các công trình vui chơi giải trí… mà không cần một sự đầu tư nào của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, nhà nước bảo vệ tài sản của chủ sở hữu bằng cách công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế, bảo vệ tài sản trong trường hợp bị mất cắp…Như thế, người có tài sản cần phải đóng góp một khoản tiền nhất định cho nhà nước để thực hiện các chi phí công cộng. Từ luận điểm này, việc đánh thuế tài sản thường được xem xét trên giá trị lợi ích khác nhau về các dịch vụ công cộng mà chủ sở hữu tài sản đã được hưởng.

Thuế tài sản mang tính chất là loại thuế hổ trợ cho thuế đánh trên thu nhập. Thu nhập từ tài sản thường khó xác định được nếu chủ sở hữu cố tình che dấu, trong khi tài sản dù là động sản hay bất động sản khó mà che dấu được. Thuế đánh vào tài sản cho phép khai thác hết khả năng của người nộp thuế. Điều này, còn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế vì nó khuyến khích chủ sở hữu tài sản sử dụng tài sản có hiệu quả nhất. Thuế tài sản chỉ ảnh hưởng đến một phần thiểu số dân cư thuộc diện giàu có nên dễ nhận được sự ủng hộ của đại đa số người dân.

Thuế tài sản là một trong những biện pháp can thiệp của nhà nước trong việc giải quyết sự không công bằng về phân phối tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Thông thường sự bất bình đẳng về phân phối tài sản dễ nhận thấy hơn trong phân phối thu nhập và tiêu dùng. Biện pháp để điều chỉnh sự bất bình đẳng thông qua phân phối tài sản là đánh thuế tài sản. Với quan điểm này, đòi hỏi thuế tài sản phải đáp ứng được yêu cầu là đánh trên tất cả các tài sản chứ không phải chỉ đánh trên một số loại tài sản, giá tính thuế phải là giá trị tài sản ròng chứ không phải là tổng giá trị tài sản.

Thuế tài sản là sắc thuế có thể phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm của các chủ thể trong nền kinh tế. Do việc đánh thuế tài sản sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích lũy bằng tài sản và khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh nên có thể sử dụng thuế tài sản làm công cụ kích cầu, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Thuế tài sản, đặc biệt là loại thuế đăng ký, thường dễ thu. Thuế đăng ký tài sản là loại thuế dễ thu vì loại thuế này được xây dựng phù hợp với tâm lý của người có tài sản, muốn được xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp và bảo hộ đối với một số tài sản có giá trị.

2.2.2 Vai trò của thuế tài sản

Việc đánh thuế tài sản không đơn giản chỉ nhằm mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà xuất phát từ nhiều lý do xét trên nhiều khía cạnh kinh tế, xã hội. Thuế tài sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng như hệ thống ngân sách nhà nước, cụ thể: Thứ nhât, Thuế tài sản là nguồn thu rất quan trọng cho ngân sách Nhà Nước. Thuế đánh vào tài sản thường chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng thu ngân sách của

21

nhiều Quốc gia và cũng chính là loại thuế dễ quản lý thu. Những bất động sản, nhà cửa không thể di dời hay che dấu được. Máy bay, ô tô, tàu thuyền… thì không thể không đăng ký lưu thông. Nhìn chung ở các Quốc gia áp dụng thuế tài sản đã mang về nguồn thu rất cao cho ngân sách Nhà Nước. Ví dụ như ở Canada, Mỹ, Úc, Ireland, Newzeland thuế tài sản chiếm trên 85% trong tổng thu ngân sách [20].

Thứ hai, Thuế tài sản góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Công bằng xã hội luôn là một khái niệm rất quan trọng khi xây dựng bất kỳ chính sách thuế nào, đối với thuế tài sản thì công bằng xã hội được hiểu như sau: những người sở hữu một lượng tài sản có giá trị lớn, những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập nhiều hơn, ngoài những tài sản phục vụ cho đời sống sinh hoạt cá nhân họ còn có các tài sản tích trữ, đầu tư sinh lợi thì những chủ thể này phải có một nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách Nhà nước và cuối cùng thì ngân sách này thực hiện chức năng phân phối và phân phối lại. Bất kỳ một xã hội nào càng phát triển thì càng có sự phân cực giữa hai tầng lớp người giàu và người nghèo. Vì vậy, đứng ở góc độ quản lý Nhà nước đảm bảo một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thì chính sách thuế tài sản là một công cụ thực hiện mục tiêu này. Bên cạnh đó, thuế tài sản còn có vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa các thế hệ, tăng cường đoàn kết nội bộ, giảm đi sự chênh lệch quá đáng về thu nhập trong các tầng lớp xã hội.

Thứ ba, thuế tài sản còn được coi là công cụ hữu hiệu của Chính phủ. Thuế tài sản còn được coi là công cụ nhằm thực hiện việc quản lý, kiểm kê, kiểm soát đối với các loại tài sản có giá trị. Thông qua đó thấy được sự chênh lệch giàu nghèo, mức sống của các tầng lớp dân cư, tiềm năng nguồn lực xã hội... Từ đó Chính phủ có những quyết sách hợp lý cho việc phát triển kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ nhất định.

Như vậy, xét trên khía cạnh việc đánh thuế tài sản là cần thiết vì nó khắc phục các khiếm khuyết của thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt là đối với những nước mà mức độ thu nhập cá nhân có diện đánh thuế hạn hẹp và bị hạn chế do năng lực thực hiện. Cùng với các loại thuế khác, thuế tài sản cho phép thực hiện được các mục tiêu, yêu cầu đề ra về tài chính, kinh tế, xã hội... đồng thời phát huy tác dụng hỗ trợ có hiệu quả cho thuế đánh vào thu nhập và tiêu dùng trong hệ thống thuế. Đó cũng chính là lý do mà thuế tài sản ra đời đã từ lâu và đang được nhiều nước sử dụng, kể cả trong xu thế cải cách hệ thống chính sách thuế hiện nay theo hướng đơn giản, giảm bớt các loại thuế. Tuy nhiên trong một hệ thống thuế gồm nhiều loại thuế thu nhập có diện đánh thuế mở rộng thì hình thức thuế tài sản đánh vào những tài sản do thu nhập tạo ra đã chịu thuế thu nhập có thể dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng vào khoản tiết kiệm và vì vậy sẽ không mang lại hiệu quả kích thích các đối tượng tạo ra thu nhập trong xã hội. Do vậy, việc đánh thuế tài sản cần phải được xem xét, phân tích thận trọng trong mối quan hệ với các loại thuế khác, đặc biệt là đối với các loại thuế trực thu để thuế tài sản

22

vừa đáp ứng yêu cầu tăng thu cho Ngân sách nhà nước một cách hợp lý, vừa khắc phục được sự trùng lắp, chồng chéo trong cách đánh thuế thu nhập, không kìm hãm phát triển sản xuất kinh doanh và không làm cản trở ý chí làm giàu chính đáng, mua sắm tài sản của các tầng lớp dân cư.

Thuế tài sản không những là một biện pháp tài chính động viên cho ngân sách mà còn là một yêu cầu có tính kỹ thuật hệ thống nhằm đảm bảo việc đóng góp công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội và phục vụ mục tiêu quản lý của nhà nước. Vì lẽ đó, cùng với thuế tiêu dùng, thuế tài sản là một hình thức thu bổ sung của thuế thu nhập nhằm đảm bảo tính công bằng và tính hiệu quả của cả hệ thống thuế.

Thứ tư, có tác dụng làm giảm nhẹ gánh nặng cho thuế thu nhập. Thuế tài sản thực chất là một loại thuế bổ sung cho thuế thu nhập vì nó đánh vào một dạng tồn tại khác của thu nhập (thu nhập tích lũy được tài sản hoá). Theo quan điểm này, việc sử dụng nhiều hình thức đánh thuế vào các dạng tồn tại của thu nhập (như yêu cầu đánh thuế lũy tiến vào thu nhập) là cần thiết để đảm bảo yêu cầu bao quát hết tất cả các nguồn thu. Về nguyên tắc thì chỉ cần đánh thuế thu nhập là đủ vì tất cả các khoản thuế có tính chất trực thu, suy cho cùng đều được trích từ thu nhập của đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên, nếu chỉ đánh một lần duy nhất vào thu nhập khi phát sinh thì mức thuế sẽ phải cao và do đó không có lợi về mặt tâm lý, thậm chí kìm hãm các hoạt động tạo ra thu nhập. Hơn thế nữa, việc đánh thuế một lần vào thu nhập sẽ có khuynh hướng không đảm bảo công bằng vì khả năng kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu thường rất khó khăn đối với chính quyền thu thuế. Vì vậy, việc đánh thuế tài sản thực chất cũng là đánh thuế vào phần thu nhập được tài sản hoá. Diện đánh thuế tài sản rộng hơn diện đánh thuế thu nhập, bao gồm mọi tài sản, không phân biệt tài sản đó mang lại thu nhập hay không, đảm bảo công bằng xã hội. Việc đánh thuế tài sản sẽ có thêm cơ hội để hạ bớt thuế suất thuế thu nhập, làm cho sắc thuế này được đông đảo người dân chấp nhận hơn.

Thứ năm, phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm. Thuế tài sản phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm của các tác nhân trong nền kinh tế. Việc đánh thuế tài sản sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích luỹ bằng tài sản và khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư sản xuất kinh doanh, qua đó góp phần thực hiện tốt chủ trương kích cầu để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

2.2.3 Quan điểm chung về việc đánh thuế tài sản

2.2.3.1 Quan điểm ủng hộ việc đánh thuế tài sản

Theo Huỳnh Huy Quế-một nhà nghiên cứu có gần 50 năm kinh nghiệm về

chính sách thuế, cho rằng [18]:

23

- Về mặt lý thuyết chỉ cần đánh thuế trên thu nhập là đủ vì tất cả các khoản thuế

suy cho cùng đều động viên từ thu nhập của công chúng. Song nếu chỉ có một

loại thuế thì mức thuế này phải rất cao mới đảm bảo nguồn thu cần thiết cho

NSNN. Từ đó sẽ cản trở đến tinh thần hăng say lao động để có nhiều thu nhập

vì phải nộp thuế cao. Hơn nữa, nếu chỉ có thuế thu nhập thì khả năng rủi ro về

thất thu sẽ rất lớn. Việc đánh thuế vào tài sản vừa tạo điều kiện giảm bớt số

thuế đánh vào thu nhập, vừa cho phép động viên thêm phần thu nhập đã trốn

hoặc tránh thuế.

- Việc đánh thuế tài sản xuất phát từ nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích. Những

người được hưởng lợi ích từ Nhà nước nhiều phải nộp thuế cao. Nhà, đất và các

tài sản khác được bảo tồn, phát triển và sinh lời là nhờ được thừa hưởng rất

nhiều lợi ích từ các dịch vụ công cộng của Nhà nước để làm tăng thêm giá trị

của một số tài sản. Chẳng hạn, giá trị nhà, đất có thể tăng lên nhiều do Nhà

nước cải tạo, mở rộng cơ sở hạ tầng mà không cần có sự đầu tư của chủ sở hữu.

Từ đó, người có tài sản, đặc biệt với tài sản có giá trị cần phải có trách nhiệm

đóng góp để Nhà nước có thêm nguồn trang trãi các khoản chi này.

- Thuế tài sản mang tính chất là khoản thu bổ sung vào thuế đánh vào thu nhập,

đặc biệt ở các nước mà thuế thu nhập cá nhân còn bị hạn chế và trình độ quản

lý còn yếu kém. Thuế tài sản cho phép tính đến khả năng lớn lao của người nộp

thuế, được thể hiện bằng lượng của cải hơn là lượng tiền họ bỏ ra để tiêu dùng.

Thuế tài sản còn góp phần hướng dẫn, khuyến khích sử dụng tài sản có hiệu

quả thông qua đầu tư vào vốn kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế hơn là cất

giữ tài sản, loại thuế này thường động viên vào một số tầng lớp dân cư giàu có

nên dễ được sự đồng tình, ủng hộ của đại bộ phận quần chúng nhân dân.

- Thuế tài sản là một công cụ có hiệu lực phục vụ yêu cầu quản lý của Nhà nước

trong hoàn cảnh sở hữu tài sản còn quá chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư.

Thông qua thuế tài sản, Nhà nước có thể thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát,

quản lý những loại tài sản quan trọng trong xã hội và động viên một phần đóng

góp của chủ sở hữu tài sản có giá trị lớn, có nhiều thu nhập từ tiền cho thuê,

chuyển nhượng, góp phần điều hoà thu nhập xã hội, thực hiện nghĩa vụ đóng

góp công bằng, khuyến khích sử dụng tài sản hợp lý và hiệu quả.

- Thuế tài sản thường dễ thu do người chủ sở hữu tài sản thường muốn công khai

đăng ký để được Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hay quyền sử dụng hợp pháp

của mình khi có tranh chấp, kiện tụng… Vấn đề cần được quan tâm là mức

đóng góp của chủ tài sản phải được xây dựng hợp lý, phù hợp, nhất là với tài

sản đã qua nhiều lần luân chuyển và với tài sản có giá trị lớn khiến người nộp

thuế phải bỏ ra khoản tiền nhiều.

24

- Đối với tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền sở hữu quốc gia, thì việc đánh thuế

mang tính chất chuyển nhượng tài nguyên cho người khai thác là một việc cần

thiết. Ngoài ra, việc đánh thuế vào việc sử dụng đất đai thuộc quyền sở hữu

toàn dân cũng là hợp lý và bảo đảm được sự công bằng về quyền lợi và nghĩa

vụ công dân với NSNN, kể cả trường hợp nộp thuế vào nhà đất để ở, không có

thu nhập.

- Thuế tài sản còn phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu

dùng, đầu tư và tiết kiệm trong đời sống xã hội. Việc đánh thuế vào tài sản sẽ

góp phần hạn chế ý thích muốn tích luỹ bằng tài sản cất giữ, khuyến khích tăng

tiêu dùng hoặc đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Qua đó, góp phần thực hiện tốt

chủ trương kích cầu, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Với những lý do đó, việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản trong bối cảnh hiện

nay là cần thiết, nhằm phát huy tác dụng bổ sung cho thuế đánh vào thu nhập, đánh

vào tiêu dùng trong hệ thống chính sách thuế.

2.2.3.2 Quan điểm không ủng hộ việc đánh thuế tài sản

Bất kỳ một sắc thuế nào khi ban hành cũng có những ý kiến không đồng thuận

cần sửa đổi bổ sung. Lập luận phản đối về việc áp dụng thuế tài sản thường tập trung

các ý kiến sau [18]:

- Tài sản được hình thành trong quá trình tích lũy thu nhập mà bản thân thu nhập

đó đã chịu thuế rồi, chưa tính đến những tài sản còn chịu các thứ thuế khác khi

mua sắm và khi đăng ký.

- Nếu đánh thuế trên những tài sản cất trữ không dùng cho hoạt động tạo ra thu

nhập thì vô hình dung đã tướt đoạt dần giá trị tài sản của chủ sở hữu.

- Thuế tài sản có thể gây ra sự ảnh hưởng nền kinh tế nếu như mức thuế suất và

giá tính thuế đưa ra áp dụng không hợp lý sẽ làm cho những người sở hữu tài

sản ngần ngại đầu tư tài sản.

2.2.4 Các hình thức đánh thuế tài sản

(a) Đánh thuế trên tất cả các tài sản

Theo hình thức này, đối tượng đánh thuế tài sản là tất cả các loại tài sản mà một

chủ sở hữu có được (gồm cả bất động sản và động sản). Trị giá tài sản chịu thuế là giá

trị tài sản ròng, là khỏan chênh lệch giữa tổng giá trị các tài sản và các chi phí, tiền

vay tạo thành tài sản đó. Hình thức thuế của cải đánh trên giá trị tài sản ròng thường

thích hợp trong điều kiện xã hội có mức thu nhập bình quân đầu người cao, khu vực

kinh tế tư nhân phát triển, tài sản có sự tập trung quá mức vào một nhóm người giàu

có dẫn đến khoảng cách chênh lệch đáng kể giữa giàu và nghèo, loại thuế này thường

được áp dụng ở các nhóm nước OECD. Thuế suất thường sử dụng theo hình thức thuế

suất lũy tiến, mức độ lũy tiến phụ thuộc vào mức độ tập trung tài sản trong xã hội cao 25

hay thấp vào một nhóm người giàu có nhất định. Nếu khoảng cách chênh lệch giàu

nghèo quá lớn thì mức lũy tiến cần thiết kế cao hơn. Ngược lại, mức lũy tiến vừa phải

hoặc đôi khi không cần sử dụng loại thuế suất này.

(b) Đánh thuế vào một bộ phận tài sản

Theo hình thức này, đối tượng đánh thuế tài sản chỉ là một bộ phận trong toàn

bộ tài sản của chủ sở hữu, có hai hình thức thuế phổ biến khi tính theo phương pháp

này:

- Thuế bất động sản: Đối tượng nộp thuế là chủ sở hữu đất, nhà và bất động sản

khác. Thuế suất thường là thuế suất lũy tiến áp dụng trên trị giá tài sản chịu thuế, với

mức động viên thấp và chỉ mang tính chất quản lý. Thuế bất động sản thường được

giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý và thu vào ngân sách địa phương.

- Thuế đánh một lần vào tài sản khi chuyển dịch quyền sở hữu: Thuế được thực

hiện khi đối tượng nộp thuế cần có chứng nhận quyền sở hữu khi mua bán, thừa kế,

chuyển dịch động sản hoặc bất động sản. Thuế chỉ đánh một lần khi đăng ký quyền sở

hữu, mức thuế thường là thuế suất tỷ lệ tính trên giá trị giá tài sản chịu thuế hoặc là

định suất thuế (giá trị tuyệt đối) theo đơn vị tài sản.

Mức thuế cao hay thấp tùy theo yêu cầu và mục đích điều tiết: Áp dụng mức

thuế thấp nếu ngoài việc nộp thuế chuyển dịch quyền sở hữu, hàng năm còn phải nộp

thuế tài sản. Áp dụng mức thuế cao nếu chỉ chịu một lần thuế tài sản khi đăng ký. Giá

tính thuế tài sản thường được căn cứ theo giá thị trường tại thời điểm đánh thuế tài

sản. Một số trường hợp khó xác định giá thị trường thì áp dụng giá tính thuế do nhà

nước quy định. Nguồn thu từ các loại thuế đăng ký tài sản khi chuyển dịch quyền sở

hữu thuộc các cấp ngân sách, trong đó có một phần cho ngân sách địa phương.

2.2.5 Vị trí của thuế tài sản trong hệ thống thuế

Nếu phân loại hệ thống thuế theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế (đối tượng

đánh thuế) thì thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản là ba sắc thuế cấu thành

một hệ thống thuế. Cả ba loại thuế nói trên đều được trang trãi bằng thu nhập của các

cá nhân trong xã hội. Mỗi loại thuế đảm nhận thu cho nhà nước theo những phương

pháp thích hợp, đồng thời tạo ra hiệu ứng tối ưu nhất đối với nền sản xuất xã hội.

Thuế đánh vào thu nhập làm giảm bớt thu nhập khả dụng của người có thu nhập. Thuế

đánh vào tiêu dùng làm cho người tiêu dùng bị điều tiết một phần thu nhập mà nếu

không có nó người tiêu dùng đã có thể mua được nhiều hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng

hơn. Thuế đánh vào tài sản làm giảm bớt sự giàu có hoặc lợi ích do tài sản mang lại

cho chủ sở hữu của chúng. Điều đó cho thấy sự tồn tại của ba loại thuế thu nhập, tiêu

dùng và tài sản là tất yếu, thể hiện sự phù hợp, tương ứng theo sát chu kỳ vận động

của thu nhập. Có thể minh hoạ điều này thông qua sơ đồ biểu diễn dưới đây: 26

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ biểu diễn chu kỳ vận động của thu nhập

(2) (5) Thu nhập tiêu dùng Thuế tiêu dùng

(1)

(3) (5)

Thu nhập hiện tại Thuế thu nhập Thu nhập tương lai Thuế thu nhập

Thu nhập tích lũy hiện vật hóa thành tài sản Thuế tài sản (5)

(4) (5)

(5) Thu nhập tích lũy khác Tài sản tài chính hóa

Nguồn: [66].

Ghi chú: (1) Thu nhập nhận được trong hiện tại chưa sử dụng sẽ bị đánh thuế thu nhập. (2) Thu nhập còn lại (sau thuế thu nhập) khi tiêu dùng bị đánh thuế tiêu dùng. (3) Thu nhập còn lại dùng cho mục đích tích luỹ tài sản bị đánh thuế tài sản. (4)Tài sản tích lũy khác không hiện vật hoá (tài sản tài chính) thông thường không bị đánh thuế tài sản vì thực chất chúng chỉ là những trái vụ phản ánh quyền nắm giữ tài sản của chủ sở hữu. Phần tài sản thực đã tồn tại dưới dạng hiện vật như chứng khoán, cổ phiếu,…tạo nên tài sản hiện vật của người vay vốn.

(5)Thu nhập dùng cho tiêu dùng, mua tài sản hoặc tích luỹ dưới dạng tài sản tài chính

đến lượt nó lại tạo ra thu nhập tiềm năng trong tương lai và một quá trình đánh thuế

mới lại bắt đầu (mũi tên đứt đoạn chỉ dòng thu nhập tương lai ở nhiều chu kỳ đánh

thuế sau đó).

Như vậy, hệ thống thuế là một thể thống nhất gồm nhiều loại thuế cấu thành, được thiết kế dựa trên những nguyên lý và tiêu thức nhất định nhằm phát huy tối đa những chức năng của mỗi sắc thuế đồng thời thực hiện một cách có hiệu quả mục tiêu của toàn bộ hệ thống. Một hệ thống thuế hoàn chỉnh phải gồm đầy đủ các loại thuế cơ bản là: thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản. Sự hiện diện của ba loại thuế nói trên không đơn thuần là biện pháp cốt lõi để thu được thuế mà quan trọng hơn là một sự tinh xảo, một kỹ nghệ trong việc thiết kế hệ thống các sắc thuế nhằm đảm bảo tiêu thức công bằng và hiệu quả một cách tối ưu.

27

2.3 Thuế tài sản trong các lý thuyết kinh tế

2.3.1 Lịch sử nghiên cứu thuế tài sản

Nghiên cứu đánh thuế tài sản từ lâu đã là một phần trong phát triển phân tích

kinh tế mà khởi đầu là những người theo thuyết trọng nông ở Pháp, sau đó là Ricardo

và tiếp theo là George, vì vậy các tài liệu kinh tế liên quan đến thuế tài sản là rất rộng.

Trong suốt 40 năm qua, ba lý thuyết đã được đưa ra để miêu tả ảnh hưởng kinh tế của

thuế tài sản. Những người theo “quan điểm truyền thống” đưa ra giả thuyết rằng, do

nguồn cung đất đai là cố định nên người sở hữu hoặc người thuê đất sẽ phải chịu thuế

đất. Tuy nhiên, những người theo “quan điểm mới” lại kết luận rằng thuế đất hoàn

toàn gần giống với một loại thuế tổng hợp đánh vào toàn bộ tiền vốn. Còn những

người theo “quan điểm lợi ích” lại đưa ra giả thuyết rằng thuế tài sản được xem xét

một cách đầy đủ thì nó không phải là thuế, mà là một loại phí hiệu quả đánh vào

người sử dụng dịch vụ công cộng ở địa phương. Cho đến nay, những nghiên cứu thực

nghiệm vẫn không xác định được liệu quan điểm mới hay quan điểm lợi ích là mô

hình đánh thuế tài sản phù hợp hơn [45].

Các loại thuế tài sản cơ bản được xác định bao hàm các loại thuế đánh vào

những bất động sản, động sản và phụ thuộc vào giá trị tài sản đó. Nhìn chung, thuế tài

sản được quản lý thông qua việc sử dụng mức thuế thống nhất đối với giá trị định giá

của tài sản chịu thuế. Trong phạm vi giới hạn nhất định, các mức thuế thường khác

nhau phụ thuộc vào loại hoặc nhóm tài sản bị đánh thuế. Hệ thống thuế tài sản khác

nhau đáng kể giữa các phạm vi pháp lý liên quan đến loại tài sản bao gồm cơ sở tính

thuế, kỹ thuật định giá được sử dụng để xác định giá trị tài sản chịu thuế và mức thuế

suất áp dụng đối với các nhóm tài sản khác nhau.

Tài liệu kinh tế xem xét mô hình thuế tài sản có phạm vi rất rộng, các nhà kinh

tế phát triển các giả thuyết khác nhau liên quan đến phạm vi tác động của thuế tài sản

và tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thuyết này. Nghiên cứu

về đánh thuế tài sản gắn chặt với nghiên cứu về cung cấp các dịch vụ công cũng như

việc phân tích cân bằng tổng thể về đánh thuế tài sản phải xem xét đến lợi ích công

cộng được đưa ra thông qua hệ thống đánh thuế tài sản. Những mô hình kinh tế về

đánh thuế tài sản đóng vai trò khá quan trọng, là cơ sở cho các đề xuất chính sách

công mà theo đó mức thuế tài sản khác nhau hoặc quy trình đánh giá khác nhau có thể

dùng để bảo vệ đất nông nghiệp hoặc khuyến khích phát triển ở khu vực thành thị.

Các nhà kinh tế cũng kiểm tra việc quản lý hệ thống thuế tài sản, bao gồm thủ tục

đánh giá thích hợp khi định giá tài sản nhằm mục đích tính thuế.

Theo như mô tả của Winfrey cũng như của Buchanan và Flowers [45], thuế tài

sản là một trong những loại hình tính thuế sớm nhất được xem xét từ góc độ kinh tế.

Từ những người theo trường phái trọng nông ở Pháp giữa thế kỷ XVIII, bao gồm cả 28

Francois Quesnay– người đầu tiên mở ra học thuyết này, những nhà kinh tế đầu tiên

đã kết luận rằng: tài sản là cơ sở hợp lý nhất để tính thuế mà cụ thể là đất đai. Những

người theo trường phái trọng nông xem đất nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất duy nhất

của nền kinh tế, tạo ra thặng dư lớn hơn chi phí sản xuất thực tế. Tất cả các lĩnh vực

kinh tế khác của nền kinh tế chỉ đơn giản cung cấp dịch vụ hoặc biến đổi hàng hóa từ

dạng này sang dạng khác.

David Ricardo, nhà kinh tế học cổ điển người Anh cũng cho rằng đất đai là yếu

tố sản xuất thích hợp bị đánh thuế. Theo Ricardo, tăng dân số sẽ làm tăng nhu cầu đối

với sản phẩm nông nghiệp, do đó sẽ dẫn đến nhiều đất đai được đưa vào sử dụng hơn.

Do cần nhiều lao động hơn để làm những vùng đất tăng thêm này hiệu quả, Ricardo lý

giải rằng chi phí lớn hơn sẽ được thể hiện trong việc giá cả sản phẩm nông nghiệp

tăng lên. Giá cả sản phẩm nông nghiệp tăng lên sẽ làm tăng thu nhập cho những người

sở hữu nhiều đất đai màu mỡ hơn, đây là những người không phải đối mặt với việc

tăng chi phí sản xuất đối với phần đất biên tăng thêm [45]. Cũng theo Ricardo, phần

thu nhập tăng thêm này hay gọi là “tô”, thặng dư này cần phải bị đánh thuế bởi vì nó

không thể hiện chi phí sản xuất thực tế [45].

Theo Henry George, quan điểm của các nhà tư tưởng trọng nông và Ricardo

được xem là cơ sở cho thay đổi về thuế duy nhất dành được sự ủng hộ mạnh mẽ tại

Mỹ vào cuối thế kỷ XIX. George (1879) cho rằng lợi nhuận thu được từ đất đại diện

cho tô kinh tế [45] có thể bị đánh thuế mà không làm thay đổi việc phân bổ nguồn lực

mà nếu thay đổi thì sẽ không còn thuế nữa. Trong thuật ngữ ngày nay, tô kinh tế được

định nghĩa là lợi nhuận bất kỳ yếu tố sản xuất nào vượt quá phần lợi tức mà yếu tố đó

có thể nhận được khi sử dụng ở mức tốt nhất tiếp theo. Do đó, thuế của riêng tô kinh

tế do bất kỳ yếu tố cụ thể nào cũng sẽ không dẫn đến việc chuyển yếu tố đó từ sử dụng

thường xuyên sang sử dụng thay thế. Thêm vào đó, những người có quan điểm giống

George cho rằng bất kỳ gia tăng nào trong giá trị đất đai phát sinh từ việc tăng trưởng

nền kinh tế được xem là thặng dư do xã hội tạo ra mà có thể đánh thuế một cách hợp

pháp. George đã khẳng định: Thuế tính trên giá trị đất không thể kiểm tra sản xuất ở

mức độ nhỏ nhất, cho tới khi chúng vượt quá mức tô, hoặc giá trị đất được lấy hàng

năm, đối với các khoản thuế khác đánh vào hàng hóa, hoặc trao đổi, hoặc vốn, hoặc

bất kỳ công cụ hay quá trình sản xuất nào, chúng sẽ không cho vào sản xuất. Giá trị

đất không thể hiện được phần thù lao sản xuất, cũng như tạo ra giá trị của cây trồng,

vật nuôi, tòa nhà, hay của bất kỳ thứ gì mà được gọi là động sản. Nó thể hiện giá trị

trao đổi của độc quyền. Giá trị đất không phải trong mọi trường hợp tạo ra do cá nhân

sở hữu đất, nó tạo ra nhờ sự phát triển của cộng đồng. Do đó, cộng đồng có thể lấy hết

mà không có cách nào làm giảm động lực cải tiến hoặc ở mức độ nhỏ nhất giảm sản

xuất ra của cải. Thuế có thể được áp đặt theo giá trị đất đai cho tới khi tất cả tô được 29

nhà nước đảm nhận, mà không làm giảm tiền lương người lao động hay khiến sản

xuất khó khăn hơn [45].

Tại Mỹ, việc sử dụng thuế tài sản bị giới hạn trong phạm vi pháp lý bang và địa

phương. Thêm vào đó, doanh thu có được thông qua đánh thuế vào động sản giảm so

với đánh thuế vào bất động sản [61]. Mặc dù bước tiến về thuế duy nhất của George

chưa bao giờ được thực hiện đầy đủ chủ yếu do các khó khăn về hành chính nhưng nó

vẫn hiện hữu trong cơ chế thuế tài sản mà theo đó đất đai bị đánh thuế mạnh hơn so

với các dạng tài sản khác [66].

2.3.2 Lý thuyết đánh thuế tài sản

2.3.2.1 Tổng quan

Các nhà kinh tế phát triển ba lý thuyết cơ bản xem xét tác động của thuế tài

sản. Quan trọng hơn, mỗi lý thuyết đều phân biệt thuế đất đai và thuế vốn. Kết quả

quan sát cho rằng thuế tài sản có thể có tác động khác biệt đến đất đai trái ngược với

các hình thức vốn khác bắt nguồn từ khác biệt về tính co giãn về cung của mỗi đối

tượng. Dựa trên giả thiết rằng cung đất đai phụ thuộc vào thuế là cố định trong phạm

vi pháp lý cho trước, quan điểm truyền thống chỉ ra rằng thuế đất sẽ do người sử dụng

đất chịu, mà cụ thể đó là người sở hữu hoặc người thuê đất [61]. Tuy nhiên, quan

điểm mới lại đưa ra kết luận rằng thuế đất đai có thể tách ra thành hai phần là thuế thu

nhập và thuế tiêu thụ đặc biệt [56]. Do phần thuế thu nhập tương đương với thuế

chung đánh vào vốn nên phần thuế tài sản đó sẽ đánh vào người sở hữu vốn. Cuối

cùng, quan điểm lợi ích giả thiết rằng thuế tài sản được xem là phí đánh vào người sử

dụng các dịch vụ công tại địa phương [45]. Do người tiêu dùng các dịch vụ công là

thay đổi nên quan điểm lợi ích cho rằng thuế tài sản trong nhiều trường hợp là cơ cấu

tài chính hiệu quả đối với các dịch vụ công.

2.3.2.2 Quan điểm truyền thống

Quan điểm truyền thống về thuế tài sản bắt nguồn từ Simon [67] và Netzer

[61]. Quan điểm truyền thống ủng hộ cách tiếp cận cân bằng từng phần theo đó thuế

tài sản được xem là khoản thanh toán riêng biệt đối với vốn và đất đai. Cung vốn được

xem là hoàn toàn co dãn và cung đất đai được xem là hoàn toàn không co dãn. Như

được nêu trong Hình 2.1, lợi tức của người sở hữu vốn là mức tiền thuê được xác định

trong quốc gia đối với vốn ( ). Nếu phạm vi pháp lý quy định mức thuế đánh theo tỷ

lệ (t) đối với vốn, chi phí vốn sẽ tăng lên bằng (1+t) để duy trì lợi tức sau thuế tính

trên vốn của và tổng vốn trong phạm vi pháp lý sẽ giảm từ xuống . Ảnh

hưởng này có thể lập thành mô hình khi giảm cầu vốn từ D xuống D’, ảnh hưởng này

cũng sẽ xảy ra nếu phạm vi pháp lý quy định mức tăng trong tỷ suất thuế tài sản hiện

hành.

30

Hình 2.1: Cung vốn hoàn toàn co dãn

xuống

Nếu thuế tài sản tính theo tỷ lệ cũng được áp dụng cho cung đất đai hoàn toàn không co dãn thì kết quả đạt được là giá trị vốn hóa thuế hoàn hảo từ lợi tức đất đai. Như chỉ ra trong Hình 2.2, lợi tức tính trên đất sẽ giảm từ (1-t). Ngoài ra, do cung đất là cố định, thuế không tác động vào số lượng đất nhưng gây ra giảm chi phí đất.

Quan điểm truyền thống được áp dụng để kết luận rằng đánh thuế tài sản đối với phần đất đai thặng dư có tính giảm dần. Kết luận này dựa trên giả thiết rằng phần thu nhập dành cho nhà cửa giảm khi thu nhập tăng. Tuy nhiên, theo quan điểm truyền thống, Netzer kết luận rằng thuế tài sản có tính tỷ lệ hơn là giảm dần [61]. Ngoài ra, liên quan đến nhà cửa, Netzer nhận thấy rằng thuế tài sản giảm dần dựa theo nghiên cứu thực nghiệm thực hiện lúc đó. Netzer sau này cũng cảnh báo rằng các nghiên cứu kết luận rằng thuế tài sản có tính giảm dần bị lệch bởi vì những nghiên cứu đó chấp nhận thu nhập hiện tại hơn là thu nhập danh nghĩa hay vĩnh viễn [62].

31

2.3.2.3 Quan điểm mới

Những người đầu tiên đưa ra quan điểm mới về thuế tài sản là Thomson [69], Mieszkowski [56]. Sau đó quan điểm mới được Mieszkowski và Zodrow [58] xây dựng lại. Quan điểm này phân tích trạng thái cân bằng chung của phạm vi pháp lý ở một quốc gia và cho rằng cả tiền vốn của quốc gia đó cũng như đất đai nằm trong mọi phạm vi thẩm quyền đều là tài sản cố định.

Như Wassmer [70] đã mô tả, sự phân tích nhấn mạnh quan điểm mới này thường bị đơn giản hóa khi người ta cho rằng chỉ có ba loại quyền tài phán khác nhau tồn tại theo nhu cầu dịch vụ địa phương là quyền tài phán thấp, vừa và cao. Xét về ngắn hạn, tài sản được cấu thành từ tiền vốn hoặc đất đai được xem là tài sản cố định trong mọi phạm vi thẩm quyền với Po. Trước khi tính thuế, thu nhập từ vốn (return on capital) có tỷ lệ được xác định trên toàn quốc (Rn). Sau khi tính thuế, thu nhập từ vốn giảm đúng bằng khoản thuế phải đóng, giống như diễn giải của quan điểm truyền thống về đất đai nói riêng. Mức giảm này lớn nhất trong phạm vi thẩm quyền trong đó nhu cầu dịch vụ là cao nhất, khi cần phải đạt doanh thu lớn hơn nhằm cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu. Như chỉ ra trong Hình 2.3, thu nhập giảm xuống bằng Rh1 trong phạm vi thẩm quyền có nhu cầu cao, Rm1 trong phạm vi thẩm quyền có nhu cầu vừa và R11 trong phạm vi thẩm quyền có nhu cầu thấp.

Mức giảm thu nhập từ tài sản trong phạm vi thẩm quyền có nhu cầu vừa từ Rn xuống còn Rm1 được gọi là ảnh hưởng từ “thuế lợi nhuận”, chính là mức giảm giá trị thị trường của tài sản ở tất cả các khu vực tính theo mức thuế bình quân [58]. Ảnh hưởng từ thuế lợi nhuận tăng lên trong phạm vi thẩm quyền có nhu cầu cao do ảnh hưởng tiêu cực từ “thuế hàng hóa” (excise tax), bằng mức chênh lệch giữa Rh1 và Rm1. Điều này là do phạm vi thẩm quyền có nhu cầu cao chịu mức thuế cao hơn khu vực có nhu cầu vừa. Tuy nhiên, trong phạm vi thẩm quyền có nhu cầu thấp, ảnh hưởng từ thuế lợi nhuận được giảm bớt phần nào nhờ ảnh hưởng tích cực từ thuế hàng hóa, bằng mức chênh lệch giữa R11 và Rm1. Điều này là do phạm vi thẩm quyền có nhu cầu thấp chịu mức thuế thấp hơn khu vực có nhu cầu vừa.

Do thu nhập từ tài sản trong ba loại phạm vi thẩm quyền khác nhau cũng như tiền vốn được coi là tài sản lưu động hoàn hảo về dài hạn nên tiền vốn sẽ bị rút khỏi phạm vi thẩm quyền có nhu cầu cao (khu vực có mức thu nhập từ tài sản thấp nhất), khiến mức đầu tư tài sản (supply of property) vào khu vực này giảm từ Po xuống P1. Tiền vốn này sẽ được chuyển sang phạm vi thẩm quyền có nhu cầu thấp (khu vực có mức thu nhập từ tài sản cao nhất), giúp tăng đầu tư tài sản từ Po lên P1. Mức giảm đầu tư tài sản trong phạm vi thẩm quyền có nhu cầu cao khiến khoản thu nhập từ tài sản tăng lên từ Rh1 lên Rh2. Mức tăng đầu tư tài sản trong phạm vi thẩm quyền có nhu cầu thấp sẽ khiến khoản thu nhập từ tài sản giảm từ R11 xuống R12. Trạng thái cân bằng đạt được khi khoản thu nhập từ tài sản sau thuế ở cả ba loại phạm vi thẩm quyền Rh2,

32

Rm1, và R12 bằng nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng là ảnh hưởng của thuế hàng hóa lên thuế tài sản, như diễn giải ở trên sẽ gây ra ảnh hưởng không chính xác trong các phạm vi thẩm quyền có nhu cầu cao, vừa và thấp [45].

Nhu cầu cao Nhu cầu vừa Nhu cầu thấp

Hình 2.3: Mức độ ảnh hưởng tài sản do nhu cầu

Hình 2.3 chỉ ra, chi phí thuê tài sản trong ba loại khu vực không giống nhau. Chi phí thuê trong khu vực có nhu cầu cao, Rh3 cao hơn chi phí thuê tài sản trong khu vực có nhu cầu vừa Rn và Rn lại cao hơn chi phí thuê trong khu vực có nhu cầu thấp R13. Trong trường hợp lợi ích tăng lên nhờ dịch vụ tốt hơn không thể bù lại chi phí thuê tài sản cao trong khu vực có nhu cầu cao thì các cá nhân có thể chuyển từ khu vực có nhu cầu cao sang khu vực có nhu cầu vừa hoặc thấp. Ngược lại, nếu lợi ích tăng lên nhờ dịch vụ tốt hơn có thể bù lại chi phí thuê tài sản cao thì các cá nhân có thể chuyển từ khu vực có nhu cầu thấp sang khu vực có nhu cầu vừa hoặc cao. Sự dịch chuyển này sẽ giúp chi phí thuê tài sản ở cả ba khu vực ngang bằng nhau, trừ khi các cá nhân có tính lưu động hoàn toàn (perfect mobile) và khi đó mức chênh lệch vẫn tồn tại [45]. Khác với quan điểm truyền thống, ảnh hưởng của thuế tài sản theo quan điểm mới nhìn chung ngày càng tăng lên. Lý do là vì thuế thu nhập chủ yếu làm giảm thu nhập từ vốn, bằng mức thuế “bình quân” trên toàn quốc. Theo kết luận của Mieszkowski và Zodrow [58], do bộ phận có thu nhập cao nắm giữ phần lớn vốn nên phần thuế lợi nhuận của bất kỳ khoản thuế thu nhập nào cũng đều thể hiện sự “không ngừng tăng lên” xét theo quan điểm mới.

2.3.2.4 Quan điểm lợi ích

Quan điểm lợi ích mở rộng phân tích của quan điểm mới, bổ sung những lợi ích

mà chủ sở hữu tài sản thu được từ thuế tài sản. Theo Hamilton [48], [49], quan điểm

lợi ích vừa nhấn mạnh các nhận định của quan điểm mới cho rằng tính lưu động hoàn

toàn của các cư dân cũng như khả năng của khu vực thuộc quyền tài phán tham gia

vào quá trình phân vùng tài chính (fiscal zoning). Nếu việc cung cấp các dịch vụ công

cộng được xem là chính sách tốt thì quan điểm mới cho rằng chính quyền nên cung 33

cấp các ưu đãi nhằm tận dụng đất đai ở khu vực có nhu cầu cao sao cho lợi ích của các

dịch vụ công cộng cao hơn những thiệt hại mà thuế tài sản gây ra. Quan điểm lợi ích

cho rằng các phạm vi thẩm quyền sẽ tham gia vào quá trình phân vùng tài chính theo

đó giá trị của các hạng mục nhà cho phép trong phạm vi thẩm quyền sẽ bị giới hạn

bằng giá trị tối thiểu nào đó, điển hình là việc sử dụng quyền phân vùng của phạm vi

thẩm quyền hoặc thông qua một số quyền lực khác nhằm kiểm soát việc sử dụng đất

đai và các khoản ưu đãi. Với giá trị tối thiểu này, doanh thu từ thuế tài sản sẽ bù lại

đúng bằng giá trị của dịch vụ công cộng thu được.

Do đó, quan điểm lợi ích tuân theo mô hình Tiebout (1956) trong đó thuế tài

sản trở thành thuế thân (thuế đầu người) hoặc chi phí công bằng đánh vào người sử

dụng dịch vụ công cộng. Giả sử có số lượng vừa đủ phạm vi thẩm quyền thuộc một

khu vực trung tâm rộng lớn hơn cung cấp các dịch vụ công cộng đa dạng, đồng thời

tính lưu động của khách hàng sử dụng những dịch vụ này tăng lên thì khi đó thuế tài

sản sẽ trở thành một phương tiện hữu hiệu để đầu tư cho các dịch vụ công cộng. Quan

trọng là quan điểm lợi ích không đòi hỏi bất kỳ phạm vi thẩm quyền nào phải đồng

nhất về giá trị dân cư. Hamilton chứng minh rằng trong các cộng đồng hỗn tạp, sự

chênh lệch giữa lợi ích đạt được từ dịch vụ công cộng và thuế phải trả sẽ được vốn

hóa thành giá trị tài sản. Fischel William [47] đã mở rộng quan điểm lợi ích để xét tới

cả thuế tài sản thương mại và công nghiệp. Việc coi thuế tài sản là thuế thân hay chi

phí đánh vào người sử dụng dịch vụ công cộng theo quan điểm lợi ích, giúp tránh các

mối lo ngại về việc tăng hay giảm thuế tài sản theo quan điểm truyền thống và quan

điểm mới dựa vào mối quan hệ giữa thuế tài sản và việc cung cấp các dịch vụ công

cộng.

2.4 Những nhân tố cơ bản của mô hình thuế tài sản

Để hình thành bất kỳ một mô hình thuế nào, điều cần thiết đầu tiên là phải xác

định các nhân tố cấu thành sắc thuế đó. J.K. Rosengard [66] đúc kết từ lý thuyết và

kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia và cho rằng, các nhân tố cơ bản hình thành sắc

thuế tài sản bao gồm cơ sở thuế (tax base), thuế suất (tax rate) và hình thức (method)

đánh thuế.

- Cơ sở thuế (căn cứ tính thuế) bao gồm: phạm vi đối tượng chịu thuế tài sản, thu

nhập chịu thuế hoặc tài sản chịu thuế, tỷ lệ giá trị tài sản chịu thuế, ngưỡng

chịu thuế.

- Thuế suất: sự đồng nhất hay khác biệt thuế suất; thuế suất lũy tiến, tỷ lệ hay lũy

thoái.

- Hình thức đánh thuế: thể hiện cách thức đánh thuế dựa trên giá trị hay thu

nhập; đánh thuế hàng năm hoặc đánh thuế một lần.

34

Hình 2.4: Các nhân tố cơ bản của thuế tài sản

2.5 Những nguyên tắc xây dựng mô hình thuế tài sản

2.5.1 Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng

Công bằng theo chiều dọc và chiều ngang là điều tối quan trọng nếu muốn giải quyết yếu tố kinh tế và chính trị của cải cách thuế tài sản. Hệ quả chính trị – trong đó mọi người cảm nhận là bất công - của cơ chế thuế tài sản có thể lớn hơn rất nhiều so với lợi ích kinh tế của cơ chế thuế đó. Công bằng theo chiều dọc và chiều ngang thể hiện ở chỗ các tài sản tương tự cần có nghĩa vụ thuế được xác định và thanh toán tương tự nhau, trong khi đó sự khác biệt tương đối về giá trị tài sản cần phải được phản ánh trong các mức khác biệt tương đối có thể so sánh được trong giá trị tài sản chịu thuế và phần nộp thuế. Sự công bằng cũng đòi hỏi phải áp dụng một cách rõ ràng, nhất quán và khách quan các chính sách và thủ tục được hiểu và chấp nhận rộng rãi. Để công bằng, cần đánh thuế theo các quy tắc chung và khách quan được thừa nhận là hợp lý và công bằng. Tổng số tiền thuế phải nộp cần chắc chắn và không nên được xác định thông qua thương lượng hoặc yêu sách một cách tùy tiện.

Nguyên tắc chắc chắn để bảo đảm tính công bằng trong đánh thuế và những hậu quả của tính không chắc chắn được Adam Smith thể hiện sinh động hơn: Thuế mà mỗi cá nhân phải trả cần rõ ràng không được tùy tiện. Thời gian nộp, cách thức nộp, lượng thuế cần nộp tất cả cần phải rõ ràng và minh bạch đối với người nộp thuế và với tất cả những người khác. Nếu không được như vậy thì mỗi người chịu thuế phải chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi quyền lực ít nhiều của nhân viên thu thuế - người có thể tăng thuế vào bất kỳ người nộp thuế nào đáng ghét, hoặc vòi vĩnh, đe dọa sẽ thực hiện tăng thuế, hoặc phải có quà cáp hoặc bổng lộc nào đó dành cho họ. Tính bất định của thuế khuyến khích sự xấc láo và tạo thuận lợi cho tham nhũng trong một nhóm người vốn không được mọi người ưa thích, thậm chí ngay cả khi họ không xấc láo và tham nhũng [66].

35

Công bằng là một yêu cầu rất quan trọng trong việc xây dựng mô hình thuế, tính công bằng của thuế thể hiện ở hai mặt pháp lý và kinh tế. Theo các nhà kinh tế học, tính công bằng của thuế được xem xét ở hai giác độ, công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Công bằng theo chiều ngang là các đối tượng có tình trạng và khả năng nộp thuế ngang nhau thì phải được đối xử về thuế như nhau. Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử về thuế khác nhau đối với các đối tượng có tình trạng và khả năng đóng thuế khác nhau. Tính công bằng về thuế còn được các nhà kinh tế học xem xét ở khía cạnh khả năng đóng thuế, lợi ích của người nộp thuế. Theo quan niệm này, công dân chỉ đóng thuế theo tỉ lệ tương ứng với những lợi ích mà họ nhận được từ nhà nước và họ chỉ đóng thuế theo khả năng của họ. Xét ở khía cạnh lý luận, những quan điểm này rất hợp lý và thể hiện quan điểm nhân văn cũng như dân chủ của chính sách thuế, tránh được tình trạng tận thu thuế, cũng như đòi hỏi nhà nước phải chú ý đến việc cung cấp các lợi ích công cộng tương ứng với sự đóng góp của người dân. Tuy nhiên trên thực tế, có một số khó khăn khi vận dụng các quan điểm này, xuất phát từ việc thuế không hoàn trả trực tiếp, rất khó để cân đong đo đếm xem một người có nhận được những lợi ích công cộng tương đương với sự đóng góp của họ hay không hay nói một cách khác “không có sự tương thích giữa việc nộp thuế và lợi ích nhận được từ thuế”. Ở những trường hợp mà mục tiêu của thuế là nhằm điều tiết thu nhập, rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo thì việc xác định mức độ tương thích giữa sự đóng góp và lợi ích nhận được này còn phải được phân tích kỹ lưỡng hơn vì một số lợi ích công cộng mà người giàu nhận được từ nhà nước sẽ khác so với một số lợi ích mà người nghèo được hưởng. Hoặc có một số lợi ích giống nhau nhưng người giàu sẽ có điều kiện để hưởng nhiều hơn và ngược lại. Áp dụng việc đánh thuế dựa trên khả năng đóng thuế của người dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn đối với các quốc gia mà ở đó nhà nước không thể quản lý được tất cả các khoản thu nhập (chính thức, không chính thức) của người dân.

Về mặt pháp lý, pháp luật Việt Nam luôn luôn hướng đến sự công bằng, bình đẳng. Nguyên tắc này cũng được công nhận trong Hiếp pháp Việt Nam. Theo đó, mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử. Nguyên tắc công bằng này được đảm bảo bằng việc gắn chặt chính sách thuế với chế độ dân chủ và nhà nước pháp quyền.

2.5.2 Nguyên tắc bền vững và khả thi

Tính bền vững của hệ thống thuế tài sản là điều cần thiết vì chi tiêu thường xuyên của chính quyền địa phương thường lấy từ nguồn thu thuế tài sản, chính quyền địa phương yêu cầu một nguồn thu thuế ổn định nhằm phát triển và duy trì mức độ cung cấp dịch vụ và cơ sở hạ tầng tại địa phương như mong muốn. Để bảo đảm tính bền vững thì hệ thống thuế tài sản phải cân bằng giữa tính năng động và uyển chuyển với tính ổn định và nhất quán để cho nó vừa có khả năng thay đổi thích nghi với tình

36

hình, đồng thời có thể dự báo trước trong quá trình áp dụng. Yếu tố then chốt nhất của tính bền vững là hệ thống thông tin quản lý phải vận hành tốt để giảm thiểu khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn.

Nguyên tắc khả thi rất quan trọng trong việc xây dựng bất kỳ một sắc thuế nào,

nguyên tắc khả thi thể hiện ở những điểm sau: - Nguyên tắc khả thi đòi hỏi sắc thuế phải tính đến khả năng đóng thuế của người dân từ đó đưa ra cách thức điều chỉnh thích hợp. Nhà nước không thể bắt người dân đóng thuế khi họ không có khả năng đóng góp. Khả năng đóng góp của người dân thể hiện ở chỗ người dân chỉ phải đóng thuế khi mà thu nhập chịu thuế của họ là khoản thu nhập còn dư ra sau khi chi cho những nhu cầu cần thiết. Thông thường các quốc gia tính toán và đưa ra những định mức chi tiêu cần thiết áp dụng chung cho mọi người dân. Nếu thu nhập của họ không vượt quá định mức này, họ không phải đóng thuế. Khả năng đóng thuế của người dân còn thể hiện ở chỗ người dân có tiền để đóng thuế hay không mặc dù xét về sự giàu có về tài sản, họ có thể rất giàu. Lúc này nhà nước phải xem xét có đánh thuế hay không, nếu đánh thuế thì những người này sẽ làm gì để không phải đóng thuế hoặc phải làm gì để có tiền đóng thuế và từ đó đưa ra quy định phù hợp với chủ trương của nhà nước (trong thời điểm đó).

- Nguyên tắc khả thi cũng thể hiện ở việc thi hành luật thuế, cơ quan thuế phải có khả năng xác định đúng đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, số thuế phải thu. Ngòai ra, cơ quan thuế cũng phải có khả năng phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp trốn thuế, tránh thuế.

2.5.3 Cơ sở thuế rộng và thuế suất thấp

Phạm vi thu thuế rộng là điều thiết yếu nếu muốn thuế tài sản phát huy tính

hiệu quả, công bằng và bền vững. Phạm vi thu thuế quan trọng bởi vì những trường

hợp bất công nhất và thất thu thuế nhiều nhất là do cơ sở thuế hẹp, bất kể “hẹp” là do

luật định hoặc do cách quản lý trong thực tế, danh mục tài sản chịu thuế thường chỉ

bao gồm một tỉ lệ nhỏ tài sản chịu thuế. Do vậy khi nhu cầu tiền thuế tăng mà lại

không mở rộng được danh mục tài sản chịu thuế thì xuất hiện cái vòng tròn lẩn quẩn

từ định giá tài sản chịu thuế cao hơn, giảm mức độ tuân thủ nộp thuế, cơ sở thuế hiệu

dụng nhỏ hơn, số thu thuế thấp hơn và lại tiếp tục định giá tài sản chịu thuế cao hơn.

Tuy nhiên, thậm chí khi danh sách tài sản chịu thuế đầy đủ và chính xác đi chăng nữa

thì sẽ không tạo ra cơ sở thuế rộng trong thực tiễn nếu không có cơ chế hành thu hữu

hiệu.

Cơ sở để đánh thuế tài sản thường được luật quy định khá hẹp đến mức cản trở

thuế tài sản trở thành một nguồn thu quan trọng. Điều này là do nhiều khu vực hoặc

loại tài sản đặc biệt được miễn thuế hoàn toàn hoặc không chịu thuế nếu nằm dưới giá

trị tối thiểu nào đấy; tỉ lệ định thuế (assessment ratio) thấp sẽ tạo khoảng cách lớn giữa 37

thuế suất danh nghĩa và thuế suất hiệu dụng; hoặc có quá nhiều tỉ lệ định thuế và thuế

suất làm tăng tính phức tạp và sự tùy tiện thường khuyến khích tình trạng phân loại tài

sản chịu thuế không đúng trong thực tế. Ngoài ra, cơ sở thuế hẹp làm tăng nhu cầu cần

có mức thuế suất tương đối cao. Điều này không chỉ không có hiệu quả về mặt kinh tế

do mất mát vô ích từ cải thiện đất đai tăng theo bình phương thuế suất mà nó còn

không có công bằng xã hội bởi vì nó làm tăng gánh nặng thuế của các công dân khi tài

sản của họ không bị loại bỏ khỏi cơ sở thuế.

2.5.4 Nguyên tắc đơn giản

Nguyên tắc đơn giản phải được thể hiện trong cả khâu thiết kế và điều chỉnh

thực hiện để hạn chế sự chủ quan, võ đoán và tình trạng tham nhũng trong công tác

quản lý thuế. Tính đơn giản trong thiết kế thuế tài sản đòi hỏi việc đánh thuế phải dựa

trên cơ sở rộng với các mức thuế suất thống nhất cho các loại tài sản. Mặc dù điều này

trái ngược hoàn toàn với lý thuyết thuế tối ưu nhưng thuế tối ưu lẫn thống nhất đều nỗ

lực nâng cao hiệu quả kinh tế – chúng chỉ khác nhau ở phương thức nhằm đạt được

mục tiêu này mà thôi. “Thuế tối ưu” cố gắng tối thiểu hóa gánh nặng thuế quá mức

bằng các mức thuế suất khác nhau dựa vào các hàm phúc lợi xã hội, dựa vào thu nhập

và những phản ứng tương quan dự kiến của người nộp thuế đối với những thay đổi về

giá tương đối do thuế tạo ra – chú trọng vào các mức thuế suất lũy tiến và công bằng

theo chiều dọc. Trái lại, “thuế thống nhất” phản đối thuế tối ưu cả về lý thuyết có tính

suy đoán và cả phương pháp tiếp cận mà nó quá phức tạp không thể thực hiện được

cho dù nó dựa vào phần phân tích đúng đắn, lý thuyết thuế thống nhất cho rằng thuế

tối ưu bỏ qua hoàn toàn bộ phận quản lý thuế của quá trình cải cách thuế bằng cách

giả định rằng công tác quản lý thuế là hoàn hảo, điều đó cũng tương đồng với việc giả

định của nhà vật lý về một thế giới không có ma sát [66]. Do vậy, thuế thống nhất cố

gắng hạn chế các chi phí của thuế bằng cách khuyến cáo sử dụng các cấu trúc đơn

giản của cơ sở thuế rộng, cho phép sử dụng thuế suất biên hiệu dụng thấp hơn, do vậy

mới có khả năng giảm mức độ biến dạng do thuế gây ra.

Tính đơn giản trong quản lý thuế tài sản làm gia tăng tính hiệu quả về mặt chi

phí và sự công bằng khi thực thi chính sách thuế. Các thủ tục thuế đối với tài sản đơn

giản sẽ được chuyên viên thuế và người nộp thuế nhanh chóng nắm bắt, do vậy việc

quản lý sẽ tương đối dễ dàng và ít tốn kém – nếu có tình trạng lạm dụng thì cả hai bên

đều dễ dàng biết được. Hơn nữa các tác nghiệp khi đã được hợp lý hóa cho phép mở

rộng phạm vi thu thuế chỉ với nguồn lực hạn chế và khuyến khích người nộp thuế tự

nguyện tuân thủ do dịch vụ được cải thiện.

Nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu phải được thể hiện ở cả khía cạnh kinh tế lẫn

pháp lý. Thông thường cơ quan thuế quan tâm nhiều đến số tiền thuế thu được cho

ngân sách, nhưng người chịu thuế luôn muốn biết xem ngoài thuế, họ còn phải chịu 38

thêm chí phí liên quan nào nữa hay không ví dự như chi phí thuê khai thuế, chi phí xin

giấy phép ưu đãi đầu tư, thời gian mà họ phải bỏ ra để hoàn thành nghĩa vụ thuế đối

với nhà nước… Giảm bớt các chi phí liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế rất

quan trọng trong việc cải cách thuế. Hầu hết các quốc gia đều mong muốn luật thuế

của mình đơn giản và dễ hiểu. Ví dụ như trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ

nhiệm kỳ 2004-2008, cả Kerry và Bush đều hứa là sẽ đơn giản hóa luật thuế. Điều này

rất được người dân Mỹ hoan nghênh vì luật thuế liên bang của Mỹ đã gần 60.000

trang [66]. Sự phức tạp của luật thuế do nhiều yếu tố như sự phát triển của các lọai

hình kinh tế, sự phát triển của các nguồn thu nhập, quy trình làm luật...

Tuy nhiên, nếu một sắc thuế quá đơn giản cũng không phải luôn luôn là một

điểm tích cực. Thuronyi (2008) đã chỉ ra rằng ở những nước đang phát triển có luật

thuế rất đơn giản và với luật thuế như thế, các nước này không thể điều chỉnh những

giao dịch phức tạp [66]. Cơ quan quản lý thuế không thể đưa ra được hướng dẫn thích

hợp cho người nộp thuế, người chịu thuế hoặc cơ quan quản lý thuế không có khả

năng kiểm tra những giao dịch đó dẫn đến tình trạng trốn, tránh thuế và thất thu ngân

sách.

Tính đơn giản phải được thể hiện trong cả khâu thiết kế và điều chỉnh thực hiện

để hạn chế sự chủ quan, võ đoán và tình trạng tham nhũng trong công tác quản lý

thuế. Tính đơn giản trong thiết kế thuế tài sản đòi hỏi việc đánh thuế phải dựa trên cơ

sở rộng với các mức thuế suất thống nhất cho các loại tài sản. Mặc dù điều này trái

ngược hoàn toàn với lý thuyết thuế tối ưu, nhưng thuế tối ưu lẫn thống nhất đều nỗ lực

nâng cao hiệu quả kinh tế – chúng chỉ khác nhau ở phương thức nhằm đạt được mục

tiêu mà thôi, “Thuế tối ưu” cố gắng tối thiểu hóa gánh nặng thuế quá mức bằng các

mức thuế suất khác nhau dựa vào các hàm phúc lợi xã hội dựa vào thu nhập và những

phản ứng tương quan dự kiến của người nộp thuế đối với những thay đổi về giá tương

đối do thuế tạo ra – chú trọng vào các mức thuế suất lũy tiến và công bằng theo chiều

dọc. Trái lại, “thuế thống nhất” phản đối thuế tối ưu cả về lý thuyết có tính suy đoán

và cả phương pháp tiếp cận mà sản phẩm của nó quá phức tạp không thể thực hiện

được cho dù nó dựa vào phần phân tích đúng đắn. Do vậy, thuế thống nhất cố gắng

hạn chế các chi phí của thuế bằng cách khuyến cáo sử dụng các cấu trúc đơn giản của

thuế cơ sở rộng cho phép sử dụng thuế suất biên hiệu dụng thấp hơn, do vậy giảm

mức độ biến dạng do thuế gây ra.

Tính đơn giản trong quản lý thuế tài sản làm gia tăng tính hiệu quả về mặt chi

phí và sự công bằng khi thực thi chính sách thuế. Các thủ tục thuế tài sản đơn giản sẽ

được các cán bộ thuế và người nộp thuế nhanh chóng nắm bắt, do vậy việc quản lý sẽ

tương đối dễ dàng và ít tốn kém – nếu có tình trạng lạm dụng thì cả hai bên đều dễ

dàng biết được. Hơn nữa các tác nghiệp khi đã được hợp lý hóa cho phép mở rộng 39

phạm vi thu thuế chỉ với nguồn lực hạn chế và khuyến khích người nộp thuế tự

nguyện tuân thủ do dịch vụ được cải thiện.

2.5.5 Độ đàn hồi ổn định

Độ co giãn thuế (tax elasticity) và độ đàn hồi của thuế (tax buoyancy) là hai chỉ số đo sự thay đổi của tổng thuế thu được khi tổng sản phẩm trong nước thay đổi một lượng nào đó, chỉ số này đóng vai trò quan trọng trong tác nghiệp dự báo thuế. Độ co giãn thuế đo lường sự thay đổi tự nhiên của thuế. Độ đàn hồi đo lường sự thay đổi thuế có tính đến những can thiệp của chính phủ về mặt thuế suất và hoặc cơ sở tính thuế [23].

Độ co giãn thuế

Độ co giãn thuế = Phần trăm thay đổi tự nhiên của tổng thuế thu được Phần trăm thay đổi GDP

Trong đó:

- %ΔT* và %ΔY lần lượt là phần trăm thay đổi tự nhiên của tổng thuế thu được

và phần trăm thay đổi GDP.

- T0 và Y0 là tổng thuế thu được hiện hành và tổng sản phẩm trong nước hiện

hành.

- dT*/dY là đạo hàm T* theo GDP

Độ đàn hồi của thuế = Phần trăm thay đổi tổng thuế thu được Phần trăm thay đổi GDP

Độ đàn hồi của thuế

Trong đó:

- %ΔT và %ΔY lần lượt là phần trăm thay đổi tổng thuế thu được và phần

trăm thay đổi GDP.

- T0 và Y0 là tổng thuế thu được hiện hành và GDP hiện hành. - dT/dY là đạo hàm T theo GDP.

Ý nghĩa chung của độ co giãn và độ đàn hồi: tổng số thuế thu được sẽ thay

đổi bao nhiêu phần trăm (%) khi GDP thay đổi một phần trăm (1%).

Giả sử số thuế nhà nước thu được (T) là một hàm theo GDP. Khi đó, quan hệ

T = a × GDPb Hoặc viết dưới dạng logarithm, chúng ta có log T = log a + b logGDP Để biết sự thay đổi của GDP ảnh hưởng như thế nào đến số thuế thu được,

đơn giản giữa thuế với GDP có dạng ta lấy đạo hàm thuế theo GDP

40

= =

Sắp xếp lại bằng cách chuyển b về một phía và các nhân tố còn lại về phía bên

kia, ta tính được b như sau

hay

Như vậy, số mũ b trong phương trình tuyến tính đơn giản T = a × GDPb chính là hệ số độ đàn hồi thuế. Thông qua phương trình này đã chỉ ra vai trò của độ đàn hồi trong ước tính số thu thuế.

Hệ thống thuế cần phải có độ đàn hồi ổn định để giúp cho nhà nước có thể đáp ứng tốt các nhu cầu tài chính gia tăng khi GDP của quốc gia tăng lên. Độ đàn hồi của thuế là tỷ số giữa phần trăm về số thu thuế với thay đổi % trong GDP. Nếu gọi %ΔT là phần trăm về số thu thuế của năm nay so với năm trước và gọi %ΔY là phần trăm về thay đổi tăng trưởng GDP năm nay so với năm trước, khi đó độ đàn hồi của thuế là tỷ số %ΔT/%ΔY

2.5.6 Tính hiệu quả

Nguyên tắc này đòi hỏi sự kiểm tra của cơ quan lập pháp xem mục tiêu ban hành sắc thuế có được đảm bảo không. Việc kiểm tra phải được tiến hành xuyên suốt trong quá trình áp dụng. Nếu mục tiêu của việc ban hành sắc thuế nào đó là nhằm mục tiêu tăng thu cho ngân sách nhà nước thì Quốc hội phải kiểm tra xem số tiền thuế thu được có nhiều hơn chi phí mà nhà nước phải bỏ ra để thu thuế hay không. Hiệu quả phân bổ và quản lý là điều quan trọng để duy trì mối quan hệ hợp lý giữa nguồn thu tạo ra được với chi phí kinh tế và tài chính để huy động được số thu đó. Mặc dù việc tăng số thu thuế gộp là khá phổ biến khi dành nhiều nguồn lực cho nhiệm vụ này nhưng sẽ khó hơn nhiều để tăng số thu thuế ròng, cả theo ý nghĩa chặt chẽ về tài chính và sau khi đã tính toán hết các mất mát do những biến dạng kinh tế bất đắc dĩ gây ra. Giống như Adam Smith viết cách đây hơn 200 năm:

Tất cả mọi loại thuế cần phải được được thiết kế sao cho việc lấy tiền ra khỏi túi của người dân càng ít càng tốt, bên cạnh những gì mà loại thuế đó đem lại cho ngân sách của nhà nước. Một loại thuế có thể lấy khỏi túi tiền của người dân nhiều hơn rất nhiều so với những gì mà nó đem lại cho ngân khố nhà nước, theo bốn cách. Trước hết, việc đánh loại thuế này có thể đòi hỏi sử dụng nhiều cán bộ mà lương của họ không thôi đã ngốn phần lớn hơn số thuế thu được và những bổng lộc của họ có thể là một loại thuế khác áp đặt lên người dân. Thứ

41

hai, nó có thể cản trở sự siêng năng của con người… Thứ ba, những biện pháp tước quyền sở hữu hay trừng phạt mà cá nhân không may phải gánh chịu khi cố gắng trốn thuế nhưng thất bại, có thể hủy hoại họ… Thứ tư, việc các nhân viên thu thuế bắt mọi người phải chịu các lần kiểm tra thường xuyên cộng với công tác thanh tra nặng nề của họ có thể làm cho người dân phải gánh chịu rắc rối, sách nhiễu và áp chế một cách quá mức không cần thiết [66]. Bên cạnh đó, tính hiệu quả của thuế thể hiện gánh nặng phụ trội do thuế tạo ra phải ở mức thấp nhất, gánh nặng phụ trội là phần tổn thất phúc lợi xã hội vượt quá số thuế mà chính phủ thu được [29,346]. Từ đó cho thấy, thuế làm thay đổi đường giới hạn ngân sách và kéo theo sự thay đổi hành vi tiêu dùng trong xã hội. Hiệu quả xã hội là tối đa hóa ở mức cân bằng thị trường, vì vậy đánh thuế vào thị trường dẫn đến tổn thất xã hội (deadweight loss: DWL). Các nhà kinh tế học khi nghiên cứu về hệ thống thuế hiệu quả cho rằng “Nguyên tắc hướng dẫn cho đánh thuế hiệu quả là tạo ra sân chơi rộng lớn chứ không nên đánh thuế cao vào một số nhóm người hoặc nhóm hàng hóa, còn một số đối tượng thì không [29,355]”. Bằng lô-gic này, hệ thống thuế hiệu quả là hệ thống trãi dài gánh nặng đánh thuế trên diện rộng, theo đó thuế suất và tổn thất xã hội được thu hẹp.

Việc gia tăng thu thuế có thể sẽ gặp những khó khăn do nguồn thu thuế bị giới hạn. Mặt khác, tăng thu thuế có thể dẫn đến kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa thuế và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn chưa đi đến sự thống nhất về mặt kết quả cũng như kết luận cuối cùng. Barro [41], King và Rebelo [54] cho rằng gia tăng thuế dẫn đến kìm hãm tăng trưởng kinh tế, trong khi Kneller và cộng sự [17] lại phát hiện mối tương quan không ý nghĩa giữa hai biến này. Tosun và Abizaleh nhận thấy tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến thu thuế của các nước thành viên OECD, trong khí đó Mendoza và cộng sự kết luận rằng thu thuế không có ảnh hưởng ý nghĩa tới tăng trưởng kinh tế [17].

Tóm lại về mặt lý thuyết, một hệ thống thuế hay một sắc thuế được cho là lý tưởng khi đồng thời đáp ứng được các tiêu chí: công bằng, hiệu quả, đơn giản, cơ sở thuế rộng và thuế suất thấp, bền vững và khả thi. Tuy nhiên, trạng thái lý tưởng này hầu như khó đạt mức hoàn hảo. Vì vậy khi xây dựng chính sách thuế, các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với sự “đánh đổi” tức là lựa chọn nguyên tắc nào sẽ đặt lên hàng đầu cho việc xây dựng chính sách thuế. Bên cạnh các nguyên tắc xây dựng chính sách thuế hiệu quả và tối ưu thì các quốc gia thường lựa chọn mục tiêu riêng cho việc xây dựng chính sách thuế, động lực cải cách thuế ở mỗi quốc gia là khác nhau, triết lý cải cách thuế thay đổi khi vai trò nhà nước thay đổi. Một trong những triết lý quan trọng hiện nay ở các nước đang phát triển là xây dựng một hệ thống thuế đáp ứng điều kiện hội nhập quốc tế.

42

Tính Hiệu quả và Công bằng (Efficiency & Equity) là hai trong các nguyên tắc được đề cập nhiều nhất khi xây dựng chính sách thuế. Tuy nhiên, thuế có thể gây tổn thất về mặt hiệu quả, để hạn chế sự biến dạng hành vi kinh tế ở mức thấp nhất thì việc đánh thuế đòi hỏi phải thể hiện tính hiệu quả của chính sách thuế đó. Theo nghiên cứu của Jay K. Rosengard [66] hàng hóa có độ co giãn càng cao thì tổn thất xã hội càng lớn. Do đó một hệ thống thuế có hiệu quả nên đánh thuế với mức thuế suất thấp và diện chịu thuế rộng. Thuế hàng hóa tối ưu là phương án chọn các mức thuế suất giữa các loại hàng hóa để tổn thất xã hội là nhỏ nhất trước một nhu cầu về doanh thu thuế cho trước.

Quy tắc Ramsey cho rằng: thuế suất của các hàng hóa được thiết kế sao cho tỷ

số giữa tổn thất xã hội biên và doanh thu (thuế) là một hằng số:

Trong đó, MDWLi là tổn thất biên do gia tăng đánh thuế vào hàng hóa i, MRi là thu nhập biên huy động được từ gia tăng thuế và λ giá trị nguồn thu từ thuế gia tăng. Tóm lại, quy luật Ramsey cho thấy các yếu tố cần thiết khi thiết lập thuế tối ưu:

- Quy luật nghịch đảo độ co giãn: đối với mỗi loại hàng hóa, thuế suất được thiết kế nghịch đảo với độ co giãn, hàng hóa càng ít co co giãn thì thuế suất càng cao và ngược lại.

- Quy luật đánh thuế trên diện rộng: Tốt hơn hết nên đánh thuế rộng trên các hàng hóa với mức thuế suất vừa phải hơn là tập trung vào một nhóm hàng hóa với thuế suất cao. Bởi vì tổn thất từ đánh thuế gia tăng theo bình phương thuế suất [29,361]. Bên cạnh tính hiệu quả thì tính công bằng của thuế là một tiêu chí ngày càng trở nên quan trọng để đánh giá một sắc thuế hay một hệ thống thuế. Một số nghiên cứu thực nghiệm như nghiên cứu của Caspersen và Metcalf [43], Tamaoko [68], đa phần dựa trên các phương pháp của Musgrave [60], phương pháp của Suits [dẫn theo 25] và phương pháp Kawani [53] để đo lường tính công bằng của thuế, các phương pháp này chủ yếu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết về đường cong Lorenz và hệ số Gini, có nghĩa là dựa trên phân phối tần suất tích lũy. Các nhà kinh tế cổ điển và đặc biệt là Henry Simon [67], đưa ra lý thuyết thuế công bằng đánh vào tất cả các nguồn lực kinh tế được đo lường bằng tổng thu nhập, Simon đưa ra khái niệm thu nhập và cơ sở tính thuế tổng quát, lý thuyết của Simon coi chính sách thuế như là một phần của hệ thống các luật lệ kinh tế và phải phục vụ cho các giá trị cơ bản của xã hội, đánh thuế phải phù hợp với khả năng người nộp thuế.

Tuy nhiên, công bằng là mục tiêu không dễ xác định, vì có thể công bằng với người này nhưng lại không công bằng với người khác. Điển hình là tranh luận về đề xuất cắt giảm thuế của chính quyền Bush nhằm giảm bớt tính lũy tiến của thuế thu

43

nhập ở Mỹ là một điển hình về mâu thuẫn giữa công bằng và hiệu quả. Phe ủng hộ cho rằng đề xuất này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho những người có tay nghề cao và các nhà tạo lập doanh nghiệp, còn theo phe chống đối thì giảm thuế sẽ làm cho xã hội thêm bất công bằng. 2.6 Mô hình thuế tài sản ở một số nước trên thế giới

2.6.1 Quá trình hình thành và phát triển thuế tài sản ở các nước trên thế giới Thuế tài sản là loại thuế có lịch sử lâu đời nhất trên thế giới, sắc thuế này được hình thành đầu tiên vào thời kỳ cổ đại ở Hy Lạp (năm 596 trước Công nguyên) và đến thời Trung cổ được áp dụng tại Anh và một số nước châu Âu, Bộ luật Saladin năm 1188 có ghi rõ: thuế ra đời để phục vụ cuộc Thập tự chinh Thiên chúa giáo lần thứ 3 với thuế suất 10% áp dụng đối với tiền cho thuê bất động sản và động sản [26]. Thuế tài sản được áp dụng sớm và rộng rãi, trước hết vì vào thời kỳ đó xã hội chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp mà đất đai gần như là tài sản duy nhất có giá trị để đánh thuế. Trãi qua các giai đoạn cùng với sự phát triển kinh tế, các động sản khác ngày càng tăng và đất đai mất dần vị trí độc tôn ban đầu với tư cách là nguồn thu chủ yếu của mỗi quốc gia.

Về lịch sử phát triển của thuế tài sản, có thể lấy Thụy Điển là một ví dụ điển hình. Thuế tài sản đánh vào đất đai đã trở thành nguồn thu chủ yếu để Nhà Vua và Hoàng tộc thoả mãn các nhu cầu chi tiêu, kể cả việc duy trì quân đội, bộ máy hành chính ngay từ đầu thời kỳ trung cổ. Nhà Vua ban đất cho giới quý tộc, nên họ phải cống nạp cho triều đình bằng sự phục vụ của chính bản thân và những sản phẩm do nông nô trong các trang trại sản xuất ra. Đây cũng là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm quan trọng và là một trong những hình thức nộp thuế tài sản bằng hiện vật đầu tiên.

Vào thế kỷ thứ 13, các hình thức quản lý hành chính mới được hình thành. Mỗi khu vực hành chính do một lãnh chúa đứng đầu, lãnh chúa giao đất cho nông dân và nông dân phải nộp thuế bằng nông sản. Quy định về thuế năm 1280 đã phân biệt nghĩa vụ thuế của các lãnh chúa nhận đất của vua khác với nghĩa vụ thuế của nông dân bình thường, những nhà giàu trong xã hội hình thành lớp quý tộc và họ được miễn thuế. Nhà thờ đóng vai trò quan trọng trong đời sống của châu Âu, thời kỳ đó cũng có nhiều đất đai nhưng được miễn thuế. Ngược lại, giai cấp nông dân nhận đất của Vua hay của lãnh chúa phải chịu gánh nặng về thuế để đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của Vua.

Loại thuế đất ra đời vào thế kỷ 13 được duy trì lâu dài và là nguồn thuế chủ yếu đánh trên tài sản. Thuế tài sản, đặc biệt đánh trên đất nông nghiệp, được áp dụng phổ biến ở các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương là thuế đánh vào nông dân. Phân tích thuế đất nông nghiệp ở Ấn Độ, Pakistan… cho thấy, ngân sách các nước này có lúc đã dựa hoàn toàn vào nguồn thu từ đất nông nghiệp. Ở Ấn Độ, thuế đất được áp dụng theo mô hình cổ điển của Anh, đã được sửa lại theo lý thuyết của Ricardo và là

44

loại thuế đánh trên khoản lợi nhuận mà người nông dân có được từ quyền sở hữu hay quyền sử dụng đất. Các loại thuế này rất nặng, có khi chiếm đến hơn một nửa số hoa lợi mà nông dân thu hoạch được, thuế đất đã tạo ra được số thu rất lớn cho chính quyền Ấn Độ vào giai đoạn trên. Tuy nhiên giai đoạn gần đây, thuế đất đã giảm đi ở một số quốc gia. Các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng, nguyên nhân chủ yếu không phải thuế đất giảm sút mà chính là vì GDP được tạo ra trong các khu vực kinh tế và nông nghiệp đã tăng lên nhanh chóng. Việc điều chỉnh thuế đất lên vài ba phần trăm trong thuế suất không gây được ảnh hưởng đáng kể đến số thu của ngân sách. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu, cải tiến toàn bộ hệ thống chính sách thuế tài sản.

Một trong những xu hướng cải cách chính sách thuế đang diễn ra trên thế giới liên quan đến tài sản là mở rộng diện đánh thuế trên tài sản thuộc quyền sở hữu tư nhân bao gồm nhà đất, tài sản thừa kế, quà tặng, tài sản chuyển nhượng. Việc thu thuế tem (gần như lệ phí trước bạ, công chứng ở Việt Nam) cũng đang được mở rộng qua việc hợp pháp hoá quyền sở hữu, quyền sử dụng nhiều tài sản có giá trị lớn trong việc chuyển nhượng ở các nước thuộc liên minh Châu Âu và nhiều nước khác. Thuế quà tặng cũng đang phát triển ở một số nước, thuế này thường chiếm đến 3% tổng số thu về thuế ở Thuỵ Điển, 10% ở các nước Nhật, Anh, Mỹ. Nếu xét trên số thuế thu cho địa phương thì các loại thuế đánh vào tài sản đóng vai trò khá lớn. Tại úc, Ireland và Anh, tỷ lệ số thu từ thuế đánh trên BĐS chiếm gần 100% số thuế thu cho địa phương; ở New Zealand khoảng trên 90%, ở Mỹ, Canada, Hà Lan trên 70% [26]. Thuế tài sản ở các nước OECD chiếm một tỷ trọng khá đáng kể so với GDP, đóng góp một nguồn thu tương đối ổn định cho ngân sách của các quốc gia này. Bảng 2.1: Tỷ lệ thuế tài sản trên GDP các nước nhóm OECD (%)

Australia Austria Belgium Canada Chile Czech Republic Denmark Estonia Finland France Germany Greece Hungary Iceland Ireland Italy 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 .. 0.6 3.4 3.3 0.9 0.5 1.8 0.3 1.2 3.9 0.9 2.0 0.9 2.5 1.8 2.7 2.4 0.5 3.1 3.5 0.7 0.4 1.9 0.4 1.2 3.7 0.8 1.0 1.2 2.5 1.7 2.1 2.6 0.6 3.1 3.4 1.1 0.4 1.9 0.2 1.1 3.5 0.9 1.7 0.8 2.5 2.5 2.1 2.7 0.6 3.2 3.5 1.2 0.4 1.9 0.2 1.1 3.5 0.9 1.7 0.8 2.2 2.9 2.1 2.2 0.5 3.1 3.4 1.2 0.4 2.0 0.3 1.1 3.3 0.9 1.8 0.9 2.2 1.9 1.8 2.3 0.5 3.2 3.3 0.8 0.5 1.9 0.3 1.1 3.7 0.9 1.8 1.1 2.4 1.9 2.2 2.6 0.6 3.1 3.5 1.3 0.4 1.9 0.3 1.2 3.4 0.9 1.3 0.8 2.7 2.4 2.0 2.5 0.5 3.0 3.6 0.8 0.4 1.9 0.3 1.1 3.4 0.9 1.5 0.8 2.2 1.6 2.7

45

Japan Korea Luxembourg Mexico Netherlands New Zealand Norway Poland Portugal Slovak Republic Slovenia Spain Sweden Switzerland Turkey United Kingdom United States 2.6 2.9 3.2 0.3 2.0 1.8 1.1 1.3 1.2 0.5 0.6 3.0 1.4 2.2 0.8 4.3 2.9 2.6 3.3 3.3 0.3 1.8 1.9 1.2 1.3 1.2 0.4 0.6 3.2 1.4 2.2 0.9 4.5 3.0 2.6 3.4 3.5 0.3 1.8 1.8 1.2 1.2 1.3 0.4 0.6 3.0 1.2 2.2 0.9 4.5 3.0 2.7 3.2 2.8 0.3 1.7 1.9 1.2 1.2 1.2 0.4 0.6 2.3 1.1 2.1 0.9 4.2 3.1 2.7 3.0 2.6 0.3 1.5 2.1 1.2 1.2 1.1 0.4 0.6 2.0 1.1 2.1 0.9 4.2 3.2 2.7 2.9 2.7 0.3 1.5 2.1 1.2 1.2 1.1 0.4 0.6 2.1 1.1 2.1 1.1 4.2 3.1 2.8 3.0 2.6 0.3 1.3 2.1 1.2 1.2 1.0 0.4 0.6 1.9 1.0 2.0 1.1 4.2 3.0 2.7 2.8 2.7 .. .. 2.1 1.2 .. 1.3 0.4 0.7 2.0 1.0 2.0 1.2 4.2 3.0

OECD-Total 1.9 1.9 1.9 1.8 1.8 1.8 1.8 ..

Nguồn: Website của OECD - ISSN 2075-8510 (2013)

Riêng thuế bất động sản ở các quốc gia cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể so với GDP và đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách của địa phương, cụ thể qua biểu đồ 2.1 và 2.2. Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ thuế tài sản so với GDP của các nhóm nước (%)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ Website của OECD (2010)

46

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ đóng góp từ thuế tài sản cho chi tiêu của chính quyền địa phương (%)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ Website của OECD

2.6.2 Mô hình thuế tài sản ở một số nước trên thế giới

(a) Thuế tài sản ở Liên bang Hoa kỳ

Hiệp chủng quốc Hoa kỳ là nước Cộng hòa liên bang tự trị với nhà nước Chính

phủ và các địa phương. Thuế được áp dụng tại Hoa Kỳ theo từng cấp độ, chúng bao

gồm các loại thuế đánh vào thu nhập, tiền lương, tài sản, doanh thu, vốn, cổ tức, nhập

khẩu, bất động sản và quà tặng, cũng như các lệ phí khác nhau. Trong năm 2012 các

loại thuế do liên bang, tiểu bang và chính quyền thành phố đã lên đến 24,8% GDP.

Thuế tài sản (property tax) được áp dụng bởi hầu hết các chính quyền địa phương, dựa

trên giá trị thị trường và giá trị ròng của tài sản, động sản và quà tặng (Estate and gift

taxes) là loại thuế được áp dụng bởi liên bang, ngoài ra một số tiểu bang đánh thuế

trên lợi ích của tài sản. Căn cứ tính thuế tài sản dựa trên theo giá thị trường và thuế

suất. Thuế tài sản tại Hoa Kỳ được áp dụng từ năm 1916, thuế quà tặng và thừa kế áp

dụng vào năm 1924.

Bảng 2.2: Thuế tài sản ở liên bang Hoa kỳ [59]

Tài sản cá nhân: Máy móc, thiết bị, xe máy, ô tô, máy bay, tàu thuyền, máy tính…

Đối tượng chịu thuế tài sản

Bất động sản: đất đai, cao ốc, nhà cửa, bãi đậu xe, công viên, vườn cảnh… Tài sản vô hình: Bản quyền, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, nhãn hiệu, chứng khoán…

Trên giá trị ròng của tài sản và giá thị trường Hình thức đánh thuế tài sản

47

Giá trị tính thuế của tài sản, thuế suất tỷ lệ và thuế suất lũy tiến. Căn cứ tính thuế tài sản

(b) Thuế tài sản ở Cộng hoà Pháp Hệ thống thuế ở Cộng hòa Pháp có một sự đa dạng về các cơ sở thuế, tỷ lệ và

tính chất của các loại thuế. Cho đến năm 1789, thuế được thu bởi nhà nước, các nhà

thờ và các lãnh chúa. Sau cuộc cách mạng Pháp, các loại thuế bao gồm thuế trên tài

sản và thu nhập. Bốn loại thuế trực tiếp được tạo ra trong những năm cuối thế kỷ 18

chỉ áp dụng cho sự giàu có (thuế của cải) chủ yếu là đất đai, nhà ở, bản quyền. Từ giữa

thế kỷ 19, đã có những cuộc tranh luận cho việc tạo ra một loại thuế thu nhập, bởi

Proudhon đề xuất vào năm 1848, sau đó bởi Gambetta vào năm 1869. Năm 1872, thuế

đối với thu nhập từ bất động sản đã được hình thành. Năm 1876, Gambetta đề xuất để

tạo ra một loại thuế theo tỷ lệ trên tất cả các khoản thu nhập. Trước năm 1914, các loại

thuế chủ yếu áp dụng cho sự giàu có (tài sản, nhà cửa, đất đai, thừa kế) và thu nhập từ

tài sản. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống thuế đã trải qua một số cải cách

nhằm hiện đại hóa và thích ứng điều kiện kinh tế-xã hội. Thuế thu nhập doanh nghiệp

đã được hình thành vào năm 1948 và cải cách trong năm 1959. Cuối cùng, sự đổi mới

đáng kể nhất về mặt kỹ thuật, thuế GTGT đã được giới thiệu vào năm 1954 và sau đó

đã được áp dụng dần dần ở các nước phát triển.

Thuế của cải (wealth tax), tiếng Pháp gọi là “Impot de solidarité sur la fortune”

là một loại thuế phải nộp hàng năm của cá nhân trên giá trị ròng của tài sản vượt quá

một mức nhất định. Nó được hình thành vào năm 1989, năm 2008 khoản thuế này lên

đến €4,5 tỷ. Ngoài ra thuế của cải (Wealth tax) có thể bị đánh thuế khi chuyển nhượng

hoặc cho tặng, thừa kế. Cơ sở tính thuế bao gồm tất cả các tài sản, các quyền và các

giá trị cấu thành nên của cải của người nộp thuế tại ngày 1 tháng 1 của năm tính thuế

có liên quan (các tòa nhà được xây dựng, các doanh nghiệp cá nhân, trang trại, đồ nội

thất có thể di chuyển, các khoản đầu tư tài chính, ô tô, máy bay, du thuyền, ...)

Bảng 2.3a: Thuế tài sản cá nhân ở cộng hòa Pháp

Giá trị tài sản ròng chịu thuế (Giá áp dụng năm 2010) Tỷ lệ %

Dưới € 790.000 0

Giữa € 790.000 và € 1.290.000 0,55

Giữa € 1.290.000 và € 2.530.000 0,75

Giữa € 2.530.000 và € 3.980.000 1,0

Giữa € 3.980.000 và € 7.600.000 1,30

Giữa € 7.600.000 và € 16.540.000 1,65

48

Trên € 16.540.000 1,80

Thuế tem (một dạng như thuế đăng ký tài sản) áp dụng cho việc chuyển

nhượng, thừa kế, quà tặng, chuyển nhượng doanh nghiệp và đăng tài sản. Các khoản

thu của nhà nước trong năm 2006 lên đến € 14,7 tỷ.

Thuế thừa kế và quà tặng, được gọi là “Droits de Succession et de

Donation” áp dụng cho cả quà tặng và tài sản thừa kế.

Bảng 2.3b: Thuế tài sản thừa kế, cho tặng ở cộng hòa Pháp

Thuế suất Giá trị tài sản thừa kế, cho tặng chịu thuế (giá áp dụng năm 2010)

Dưới € 7953 5%

Giữa € 7,953 đến € 15,697 10%

Giữa € 15,697 đến € 31,395 15%

Giữa € 31,395 đến € 544,173 20%

Giữa € 544.173 đến € 889.514 30%

Giữa € 889.514 đến € 1.779.029 35%

Trên 1.779.029 € 40%

Bảng 2.3c: Thuế tài sản ở cộng hòa Pháp

- Tài sản cá nhân

Đối tượng chịu thuế tài sản - Tài sản đăng ký (trước bạ) - Đất xây dựng và đất không xây dựng

- Thuế tài sản đánh hàng năm, thuế tài sản cá nhân đánh trên giá

trị ròng của tài sản

- Thuế đánh một lần khi có chuyển dịch tài sản (chuyển dịch cho không hoặc chuyển dịch có thu tiền) như: thuế thừa kế, thuế quà tặng, thuế trước bạ đánh vào chuyển nhượng đất đai, nhà cửa hoặc lợi thế thương mại, thuế đánh vào các hợp đồng bảo hiểm.

Hình thức đánh thuế tài sản

- Ngoài ra, còn có một số loại thuế tài sản dành riêng cho địa phương như: thuế đất đối với xây dựng (bao gồm cả đất xây dựng, đất ở, đất kinh doanh) và thuế đất đối với đất không xây dựng (đất nông nghiêp do các chủ sở hữu đất nộp hàng năm). Nguồn thu từ các loại thuế này được dành toàn bộ cho ngân sách địa phương. Địa phương có quyền quy định mức thuế suất trên cơ sở khung thuế suất đã được quy định trong Luật.

49

- Thuế tài sản cá nhân đánh hàng năm trên giá trị tài sản ròng của cá nhân: Tài sản chịu thuế là toàn bộ tài sản bằng tiền, bằng hiện vật cấu thành sản nghiệp của đối tượng nộp thuế tại thời điểm ngày 01 tháng 01 của năm tính thuế. Đối tượng nộp thuế: gồm các thể nhân là đối tượng cư trú tại Pháp hoặc các thể nhân không là đối tượng cư trú tại Pháp nhưng có sở hữu tài sản mà giá trị ròng vượt trên khởi điểm tính thuế. Căn cứ tính thuế: thuế tài sản được tính trên cơ sở giá trị tài sản chịu thuế và thuế suất. Giá trị tài sản chịu thuế là giá trị tài sản, thuế suất được áp dụng theo biểu thuế luỹ tiến.

Căn cứ tính thuế tài sản

- Thuế trước bạ (thuế đăng ký tài sản): Đánh một lần khi chuyển dịch tài sản, đây là loại thuế đối với tổ chức, cá nhân có nhu cầu được cơ quan thuế xác nhận tính pháp lý của các loại văn tự liên quan đến tài sản chuyển nhượng, bao gồm cả chuyển dịch cho không như tặng biếu, cho thừa kế và chuyển nhượng có thu tiền hoặc văn tự có liên quan đến sự tồn tại, biến đổi của một công ty tại thời điểm thực hiện chế độ đăng ký theo quy định của pháp luật. Giá tính thuế trước bạ là toàn bộ số tiền ghi trên văn tự chuyển nhượng tài sản hoặc theo giá thị trường trong trường hợp cơ quan thuế phát hiện giá ghi trên văn tự quá thấp so với giá thị trường mà đối tượng nộp thuế không có chứng từ chứng minh. Đối với tài sản thừa kế, giá tính thuế trước bạ là toàn bộ tài sản được thừa kế ghi trên di chúc sau khi đã trừ các khoản được giảm trừ theo quy định của Luật, tuỳ theo mức độ quan hệ họ hàng với người quá cố.

Ngoài các loại thuế tài sản đánh thuế dành cho các cấp ngân sách, ở Pháp còn có loại thuế đất dành riêng cho ngân sách địa phương là thuế đối với đất xây dựng và thuế đối với đất không xây dựng. - Thuế đất đối với xây dựng: Thuế đất và các công trình xây dựng gắn liền trên đất với nhà cố định dùng để ở, kinh doanh, nhà máy, văn phòng ... nộp hàng năm. Giá tính thuế đất được xác định bằng 50% giá trị lợi tức cho thuê đất hoặc giá trị công trình thiết bị thuộc diện chịu thuế đất. Lợi tức cho thuê làm căn cứ tính thuế đất được xác định theo định kỳ đánh giá giá trị đất căn cứ vào hiện trạng của tài sản, được cố định trong nhiều năm.

- Thuế đối với đất không xây dựng: Thuế đất đối với đất không

50

xây dựng do các chủ sở hữu đất nông nghiệp nộp hàng năm. Thuế được xác định trên thu nhập ròng ghi trên sổ địa chính của chủ sở hữu đất nông nghiệp và thuế suất.

(c) Thuế tài sản ở Thụy Điển Thuế tài sản ở Thụy Điển bắt nguồn từ thuế bất động sản vào năm 1862, bất

động sản trong lịch sử đã bị đánh thuế ở cả hai địa phương và cấp tiểu bang. Sau khi

cải cách thuế 1990-1991 ở Thụy Điển, bất động sản bị đánh thuế độc quyền tại cấp

quốc gia, tạo ra doanh thu thuế khoảng một phần trăm của GDP. Thuế tài sản đã tạo ra

một nguồn thu nhập quan trọng cho Chính phủ, thuế tài sản thường được xem là một

loại thuế ổn định và ít méo mó. Việc đánh thuế tài sản nhằm để cung cấp các dịch vụ

công với một cơ sở thuế ổn định. Nhiều khoản đầu tư của chính quyền địa phương,

chẳng hạn như đầu tư cơ sở hạ tầng mang lại sụ hưởng lợi của chủ sở hữu bất động

sản và có thể làm tăng giá trị tài sản của họ.

Bảng 2.4: Thuế tài sản ở Thụy Điển

- Tài sản cá nhân - Bất động sản

Đối tượng chịu thuế tài sản

- Tài sản thừa kế và qùa tặng - Thuế tài sản: Tương tự như loại thuế đánh trên giá trị ròng của cá nhân áp dụng tại Pháp, thuế tài sản của Thụy Điển thực chất là loại thuế đánh trên trị giá tài sản ròng (tổng trị giá tài sản sau khi trừ khoản tiền vay để mua tài sản) của những người sở hữu tài sản mà trị giá ròng vượt trên mức quy định, bao gồm bất động sản (nhà và đất), xe ô-tô, tàu, thuyền, cổ phần, tiền gửi ở ngân hàng. Thuế nộp hàng năm, tính theo biểu luỹ tiến từ 1.5% đến 3% trên tổng giá trị tài sản ròng thực có. Giá trị tài sản càng lớn thì thuế suất càng cao.

Hình thức đánh thuế và căn cứ tính thuế tài sản

- Thuế bất động sản: Là loại thuế thu trên giá trị nhà và đất, không quy định mức khởi điểm tính thuế như tài sản. Như vậy, bất động sản (nhà và đất) bị đánh thuế 2 lần: lần thứ nhất khi bị đánh thuế thông qua thuế tài sản và lần thứ hai, khi thu thuế đối với nhà đất riêng).

- Thuế quà tặng, thuế thừa kế tài sản: Là loại thuế đánh vào quà tặng và tài sản thừa kế, có quy định mức khởi điểm đánh thuế cho từng khoản tài sản là quà tặng hay thừa kế.

(d) Thuế tài sản ở Đài Loan

Hệ thống thuế Đài Loan gồm có thuế Quốc gia và thuế địa phương. Thuế Quốc

gia bao gồm: thuế thu nhập cá nhân, thuế động sản và thuế quà tặng; thuế giá trị gia 51

tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế

giao dịch chứng khoán. Thuế địa phương bao gồm: thuế đất, thuế nhà, thuế phương

tiện giao thông, thuế đăng ký tài sản. Trong đó, Thuế tài sản gồm có:

- Thuế chuyển nhượng bất động sản: Việc chuyển nhượng bất động sản làm phát

sinh thuế đối với sự gia tăng của tài sản đánh thuế, thuế suất dao động từ 2% đến 6%.

- Thuế nhà: Thuế nhà được đánh hàng năm, nhà dùng để kinh doanh với mức

thuế suất từ 3% đến 5%, các cơ sở của tổ chức phi lợi nhuận từ 1,5% đến 2,5% và các

tòa nhà dân cư 1,2% đến 2%.

- Thuế đăng ký tài sản: Tem thuế được đánh trên giấy tờ giao dịch kinh doanh,

sở hữu tài sản, giấy phép và các loại tương tự.

- Thuế động sản và thuế quà tặng: Khoản thuế đánh vào tài sản trên toàn thế giới

của cá nhân cư trú tại Đài Loan. Nếu một công dân Đài Loan không có một chỗ ở Đài

Loan, nhưng có một nơi cư trú tại Đài Loan, tài sản của họ trong và ngoài lãnh thổ Đài

Loan là đối tượng của thuế động sản và thuế quà tặng.

- Thuế hàng hóa đặc biệt: Có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2011, các trường

hợp sản xuất kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đặc biệt tại Đài Loan phải

chịu thuế suất từ 10% đến 15% dựa trên giá cả hàng hóa và dịch vụ. Đối với đất đai và

nhà cửa bán ra trong vòng 2 năm sau khi mua sẽ phải chịu thuế bên cạnh các đối

tượng như máy bay, du thuyền, xe hơi, đồ gỗ…

Bảng 2.5: Thuế tài sản ở Đài Loan

- Tài sản thừa kế, quà tặng

Đối tượng chịu thuế tài sản - Tài sản đăng ký tài sản - Bất động sản

- Thuế đối với tài sản thừa kế: Đối tượng đánh thuế tài sản thừa

kế của người quá cố là công dân Đài Loan hoặc là đối tượng

cư trú tại Đài Loan phải chịu thuế thừa kế không phân biệt tài

sản thừa kế nằm trong hay ngoài lãnh thổ Đài Loan. Các loại

tài sản thừa kế bao gồm: bất động sản, động sản có giá trị như

tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán, cổ phiếu, hàng

hoá, ô-tô, tàu thuyền, đất đai, quyền chủ nợ, quyền khai

thác… Đối tượng nộp thuế là người thực hiện di chúc, người

Hình thức đánh thuế tài sản và căn cứ tính thuế tài sản được thừa kế hoặc người quản lý tài sản được quy định theo

luật, trong trường hợp không có người thừa kế, hoặc vợ hoặc

chồng còn sống của người quá cố và những người thừa kế tài

sản hợp pháp theo luật dân sự

- Thuế đối với quà tặng đánh vào quà tặng và do người tặng

biếu chịu trách nhiệm nộp. Trong trường hợp không có mặt

52

người tặng biếu hoặc người tặng quà không nộp thuế trong

thời hạn quy định và không còn tài sản để cưỡng chế thì người

nhận quà tặng sẽ là người nộp thuế.

- Thuế đất ở Đài Loan đã được hình thành với nhiều hình thức khác nhau. Đến tháng 7/1977 mới có quy định thống nhất thành luật thuế đất bao gồm: thuế đánh trên giá trị đất, thuế đất canh tác nông nghiệp và thuế đánh vào trị giá đất tăng thêm.

2.6.3 Nhận xét về các mô hình thuế tài sản ở một số nước trên thế giới

Nghiên cứu các mô hình đánh thuế tài sản được áp dụng ở một số nước trên thế

giới, luận án rút ra một số nhận xét về thuế tài sản như sau: Bảng 2.6: Nhận xét về mô hình thuế tài sản ở các nước trên thế giới

Nội dung các nhân tố Các nhân tố cấu thành thuế TS

Tên gọi thuế tài sản

Ở hầu hết các nước, đánh thuế trên tài sản thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với các tên gọi khác nhau. Phổ biến là không có một luật riêng về thuế tài sản bao quát tất cả các hình thức thuế tài sản, “Thuế tài sản” chỉ là tên gọi chung để chỉ các sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế.

Đối tượng chịu thuế

Tài sản chịu thuế phổ biến là bất động sản, có phân biệt đất đai và công trình trên đất, đây là tài sản khó có thể trốn hay lậu thuế, khả năng quản lý, kiểm soát dễ dàng; về mức động viên có thể linh hoạt cao hay thấp tuỳ theo yêu cầu về ngân sách địa phương; số thu có thể kế hoạch hoá một cách tương đối và là nguồn thu quan trọng của các địa phương. Một số địa phương ở các Quốc gia áp dụng thu phí đối với phương tiện giao thông như tại Jakata-Indonesia.

Đối tượng nộp thuế

Căn cứ tính thuế

Đối tượng nộp thuế tài sản là đối tượng có quyền sở hữu tài sản, cá biệt có nước quy định là đối tượng có quyền sử dụng (nếu quyền sử dụng đất được coi như tài sản). Ở các nước này, đất đai ngoài thuộc sở hữu cá nhân hoặc tổ chức, đất đai còn thuộc sở hữu nhà nước nhưng được nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân quyền sử dụng ổn định, lâu dài. Có trường hợp tài sản chưa xác định được chủ sở hữu thì người đang trực tiếp sử dụng tài sản phải nộp thuế (như thuế đất của Đài Loan...) Căn cứ tính thuế có thể được xác định trên cơ sở tổng trị giá các tài sản thuộc sở hữu cá nhân (bất động sản, động sản, tiền vốn...) trừ đi các khoản chi phí, tiền vay để tạo thành tài sản; có thể là

53

Thuế suất

giá trị riêng từng loại tài sản trong diện đánh thuế thuộc sở hữu của một cá nhân (ô-tô, tàu, thuyền, các phương tiện giao thông...). Giá tính thuế tài sản, thường được căn cứ theo giá thị trường tại thời điểm đánh thuế tài sản, một số trường hợp khó xác định giá trị thị trường thì áp dụng giá tính thuế do Chính phủ hay chính quyền địa phương quy định Các loại thuế bất động sản thu hàng năm như thuế đất, thuế nhà, thuế chuyển nhượng tài sản (trừ thuế quà biếu, quà tặng và thuế thừa kế) thường đánh theo thuế suất tỷ lệ trên giá trị tài sản chịu thuế, với mức động viên thấp. Thuế suất quy định đối với tài sản thừa kế hoặc tài sản biếu tặng thường cao hơn và được đánh luỹ tiến. Mức độ luỹ tiến phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người nhận tài sản với người tặng quà hoặc người cho thừa kế.

Thực tế áp dụng tại các quốc gia đã cho thấy những ưu điểm rõ rệt của thuế

đánh vào tài sản là:

- Tài sản thông thường là BĐS nằm cố định, không thể di chuyển nên có căn cứ

tính thuế ổn định, bảo đảm chống thất thu có hiệu quả

- Thuế suất có thể thay đổi trong phạm vi nhất định, không sợ bị ảnh hưởng đến

giá cả, tiền vốn, đời sống tuyệt đại bộ phận tầng lớp dân cư

- Việc tổ chức quản lý thu thuế tương đối đơn giản

- Số thuế tương đối ổn định mặc dù có biến động về việc định giá tài sản

Theo kinh nghiệm phổ biến trên thế giới, thuế tài sản được áp dụng chủ yếu đối

với BĐS và đối với tài sản có giá trị lớn. Đối với BĐS, thuế được thu hàng năm chủ

yếu đánh vào quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu nhà và đất. Một trong những nước có

nhiều kinh nghiệm quản lý đất đai là Đài Loan. Nước này đã thực hiện được việc quy

hoạch đất đai trong cả nước và từng địa phương qua quá trình điều tra, khảo sát, tổng

hợp, phân tích khá thận trọng và công phu. Qua đó, có đầy đủ thông tin để cung cấp

cho các nhà đầu tư, quy hoạch về những vùng đất có thể mở mang và phát triển. Nhờ

vậy, đã tạo được môi trường rõ ràng cho việc sử dụng hợp lý đất đai, khắc phục được

khó khăn trong quan hệ xin - cho giữa các cơ quan chức năng với nhà đầu tư, nhất là

nhà đầu tư nước ngoài khi xin phép sử dụng các vùng có đất canh tác để xây dựng các

nhà máy, xí nghiệp… Việc quy định kế hoạch sử dụng đất đai được thực hiện một

cách hoàn chỉnh cho từng cấp với nội dung chủ yếu là xây dựng được các kế hoạch

phát triển tổng hợp kết hợp với cụ thể, lâu dài và trước mắt, được thông báo công

khai, rộng rãi có sự chỉ đạo thực hiện chặt chẽ từ kế hoạch chung của cả nước đến kế

54

hoạch của từng địa phương, bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa các loại đất phục vụ

các mục đích khác nhau như: bảo vệ môi sinh môi trường, thúc đẩy sự phát triển hợp

lý giữa thành thị với nông thôn, bảo toàn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cho dân

chúng có đất sản xuất và sinh hoạt vui chơi giải trí…

Thông qua thuế đánh trên tài sản có thể thấy được chính sách khuyến khích hay

không khuyến khích việc sử dụng đất đai cho những mục tiêu nhất định, vào những

thời kỳ nhất định của mỗi Nhà nước. Muốn hoàn chỉnh thuế tài sản đối với đất đai,

phải quan tâm đến việc xác định được giá đất và mức thuế suất phù hợp, nhằm động

viên được sự đóng góp hợp lý đối với từng vùng, trên cơ sở có quy hoạch tổng thể về

phương hướng phát triển kinh tế chung của cả nước, của từng vùng để việc sử dụng

đất đai được hợp lý, hiệu quả.

Thuế tài sản bảo đảm chống thất thu ngân sách, với số thu tương đối ổn định.

Vấn đề thường được đặt ra trong việc đánh thuế tài sản là cách xử lý về thuế đối với

nhà và đất, tính gộp chung hay tính riêng. Có những nước đưa toàn bộ đất đai và các

vật thể kiến trúc trên đất vào diện đánh thuế chung với đất. Do đó, giá trị đất làm căn

cứ tính thuế bao gồm cả giá trị các vật thể gắn liền với đất. Đa số các nước trên thế

giới lại quy định việc đánh thuế riêng trên giá trị đất, giá trị nhà, như ở các nước thuộc

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); các nước châu Á như Đài Loan,

Philippines… cũng áp dụng chế độ thuế đánh riêng trên giá trị nhà, giá trị đất. Tuy

nhiên, Trung Quốc lại không đánh thuế đất vì đất đai thuộc tài sản quốc gia mà chỉ

đánh thuế tài sản đối với nhà cửa, vật kiến trúc thuộc sở hữu tư nhân. Căn cứ tính thuế

là giá trị nhà hoặc tiền cho thuê nhà.

Tóm lại, những kinh nghiệm xây dựng mô hình thuế tài sản của các quốc gia

được rút ra như sau:

- Cơ cấu thuế suất thuế tài sản tuỳ thuộc vào căn cứ tính thuế là thu nhập hàng năm

do tài sản tạo ra hay giá trị tài sản hiện có, ở những trường hợp đánh thuế trên giá

trị tài sản thường có thuế suất thấp (0,5 – 1,5%). Đài Loan áp dụng thuế suất 0,2%

đối với giá trị đất ở và 1,5% giá trị đất sử dụng vào sản xuất công nghiệp, các loại

đất khác áp dụng thuế suất từ 1% đến 4,5%. Thuế suất đánh trên tiền cho thuê tài

sản ở các nước là khá cao, Trung Quốc áp dụng thuế suất chung là 18% trên tiền

cho thuê tài sản. Ngoài ra, thuế suất còn phụ thuộc vào cách xác định giá tính thuế.

Thụy Điển quy định thuế suất là 1,5% trên giá tính thuế, vốn được xác định bằng

1,13% giá thị trường, Indonesia quy định thuế suất là 0,5% trên giá tính thuế chỉ

bằng 20% giá thị trường.

55

- Đối với đất đặc biệt, thuế đất được áp dụng phổ biến nhằm bù đắp chi phí của nhà

nước bỏ ra xây dựng các công trình công cộng, tạo điều kiện cho BĐS ở quanh các

công trình được tăng giá trị một cách nhanh chóng. Các công trình này có thể là cơ

sở hạ tầng, đường sá, hệ thống cấp điện, nước, thoát nước… Các BĐS ở đó do

được hưởng những lợi ích này nên giá trị tăng lên, do đó chủ sở hữu phải đóng góp

để giảm bớt gánh nặng chi phí mà ngân sách đã bỏ ra.

- Mức động viên thường phụ thuộc vào mức giá trị tăng lên của bất động sản. Ở Đài

Loan, thuế được tính theo tỷ lệ (%) trên giá trị tăng thêm của BĐS với biểu thuế

luỹ tiến từng phần: Nếu giá trị tăng thêm dưới 100%, áp dụng thuế suất 4%; tăng

từ 100% đến 200%, thuế suất là 50%; trên 200% thuế suất là 60%. Thuế này chỉ áp

dụng khi BĐS được chuyển nhượng và do người có tài sản bán ra phải nộp (riêng

nhà ở, áp dụng thống nhất 10% trên giá trị tăng thêm).

- Thuế đánh trên sự gia tăng giá trị BĐS nhờ có sự can thiệp của nhà nước (mở

mang đường sá, xây dựng công trình công cộng…) là loại thuế được nhiều nước áp

dụng, đặc biệt ở những nước đang trong thời kỳ phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng,

xây dựng các khu công nghiệp mới, nhằm bù đắp phần nào những khoản chi do

chính phủ bỏ ra. Về đạo lý, thuế phát sinh từ sự tăng giá trị do yếu tố khách quan

nên việc điều tiết thu nhập là hợp lý, được nhiều người đồng tình ủng hộ.

- Đối với một số tài sản có giá trị lớn, việc đánh thuế mang ý nghĩa góp phần bù đắp

chi phí mà nhà nước phải bỏ ra để bảo đảm trật tự, an ninh, an toàn xã hội, trực

tiếp hoặc gián tiếp bảo vệ quyền lợi của tập thể, cá nhân có tài sản quý giá. Đối

tượng đánh thuế ở một số nước thường là đồ trang sức (bằng kim cương, vàng,

bạc), ô-tô, xe máy, tàu thuyền, vật sưu tầm, tác phẩm nghệ thuật, tài sản tài chính

(tiền mặt, chứng khoán…).

- Thuế có thể đánh trên toàn bộ giá trị tài sản hay giá trị ròng (chênh lệch giữa tổng

giá trị tài sản với tổng giá trị các khoản nợ). Loại thuế này thường khó quản lý, đặc

biệt với hàng trang sức quý giá nên thường được thực hiện khi đăng ký sở hữu

hoặc tại thời điểm có chuyển nhượng tài sản, phải đăng ký kê khai. Thuế suất cho

nhóm này thường là thấp (từ 0,5% -1,8%)

- Việc xác minh giá trị tài sản là vấn đề khá phức tạp, do đó khi xây dựng chính sách

thuế đánh trên tài sản có giá trị lớn phải nghiên cứu, xác định mức khởi điểm, giá

trị tài sản thuộc diện đánh thuế, phù hợp đặc điểm kinh tế – xã hội của từng thời

kỳ, khắc phục đánh thuế tràn lan trên danh nghĩa, chi phí tốn kém, hiệu quả thấp.

- Về chế độ miễn giảm thuế tài sản, hầu như các nước đều không thu thuế tài sản

thuộc sở hữu nhà nước như đất làm đường cao tốc, đường sắt, đường bộ, các tài

56

sản được sử dụng vào lợi ích công cộng như nhà đất của các khu thể thao, trường

học, bệnh viện, tôn giáo, đền chùa, hoặc có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá...

Kết luận chương 2

Thuế tài sản là một sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế, là tên gọi

chung cho các sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Tài sản và thuế tài sản là

những khái niệm ra đời rất sớm và phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Vấn đề

quan trọng là mỗi quốc gia vận dụng mô hình thuế tài sản nào trong từng thời đoạn để

phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia đó, điều này rất rõ ràng vì bản

chất của thuế vừa là một phạm trù kinh tế và vừa là một phạm trù lịch sử. Tuỳ theo

yêu cầu quản lý và tình hình thực tiễn, đặc thù của từng quốc gia về quản lý hành

chính nhà nước mà mỗi nước có những chính sách thuế tài sản thích hợp để khai thác

tối đa hiệu quả, công bằng xã hội và bổ sung nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ở

Việt Nam, thuế tài sản đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhà nước trong việc

xây dựng và áp dụng để bổ sung nguồn thu cho ngân sách nhà nước khi mà các vấn đề

về tài sản nhất là đất đai, nhà cửa đã được bổ sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình

thực tế.

Để xây dựng mô hình thuế tài sản, điều quan trọng nhất là phải xác định các

yếu tố cấu thành sắc thuế tài sản, bao gồm cơ sở thuế (Tax base), thuế suất (Tax rate)

và hình thức đánh thuế cho phù hợp. Kinh nghiệm các nước trên thế giới vận dụng mô

hình thuế tài sản chỉ ra rằng:

Thứ nhất, cơ sở đánh thuế tài sản chỉ nên giới hạn ở những tài sản có giá trị lớn

và dễ kiểm tra, kiểm soát theo yêu cầu quản lý của nhà nước. Nguyên lý này một mặt

đảm bảo tính khả thi của mô hình thuế tài sản, một mặt tạo ra hiệu ứng “luỹ tiến” so

với thu nhập.

Thứ hai, giá trị tính thuế của tài sản thường được tính theo thị trường tại thời

điểm tính thuế, cũng có nước quy định giá trị tính thuế là giá trị ròng của tài sản.

Thứ ba, thuế đánh vào tài sản có thể thực hiện một lần nhưng cũng có thể thực

hiện nhiều lần hoặc kết hợp. Việc đánh thuế một lần vào tài sản thường được áp dụng

đối với những tài sản lần đầu được xây dựng, mua sắm hay chuyển giao.

Thứ tư, việc đánh thuế tài sản cần phải được kết hợp một cách chặt chẽ với các

hình thức thuế thu nhập từ tài sản và phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các

loại thuế thu nhập khác.

57

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VỀ THU NGÂN SÁCH

LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

3.1 Tổng quan về thuế và ngân sách Việt nam giai đoạn 2003-2013

3.1.1 Cấu trúc nguồn thu từ thuế

Biểu đồ 3.1 cho thấy, kết cấu nguồn thu từ thuế lệ thuộc chủ yếu vào thuế TNDN (35,66%), Thuế GTGT (27,59%) và thuế nhập khẩu, thuế TTĐB đối với hàng nhập khẩu (14,48%). Các khoản thuế liên quan đến tài sản có tỷ lệ cực thấp như thuế SDĐNN (0,04%) và thuế nhà đất (0,26%), điều này cho thấy hệ thống thuế tài sản ở Việt nam chưa thật sự phát huy vai trò chủ lực như các quốc gia khác. Biểu đồ 3.1: Kết cấu nguồn thu từ thuế giai đoạn 2003-2013 (tỷ lệ %)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính - Bảng 3.1a và 3.1b: Trình bày danh mục các sắc thuế và số thu hàng năm của từng loại thuế từ năm 2003, tổng số thu huy động từ thuế chiếm từ trung bình khoảng 21,76% GDP.

- Trong số các sắc thuế chính, thuế TNDN giữ vai trò chủ đạo nhất với tỷ lệ 7,81% GDP, kế đến là thuế GTGT có tầm quan trọng ngày càng tăng và hiện đang chiếm khoảng 5,96% GDP, một mức đóng góp đáng kể đối với một sắc thuế với thuế suất chỉ bằng 10%.

- Một điều đáng chú ý nữa là sự suy giảm tương đối trong số thu từ các loại thuế thương mại, từ hơn 4% GDP vào đầu những năm 2000 xuống còn khoảng 2% GDP vào thời điểm hiện nay. Điều này xảy ra mặc dù lượng hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam tăng rất nhanh so với GDP và phản ánh tốc độ suy giảm nhanh chóng của thuế nhập khẩu trung bình do cắt giảm thuế nhập khẩu từ các nước ASEAN.

- Nguồn thu thuế lớn thứ ba là từ thuế nhập khẩu, thuế TTĐB đối vời hàng nhập

khẩu 3,15% so với GDP

58

- Thuế thu nhập cá nhân chỉ chiếm khoảng hơn 0,87% so với GDP và chiếm 4,15%

nguồn thu từ thuế, đây là con số thay đổi rất nhỏ trong thập kỷ vừa qua.

- Qua số liệu phân tích trên, Việt Nam sẽ phải đối mặt với một số khó khăn trong việc duy trì số thu thuế hiện nay (so với GDP), do số thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất nhập khẩu được dự báo là sẽ giảm tương đối. Sự suy giảm trong sản xuất dầu thô trong những năm qua khiến cho số thu thuế từ dầu thô không thể đạt mức đỉnh điểm.

Bảng 3.1a: Kết cấu nguồn thu từ thuế giai đoạn 2003-2013 (%)

Bảng 3.1b: Kết cấu nguồn thu so với GDP giai đoạn 2003-2013 (%)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính

59

So với một số nền kinh tế mới nổi ở Châu Á, biểu đồ 3.2 chỉ ra rằng mặc dù Chính phủ Việt nam đã nhiều lần thực hiện chương trình cải cách thuế. Tuy nhiên, kết quả đạt được của thuế TNCN và thuế tài sản thấp hơn rất nhiều so với các nước, chưa chia sẽ được gánh nặng với các loại thuế khác, sự phân bổ gánh nặng thuế cho các khu vực và đối tượng chịu thuế chưa thật sự hợp lý, điều này hoàn toàn không phù hợp với các học thuyết kinh tế đánh thuế. Biểu đồ 3.2: Cấu trúc nguồn thu thuế của Việt Nam so với một số nền kinh tế mới nổi ở Châu Á, giai đoạn 2000-2013 (Tỷ lệ % thuế so với GDP)

Nguồn: [12]

3.1.2 Cấu trúc nguồn thu ngân sách

Thu NSNN là một trong các nhiệm vụ quan trọng của ngành tài chính để tạo nguồn quỹ cho thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ. Ngoài ra, thực hiện các nhiệm vụ thu cũng đồng thời chi phối các hành vi của người sản xuất cũng như tiêu dùng trong xã hội và do vậy sẽ tác động tới việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể. Biểu đồ 3.3: Kết cấu nguồn thu NSNN giai đoạn 2003-2013 (tỷ lệ %)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính

60

Có thể thấy quy mô thu NSNN của Việt Nam có xu hướng tăng nhanh trong giai đoạn từ 2003-2008, chỉ sụt giảm nhẹ trong hai năm 2009 và 2012 do những khó khăn về kinh tế và do việc áp dụng các biện pháp kích cầu nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế. Nếu sử dụng số liệu của IMF thì tổng thu NSNN của Việt Nam giai đoạn 2006-2013 đạt trên 26% GDP, một mức khá cao so với các nước đang phát triển. Chẳng hạn nếu so sánh mức thu này với các nước đang phát triển có thu nhập thấp thì quy mô thu ngân sách của Việt Nam là tương đương mức trung bình các nước có xuất khẩu dầu và cao hơn nhiều mức độ trung bình của nhóm các nước có thu nhập thấp. Ngay cả khi kinh tế gặp khó khăn như năm 2012 thì tổng thu cân đối NSNN so với GDP vẫn đạt 25,3 %, cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển châu Á giai đoạn 2006-2011 (quy mô thu ngân sách đạt 21,4 % GDP). Cần lưu ý là việc so sánh đơn giản quy mô thu ngân sách với GDP có thể khó thuyết phục khi điều kiện mỗi quốc gia có sự khác biệt về cơ cấu kinh tế và cách tính toán quy mô ngân sách (có tính gộp ngân sách địa phương hay không). Tuy nhiên, trong đa số các quốc gia thì số liệu của IMF là quy mô thu ngân sách chung của Chính phủ (gồm cả chính quyền trung ương và địa phương, thu ngân sách được định nghĩa bao gồm thu từ thuế và các nguồn khác) [13]. Vì vậy, việc so sánh với quy mô thu trung bình của các nhóm nước cũng cho phép đánh giá nhanh về quy mô thu ngân sách của Việt Nam. Bảng 3.2: Kết cấu nguồn thu NSNN giai đoạn 2003-2013 (%)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính Phân tích cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo sắc thuế (bảng 3.2) cho thấy thu NSNN đến từ ba nguồn chính là thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế trên hàng hóa xuất nhập khẩu (gồm thuế xuất nhập khẩu, thuế

61

GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt trên hàng nhập khẩu). Có thể thấy rằng thuế với hoạt động xuất nhập khẩu vẫn giữ vai trò rất quan trọng khi đóng góp trung bình hơn 11,73 % số thu NSNN trong năm năm gần đây dù nhiều dòng thuế đã được cắt giảm, nguồn thu này tăng lên chủ yếu do kim ngạch hàng hóa XNK tăng mạnh và công tác hải quan được cải thiện hơn. Tuy nhiên, nguồn thu này sẽ giảm đi khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết với WTO, do vậy cần phải tìm kiếm nguồn thu thay thế để đảm bảo ngân sách không bị thâm hụt trầm trọng hơn.

Liệu Việt Nam có thể kỳ vọng vào loại thuế nào để giúp đảm bảo nhu cầu thu NSNN hay không. So sánh ở Biểu đồ 3.3 phần trên cho thấy tỷ lệ thu thuế GTGT, thuế TNDN và thuế XNK của Việt Nam trong tổng thu ngân sách nhà nước đã cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển châu Á nên những nguồn thuế này khó có thể tiếp tục tăng lên. Ngược lại, để cạnh tranh, Việt Nam cần giảm thuế suất với thu nhập doanh nghiệp điều này cũng giúp sự cạnh tranh về thuế của Việt Nam cao hơn khi xem xét đến thực tế là hầu hết các nước trong khu vực áp dụng thuế suất thuế TNDN đa dạng với nhiều mức thuế suất từ 10-30% thậm chí 2% như ở Philippines trong một số trường hợp.

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ thu ngân sách so GDP của một số nền kinh tế mới nổi ở Châu Á (%)

Ba loại thuế mà Việt Nam có thể kỳ vọng tăng thu trong tương lai là thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế đối với tài sản. Hiện nay thu thuế từ bất động sản (không tính lệ phí trước bạ) chỉ chiếm 0,25% tổng thu ngân sách nhà nước so với mức trung bình trên 1% ở các nước đang phát triển trong khi đây là nguồn thu rất quan trọng cho ngân sách địa phương. Thuế thu nhập cá nhân cũng là nguồn thu thuế mà Việt Nam có thể kỳ vọng để thay thế cho các khoản thu bị sụt giảm khi mà tỷ lệ thuế TNCN trong thu ngân sách mới chỉ bằng khoảng 1/2 các quốc gia khác. Song, trước khi có thể hy vọng nguồn thu này tăng lên thì cần phải có cơ chế để kiểm soát được các nguồn thu nhập và nhất là nâng cao thu nhập của người dân nhờ vào tăng trưởng kinh tế cao và ổn định.

Nguồn: [12]

62

Một điểm khác biệt nữa để có cái nhìn toàn diện hơn về bức tranh ngân sách Việt Nam qua Biểu đồ 3.4. Mặc dù tỷ lệ thu ngân sách trên GDP của Việt nam gần thuộc hàng cao nhất so với một số nền kinh tế mới nổi ở Châu Á. Tuy nhiên, cấu trúc thu thuế của Việt nam không cân đối, đặc biệt là thuế tài sản và thuế TNCN tỏ ra kém hiệu quả (Biểu đồ 3.2). Trong khi đó cán cân thâm hụt ngân sách của Việt nam là khá cao trong những năm gần đây so với các nước ( bảng 3.3). Theo số liệu của IMF năm 2012, cho thấy trong năm năm gần đây Việt Nam luôn có tỷ lệ thâm hụt NSNN cao hơn trung bình các nước đang phát triển có thu nhập thấp trên thế giới và cao hơn tỷ lệ trung bình của tất cả các nhóm nước đang phát triển thấp chia theo khu vực. Đây là vấn đề mà Chính phủ Việt nam cần lưu ý vì thâm hụt ngân sách cao, liên tục có ảnh hưởng tiêu cực đến các biến số vĩ mô của nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán, tỷ giá.

Bảng 3.3: So sánh cán cân NSNN Việt nam và các nước đang phát triển (% GDP)

Về mức độ minh bạch của ngân sách Việt nam, theo đánh giá của IMF, WB thì Việt Nam chỉ mới cải thiện được phần nào từ năm 2008 đến nay. Tuy nhiên mức mức độ điểm A là khá nhỏ trong khi điểm D quá lớn (biểu đồ 3.7). Trong báo cáo “Đánh giá minh bạch tài khóa của Việt Nam” được Ngân hàng Thế giới công bố năm 2014, các chuyên gia của WB cho rằng Việt Nam đã có những tiến bộ trong việc minh bạch tài khóa, tiến được một bước dài trong việc cải thiện minh bạch về chính sách tài khóa và ngân sách Nhà nước kể từ cuối thập kỷ 90 – thời điểm các văn bản ngân sách vẫn được coi là bí mật Nhà nước. Biểu đồ 3.5: Mức độ minh bạch của Ngân sách Việt Nam

Nguồn: [12]

63

Về độ đàn hồi của thuế, qua đồ thị 3.1 kết quả cho thấy rằng độ đàn hồi các sắc thuế không ổn định, không hòa nhịp cùng mức tăng trưởng GDP, thậm chí nhiều thời điểm rơi về dưới cận âm khá nhiều lần. Điều này làm cho tính bền vững và ổn định của hệ thống thuế không cao. Đồ thi 3.1: Độ đàn hồi của thuế (2004-2013)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính Số liệu từ bảng 3.4 cũng đã cho thấy các sắc thuế tài sản, thuế đối với hàng nhập khẩu có độ đàn hồi kém nhất. Điều này có thể lý giải nguyên nhân là do các cam kết cắt giảm thuế suất hàng nhập khẩu theo lộ trình cam kết và hội nhập, còn thuế tài sản là do chính sách miễn giảm trong thời gian qua, mặt khác thuế tài sản chưa được triển khai và vận dụng đúng mức như chiến lược cải cách đề ra.

Bảng 3.4: Độ đàn hồi của thuế (tax buoyancy)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính

64

3.2 Tài sản liên quan đến thuế tài sản hiện nay (a) Đối với đất đai

Theo số liệu báo cáo tổng điều tra đất đai tính đến ngày 1/1/2013, tổng diện tích các loại đất kiểm kê của cả nước là 33.097.200 ha. Theo mục đích sử dụng, đất được phân thành 3 nhóm chính: đất sản xuất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất chuyên dùng; đất ở và đất sử dụng mục đích khác. Diện tích đất phi nông nghiệp trên cả nước có mức tăng trưởng tương đối nhanh và tuyến tính trong vòng một thập niên qua. Trung bình mỗi năm, diện tích đất phi nông nghiệp gia tăng thêm khoảng 82.000 ha và tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ở mức xấp xỉ 29%. Diện tích đất ở cũng tăng trưởng nhanh, bình quân mỗi năm tăng trên 31.000 ha và ở mức trên 7%/năm. Tính bình quân cả giai đoạn 2000-2010, đất ở khu vực nông thôn tăng khoảng 17.900 ha/năm, tăng trưởng ở mức 5,4%/năm; đất ở đô thị tăng khoảng 7.900 ha/năm, tăng trưởng hằng năm ở mức 8,1%/năm. Như vậy, có thể thấy lượng tăng tuyệt đối diện tích đất ở khu vực thành thị nhỏ hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn, nhưng xét về tốc độ tăng trưởng, thì khu vực này lại lớn hơn rất nhiều. Điều này phản ánh áp lực nhu cầu về đất ở khu vực thành thị và xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới.

Biểu đồ 3.6: Hiện trạng sử dụng đất của cả nước tính đến ngày 1/3/2013

Nguồn: Báo cáo số 1809/BC-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường

(b) Đối với nhà ở

Tính đến thời điểm 1/4/2009 cả nước có đến 20.866.630 nhà ở, với tốc độ đô thị hóa phát triển nhanh hiện nay thì số lượng sẽ còn tăng đáng kể trong tương lai (số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm thời điểm 1/4/2014 dự kiến công bố vào tháng 12/2014 nhưng đến hiện tại số liệu điều tra chưa được công bố)

65

Bảng 3.5: Tình trạng nhà ở tính đến ngày 1/4/2009

Khu vực Nhà kiên cố Nhà bán kiên cố Nhà đơn sơ Khác Tổng

Cả nước 9.667.917 9.565.747 1.628.667 4.299 20.866.630

Thành thị 2.536.259 3.383.594 172.595 2.291 6.094.739

Nông thôn 7.131.658 6.182.153 1.456.072 2.008 14.771.891

Nguồn:Tác giả tổng hợp số liệu từ Tổng cục Thống kê

(c) Đối với các tài sản khác

Ngoài chế độ quản lý đối với đất đai thuộc tài sản quốc gia, Nhà nước đã có

những quy định về chế độ quản lý với một số tài sản khác như: nhà, công trình kiến

trúc, phương tiện vận tải ( mô tô, ô tô, tàu, thuyền...). Các tổ chức, cá nhân có các tài

sản trên phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của nhà nước. Số

liệu ở bảng 3.6 thể hiện tình trạng gia tăng phương tiên giao giai đoạn 2003-2013, số

lượng xe máy tăng nhanh quá mức đã phá vỡ kế hoạch “Quy hoạch phát triển giao

thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” được

phê duyệt theo Quyết định 356/QĐ-TTg của Chính phủ năm 2013, mà theo đó đến

năm 2020 Việt Nam ở mức 36 triệu xe máy và 3,2-3,5 triệu ô tô.

Bảng 3.6: Tình trạng phương tiện giao thông đường bộ giai đoạn 2003-2013

Ô tô Xe máy Tổng số Năm

2003 675.000 11.379.000 12.054.000

2004 774.824 13.375.992 14.150.816

2005 891.104 16.086.644 16.977.748

2006 972.912 18.615.960 19.588.872

2007 1.106.617 21.721.282 22.827899

2008 1.361.645 25.481.039 26.842.684

2009 1.535.987 28.431.079 29.967.066

2010 1.713.908 31.452.503 33.166.411

2011 1.882.972 33.925.839 35.808.811

2012 2.033.265 37.023.078 39.056.343

2013 2.220.654 40.367.942 42.588.596

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tài liệu Cục Giao thông đường bộ

Đối với tài sản là quà biếu, quà tặng có giá trị vượt mức khởi điểm tính thuế thì

hiện nay phải chịu thuế thu nhập cá nhân, tài sản cố định vô hình (quyền tác giả, sở

hữu công nghiệp, bằng phát minh, sáng chế) đã có những quy định về việc đăng ký

bảo hộ và tính thuế khi chuyển nhượng có thu nhập chịu thuế.

66

3.3 Thực trạng chính sách về thu ngân sách liên quan đến tài sản ở Việt Nam

3.3.1 Tổng quan về các chính sách thuế liên quan đến tài sản

Cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam tuy chưa có sắc thuế nào có tên là thuế tài sản, nhưng đối chiếu với cơ sở lý luận về tài sản và thuế tài sản ở nhiều nước trên thế giới thì có một số sắc thuế và lệ phí hiện hành mang tính chất của thuế tài sản như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (thay thế thuế nhà đất trước năm 2012) và lệ phí trước bạ.

Thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là hai sắc thuế đều thuộc loại thu hàng năm, nhằm động viên một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được giao quyền sử dụng đất thuộc sở hữu quốc gia vào các mục đích khác nhau. Tương tự như vậy, lệ phí trước bạ là khoản thu một lần đánh vào tổ chức, cá nhân có tài sản thuộc diện Nhà nước quản lý khi thực hiện thủ tục để công nhận tính pháp lý về quyền sử dụng hay quyền sở hữu tài sản đó. Đây là một khoản thu nhằm động viên sự đóng góp của chủ tài sản và mang rõ nét tính chất của thuế tài sản. Ngoài ra, còn có một số khoản thuế hoặc thu khác có liên quan đến đất đai, tài sản nhưng không mang tính chất của thuế tài sản như: tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế tài nguyên…

Nhìn tổng quát, từ đặc thù về đất đai thuộc sở hữu toàn dân của Việt Nam, các sắc thuế liên quan đến tài sản hiện nay của nước ta có nhiều điểm chưa rõ nét, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, trong một số trường hợp, có sự lẫn lộn giữa thuế và lệ phí. Nguồn thu từ các khoản thuế liên quan đến tài sản chưa đóng góp nhiều cho NSNN và chưa chiếm vị trí quan trọng trong ngân sách địa phương như hầu hết ở các nước khác… Đó là những điểm cơ bản cần lưu ý khi xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.

3.3.2 Thực trạng về các chính sách thuế liên quan đến tài sản 3.3.2.1 Nguồn thu liên quan đến tài sản

Biểu đồ 3.7: Kết cấu nguồn thu đối với tài sản giai đoạn 2003-2013 (%)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính

67

Qua biểu đồ 3.7, nguồn thu liên quan đến tài sản chủ yếu tập trung vào khoản thu tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ, các khoản thu khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Kết quả nguồn thu (bảng 3.7) chỉ ra rằng trong giai đoạn 2003-2013, thuế SDĐNN chiếm tỷ lệ rất nhỏ 0,03% so với tổng thu NSNN, kế đến là thuế nhà đất 0,21% và lệ phí trước bạ 1,56%. Riêng chỉ có khoản thu tiền sử dụng đất có tỷ lệ tương đối 6,80%, tuy nhiên khoản thu này thật sự chỉ liên quan đến tài sản đất đai chứ không mang rõ nét thuế tài sản.

Bảng 3.7:Kết cấu nguồn thu liên quan đến tài sản so với tổng thu ngân sách (tỷ lệ %)

2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 TB

Chỉ tiêu

Thuế SDĐNN

0,10 0,07 0,06 0,04 0,03 0,02 0,01 0,01 0,01 0,01 0,01 0,03

Thuế CQSDĐ

0,26 0,32 0,41 0,43 0,69 0,69 0,06

0,41

Thuế nhà đất

0,23 0,22 0,22 0,21 0,21 0,21 0,26 0,24 0,22 0,16 0,18 0,21

Tiền thuê đất

0,32 0,52 0,42 0,56 0,65 0,81 0,72 0,64 0,81 1,06 0,86 0,67

Lệ phí trước bạ 1,15 1,31 1,17 1,16 1,68 1,69 2,07 2,14 1,55 1,61 1,65 1,56

Thu tiền SDĐ

5,16 7,15 5,94 5,33 8,53 7,27 8,08 8,39 7,18 6,14 5,64 6,80

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính

Tương tự, kết quả nguồn thu (bảng 3.8) cũng chỉ ra rằng thuế SDĐNN chiếm tỷ lệ nhỏ nhất 0,04% so với tổng số thu thuế, kế đến là thuế nhà đất 0,26% và lệ phí trước bạ 1,93%. Thuế chuyển quyền sử dụng đất chiếm tỷ lệ 0,51%, tuy nhiên từ năm 2010 đối tượng chịu thuế này được chuyển sang chịu thuế TNCN.

Bảng 3.8:Kết cấu nguồn thu liên quan đến tài sản so với tổng thu thuế (tỷ lệ %)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính

So sánh kết quả trên với tỷ trọng thuế tài sản ở một số quốc gia (Biểu đồ 3.8) cũng đủ thấy rằng tỷ trọng thuế tài sản ở Việt Nam còn ở mức rất khiêm tốn, chỉ chiếm 2,32% trên tổng thu thuế và 1,88% trên tổng thu ngân sách . Điều này cho thấy hệ thống thuế tài sản Việt nam còn quá kém so với các nước, chưa thể hiện được tính hiệu quả và không tạo ra được một mắc xích đồng bộ trong hệ thống thuế quốc gia gồm thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản.

68

Biểu đồ 3.8: Mức phụ thuộc vào thuế tài sản ở một số Quốc gia 2000-2013 (tỷ lệ %)

Nguồn: Tác giả tổng hợp theo số liệu của website Bộ tài chính và Tạp chí Dillinger,

Thuế bất động sản thành thị tại các nước đang phát triển (2013)

3.3.2.2 Thuế sử dụng đất nông nghiệp

Thuế SDĐNN được thực hiện từ 01/01/1994 theo quy định tại Luật thuế SDĐNN (QH thông qua năm 1993), Pháp lệnh thuế bổ sung đối với hộ gia đình SDĐNN vượt quá hạn mức diện tích (UBTVQH thông qua ngày 15/03/1994). Nội dung cơ bản của thuế SDĐNN như sau:

- Đối tượng chịu thuế: là đất dùng vào sản xuất nông nghiệp gồm đất trồng trọt,

đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản, đất rừng trồng.

- Căn cứ tính thuế: được xác định theo diện tích đất, hạng đất và định suất thuế

tính bằng kg thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất.

Kết quả đạt được từ thuế SDĐNN như sau:

- Thuế SDĐNN góp phần tăng thu cho NSNN trong thời kỳ đổi mới, thuế SDĐNN tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước khi mà các ngành công nghiệp chưa phát triển mạnh và thu ngân sách thấp trong khi chi ngân sách không ngừng tăng qua các năm. Với quy định của Luật NSNN hiện hành, thuế SDĐNN được để lại 100% cho địa phương, trong đó cấp xã được tối thiểu 70%, đã tạo điều kiện cho NSĐP có nguồn thu ổn định, đảm bảo cho hoạt động của bộ máy hành chính và phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn.

- Thuế SDĐNN giúp nhà nước quản lý được quỹ đất nông nghiệp, tình hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nên thuế SDĐNN giúp quản lý và thúc đẩy sự phát triển thị trường BĐS ở nông thôn. Thực tế cho thấy, khi một ngành nào đó thuộc lĩnh vực nông nghiệp phát triển sẽ kéo theo thị trường BĐS ở khu vực nông thôn phát triển. So với những năm thuộc thập niên 1980, việc cho thuê, cho thuê lại đất nông nghiệp, thế chấp quyền SDĐNN để vay vốn… diễn ra khá phổ biến.

69

- Thuế SDĐNN góp phần thúc đẩy việc SDĐ có hiệu quả, từ đó làm gia tăng hàng hóa BĐS trên thị trường. Điều này được minh chứng qua quy định mọi cá nhân được giao đất có sử dụng hoặc không sử dụng đều phải nộp thuế, nên bắt buộc mọi người nắm giữ đất đều phải tăng cường đầu tư thâm canh tăng năng suất vật nuôi, cây trồng để làm tăng thu nhập và hoàn thành nghĩa vụ thuế. Nếu không sử dụng hoặc SDĐ không hiệu quả thì để tiết kiệm chi phí thuế, người SDĐ có thể cho thuê lại đất hoặc chuyển nhượng quyền SDĐ cho người khác.

- Do đất đai có đặc điểm là không di chuyển được nên việc đánh thuế cao đối với những ruộng, đất gần đường giao thông, tiện lợi tưới tiêu, độ màu mỡ tự nhiên cao đã đảm bảo được sự công bằng giữa những người SDĐ thuộc các tầng lớp dân cư, tổ chức khác nhau. Từ đó giúp nhà nước ổn định và điều tiết thị trường BĐS khu vực nông thôn.

Đánh giá về chính sách thuế SDĐNN Nghiên cứu thực hiện điều tra khảo sát ý kiến của 180 chuyên viên, cán bộ ngành Thuế, giảng viên chuyên ngành Tài chính Nhà nước của các trường Đại Học, các nhà nghiên cứu về chính sách thuế đang công tác tại khu vực Nam Bộ thông qua bảng hỏi (Phụ lục 1.1) đã cho kết quả như sau:

Bảng 3.9: Kết quả điều tra chính sách thuế SDĐNN hiện nay

TT ĐY Chính sách thuế SDĐNN hiện nay RK ĐY K ĐY K YK R ĐY

1.1 Tỷ trọng thu thuế SDĐNN so với 75% 16% 6% 3% 0%

NSNN hiện nay

1.2 Cách phân loại hạng đất hiện nay 0% 0% 5% 15% 80%

làm căn cứ tính thuế

1.3 Định suất thuế hiện nay 86% 11% 3% 0% 0%

1.4 Chính sách miễn giảm thuế 51% 22% 16% 9% 2%

SDĐNN

1.5 Tính khoa học của việc quản lý 72% 17% 8% 3% 0%

thu thuế SDĐNN hiện nay

Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ phiếu điều tra (phụ lục 1.2) - Kết quả điều tra ở Mục 1.1 có đến 91% ý kiến cho rằng tỷ trọng thuế SDĐNN hiện nay chưa đạt mục tiêu ngân sách, chưa phát huy vai trò của thuế BĐS trong hệ thống thuế tài sản.

- Theo Mục 1.2 có đến 95% ý kiến cho rằng cách thức phân loại hạng đất hiện nay làm căn cứ tính thuế quá lạc hậu so với nến kinh tế thị trường. Chính sách thuế SDĐNN ban hành vào những năm đầu thập niên 90, khi đó cả xã hội đang quen với việc xác định hạng đất, mức thuế suất rất ổn định. Hiện nay, nước ta đã chuyển sang

70

kinh tế thị trường nhưng lại vẫn dùng tiêu chí là dựa trên hạng đất và diện tích để đánh thuế thì không còn phù hợp. Trên thực tế, việc xác định hạng đất để áp thuế suất tính thuế SDĐNN cho hợp lý và công bằng là khó thực hiện được do việc xác định hạng đất dựa vào các yếu tố về độ phì nhiêu tự nhiên, nhưng hầu hết các địa phương đều không có bản đồ nông hóa thổ nhưỡng, số lượng các mảnh ruộng của người dân bị chia phân tán và manh mún tại nhiều vị trí khác nhau, trong khi thời gian phân hạng quá ngắn. Từ đó nhiều địa phương phải phân hạng đất chủ yếu dựa vào năng suất thu hoạch canh tác hàng năm hoặc theo cách cũ là căn cứ kế hoạch được giao, phân bổ nhiệm vụ thu cho từng huyện, xã và thuế được tính chung cho từng hộ nông dân. Do vậy, việc xác định hạng đất thường thiếu khách quan, dễ phát sinh những tiêu cực, nảy sinh nhiều trường hợp cùng một diện tích đất nhưng được xếp là hạng đất thấp để đóng thuế SDĐNN thấp nhưng khi bị thu hồi lại được xếp hạng đất cao để nhận đền bù cao.

- Có đến 97% ý kiến không đồng ý ở Mục 1.3 về việc sử dụng định suất thuế được tính dựa trên kg thóc/ha. Do nền kinh tế nước ta trước đây dựa trên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, việc thu thuế theo giá thóc là hợp lý. Nhưng hiện nay, tốc độ công nghiệp hóa - hiện đại hóa ngày càng nhanh, các quan hệ tiền tệ phát triển mạnh thì giá thóc thường xuyên biến động trên thị trường nên việc tính thuế sẽ không còn phù hợp nữa.

- Về chính sách miễn, giảm thuế SDĐNN hiện nay đã có 73% ý kiến không đồng tình vì chính sách thuế lại gắn liền với quá nhiều chính sách xã hội làm nội dung chính sách thuế phức tạp, gây nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện.

- Mục 1.5 đã cho thấy có đến 87% ý kiến cho rằng tính khoa học của việc quản lý thu thuế SDĐNN hiện nay là chưa cao. Công tác quản lý, thu thuế SDĐNN chủ yếu dựa vào chính quyền thôn, xã, thông qua ủy nhiệm thu nhưng trình độ, năng lực của cán bộ thôn, xã có phần bị hạn chế nên thực tế ở một số nơi đã phát sinh những sai phạm, khiếu kiện kéo dài và phức tạp. Mặt khác, chính sách đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ thôn, xã ngành thuế chưa được quan tâm đúng mức, phụ cấp quá thấp nên chưa động viên khuyến khích họ hăng hái khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. 3.3.2.3 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có hiệu lực từ 01/01/2012 và thay thế

Pháp lệnh thuế nhà đất với những nội dung cơ bản như sau:

Đối tượng chịu thuế:

- Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị - Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

71

- Đất phi nông nghiệp quy định tại Điều 3 của Luật Thuế sử dụng đất phi nông

nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh.

Căn cứ tính thuế: gồm có giá tính thuế và thuế suất, giá tính thuế đối với đất được xác định bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá của 1m2 đất với thuế suất gồm có 3 bậc.

3.3.2.4 Thuế nhà đất

Pháp lệnh về thuế nhà đất được ban hành ngày 14/9/1991 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1992, 1994, 2003. Pháp lệnh thuế nhà đất quy định: thuế đất thu hàng năm đối với các đối tượng có quyền sử dụng đất để ở hoặc để xây dựng công trình, mang ý nghĩa là thuế đánh vào việc sử dụng đất cho mục đích phi sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong thời gian qua nhà nước chưa thực hiện việc thu thuế nhà, riêng thuế đất được chuyển sang loại thuế sử dụng đất phi nông nghiệp từ ngày 1/1/2012.

Căn cứ tính thuế đất là diện tích đất ở, đất xây dựng công trình, hạng đất và định suất thuế tính trên đơn vị diện tích. Trong đó diện tích đất tính thuế là toàn bộ diện tích đất thực tế sử dụng vào mục đích ở, xây dựng công trình theo giấy cấp đất; hạng đất được xác định căn cứ vào các yếu tố chủ yếu như: loại đô thị (từ I đến VI), loại đường phố hoặc khu phố dựa theo vị trí của đất ở từng khu vực và các điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh; mức thuế suất được xác định theo định suất và được xác định từ 1 đến 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp. Pháp lệnh về thuế nhà đất cũng quy định miễn giảm cho loại đất sử dụng cho các mục đích công cộng, an ninh quốc phòng, vùng sâu, vùng xa, gia đình chính sách, khó khăn.

Mặc dù là thuế nhà đất, nhưng trên thực tế trong thời gian qua nhà nước chỉ có

thu thuế đất và kết quả đạt được từ thuế đất như sau:

- Thuế đất trong thời gian qua có chiều hướng tăng tốc qua các năm, đóng góp

phần nào cho nguồn thu ngân sách địa phương

- Thuế đất góp phần tăng cường quản lý nhà nước đối với việc SDĐ. Bên cạnh việc thu thuế đất ổn định, nhà nước cũng quản lý được các diện tích đất ở, đất vườn, đất xây dựng các công trình của các tổ chức và cá nhân do các tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm kê khai tình hình SDĐ với cơ quan thuế. Điều này vừa giúp nhà nước có kế hoạch tổng thể trong việc quy hoạch các cơ sở hạ tầng, các khu kinh tế trọng điểm… vừa làm cho việc SDĐ của tổ chức, cá nhân trở nên hiệu quả hơn (vì nếu không SDĐ vẫn phải nộp thuế, nên người sử dụng sẽ cho thuê lại, trả lại nhà nước, chuyển nhượng). Điều này giúp nhà nước có thêm căn cứ thực tế để nghiên cứu, xây dựng chính sách thuế SDĐ hợp lý hơn.

- Thuế đất góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân SDĐ tiết kiệm phù hợp

với pháp luật về đất đai.

72

- Thuế đất góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do giá đất tính thuế được xây dựng trên cơ sở lý thuyết địa tô nên khác nhau giữa các khu vực, vị trí các trục đường khác nhau. Mức thuế phải nộp căn cứ vào khả năng có thể sinh lợi của đất, mức độ tiện ích của đất đối với người sử dụng. Qua đó, thuế đất góp phần điều tiết thị trường BĐS thực hiện công bằng xã hội.

Bảng 3.10: Kết quả điều tra về chính sách thuế nhà đất

TT Chính sách thuế nhà đất hiện nay ĐY RK ĐY K ĐY K YK R ĐY

Tỷ trọng thu thuế nhà đất so tổng 2.1 75% 21% 3% 1% 0% thu NSNN hiện nay

Cách thức phân loại hạng đất hiện 2.2 67% 26% 4% 2% 1% nay làm căn cứ tính thuế

Quy định về đối tượng chịu thuế nhà 2.3 65% 18% 9% 6% 2% đất hiện nay

Quy định giá tính thuế, định suất 2.4 89% 11% 0% 0% 0% thuế tính trên kg thóc/ha

Chính sách miễn giảm thuế nhà đất 2.5 66% 22% 7% 5% 0% hiện nay

Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ phiếu điều tra (phụ lục 1.2).

Bên cạnh kết quả đạt được, chính sách thuế đất hiện hành đã bộc lộ một số hạn

chế như sau:

- Thuế đất là loại thuế tỏ ra kém hiệu quả, chi phí quản lý thu thuế lớn, trong khi số thu hằng năm chỉ khoảng trên một nửa diện tích đất ở, đất xây dựng công trình và số thu bình quân hàng năm chỉ đạt 962 tỷ đồng, chiếm bình quân khỏang 0,22% so với tổng thu NSNN.

- Bên cạnh đó, có đến 93% ý kiến cho rằng cách phân loại hạng đất hiện nay

làm căn cứ tính thuế quá lạc hậu so với nền kinh tế thị trường.

- Về đối tượng chịu thuế nhà đất hiện nay, có 83% ý kiến ở Mục 2.3 không đồng tình. Bởi lẽ, theo quy định của Pháp lệnh thuế nhà đất năm 1992, đối tượng chịu thuế là nhà và đất ở, đất xây dựng công trình. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế xã hội vào những năm này chưa cho phép thu thuế đối với nhà. Những năm gần đây, Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích, phát triển nhà ở. Luật đất đai năm 2003 tạo điều kiện cho phát triển nhà, Luật nhà ở năm 2005 và Luật kinh doanh BĐS năm 2006 đã tạo hành lang pháp lý để các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua,… Theo đó, thị trường BĐS về nhà, đất đã được hình thành và đang trên đà phát triển. Trên thị trường đã xuất hiện nhiều loại nhà như chung cư cao cấp, văn phòng cho thuê, các loại hình nhà liền kề,

73

nhà biệt thự,… và xuất hiện tình trạng đầu cơ về nhà, đất, đẩy giá nhà, đất lên cao không hợp lý mà chưa có công cụ điều tiết từ phía nhà nước.

- Một điểm khá nổi bật trong bảng kết quả điều tra này cho thấy có đến 100% ý kiến không đồng ý việc quy định giá tính thuế từ 1 đến 32 lần thuế SDĐNN, định suất thuế tính trên kg thóc trên 1 ha. Ngay cả việc xác định hạng đất tính thuế được xác định căn cứ vào các yếu tố chất đất, vị trí, địa hình, khí hậu, thời tiết và điều kiện tưới tiêu... là phù hợp với việc phân loại để thu thuế SDĐNN nhưng không phù hợp với đất ở, đất xây dựng công trình (đất phi nông nghiệp).

- Hơn nữa, thuế đất chưa có sự điều tiết cao đối với những đối tượng có quyền SDĐ với diện tích lớn để khuyến khích SDĐ tiết kiệm, hiệu quả và hạn chế đầu cơ về đất, cụ thể là không phân biệt giữa việc SDĐ trong hạn mức và vượt hạn mức; không phân biệt giữa người có một nhà hoặc một thửa đất với người có nhiều nhà hoặc sử dụng nhiều thửa đất. Với những hạn chế về căn cứ tính thuế, có thể thấy thuế đất hiện nay chưa thật sự phát huy được vai trò điều tiết đối với thị trường BĐS.

- Kết quả điều tra Mục 1.5 cũng cho thấy có đến 88% không đồng ý quan điểm với chính sách miễn giảm thuế hiện nay vì chưa tạo sự công bằng. Việc xét miễn, giảm thuế do thiên tai tính theo tỷ lệ về tài sản bị thiệt hại so với toàn bộ tài sản (tài sản cố định, tài sản lưu động) có trên lô đất chịu thuế thường khó xác định chính xác nên rất ít trường hợp được xem xét miễn giảm theo đúng luật.

3.3.2.5 Lệ phí trước bạ

Lệ phí trước bạ là khoản thu khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một số tài sản. Theo Thông tư 68/2010/TT-BTC ban hành ngày 26/4/2010, được quy định như sau:  Đối tượng chịu lệ phí trước bạ bao gồm

- Nhà, đất - Phương tiện vận tải - Súng săn, súng thể thao

 Mức thu lệ phí trước bạ - Nhà, đất: 0,5% - Phương tiện vận tải cơ giới đường thuỷ, phưong tiện đánh bắt và vận chuyển thuỷ sản (kể cả vỏ, khung, tổng thành máy thuỷ): 1%; riêng tàu đánh cá xa bờ (kể cả vỏ, khung, tổng thành máy lắp thay thế) là 0,5%

- Súng săn, súng thể thao: 2% - Xe máy mức thu như sau: Kê khai nộp lệ phí trước bạ xe máy lần đầu thì nộp lệ phí trước bạ theo tỷ lệ: 5%, kê khai nộp lệ phí trước bạ xe máy từ lần thứ 2 trở đi nộp lệ phí trước bạ theo tỷ lệ: 1%

- Xe ôtô mức thu từ 2% đến 15%

74

Nhìn chung, Lệ phí trước bạ là khoản thu tương đối ổn định và tăng trưởng hàng năm, chiếm khoảng 17% số thu từ BĐS và 1,56% số thu NSNN. Việc thu lệ phí trước bạ đã phục vụ tốt yêu cầu kiểm kê, kiểm soát đối với tài sản. Thông qua việc thu lệ phí trước bạ, cán bộ thuế cũng đã phát hiện một số tài sản của Nhà nước, của tập thể hay tư nhân bị chiếm dụng trái pháp luật, góp phần ngăn chặn các hiện tượng xã hội tiêu cực. Lệ phí trước bạ được áp dụng từ lâu và đã trở thành khoản đóng góp khá quen thuộc và nề nếp trong nhân dân. Hơn nữa, lệ phí trước bạ đáp ứng được nguyện vọng của người nộp, muốn được xác định quyền sở hữu tài sản hợp pháp, thuận tiện cho việc tra cứu khi có kiện tụng, tranh chấp nên lệ phí trước bạ là khoản thu tương đối thuận lợi, nhất là với tỷ lệ động viên tương đối thấp.

TT Bảng 3.11:Kết quả điều tra về chính sách lệ phí trước bạ K ĐY RK ĐY K YK ĐY R ĐY

0% 3.1 16% 0% 25% 59% Chính sách lệ phí trước bạ hiện nay Tỷ trọng thu thuế trước bạ so tổng thu NSNN hiện nay

3.2 Là khoản thu lệ phí hành chính 85% 15% 0% 0% 0%

3.3 Là khoản thu mang tính chất thuế 0% 0% 0% 15% 85%

3.4 Căn cứ tính thuế trước bạ hiện nay 83% 12% 5% 0% 0%

3.5 65% 32% 3% 0% 0% Những quy định hiện nay về giá trị tài sản để tính lệ phí trước bạ

Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ phiếu điều tra (phụ lục 1.2)

Kết quả điều tra về chính sách lệ phí trước bạ hiện nay như sau:

- Có đến 84% ý kiến cho rằng lệ phí trước bạ đóng góp một phần đáng kể cho

nguồn thu ngân sách, chiếm tỷ trọng 2% trên tổng thu NSNN.

- Tuy nhiên, có đến 100% ý kiến cho rằng lệ phí trước bạ không thuần túy là lệ phí hành chính mà mang tính chất của một sắc thuế có tác dụng điều tiết đối với một số loại tài sản, nên tên gọi lệ phí trước bạ là chưa hợp lý. Mức động viên từ lệ phí trước bạ khá cao, nhưng với danh nghĩa là một khoản lệ phí nên căn cứ pháp lý chưa cao, chưa phù hợp với tính chất của khoản thu. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp mua bán nhà đất chỉ làm giấy viết tay hoặc chỉ cần có xác nhận của chính quyền phường, xã, không chịu làm thủ tục đăng ký trước bạ nhưng việc xử lý sai phạm có nhiều khó khăn vì biện pháp chế tài chưa đủ hiệu lực cần thiết.

- Bên cạnh đó, Mục 3.4 cho thấy có đến 100% ý kiến cho rằng căn cứ tính lệ phí trước bạ hiện nay là chưa khoa học và hợp lý. Hiện nay, Nhà nước chưa có quy định rõ ràng, cụ thể về những tài sản thuộc diện quản lý của Nhà nước phải làm đầy đủ thủ tục đăng ký trước bạ để việc thực hiện chế độ thu lệ phí trước bạ thuận lợi. Ví dụ đối với nhà, chỉ mới phải đăng ký trước bạ đối với nhà chuyển dịch. Trên thực tế đã có

75

không ít trường hợp mua đất với diện tích rộng chỉ có nhà cấp 4 trên đất với giá không đáng bao nhiêu. Nhưng sau khi mua đất, chủ nhà đã phá toàn bộ nhà cũ, xây dựng lại nhà cao tầng, nhà biệt thự với giá mới gấp chục lần, thậm chí gấp hàng trăm lần giá cũ khi làm thủ tục trước bạ. Nếu không có quy định rõ ràng về nguyên tắc phải đăng ký trước bạ đối với nhà xây dựng mới hoặc nhà sửa chữa lớn mà giá trị tăng đến mức độ nhất định thì Nhà nước không thể nắm được giá nhà thực tế đã có nhiều thay đổi, đặc biệt ở các đô thị lớn, gây thất thu nhiều về tiềm năng lệ phí trước bạ.

- Đặc biệt hơn là tuyệt đối 100% ý kiến cho rằng giá tính lệ trước bạ hiện nay

còn nhiều bất cập như:

 Giá trị của BĐS làm căn cứ tính lệ phí trước bạ khó hợp lý nếu được tính theo giá thị trường tại thời điểm chuyển dịch tài sản, vì giá thị trường lại biến động phức tạp, khó xác định; ngược lại nếu tính theo giá quy định của Nhà nước thì phổ biến là thấp, lạc hậu so với giá thị trường. Do đó, trong việc thu lệ phí trước bạ thường phát sinh hai thái cực là mức động viên cao nếu giá tính lệ phí trước bạ bám sát giá thị trường nhưng nếu dựa vào giá quy định thì thất thu cho ngân sách nhà nước.

 Việc xác định tỷ lệ khấu hao hữu hình và vô hình đối với nhà thường khó khăn vì thiếu những tiêu chuẩn rõ ràng mang tính pháp lý. Tình trạng giá ghi trên hóa đơn rất thấp diễn ra phổ biến nên việc hướng dẫn, thuyết phục người nộp thuế để xác định giá tính lệ phí trước bạ vừa khó khăn, vừa có nhiều sơ hở.  Quy định tổ chức thực hiện về cơ chế, trách nhiệm trong việc phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng, với chính quyền cơ sở trong việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng BĐS; về nội dung, giá trị của BĐS đăng ký trước bạ, về xử lý vi phạm là không rõ ràng, dẫn đến tình trạng thất thu về lệ phí trước bạ đang xảy ra phổ biến ở hầu hết các địa phương, cả thành thị lẫn nông thôn, kể cả việc quy định khống chế mức thu tối đa 500 triệu đồng/vụ đối với những tài sản có giá trị lớn.

3.3.2.6 Tiền sử dụng đất

Chính sách thu tiền SDĐ hiện hành được thực hiện theo Nghị định số 98/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 các Nghị định bổ sung sửa đổi như Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, 84/2007/NĐ-CP, 44/2008/NĐ-CP. Nội dung cơ bản của chính sách thu tiền SDĐ như sau:  Về đối tượng nộp tiền SDĐ bao gồm: Người được nhà nước giao đất để sử dụng vào các mục đích ở, kinh doanh nhà ở, SXKD, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê, xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; Người đang SDĐ nông nghiệp, phi nông nghiệp được chuyển mục đích SDĐ trong một số trường hợp theo quy định của Chính phủ.

76

 Về căn cứ tính thu tiền SDĐ: là diện tích đất, giá đất và thời hạn SDĐ, trong đó: - Giá đất: là giá theo mục đích SDĐ được giao tại thời điểm giao đất do UBND cấp

tỉnh ban hành (trong khung giá đất của Chính phủ).

- Thời hạn SDĐ: gồm đất có thời hạn không quá 50 năm, không quá 70 năm với đất

có thời hạn sử dụng ổn định lâu dài.

- Đối với trường hợp SDĐ lâu dài và đất được giao có thời hạn sử dụng 70 năm, thu tiền SDĐ bằng 100% giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành. Đối với trường hợp có thời hạn SDĐ dưới 70 năm, thì trừ tiền SDĐ của mỗi năm không được giao đất sử dụng là 1,2% của mức thu 70 năm. 3.3.2.7 Tiền thuê đất

Chế độ thu tiền thuê đất hiện nay được quy định tại Nghị định 142/2005/NĐ- CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ. Nhà nước cho thuê đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất. Tiền thuê đất là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước thuê đất một thời gian để hoạt động kinh doanh mà không phải là sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối. Tiền thuê đất (bao gồm cả tiền thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển) là khoản thu ổn định hàng năm nhằm điều tiết vào thu nhập do sử dụng đất mang lại.

Theo Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 thì đơn giá thuê đất là 0.5% giá đất theo mục đích sử dụng đất thuê do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định hoặc là đơn giá theo trúng thầu theo dự án; đối với giá thuê mặt nước thì trong trường hợp thuê mặt nước cố định: giá thuê từ 10 triệu đồng đến 100 triệu 2 đồng/km /năm; mặt nước không cố định: từ 50 triệu đồng đến 250 triệu 2 /năm. Như vậy, xét về mặt hiệu quả kinh tế, các tổ chức, cá nhân được nhà đồng/km nước cho thuê đất sẽ có lợi hơn khi được giao đất vì khi được được giao đất phải nộp tiền sử dụng đất một lần theo giá đất quy định dựa vào giá thị trường, nếu giao đất có thời hạn 50 năm thì tỷ lệ khấu hao là 2%/năm, nếu thời hạn 20 năm thì tỷ lệ khấu hao là 5%/năm trong khi đó nếu thuê đất thì chỉ trả 0.5% giá đất hàng năm. Thu tiền thuê đất trong thời gian qua đạt được kết quả sau:

- Tiền thuê đất đóng góp nguồn thu ổn định cho NSNN do điều tiết vào thu nhập từ việc SDĐ. Khoản thu này chiếm tỷ trọng tuy không cao nhưng ổn định trong tổng thu NSNN (bình quân 0,73%).

- Tiền thuê đất góp phần điều tiết thị trường BĐS. Thông qua chính sách thu này, nếu người có đất sử dụng không hiệu quả sẽ vẫn phải nộp tiền thuê đất, do đó họ sẽ chuyển sang cho người khác thuê lại hoặc chuyển nhượng.

3.3.2.8 Thuế chuyển quyền sử dụng đất

Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất được ban hành ngày 22/6/1994 và được sửa đổi bổ sung vào ngày 21/12/1999; Nghị định số 114-CP ngày 05/9/1994 hướng dẫn thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994 và Nghị định số

77

19/2000/NĐ-CP ngày 08/06/2000 quy định chi tiết thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất (năm 1994) và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất. Đây là loại thuế thu một lần đối với tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở, đất công trình,… khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho người khác. Căn cứ tính thuế gồm đơn giá đất, diện tích đất chuyển quyền và thuế suất. Trong đó, giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định trên cơ sở khung giá đất do Chính phủ ban hành; thuế suất gồm có hai mức: 2% áp dụng đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và 4% áp dụng đối với các loại đất khác (đất ở, đất xây dựng công trình).

Kể từ ngày 01/01/2009 khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất (thổ cư) bên chuyển nhượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân và bên nhận chuyển nhượng nộp thuế trước bạ (nếu không có thỏa thuận khác). Theo quy định tại Nghị định 100/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủ thì thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng BĐS là 25% trên thu nhập tính thuế và trường hợp không xác định được giá vốn và các chi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng.

3.3.2.9 Thuế thu nhập đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Đối với các cơ sở kinh doanh có hoạt động chuyển nhượng BĐS, từ ngày 01/01/2009 nộp thuế thu nhập theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (QH thông qua ngày 03/06/2008). Căn cứ tính thuế là thu nhập chịu thuế và thuế suất. Trong đó, thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản trừ giá vốn của bất động sản và các khoản chi phí được trừ liên quan đến hoạt động chuyển nhượng bất động sản, thuế suất là 25% trên thu nhập chịu thuế.

Đối với cá nhân kinh doanh hoạt động chuyển nhượng BĐS, từ ngày 01/01/2009 nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân (QH thông qua ngày 21/11/2007). Theo đó, cá nhân nộp thuế theo một trong hai cách: Nếu xác định được thu nhập tính thuế (giá chuyển nhượng trừ giá mua và các chi phí liên quan) thì áp dụng mức thuế suất 25% trên thu nhập tính thuế, nếu không xác định được giá mua và các chi phí liên quan thì áp dụng mức thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng BĐS.

3.3.2.10 Thuế tài nguyên

Pháp lệnh thuế tài nguyên được ban hành ngày 30/03/1990 của Hội đồng Bộ trưởng và được Quốc hội sửa đổi, bổ sung vào ngày 16/4/1998. Theo đó, thuế tài nguyên thu vào các tổ chức, cá nhân có thực hiện khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên thuộc chủ quyền quốc gia như: khoáng sản kim loại hoặc không kim loại, dầu mỏ, khì đốt, sản phẩm rừng tự nhiên, thuỷ sản tự nhiên, nước thiên nhiên.

78

Căn cứ mới nhất, Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11

năm 2009, quy định như sau:  Đối tượng chịu thuế: Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; dầu thô; khí thiên nhiên, khí than; sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật; hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển; nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất; yến sào thiên nhiên.

 Căn cứ tính thuế: là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất  Thuế suất: được chia theo 9 nhóm tài nguyên khác nhau

3.3.2.11 Lệ phí địa chính

Được quản lý thu theo Nghị định số 68-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ. Lệ phí địa chính là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết một số công việc có liên quan đến địa chính như: chứng nhận biến động về đất đai, trích lục hồ sơ địa chính,... lệ phí địa chính thu theo mức quy định cụ thể cho từng công việc nói trên, có sự phân biệt giữa tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất theo loại xã hoặc đô thị.

Nhìn chung, đây là khoản thu chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tất cả các khoản thu về liên quan đến tài sản trong ngân sách. Đây là khoản lệ phí tương đối hợp lý và không gây cản trở, không làm tăng chi phí của đời sống xã hội cũng như hoạt động sản xuất.

3.3.3 Đánh giá chung về chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt nam

Kết quả khảo sát chuyên gia qua bảng 3.12, chỉ ra rằng có 3 sắc thuế mang tính chất thuế tài sản như thuế SDĐNN, thuế SDĐ phi NN và lệ phí trước bạ, các sắc thuế còn lại chi liên quan đến tài sản chứ không mang tính chất thuế tài sản.

Bảng 3.12:Kết quả khảo sát các sắc thuế liên quan đến tài sản hiện nay

TT Các sắc thuế liên quan đến tài sản hiện nay

4.1 Thuế SDĐNN 4.2 Thuế SDĐPN 4.3 Tiền sử dụng đất 4.4 Tiền thuê đất 4.5 Lệ phí trước bạ Mang tính chất thuế tài sản 97% 100% 2% 0% 99% Chỉ liên quan đến tài sản 3% 0% 98% 100% 1%

4.6 Thuế TN đối với chuyển nhượng BĐS 3% 97%

4.7 Thuế Tài nguyên 4.8 Lệ phí địa chính 2% 0% 98% 100%

Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ phiếu điều tra (phụ lục 1.2) Qua phân tích trên, kết quả chỉ ra rằng về cơ sở pháp lý liên quan đến tài sản đã dần dần hoàn thiện, mang tính chặt chẻ và có định hướng khoa học hơn, đó chính là tiên đề pháp lý cho việc hình thành mô hình đánh thuế tài sản ở Việt nam được hoàn hảo hơn, cụ thể: 79

- Chế độ quản lý của nhà nước về tài sản, nhất là luật đất đai đã quy định cụ thể về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, xác định thời điểm sử dụng đất và đặc biệt là những quy định về định giá đất. Đây cũng là căn cứ tính thuế đối với các sắc thuế như như thuế sử dụng đất, thuế trước bạ. Do đó, khi có sự điều chỉnh từ các chế độ quản lý đối với tài sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách thuế về tài sản.

- Các quy định về việc đăng ký sở hữu tài sản như nhà ở, nhà kinh doanh, tàu bay, ô tô, tàu thuyền…, quyền sử dụng tài sản như quyền sử dụng đất đã có những thay đổi tích cực, nhằm quản lý và sử dụng tài sản hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn.

- Tuy nhiên, Việt nam cũng cần sớm xây dựng dự thảo và bàn hành Luật tài sản,

vì đã có nhiều quốc gia trên thế giới đã có Luật tài sản từ rất sớm.

Tóm lại, qua thực trạng và phân tích về chính sách thuế liên quan đến tài sản ở

Việt Nam đã nêu trên, chỉ ra những tồn tại chủ yếu của các sắc thuế này như sau:  Nguồn thu từ các loại thuế có liên quan đến tài sản chỉ chiếm một tỷ trọng thấp so với tổng số thu ngân sách nhà nước và cũng chưa thật sự giữ một vị trí quan trọng trong ngân sách địa phương như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, đó cũng là một điểm khác biệt về chính sách thuế tài sản nước ta so với các nước khác trên thế giới.

 Chưa có một sự phân loại, sắp xếp các sắc thuế liên quan đến tài sản một cách có hệ thống và khoa học, trong đó có sự nhầm lẫn giữa các sắc thuế mang tính chất là thuế tài sản và các sắc thuế không mang tính chất là thuế tài sản. Điều này dễ tạo tâm lý đối với người nộp thuế là khi phát sinh các vấn đề liên quan đến tài sản.  Căn cứ tính thuế gồm nhiều yếu tố phức tạp và bất hợp lý như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất. Điều này vừa gây khó khăn cho công tác hành thu, vừa dễ gây tiêu cực cho người thực hiện, tạo tâm lý không yên tâm cho người nộp thuế.  Trong hầu hết các sắc thuế tài sản đều quy định nhiều chế độ miễn giảm thuế, khiến chính sách thuế trở nên phức tạp và khó giải thích đối với người nộp thuế (lồng ghép nhiều chính sách xã hội vào chính sách thuế).

 Các văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện các loại thuế này được ban hành quá nhiều nhưng không cụ thể, đôi khi nội dung chồng chéo nhau và thiếu sự nhất quán giữa các cơ quan ban hành, khiến việc triển khai thực hiện thiếu đồng bộ ở những cơ quan thuế. Qua đó cho thấy, quan điểm về các sắc thuế mang tính chất là thuế tài sản ớ Việt nam chưa thật sự rõ ràng.

 Chính sách thuế liên quan đến tài sản của Việt nam chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, trong một số trường hợp còn có sự lẫn lộn giữa thuế và lệ phí. Việc hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã đặt ra cho ngành thuế Việt nam những thách thức không nhỏ trong tiến trình cải cách kinh tế-xã hội và xây dựng các chính sách thuế phù hợp hơn. Các nguyên tắc của WTO chi phối mạnh mẽ đến việc xây dựng chính sách thuế trên các nguyên tắc trọng yếu như không phân biệt đối xử, thực hiện tự do hóa và tính công khai, minh bạch, thực hiện các cam kết chính sách thuế

80

của Việt Nam đối với WTO. Chính sách thuế của Việt nam nói chung, thuế tài sản nói riêng đang đứng trước yêu cầu thay đổi cơ bản sau khi Việt Nam bắt đầu thực hiện sâu và rộng các cam kết WTO, CEPT, AFTA, TPP, ASEAN-các nước... và các cam kết khác trong tương lai.

Kết luận chương 3

Cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam tuy chưa có sắc thuế nào có tên là thuế tài sản, nhưng đối chiếu với cơ sở lý luận về tài sản và thuế tài sản ở nhiều nước trên thế giới thì có một số sắc thuế và lệ phí hiện hành mang tính chất của thuế tài sản như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (thay thế thuế nhà đất trước năm 2012) và lệ phí trước bạ.

Qua hai cuộc cải cách thuế quan trọng đầu tiên thực hiện năm 1990 và 1998 nhằm mục đích điều chỉnh theo quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Một khung pháp lý tổng thể đã được xây dựng nhằm tái cấu trúc hệ thống thuế trong nền kinh tế chỉ huy tập trung cũ. Tuy nhiên, qua phân tích thực trạng ở Chương 3 chỉ ra rằng, hệ thống thuế Việt nam chưa thật sự đồng bộ, nguồn thu chủ yếu tập trung vào thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng, các sắc thuế khác không được phát huy, một vài sắc thuế mang lại nguồn thu rất thấp (dưới 1% trong tổng thu). Trong khi nguồn lực tài chính của nền kinh tế là giới hạn, do vậy mức huy động của thuế cũng phải có sự giới hạn. Với thực trạng là một quốc gia đang phát triển, nhu cầu chi tiêu của ngân sách rất lớn và áp lực cân đối ngân sách là không nhỏ, nhưng không phải thế là tận thu để bao chi, vì làm như vậy sẽ phá vỡ tính kỷ luật tài chính tổng thể. Thuế không vì mục tiêu cân đối ngân sách trước mắt, mà quan trọng phải hướng vào mục tiêu cao hơn và xa hơn. Cải cách thuế cần tập trung vào việc thu hẹp những bóp méo của thuế, đi đôi với việc mở rộng cơ sở thuế và hạ thấp thuế suất. Đồng thời, chính sách thuế phải bao quát hết tất cả nguồn thu, cần đưa vào áp dụng các loại thuế mới để quản lý nguồn thu và nâng cao vai trò điều tiết như thuế tài sản, thuế môi trường. Trong xu hướng hội nhập, thuế đánh vào thương mại quốc tế sẽ giảm dần, thay vào đó chính sách thuế cần nỗ lực gia tăng thuế thu nhập cá nhân và thuế tài sản để tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước. Chính sách thuế phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa trong điều kiện Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới. Thực hiện cải cách thuế, từng bước áp dụng hệ thống thuế thống nhất, minh bạch, trung lập, không phân biệt các thành phần kinh tế; đồng thời tháo dỡ dần chính sách bảo hộ bằng việc xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ là những bước đi quan trọng nhằm gây sức ép, buộc các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh.

81

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT

MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

4.1 Mô hình thuế tài sản

4.1.1 Các bước xây dựng mô hình thuế tài sản

Từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nghiên cứu xin được phép lập luận

thuyết phục nhất để chứng minh mô hình thuế tài sản. Đúng hơn, mô hình thuế tài sản

ở đây được rút ra từ việc kết tinh những kinh nghiệm thực tiễn thành lý thuyết. Mô

hình thuế tài sản được xây dựng thành bốn bước như sau:

Bước 4 : Mô hình được xây dựng lại dựa trên các kết quả kiểm định.

Bước 3 : Mô hình chỉ ra các điểm tương đồng và dị biệt giữa mô hình và các tình huống nghiên cứu để xác định những ưu-nhược điểm của mô hình hoặc những phần mà các trường hợp nghiên cứu đã vượt ra khỏi phạm vi của mô hình.

Bước 2 : Mô hình được áp dụng để nghiên cứu các nhân tố cấu thành thuế tài sản

Bước 1 : Giới thiệu về mô hình – mô hình được xây dựng với một loạt các giả thuyết dựa trên sự tổng hợp các tài liệu phổ biến và kết quả điều tra thực tiễn.

Hình 4.1 Các bước xây dựng mô hình thuế tài sản

4.1.2 Mô hình nghiên cứu thuế tài sản

Mô hình thuế tài sản bao gồm những nội dung của các nhân tố cấu thành thuế

tài sản và cách thức tổ chức thực hiện những nội dung đó. Nội dung cơ bản của các

nhân tố cấu thành thuế tài sản bao gồm việc xác định đối tượng chịu thuế tài sản, việc

lựa chọn hình thức đánh thuế và căn cứ tính thuế.

Mục tiêu cần đạt được của mô hình nghiên cứu là nhận dạng các đối tượng chịu

thuế tài sản, phạm vi đối tượng chịu thuế, lựa chọn hình thức nào để đánh thuế cho

phù hợp và căn cứ tính thuế của mỗi loại tài sản ra sao. Đó chính là những nội dung 82

cốt lõi mà kết quả nghiên cứu cần có được trong việc xây dựng mô hình thuế tài sản ở

Việt Nam nhằm đạt được hiệu quả và tối ưu nhất.

Từ cơ sơ lý thuyết và mô hình thuế tài sản thực tiễn của một số quốc gia, tác

giả đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu sau:

Hình 4.2 Mô hình nghiên cứu thuế tài sản

Nghiên cứu sử dụng các giả thuyết giải pháp cho mô hình nghiên cứu và phép

suy luận loại suy thông qua kết quả thảo luận, phỏng vấn và nghiên cứu tình huống.

Những giả thuyết này sẽ được kiểm định bằng việc phân tích tương quan và hồi quy

tuyến tính dữ liệu thu thập được, các giả thuyết trong nghiên cứu này bao gồm:

- H1: Phạm vi của đối tượng chịu thuế tài sản có mối quan hệ tương quan với tính

hiệu quả của thuế tài sản, hay nói cách khác là khi có sự thay đổi về quy mô của

đối tượng chịu thuế thì cũng tạo ra sự thay đổi về tính hiệu quả của thuế tài sản.

- H2: Hình thức đánh thuế tài sản có mối quan hệ tương quan với tính hiệu quả của

thuế tài sản, khi hình thức đánh thuế có sự thay đổi thì tính hiệu quả của thuế tài

sản cũng thay đổi.

- H3: Căn cứ tính thuế tài sản có mối quan hệ tương quan với tính hiệu quả của thuế

tài sản, nếu nội dung căn cứ tính thuế tài sản thay đổi thì tính hiệu quả của thuế tài

sản cũng thay đổi theo.

4.1.3 Phương pháp nghiên cứu đối với xây dựng mô hình

Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp hỗn hợp, phối hợp cả định tính

và định lượng, áp dụng cả hai quy trình suy diễn và quy nạp. Phép suy diễn dựa trên

các lý thuyết có sẵn để xây dựng các giả thuyết, còn phép quy nạp dựa vào các quan

83

sát để kiểm định giả thuyết đã đưa ra. Cơ sở lý thuyết được tổng hợp từ các tài liệu

nghiên cứu về thuế tài sản, từ đó xây dựng nên mô hình và các giả thuyết cho nghiên

cứu. Lấy phương pháp duy vật biện chứng làm phương pháp luận nghiên cứu. Với

phương pháp này, các chính sách thuế về tài sản được đặt trong quá trình vận động,

biến đổi không ngừng và được hoàn thiện để phù hợp với xu thế phát triển kinh tế-xã

hội của đất nước và thế giới. Dựa trên những lý luận cơ bản về tài sản, thuế tài sản và

mô hình thuế tài sản, nghiên cứu sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:

- Tiếp cận lý thuyết về thuế nói chung và lý thuyết về thuế tài sản nói riêng, chú

trọng đến vai trò và mục tiêu của chính sách thuế.

- Tham khảo các tài liệu về thuế tài sản của một số quốc gia và các tài liệu liên quan

về chính sách thuế tài sản hiện hành.

- Thống kê số liệu thứ cấp, có chọn lọc từ các tài liệu có liên quan (Chính phủ, Bộ

tài chính, Tổng cục thống kê, IMF, WB)

- Thảo luận nhóm

- Phỏng vấn sâu

- Lấy ý kiến điều tra từ các chuyên gia ngành thuế và tài chính.

- Phân tích mô tả, đánh giá các nhân tố hình thành mô hình thuế tài sản

- Tổng hợp các vấn đề nghiên cứu trên, suy diễn lô-gíc phục vụ đề xuất mô hình

thuế tài sản.

4.1.4 Thiết kế nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu thuế tài sản được thực hiện thông qua hai bước chính là

nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức, mỗi bước được tiến hành với kỹ thuật

tương ứng.

Bảng 4.1: Các bước thực hiện trong nghiên cứu

Bước Dạng Phương pháp Kỹ thuật

Thảo luận nhóm, phỏng vấn Sơ bộ Định tính 1 và nghiên cứu tình huống

Phỏng vấn qua bảng câu hỏi,

Chính thức Định lượng và phân tích kết quả định 2

lượng

Nghiên cứu được tiến hành theo quy trình qua sơ đồ 4.1

84

Sơ đồ 4.1: Quy trình nghiên cứu

(Nguồn: [16])

4.1.5 Nghiên cứu định tính 4.1.5.1 Giới thiệu

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp chuyên gia với hình thức thảo luận nhóm (full group), thảo luận nhóm là kỹ thuật phổ biến trong nghiên cứu định tính (Morgan, 1996). Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) kết hợp với phỏng vấn sâu được áp dụng cho nghiên cứu. Việc thu thập dữ liệu thông qua các đối tượng tham dự thảo luận là các giảng viên, chuyên viên ngành thuế, tài chính từ các trường Đại học, cơ quan Thuế và Tài chính. Mục đích của các nhóm thảo luận nhằm thu thập thông tin để xây dựng các giả thuyết cho mô hình thuế tài sản ở Việt Nam và chứng minh các giả thuyết này.

Từ kết quả thảo luận nhóm sẽ nhận diện những yếu tố cấu thành các nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thuế tài sản. Sau đó những yếu tố này sẽ được trình bày lại thành những nhóm nhân tố phù hợp và hình thành nên một bảng câu hỏi để phục vụ cho bước nghiên cứu chính thức thông qua nghiên cứu định lượng. Bảng câu

85

hỏi này sẽ được tham khảo ý kiến chuyên gia nhằm chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp và dễ hiểu đối với người trả lời. Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận nhóm chuyên gia kết hợp phỏng vấn sâu nhằm tìm ra các chỉ báo thuộc các nhân tố của mô hình nghiên cứu thuế tài sản:

 Đối tượng chịu thuế tài sản: phạm vi đối tượng chịu thuế tài sản là những tài

sản nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt nam

 Hình thức đánh thuế tài sản: lựa chọn hình thức đánh thuế phù hợp đối với mô

hình thuế tài sản.

 Căn cứ tính thuế tài sản: nội dung nhân tố này khá quan trọng trong việc xây dựng mô hình thuế tài sản, cần xác định giá trị tính thuế và phương pháp thuế suất cho phù hợp với mô hình.

 Tính hiệu quả của thuế tài sản: mô hình thuế tài sản được xây dựng phải đảm

bảo các tiêu chí của một hệ thống thuế hiệu quả và tối ưu.

4.1.5.2 Kết quả nghiên cứu thảo luận nhóm chuyên gia

Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành thông qua 3 nhóm thảo luận độc lập với mục tiêu nhận diện những nội dung cấu thành các nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thuế tài sản cho việc xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay, những nội dung câu hỏi thảo luận đã được chuẩn bị sẵn (Phụ lục 2.1) - Nhóm 1: Được tổ chức tại Viện Kế Toán-Kiểm Toán và Tài Chính Doanh Nghiệp do TS. Nguyễn Đình Luận - Phó Viện trưởng làm trưởng nhóm với 07 thành viên là các chuyên viên ngành Tài chính, Thuế, Kinh tế Luật và Bất động sản.

- Nhóm 2: Được tổ chức tại Trường Đại Học Sài Gòn do TS. Lê Hồng Sơn – Trưởng phòng Quan hệ Quốc tế làm trưởng nhóm với 10 thành viên là các Giảng viên, chuyên viên ngành Tài chính công, Kế Toán, Thuế, Kinh tế Luật…

- Nhóm 3: Được tổ chức tại Chi Cục Thuế Quận 6 - Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh do Chuyên viên Lê Minh Đức – Phó Chi Cục trưởng làm trưởng nhóm với 8 thành viên là các chuyên viên, cán bộ ngành Thuế và Tài chính. (a) Đối tượng chịu thuế tài sản

- Phần thảo luận các chuyên gia cho rằng thuế tài sản là một trong ba mắt xích quan trọng trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia, một hệ thống thuế hoàn chỉnh phải bao gồm thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản.

- Thuế tài sản có khả năng bổ trợ cho thuế thu nhập khi thuế thu nhập không thể bao quát hết đối tượng đánh thuế, thuế tài sản có khả năng đem lại nguồn thu hiệu quả cho ngân sách nhà nước và đặc biệt là cho ngân sách địa phương. Chính vì vậy, việc xác định phạm vi và đối tượng chịu thuế tài sản cho mô hình thuế tài sản là điều quan trọng và có ý nghĩa tác động đến tính hiệu quả của thuế tài sản.

86

- Hiện tại ở Việt Nam tuy chưa có quy định Pháp luật về thuế tài sản nhưng đã có các Luật thuế SDĐNN, thuế SDĐPNN và lệ phí trước bạ. Việc mở rộng đối tượng đánh thuế tài sản là trường hợp khá phổ biến đối với các nền kinh tế đang phát triển và nó hoàn toàn phù hợp với lý thuyết thuế tối ưu dựa trên nền tảng cơ sở thuế rộng.

- Kết quả từ bảng 4.2 và biểu đồ 4.1 cho thấy, nhóm chuyên gia thứ nhất nhận định có 8 yếu tố thuộc đối tượng chịu thuế; nhóm thứ hai có 8 yếu tố và nhóm thứ 3 có 7 yếu tố. Tuy nhiên, kết quả nhận định của 3 nhóm thảo luận chỉ trùng khớp ở 6 yếu tố D01, D02, D03, D04, D05, D07. Bảng 4.2: Kết quả nghiên cứu đối tượng chịu thuế tài sản

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 1

TT Đối tượng chịu thuế tài sản Mã hóa

1 Quyền sử dụng đất nông nghiệp 2 Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp 3 Nhà D01 D02 D03

4 D04

5 6 7 8 Công trình xây dựng gắn liền trên đất (khu nghỉ dưỡng, hồ bơi, công viên, vườn cảnh, các công trình kiến trúc khác… không sử dụng cho mục đích kinh doanh) Tài sản đăng ký sử dụng (trước bạ) Tài nguyên (quyền khai thác) Phương tiện giao thông Tài sản vô hình D05 D06 D07 D08

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 2

TT Đối tượng chịu thuế tài sản Mã hóa

1 Quyền sử dụng đất nông nghiệp 2 Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp 3 Nhà D01 D02 D03

4 D04

Công trình xây dựng gắn liền trên đất (khu nghỉ dưỡng, hồ bơi, công viên, vườn cảnh, các công trình kiến trúc khác… không sử dụng cho mục đích kinh doanh) Tài sản đăng ký sử dụng (trước bạ) Tài nguyên (quyền khai thác) Phương tiện giao thông

5 6 7 8 Chứng khoán D05 D06 D07 D09

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 3

Mã hóa TT Đối tượng chịu thuế tài sản

D01 D02 D03 1 Quyền sử dụng đất nông nghiệp 2 Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp 3 Nhà

87

D04

4

Công trình xây dựng gắn liền trên đất (khu nghỉ dưỡng, hồ bơi, công viên, vườn cảnh, các công trình kiến trúc khác… không sử dụng cho mục đích kinh doanh) Tài sản đăng ký sử dụng (trước bạ) Phương tiện giao thông Tài sản vô hình 5 6 7 D05 D07 D08

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả thảo luận nhóm chuyên gia

Biểu đồ 4.1: Kết quả nghiên cứu đối tượng chịu thuế tài sản

Nhóm chuyên gia nhận định phạm vi và các đối tượng chịu thuế tài sản gồm

có: - Quyền sử dụng đất nông nghiệp: đất trồng trọt, đất có mặt nước nuôi trồng thủy

sản, đất rừng trồng.

- Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp: đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị, đất sản

xuất kinh doanh phi nông nghiệp

- Nhà: nhà ở, nhà làm việc, nhà dùng vào sản xuất, kinh doanh và nhà dùng vào các

mục đích khác.

- Công trình xây dựng gắn liền trên đất: khu nghỉ dưỡng, hồ bơi, công viên, vườn cảnh, các công trình kiến trúc khác… (ngoại trừ đối tượng sử dụng vào mục đích công cộng, phúc lợi xã hội)

- Tài sản đăng ký sử dụng (trước bạ): quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình kiến trúc, máy bay, tàu, thuyền, ô tô, mô tô, các tài sản vô hình khác đăng ký thương hiệu, bản quyền…

- Tài nguyên: quyền khai thác tài nguyên - Phương tiện giao thông: tàu bay, ô tô, mô tô, tàu, thuyền - Tài sản vô hình: bản quyền, bằng phát minh, sáng chế, thương hiệu… khi có thu

nhập từ việc chuyển giao, cho thuê…

88

- Chứng khoán: thu nhập từ lãi trái phiếu, cổ phiếu; thu nhập từ việc chuyển nhượng

chứng khoán

- Riêng đối với thu nhập từ tài sản thừa kế, tài sản cho, biếu, tặng: Kết quả nghiên cứu thảo luận từ các nhóm chuyên gia cho rằng đây là một dạng thu nhập, vì vậy đối tượng này nên bị chi phối bởi thuế thu nhập. Tuy nhiên, nếu là tài sản theo quy định phải đăng ký thì vẫn chịu thuế đăng ký tài sản cũng như các sắc thuế liên quan đến tài sản như thuế nhà, thuế đất, thuế phương tiện vận tải…

Biểu đồ 4.2: Kết quả nhận định đối tượng chịu thuế tài sản từ các nhóm thảo luận

chuyên gia (tỷ lệ %)

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát nhóm chuyên gia

Các ý kiến không đánh giá cao về khả năng chịu thuế của các đối tượng như tài nguyên, tài sản vô hình (bản quyền, bằng phát minh, sáng chế, thương hiệu), chứng khoán bởi lẽ:

- Tài nguyên (quyền khai thác tài nguyên): Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam (2005), đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời và các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân (Điều 205). Quyền khai thác tài nguyên được giao cho đối tượng khai thác có thời hạn, không thuộc quyền sử dụng và sở hữu để đánh thuế mà chỉ có thể chi phối bởi thuế tài nguyên và thuế thu nhập đối với đối tượng được quyền khai thác. Vì vậy kết quả nghiên cứu cho thấy quan điểm đa phần không ủng hộ đối với đối tượng này là phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam.

- Tài sản vô hình, tài sản trí tuệ như bản quyền, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu… Kết quả nghiên cứu thảo luận cho thấy, tài sản vô hình ở Việt nam (ngoại trừ quyền sử dụng đất) luôn được khuyến khích phát triển, đa số các ý kiến không đồng tình về việc đánh thuế tài sản đối với đối tượng này. Khác với ở Mỹ và một số nước OECD, ở Việt Nam chỉ có thể áp dụng thuế thu nhập đối với việc chuyển nhượng một số tài sản vô hình trên nếu vượt ngưỡng thu nhập phải chịu thuế.

89

- Chứng khoán: Kết quả nghiên cứu cho thấy quan điểm không ủng hộ đối với đối tượng này có thể lý giải rằng ở Việt Nam rất khó áp dụng đánh thuế trên giá trị tài sản ròng như một số quốc gia phát triển và cũng rất khó xác định tổng giá trị tài sản cũng như kiểm soát thu nhập của mỗi cá nhân. Vì vậy, thu nhập từ chứng khoán có thể được xem như là một đối tượng chịu thuế thu nhập.

Kết quả thảo luận đưa ra các yếu tố đại diện cho phạm vi đối tượng chịu thuế tài sản có ảnh hưởng đến tính hiệu quả của mô hình thuế tài sản. Đối chiếu với cơ sở lý thuyết, nếu đối tượng chịu thuế càng rộng thì cơ sở thuế sẽ rộng và điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết thuế tối ưu. Tuy nhiên, việc xác định cơ sở thuế còn tùy thuộc vào điều kiện và đặc điểm kinh tế-xã hội của mỗi Quốc gia. Vì vậy, việc đánh thuế tài sản cần phải tính đến việc giảm thiểu tối đa tổn thất xã hội do thuế gây ra. Tổn thất xã hội đo lường tính không hiệu quả của việc đánh thuế, mức tổn thất quyết định bởi sự thay đổi số lượng hàng hóa khi đánh thuế. Độ co giãn cung và cầu quyết định sự phân phối gánh nặng thuế, thì chúng cũng quyết định tính không hiệu quả của việc đánh thuế. Độ co giãn càng cao thì những thay đổi càng lớn về số lượng và tổn thất xã hội càng lớn và ngược lại.

(b) Hình thức đánh thuế tài sản

Kết quả từ bảng 4.3 và biểu đồ 4.3 cho thấy, nhóm chuyên gia thứ nhất nhận định có 8 yếu tố liên quan đến hình thức đánh thuế tài sản; nhóm thứ hai có 7 yếu tố và nhóm thứ 3 có 6 yếu tố. Tuy nhiên, kết quả nhận định của 3 nhóm chỉ trùng khớp ở 6 yếu tố H10, H13, H14, H15, H16 và H17. Bảng 4.3:Kết quả nghiên cứu hình thức đánh thuế tài sản

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 1

TT Hình thức đánh thuế tài sản Mã hóa

Tập trung vào những tài sản Nhà nước cần quản lý Tập trung vào những tài sản có giá trị lớn

1 2 3 Dựa trên thu nhập của tài sản 4 Dựa trên giá trị của tài sản 5 Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (% trên giá trị tài sản) 6 Quy định ngưỡng chịu thuế 7 Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu tài sản 8 Đánh thuế hàng năm đối với tài sản H10 H11 H12 H13 H14 H15 H16 H17

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 2

Hình thức đánh thuế tài sản

Tập trung vào những tài sản Nhà nước cần quản lý Tập trung vào những tài sản có giá trị lớn

TT 1 2 3 Dựa trên giá trị của tài sản 4 Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (% trên giá trị tài sản) Mã hóa H10 H11 H13 H14

90

5 Quy định ngưỡng chịu thuế 6 Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu tài sản 7 Đánh thuế hàng năm đối với tài sản H15 H16 H17

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 3

TT Hình thức đánh thuế tài sản Mã hóa

Tập trung vào những tài sản Nhà nước cần quản lý

1 2 Dựa trên giá trị của tài sản 3 Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (% trên giá trị tài sản) 4 Quy định ngưỡng chịu thuế 5 Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu tài sản 6 Đánh thuế hàng năm đối với tài sản H10 H13 H14 H15 H16 H17

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả thảo luận nhóm chuyên gia

Biểu đồ 4.3: Kết quả nghiên cứu hình thức đánh thuế tài sản

Kết quả thảo luận nhóm chuyên gia đã đưa ra những nhận định về hình thức

đánh thuế tài sản như sau:

- Tập trung vào những tài sản Nhà nước cần quản lý: tùy theo đặc điểm kinh tế- xã hội từng giai đoạn, nhà nước quy định phạm vi tài sản cần phải đăng ký, hiện nay gồm các tài sản như: nhà cửa, đất đai, một số tài sản vô hình, phương tiện giao thông. - Tập trung vào những tài sản có giá trị lớn: tài sản này không nhất thiết nằm trong danh mục tài sản mà nhà nước cần quản lý. Tùy theo đặc điểm kinh tế-xã hội từng giai đoạn, mức độ tích lũy tài sản và mức thu nhập người dân, chính sách thuế có sự điều chỉnh phạm vi chịu thuế cho phù hợp.

- Dựa trên thu nhập của tài sản: thu nhập từ việc đầu tư tài sản, cho thuê tài sản,

chuyển nhượng tài sản

- Dựa trên giá trị của tài sản

91

- Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (% trên giá trị tài sản): giá tính thuế có thể được tính hoàn toàn trên giá trị tài sản, tuy nhiên giá tính thuế cũng có thể được tính trên một tỷ lệ chịu thuế do chính sách từng loại thuế quy định ở những thời điểm khác nhau.

- Quy định ngưỡng chịu thuế: việc xác định mức khởi điểm chịu thuế đối với từng loại tài sản là điều cần thiết và phổ biến ở các Quốc gia, nó phải phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và có sự ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở tính thuế.

- Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu tài sản - Đánh thuế hàng năm đối với tài sản

Biểu đồ 4.4: Kết quả nhận định hình thức đánh thuế tài sản từ các nhóm thảo luận chuyên gia (tỷ lệ %)

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát nhóm chuyên gia

Biểu đồ 4.4 cho thấy đa phần các ý kiến cho rằng, hình thức đánh thuế tài sản

nên:

- Tập trung vào những tài sản nhà nước cần quản lý vì đây chính là những tài sản

cần phải đăng ký nên nhà nước dễ dàng trong việc kiểm soát và quản lý hành

chánh, nhà nước quy định danh mục tài sản thuộc diện phải đăng ký.

- Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu tài sản áp dụng cho thuế đăng ký tài

sản

- Đánh thuế hàng năm áp dụng cho thuế SDĐNN, thuế SDĐPNN, thuế nhà, thuế

công trình xây dựng gắn liền trên đất, thuế phương tiện giao thông

- Chính sách thuế xây dựng và ban hành tỷ lệ chịu thuế tài sản, mức khởi điểm

(ngưỡng chịu thuế) của từng loại tài sản cho việc xây dựng cơ sơ thuế mang lại

hiệu quả thu ngân sách nhưng tránh làm biến dạng thị trường và giảm thiểu tổn

thất xã hội ở mức thấp nhất.

Riêng hình thức đánh thuế “dựa trên thu nhập của tài sản” không nhận được sự

đánh giá cao từ các nhận định về khả năng áp dụng. Điều này có thể lý giải rằng ở

92

Việt nam, việc kiểm soát thu nhập từ tài sản là điều không đơn giản để đánh thuế, rất

khó khả thi và không bền vững. Vì thế hiện nay chỉ áp dụng thuế thu nhập trên khoản

thu nhập từ việc cho thuê tài sản và thu nhập từ việc chuyển nhượng tài sản.

Kết quả thảo luận nhóm đưa ra các yếu tố đại diện cho hình thức đánh thuế có

tác động trực tiếp đến tính hiệu quả của mô hình thuế tài sản. Việc lựa chọn hình thức

đánh thuế, đánh trên thu nhập hay trên vốn, mức khởi điểm của tài sản chịu thuế đều

có ảnh hưởng đến khả năng thu thuế và chủ sở hữu tài sản. Tùy theo đặc điểm kinh tế-

xã hội từng giai đoạn, mức độ tích lũy tài sản và mức thu nhập người dân mà chính

sách thuế lựa chọn hình thức đánh thuế cho phù hợp.

(c) Căn cứ tính thuế tài sản

Kết quả từ bảng 4.4 và biểu đồ 4.5 cho thấy, nhóm chuyên gia thứ nhất và

nhóm thứ hai đều nhận định có 5 yếu tố và nhóm thứ ba có 4 yếu tố. Tuy nhiên, kết

quả nhận định của 3 nhóm chỉ trùng khớp ở 4 yếu tố C18, C20, C21 và C22.

Bảng 4.4: Kết quả nghiên cứu căn cứ tính thuế tài sản

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 1

Căn cứ tính thuế tài sản Mã hóa TT

1 Giá thị trường của tài sản C18

2 Giá trị ròng của tài sản chịu thuế C19

3 Giá trị tài sản ấn định C20

Thuế suất lũy tiến 4 C21

Thuế suất tỷ lệ (trung bình) 5 C22

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 2

TT Căn cứ tính thuế tài sản Mã hóa

1 Giá thị trường của tài sản C18

2 Giá trị tài sản ấn định C20

Thuế suất lũy tiến 3 C21

Thuế suất tỷ lệ (trung bình) 4 C22

Thuế suất lũy thoái 5 C23

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 3

TT Căn cứ tính thuế tài sản Mã hóa

1 Giá thị trường của tài sản C18

2 Giá trị tài sản ấn định C20

Thuế suất lũy tiến 3 C21

Thuế suất tỷ lệ (trung bình) 4 C22

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả thảo luận nhóm chuyên gia

93

Biểu đồ 4.5: Kết quả nghiên cứu căn cứ tính thuế tài sản

Các nhóm chuyên gia đã đưa ra những nhận định về căn cứ tính thuế tài sản

dựa trên: - Giá thị trường của tài sản

- Giá trị ròng của tài sản chịu thuế: giá trị của tài sản trừ đi các khoản nợ, chí phí và

lãi vay…

- Giá trị tài sản ấn định: trong một số trường hợp không xác định được giá thị trường

của tài sản thì áp dụng giá tính thuế theo khung quy định của nhà nước.

- Thuế suất lũy tiến: là loại thuế áp dụng tỷ lệ tăng dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế, cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất càng cao. Trong thuế lũy tiến

có hai hình thức, (1) thuế lũy tiến từng phần và (2) thuế lũy tiến toàn phần.  Đối với thuế lũy tiến từng phần, áp dụng mức thuế suất tăng dần theo từng

phần tăng lên của cơ sở đánh thuế. Với các sắc thuế áp dụng loại thuế suất này

trong biểu thuế suất, cơ sở đánh thuế được chia thành nhiều bậc theo mức độ

tăng dần. Ứng với mỗi phần tăng lên trong từng bậc thuế đó là một mức thuế

suất. Số thuế mà đối tượng nộp thuế phải nộp bằng tổng số thuế tính theo từng

bậc. Việc tính toán và kiểm tra loại thuế này nhìn chung khá phức tạp, nhưng

nó đảm bảo số thuế phải nộp tăng từ từ, không bị đột biến cùng tốc độ tăng của

cơ sở đánh thuế. Do đó, đảm bảo được tính công bằng theo chiều dọc và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập.

 Đối với thuế lũy tiến toàn phần, biểu thuế suất cũng chia làm nhiều bậc với mỗi mức tăng lên của thuế suất, nhưng toàn bộ cơ sở đánh thuế được áp dụng một

mức thuế suất chung tương ứng. Thuế suất luỹ tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản và nhanh chóng. Tuy vậy, nó cũng có

nhược điểm là gây ra sự thay đổi có tính chất đột biến về tổng số thuế phải nộp của đối tượng nộp thuế ở những mức thu nhập cận biên giữa hai bậc thuế. Mặc

dù gía trị của cơ sở đánh thuế thay đổi không đáng kể, nhưng sự thay đổi về số

thuế phải nộp rất đáng kể do phải áp dụng các mức thuế khác nhau trên toàn bộ

94

cơ sở đánh thuế. Chính vì vậy, áp dụng thuế suất luỹ tiến toàn phần dễ dẫn đến sự phản ứng từ phía các người nộp thuế và như vậy tất yếu làm giảm vai trò của

thuế. Hiện nay, thuế suất luỹ tiến toàn phần rất ít được áp dụng trên thế giới.

- Thuế suất tỷ lệ (trung bình): là loại thuế áp dụng một thuế suất cố định trên cơ sở

tính thuế mà không phụ thuộc vào quy mô cũng như sự tăng, giảm của cơ sở tính thuế.

- Thuế suất lũy thoái: là loại thuế mà mức thuế suất giảm dần trong khi cơ sở đánh thuế lại tăng dần, cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất càng giảm. Tương tự

với thuế lũy tiến, thuế lũy thoái cũng có hai hình thức là lũy thoái toàn phần và lũy thoái từng phần.

Biểu đồ 4.6: Kết quả nhận định căn cứ tính thuế tài sản từ các nhóm thảo luận chuyên

gia (tỷ lệ %)

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát nhóm chuyên gia

Biểu đồ 4.6 cho thấy đa phần các ý kiến cho rằng:

- Về giá tính thuế: Chính quyền địa phương cần phải xây dựng giá tính thuế sát với giá thị trường cho các loại tài sản chịu thuế, trong một số trường hợp không thể xác định theo giá thị trường thì áp dụng theo khung giá quy định riêng.

- Thuế suất tỷ lệ cố định nên áp dụng cho thuế đăng ký tài sản, thuế phương tiện

giao thông

- Thuế suất lũy tiến từng phần nên áp dụng cho thuế SDĐNN, thuế SDĐPNN,

thuế nhà, thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất

Tuy nhiên, các ý kiến không đánh giá cao về căn cứ tính thuế dựa trên “giá trị

ròng của tài sản” và “thuế suất lũy thoái” bởi lẽ:

- Căn cứ tính thuế dựa trên “giá trị ròng của tài sản chịu thuế” cần phải xác định giá trị thực của tài sản trừ đi các khoản chi phí đầu từ, tiền lãi, tiền vay, khấu hao…Điều này rất khó khả thi đối với Việt nam trong bối cảnh hiện nay khi công nghệ và khả năng quản lý thuế còn nhiều hạn chế cũng như ý thức kê khai và theo dõi tài sản của người dân còn nhiều hạn chế.

95

- Tương tự, việc áp dụng “thuế suất lũy thoái” cũng không nhận được nhiều sự ủng hộ. Thuế suất lũy thoái là loại thuế suất giảm dần trong khi cơ sở đánh thuế lại tăng dần. Thông thường các nước áp dụng thuế suất lũy thoái để khuyến khích các đối tượng kê khai thu nhập nhiều, trong khi các ý kiến cho rằng thuế tài sản nên đánh vào giá trị tài sản hơn là dựa vào thu nhập tài sản. Ngoài ra thuế suất luỹ thoái cũng là loại thuế suất không được áp dụng phổ biến ở các nước.

Kết quả thảo luận nhóm đưa ra các yếu tố đại diện cho căn cứ tính thuế tài sản, giá tính thuế và thuế suất có ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của mô hình thuế tài sản. Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị so với cơ sở tính thuế và được biểu hiện dưới hình thức thuế suất hay định suất thuế. Có thể nói, thuế suất hay định suất thuế là linh hồn của một sắc thuế, vì nó thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính cho NSNN và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế. Vì vậy, việc xác định thuế suất hay định suất thuế trong một sắc thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích thích đáng của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế. Thuế suất cần được thiết kế phù hợp với khả năng thu thuế của mọi đối tượng để người chịu thuế bớt cảm thấy gánh nặng từ thuế, thuế suất mang lại nguồn thu lớn cho NSNN nhưng không cản trở, thậm chí có thể kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sự tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng.

(d) Tính hiệu quả của thuế tài sản

Kết quả từ bảng 4.5 và biểu đồ 4.7 cho thấy, nhóm chuyên gia thứ nhất nhận định có 5 yếu tố; nhóm thứ hai có 4 yếu tố và nhóm thứ ba có 5 yếu tố. Tuy nhiên, kết quả nhận định của 3 nhóm chỉ trùng khớp ở 4 yếu tố T24, T25, T27 và T28. Bảng 4.5: Kết quả nghiên cứu tính hiệu quả thuế tài sản

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 1

TT Tính hiệu quả của thuế tài sản Mã hóa

Tính bền vững và khả thi

Thể hiện tính công bằng

1 Hiệu quả kinh tế 2 3 Độ đàn hồi ổn định 4 5 Giảm chi phí thực thi khi thực hiện T24 T25 T26 T27 T28

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 2

Tính hiệu quả của thuế tài sản TT Mã hóa

Tính bền vững và khả thi Thể hiện tính công bằng

1 Hiệu quả kinh tế 2 3 4 Giảm chi phí thực thi khi thực hiện T24 T25 T27 T28

96

Kết quả nghiên cứu từ nhóm 3

TT Tính hiệu quả của thuế tài sản Mã hóa

Tính bền vững và khả thi

1 Hiệu quả kinh tế 2 3 Độ đàn hồi ổn định 4

T24 T25 T26 T27 T28 5 Thể hiện tính công bằng Giảm chi phí thực thi khi thực hiện (đơn giản, minh bạch, linh hoạt)

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả thảo luận nhóm chuyên gia

Biểu đồ 4.7: Kết quả nghiên cứu tính hiệu quả thuế tài sản

 Hiệu quả kinh tế

Thứ nhất, xét trên phương diện kinh tế, hành vi đánh thuế của Nhà nước bao giờ cũng ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực của xã hội và chịu sự chi phối của hai tác nhân có xu hướng vận động không đồng nhất là Nhà nước và các lực lượng thị trường. Sự phân bổ nguồn lực dưới tác động của các lực lượng thị trường thường dựa trên yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường, còn sự phân bổ nguồn lực dưới tác động của Nhà nước thường dựa trên yêu cầu của xã hội và yêu cầu của quản lý, điều chỉnh theo chức năng của Nhà nước. Nói chung sự phân bổ các nguồn lực dưới tác động của các lực lượng thị trường thường đạt hiệu quả hơn. Tuy nhiên do động cơ chủ yếu là lợi nhuận, nên xét ở tầm vĩ mô việc phân bổ nguồn lực dưới tác động của các lực lượng thị trường, trong nhiều trường hợp không đem lại hiệu quả chung cho nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, tất yếu cần phải có sự kết hợp với hệ thống phân bổ nguồn lực của Nhà nước, trong đó có công cụ thuế để điều chỉnh các xu hướng vận động khác nhau nhằm đạt hiệu quả chung của nền kinh tế quốc dân. Như vậy tính hiệu quả của hệ thống thuế được xét dưới hai góc độ: giảm tối thiểu những tác động tiêu cực của thuế trong phân bổ các nguồn lực vốn đã đạt hiệu quả dưới tác động của các lực lượng thị trường; tăng cường vai trò của thuế đối với việc phân bổ các nguồn lực chưa đạt được hiệu quả dưới tác động của các lực lượng thị trường.

97

Thứ hai, thể hiện tính hiệu quả của thuế tài sản là tổng số thuế thu được là lớn nhất với chi phí hành chính thuế là thấp nhất. Chi phí hành chính thuế bao gồm các khoản chi phí trực tiếp quản lý của cơ quan thuế và những chi phí gián tiếp do người nộp thuế gánh chịu, các khoản chi phí này phụ thuộc vào tính phức tạp hay đơn giản của hệ thống thuế. Nói chung các loại thuế có cơ sở tính thuế phức tạp, yêu cầu quản lý cao thường có chi phí hành chính lớn. Nhằm giảm bớt chi phí hành chính đòi hỏi hệ thống thuế phải đơn giản, chứa đựng ít mục tiêu. Mặt khác hệ thống thuế đơn giản, dễ hiểu thì việc quản lý, kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với người nộp thuế mới dễ dàng thuận lợi.

 Tính bền vững và khả thi

Tính bền vững của hệ thống là điều cần thiết vì chi tiêu thường xuyên của chính quyền địa phương thường lấy từ nguồn thu thuế tài sản, chính quyền địa phương yêu cầu một nguồn thu thuế ổn định nhằm phát triển và duy trì mức độ cung cấp dịch vụ và cơ sở hạ tầng tại địa phương như mong muốn. Để bảo đảm tính bền vững thì hệ thống thuế tài sản phải cân bằng giữa tính năng động và uyển chuyển với tính ổn định và nhất quán để cho nó vừa có khả năng thay đổi thích nghi với tình hình, đồng thời có thể dự báo trước trong quá trình áp dụng.

Nguyên tắc khả thi đòi hỏi sắc thuế phải tính đến khả năng đóng thuế của người dân từ đó đưa ra cách thức điều chỉnh thích hợp. Nhà nước không thể bắt người dân đóng thuế khi họ không có khả năng đóng góp. Khả năng đóng góp của người dân thể hiện ở chỗ người dân chỉ phải đóng thuế khi mà thu nhập chịu thuế của họ là khoản thu nhập còn dư ra sau khi chi cho những nhu cầu cần thiết. Thông thường các quốc gia tính toán và đưa ra những định mức chi tiêu cần thiết áp dụng chung cho mọi người dân. Nếu thu nhập của họ không vượt quá định mức này, họ không phải đóng thuế.

 Độ đàn hồi ổn định

Độ co giãn thuế (tax elasticity) và độ đàn hồi của thuế (tax buoyancy) là hai chỉ số đo sự thay đổi của tổng thuế thu được khi tổng sản phẩm trong nước thay đổi một lượng nào đó, chỉ số này đóng vai trò quan trọng trong tác nghiệp dự báo thuế. Độ co giãn thuế đo lường sự thay đổi tự nhiên của thuế. Độ đàn hồi đo lường sự thay đổi thuế có tính đến những can thiệp của chính phủ về mặt thuế suất và (hoặc) cơ sở tính thuế. Hệ thống thuế cần phải có độ đàn hồi ổn định để giúp cho nhà nước có thể đáp ứng tốt các nhu cầu tài chính gia tăng khi GDP của quốc gia tăng lên.

 Thể hiện tính công bằng

Tính công bằng là một đòi hỏi khách quan trong việc phân chia gánh nặng của thuế khoá đối với các tầng lớp dân cư trong xã hội. Có công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế mới động viên các thành phần kinh tế trong xã hội hăng hái lao động, do đó mới đảm bảo được các mục tiêu kinh tế và chính trị của đất nước. Tính công bằng của thuế

98

phải dựa trên nguyên tắc công bằng theo chiều ngang và nguyên tắc công bằng theo chiều dọc. Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang, nếu các cá nhân có điều kiện về mọi mặt đều như nhau thì được đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên, nguyên tắc này khó áp dụng trong thực tiễn không thể chỉ rõ được tiêu thức nào để xác định hai cá nhân có điều kiện về mọi mặt như nhau, mặt khác cũng khó xác định việc đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế là như thế nào. Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác có khả năng nộp thuế ít hơn. Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này cần xác định rõ hai vấn đề: tiêu thức xác định khả năng và mức độ nộp thuế cao hơn. Hiện nay, người ta thường dùng tiêu thức thu nhập hoặc tiêu dùng để đánh giá khả năng nộp thuế của người nộp thuế. Có thể nói, vấn đề công bằng trong thuế khoá là một đòi hỏi khách quan, nhưng việc đánh giá một hệ thống thuế được coi là công bằng không phải là công việc dễ dàng. Do đó, công bằng trong thuế khoá vẫn thuộc về nhận thức và quan điểm của mỗi quốc gia.

 Giảm chi phí thực thi khi thực hiện (đơn giản, minh bạch, linh hoạt)

Tính đơn giản trong quản lý thuế tài sản làm gia tăng tính hiệu quả về mặt chi phí và sự công bằng khi thực thi chính sách thuế. Một hệ thống thuế rõ ràng và minh bạch trước hết phải chỉ rõ ai chịu thuế, mức thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế, qua đó người nộp thuế có thể tính toán chính xác được hiệu quả kinh doanh, nghĩa vụ nộp thuế cũng như dễ dàng thực hiện các thủ tục về thuế. Đây là yếu tố quan trọng để giảm bớt các chi phí hành chính thuế cũng như tăng cường thu hút vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế. Hệ thống thuế phải linh hoạt, tức là có khả năng thích ứng dễ dàng với những hoàn cảnh kinh tế thay đổi. Hệ thống thuế phải đảm bảo có khả năng dễ thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh kinh tế thì mới phát huy được vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế. Bởi vì Nhà nước ban hành ra chính sách thuế, nhưng người thực hiện chính sách thuế ấy là các tầng lớp dân cư trong xã hội, cho nên khi hoạch định chính sách thuế phải đảm bảo can thiệp ở mức độ, thời điểm và đối tượng thích hợp mới có thể tạo ra sự ổn định và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.

4.1.6 Nghiên cứu định lượng

Qua kết quả thảo luận nhóm được tổng hợp trong bước nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố tác động đến mô hình thuế tài sản ở Việt Nam và các biến quan sát cần thu thập cho bước nghiên cứu chính thức tiếp theo. Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng. Sau khi hoàn chỉnh bảng câu hỏi, thỏa mãn với tiêu chí: ngôn từ dễ hiểu, không gây hiểu nhầm về ý nghĩa, các phát biểu không bị trùng lắp, cấu trúc và số lương câu hỏi hợp lý thì tiến hành thực

99

hiện thu thập dữ liệu. Toàn bộ dữ liệu hồi đáp sẽ được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 18.0

 Xây dựng thang đo

Thang đo các nhân tố trong mô hình thuế tài sản được kế thừa và hiệu chỉnh để phù hợp từ các nghiên cứu trước đây. Bước nghiên cứu đầu tiên là nghiên cứu định tính, dùng kỹ thuật thảo luận nhóm và diễn dịch về tất cả các khái niệm liên quan. Nghiên cứu định tính nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm trong mô hình. Từ đó, các thang đo sơ bộ khái niệm được điều chỉnh phù hợp. Thông tin có được từ thảo luận sẽ được tổng hợp và là cơ sở cho việc hiệu chỉnh, bổ sung các biến thang đo. Các biến quan sát sử dụng cho các khái niệm liên quan được đo bằng thang đo Likert 5 điểm.  Bảng câu hỏi trong nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phiếu điều tra khảo sát, sử dụng dạng câu hỏi đóng theo thang likert 5 điểm để tìm ra các biến quan sát cần thiết và tối ưu cho mô hình nghiên cứu (Phụ lục 3.1)

 Thiết kế mẫu

Mẫu được chọn trong nghiên cứu theo phương pháp phi xác suất (non- probability sampling methods) hay còn gọi là chọn mẫu phi ngẫu nhiên, là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu. Phiếu điều tra sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (convenience sampling) là một trong các phương pháp của chọn mẫu phi xác suất, có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng. Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá để xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; hoặc để kiểm tra trước bảng câu hỏi nhằm hoàn chỉnh bảng; hoặc khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn đề đang quan tâm mà không muốn mất nhiều thời gian và chi phí. Kích thước của mẫu áp dụng trong nghiên cứu được dựa theo yêu cầu của phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) và hồi quy đa biến. Phân tích nhân tố khám phá EFA là một trong những phương pháp phân tích thống kê dùng để rút gọn một tập hợp nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết thông tin của tập biến ban đầu [16]. - Đối với phân tích nhân tố khám phá EFA: Dựa theo nghiên cứu của Hair, Anderson, Tatham và Black [16] cho tham khảo về kích thước mẫu dự kiến. Theo đó kích thước mẫu tối thiểu là gấp 5 lần tổng biến quan sát. Trong mô hình nghiên cứu dự kiến có tổng số biến quan sát là 28, cỡ mẫu cần đạt là 28*5=140 mẫu.

100

- Đối với phân tích hồi quy đa biến: cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là 50 +8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell [16]). Trong nghiên cứu này, dự kiến số biến độc lập là 3 thì cỡ mẫu tối thiểu là 50 + 8*3 = 74 mẫu. - Nghiên cứu về cỡ mẫu do Roger thực hiện [16] cho thấy cỡ mẫu tối thiểu áp dụng

được trong các nghiên cứu thực hành là từ 150 -200  Thu thập dữ liệu

Nghiên cứu được tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phiếu điều tra khảo sát đối với cán bộ ngành thuế, ngành tài chính, giảng viên chuyên ngành tài chính Nhà Nước tại TP.Hồ Chí Minh, TP.Biên Hòa và TP. Bà Rịa-Vũng Tàu.

Cỡ mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là 200 mẫu. Do giới hạn về thời gian và chi phi, phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp lấy mẫu thuận tiện, một trong các phương pháp chọn mẫu phi xác suất dựa trên bảng câu hỏi in sẵn.

 Đánh giá độ tin cậy thang đo

Độ tin cậy của thang đo được đánh giá bằng phương pháp nhất quán nội tại qua hệ số Cronbach’s Alpha. Sử dụng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trước khi phân tích nhân tố EFA để loại các biến không phù hợp vì các biến rác này có thể tạo ra các yếu tố giả [16]. Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha chỉ ra các đo lường có liên kết với nhau hay không, nhưng không cho biết biến quan sát nào cần bỏ đi và biến quan sát nào cần giữ lại. Khi đó, việc tính toán hệ số tương quan giữa biến-tổng sẽ giúp loại ra những biến quan sát nào không đóng góp nhiều cho sự mô tả của khái niệm cần đo [16]. Các tiêu chí được sử dụng khi thực hiện đánh giá độ tin cậy thang đo: - Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến-tổng nhỏ (nhỏ hơn 0.4), tiêu chuẩn chọn thang đo khi có độ tin cậy Alpha lớn hơn 0.6 (Alpha càng lớn thì độ tin cậy nhất quán nội tại càng cao) [16].

- Các mức giá trị của Alpha: lớn hơn 0.8 là thang đo lường tốt, từ 0.7 đến 0.8 là sử dụng được, từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng trong trường hợp khái niệm nghiên cứu là mới hoặc là mới trong bối cảnh nghiên cứu [16].

- Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến-tổng nhỏ hơn 0.4 (đây là những biến không đóng góp nhiều cho sự mô tả của khái niệm cần đo và nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng tiêu chí này).

- Chọn thang đo có độ tin cậy Alpha lớn hơn 0.6 (các khái niệm trong nghiên cứu

này là tương đối mới đối với đối tượng nghiên cứu khi tham gia trả lời).  Phân tích nhân tố khám phá EFA

Các thang đo đạt yêu cầu về độ tin cậy sẽ được sử dụng phân tích nhân tố để rút gọn một tập gồm nhiều biến quan sát thành một tập biến (gọi là nhân tố) ít hơn; các nhân tố được rút gọn này sẽ có ý nghĩa quan trọng hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết

101

nội dung thông tin của tập biến quan sát ban đầu (Hair, Anderson, Tatham & Black, [16]). Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA được dùng để kiểm định giá trị khái niệm thang đo. Bảng 4.6: Các bước phân tích nhân tố EFA

Bước Nội dung

1

- Đối với các biến quan sát đo lường các khái niệm thành phần là các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thuế tài sản, nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích nhân tố Principal Axis Factoring với phép quay Varimax.

2

- Đối với các biến quan sát đo lường tính hiệu quả của thuế tài sản (thang đo đơn hướng), sử dụng phương pháp trích nhân tố Principal Axis Factoring với phép quay Varimax.

- Kiểm định Bartlett: các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng

thể

- Xem xét giá trị KMO: 0.5<=KMO<=1 thì phân tích nhân tố là thích hợp với dữ liệu, ngược lại KMO<=0.5, thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với các dữ liệu [16]

3 - Để phân tích EFA có giá trị thực tiễn: tiến hành loại các biến có quan sát

có hệ số tải nhân tố <0.5

- Xem lại thông số trị riêng (đại diện cho phần biến thiên được giải thích

bởi mỗi nhân tố ) có giá trị >1

- Xem xét giá trị tổng phương sai trích ( yêu cầu >= 50%): cho biết các nhân tố được trích giải thích được % sự biến thiên của các biến quan sát.

Cách thực hiện và tiêu chí đánh giá trong phân tích nhân tố khám phá EFA:

- Sử dụng phương pháp trích yếu tố là Principal components với phép quay Varimax và điểm dừng khi trích các yếu tố có trị riêng bằng 1. Với các thang đo đơn hướng thì sử dụng phương pháp trích yếu tố Princial components. Tiến hành loại các biến số có trọng số nhân tố (còn gọi là hệ số tải nhân tố ) nhỏ hơn 0,4 và tổng phương sai trích được bằng hoặc lớn hơn 50% thì thang đo được chấp nhận (Gerbing & Anderson, [16]).

- Tiêu chuẩn đối với hệ số tải nhân tố là phải lớn hơn hoặc bằng 0,5 để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA. Các mức giá trị của hệ số tải nhân tố: lớn hơn 0,3 là đạt mức tối thiểu; lớn hơn 0,4 là quan trọng; lớn hơn 0,5 là có ý nghĩa thực tiễn. Tiêu chuẩn chọn mức giá trị hệ số tải nhân tố: cỡ mẫu ít nhất là 350 thì có thể chọn hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,3; nếu cỡ mẫu khoảng 100 thì chọn hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,55; nếu cỡ mẫu khoảng 50 thì hệ số tải nhân tố phải lớn hơn 0,75 [16].

102

 Phân tích hồi quy đa biến

Sau quá trình thực hiện kiểm định thang đo, đánh giá độ tin cậy thang đo (sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha) và kiểm định giá trị khái niệm của thang đo (phân tích nhân tố khám phá EFA), tiến hành tính toán nhân số của nhân tố (giá trị của các nhân tố trích được trong nhân tố phân tích nhân tố EFA) bằng cách tính trung bình cộng của các biến quan sát thuốc nhân tố tương ứng. Các nhân tố được trích ra trong phân tích nhân tố được sử dụng cho phân tích nhân tố hồi quy đa biến để kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết kèm theo. Các kiểm định giả thuyết thống kê đều áp dụng mức ý nghĩa là 5%. Phân tích tương quan:

- Kiểm định mối tương quan tuyến tính giũa các biến trong mô hình: giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập và giữa các biến độc lập với nhau. Đồ thị phân tán cũng cung cấp thông tin trực quan về mối tương quan tuyến tính giữa hai biến. Sử dụng hệ số tương quan Pearson để lượng hóa mức độ chặt chẽ mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng: giá trị tuyệt đối của hệ số Pearson càng gần đến 1 thì hai biến này có mối tương quan tuyến tính càng chặt chẽ [16].

- Trong mô hình nghiên cứu, kỳ vọng có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập; đồng thời cũng xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau để nhận dạng hiện tượng đa cộng tuyến.

Phân tích hồi quy đa biến:

- Sau khi kết luận là hai biến có mối liên hệ tuyến tính thì có thể mô hình hóa

mối quan hệ nhân quả của hai biến này bằng hồi quy tuyến tính [16].

- Nghiên cứu thực hiện hồi quy đa biến theo phương pháp “Enter”: tất cả các

biến được đưa và một lần và xem xét các kết quả thống kê liên quan.

- Phương trình hồi quy đa biến cho mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu (theo

mô hình lý thuyết): Bảng 4.7: Mô tả các biến trong phương trình hồi quy đa biến

Biến Ý nghĩa Loại biến

F_Hieuqua Tính hiệu quả của thuế tài sản Phụ thuộc

F_Doituong Đối tượng chịu thuế tài sản Độc lập

F_Hinhthuc Hình thức đánh thuế tài sản Độc lập

F_Cancu Căn cứ tính thuế tài sản Độc lập

Kiểm định các giả thuyết, sử dụng phầm mềm SPSS:

- Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến - Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình 103

- Kiểm tra giả định về hiện tượng đa cộng tuyến (tương quan giữa các biến độc lập) thông qua giá trị của độ chấp nhận (Tolerrance) hoặc hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance inflation factor): VIF > 10 thì có thể nhận xét có hiện tượng đa cộng tuyến [16].

4.2 Phân tích và đánh giá mô hình thuế tài sản

4.2.1 Giới thiệu

Mục đích của phần này là phân tích mô hình nghiên cứu thuế tài sản, trình bày các kết quả kiểm định thang đo và các giả thuyết đưa ra trong mô hình. Nội dung của phần này gồm có các phần chính. Trước tiên là phần mô tả mẫu khảo sát, kế đến là kết quả kiểm định thang đo thông qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố EFA, phân tích hồi quy và cuối cùng là kết quả kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu.

4.2.2 Mô tả mẫu và xử lý dữ liệu

- Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phiếu điều tra

khảo sát, sử dụng dạng câu hỏi đóng theo thang likert.

- Nghiên cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện (thuộc một trong những

phương pháp chọn mẫu phi xác suất).

- Khung mẫu dựa vào danh sách cán bộ ngành thuế, ngành tài chính, giảng viên

chuyên ngành tài chính Nhà Nước.

- Khu vực chọn mẫu là TP.Hồ Chí Minh, TP.Biên Hòa và TP. Bà Rịa-Vũng Tàu. - Kích cỡ mẫu trong phân tích nhân tố EFA, cần 5 quan sát cho 1 biến đo lường và cỡ mẫu không nên ít hơn 100. Nghiên cứu có 28 biến về đánh giá mô hình thuế tài sản. Như vậy số mẫu cần thiết là 28 x 5 = 140. Tuy nhiên tác giả mong muốn thu thập trên 170 mẫu, do đó số bảng khảo sát phát ra là 200 bảng được gửi trực tiếp đến đối tượng cần thăm dò ý kiến điều tra

- Số bảng câu hỏi được phát ra là 200, sau khi thu về và loại bỏ những bảng không

hợp lệ, kết quả còn lại 180 mẫu hợp lệ được dùng cho tiến trình phân tích.

- Hai mươi tám (28) biến quan sát đo lường 4 khái niệm trong nghiên cứu được tiến hành mã hóa để nhập liệu và phân tích, sử dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 18.0 để xử lý (Phụ lục 3.2).

Toàn bộ dữ liệu hồi đáp sẽ được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 18.0.

Khởi đầu, dữ liệu được mã hóa và làm sạch, sau đó qua các bước phân tích sau: Bước 1: Đánh giá độ tin cậy và giá trị thang đo. Các thang đo được đánh giá độ tin cậy qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha. Hệ số này cho biết mức độ tương quan giữa các biến trong bảng câu hỏi, được dùng để tính sự thay đổi của từng biến và mối tương quan giữa các biến. Qua đó, các biến quan sát có tương quan biến-tổng nhỏ, Corrected Item Total Corelation (<0,4) bị loại và thang đo được chấp nhận khi hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha đạt yêu cầu (>0,6).

104

Bước 2: Phân tích nhân tố (phân tích EFA). Phân tích này được dùng để kiểm định giá trị khái niệm của thang đo nhằm rút gọn dữ liệu và biến bằng cách nhóm chúng lại với các nhân tố đại diện. Thông qua phương pháp này, có thể xác định cấu trúc cơ bản của bộ dữ liệu, giảm thứ nguyên và rút gọn tập dữ liệu. Các biến chỉ được chấp nhận khi nó có trọng số lớn hơn 0,5 và các trọng số tải của chính nó ở factor khác nhỏ hơn 0,35 hoặc khoảng cách giữa 2 trọng số tải của cùng 1 biến ở hai factor khác nhau lớn hơn 0,3 (theo kinh nghiệm từ chuyên gia). Thang đo chỉ được chấp nhận khi cumulative của phần “extraction sum of square loading” > 50% [66]. Bước 3: Sử dụng phương pháp hồi quy đa biến nhằm kiểm định mô hình và các giả thuyết đã đưa ra với mức ý nghĩa dự kiến α = 5%.

4.2.3 Phân tích độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha

Để kết quả đánh giá có ý nghĩa thì thang đo phải đạt được một mức tin cậy nhất định. Độ tin cậy là mức độ mà phép đo tránh được các sai số ngẫu nhiên. Độ tin cậy liên quan đến tính chính xác, tính nhất quán của kết quả. Ở đây những mục hỏi đo lường cùng một khái niệm tiềm ẩn thì phải có liên quan đến những cái còn lại trong nhóm đó. Điều này liên quan đến 2 phép tính toán tương quan giữa bản thân các mục hỏi và tương quan của các điểm số của từng mục hỏi với điểm số toàn bộ các mục hỏi cho mỗi người trả lời. Nghiên cứu có thể đánh giá độ tin cậy của thang đo dựa vào hệ số Cronbach’s Alpha. Hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau. Theo đó, thang đo được chấp nhận khi hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 và hệ số tương quan biến- tổng (Corrected Item – Total Correlation) lớn hơn 0.4.

Qua kết quả kiểm định (Phụ lục 3.4), hệ số Cronbach lần lượt cho các nhóm

biến như sau:

 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo “Đối tượng chịu thuế tài sản”

Kết quả lần 1: Hệ số Cronbach's Alpha là 0.803, hệ số tương quan biến-tổng

của biến thành phần “D09” có hệ số nhỏ nhất, tương quan biến-tổng là 0.231 nhỏ hơn

0.4 nên sẽ loại biến này do không thỏa điều kiện. Biến thành phần bị loại khỏi mô

hình chính là “chứng khoán”, điều này có thể lý giải rằng ở Việt Nam rất khó áp dụng

đánh thuế trên giá trị tài sản ròng như một số quốc gia phát triển và rất khó xác định

tổng giá trị tài sản của mỗi cá nhân. Vì vậy, thu nhập từ chứng khoán có thể được xem

như là một đối tượng chịu thuế thu nhập.

Kết quả lần 2: Hệ số Cronbach's Alpha là 0.817, hệ số tương quan biến-tổng

của các thành phần đều lớn hơn 0.4 trừ biến thành phần “D06” có hệ số tương quan

biến-tổng là 0.108 và “D08” có hệ số tương quan biến-tổng là 0.378 nhỏ hơn 0.4 nên

nghiên cứu sẽ loại biến “D06” trước tiên do không thỏa điều kiện. Biến thành phần bị

loại khỏi mô hình chính là “tài nguyên”, điều này có thể lý giải quyền khai thác tài

105

nguyên được giao cho đối tượng khái thác có thời hạn, không thuộc quyền sử dụng và

sở hữu để đánh thuế mà chỉ có thể chi phối bởi thuế tài nguyên.

Kết quả lần 3: Hệ số Cronbach's Alpha là 0.851, hệ số tương quan biến-tổng

của biến thành phần “D08” có hệ số tương quan biến-tổng là 0.290 nhỏ hơn 0.4 nên

nghiên cứu sẽ loại biến này do không thỏa điều kiện. Sau khi loại sẽ chạy lại

Cronbach’s Alpha và cho độ tin cậy là 0.874. Biến thành phần bị loại khỏi mô hình

chính là “tài sản vô hình” như bản quyền, bằng phát minh sáng chế… Điều này cho

thấy, tài sản vô hình ở Việt nam (ngoại trừ quyền sử dụng đất) luôn được khuyến

khích phát triển, các ý kiến không đồng tình về việc đánh thuế tài sản đối với đối

tượng này như ở Mỹ và một số nước OECD. Ở Việt Nam chỉ có thể áp dụng thuế thu

nhập đối với việc chuyển nhượng một số tài sản vô hình trên nếu vượt ngưỡng thu

nhập phải chịu thuế.

Kết quả lần 4 (Bảng 4.8): Sau khi loại bỏ 3 biến thành phần “D09”, “D06” và

“D08”, các biến còn lại đều đạt yêu cầu kiểm định Cronbach's Alpha. Vì vậy 6 biến

quan sát còn lại được chấp nhận và đưa vào phần phân tích nhân tố tiếp theo sau gồm

có: quyền sử dụng đất nông nghiệp, quyền sử dụng đất phi nông nghiệp, nhà ở, công

trình xây dựng gắn liền trên đất, tài sản đăng ký sử dụng và phương tiện giao thông. Bảng 4.8: Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến D09,D06 và D08

Cronbach's Alpha: 0.874

Biến quan sát Trung bình thang đo nếu loại bỏ biến Phương sai thang đo nếu loại bỏ biến Tương quan biến- tổng Cronbach's Alpha nếu loại bỏ biến

D01 18.22 16.900 .650 .857

D02 18.19 16.716 .588 .869

D03 18.09 16.332 .719 .845

D04 17.99 17.039 .733 .846

D05 18.33 16.145 .689 .850

D07 18.25 16.021 .703 .848

 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo “Hình thức đánh thuế tài sản”

Kết quả lần 1: Hệ số Cronbach's Alpha là 0.862, hệ số tương quan Cronbach’s

Alpha của nhóm biến cao (> 0.6) và hệ số tương quan biến-tổng của các thành phần

đều lớn hơn 0.4 trừ biến thành phần “H12” có hệ số tương quan biến-tổng là 0.317

nhỏ hơn 0.4 nên nghiên cứu sẽ loại biến này do không thỏa điều kiện. Sau khi loại sẽ

chạy lại Cronbach’s Alpha và cho độ tin cậy là 0.876. Biến thành phần bị loại khỏi mô

hình chính là hình thức đánh thuế “dựa trên thu nhập của tài sản”. Điều này được lý

giải rằng ở Việt nam, việc kiểm soát thu nhập từ tài sản là điều không đơn giản để

106

đánh thuế, rất khó khả thi mà hiện nay chỉ áp dụng thuế thu nhập trên khoản thu nhập

từ việc cho thuê tài sản và thu nhập từ việc chuyển nhượng tài sản.

Kết quả lần 2 (Bảng 4.9): Sau khi loại bỏ biến thành phần “H12”, các biến còn

lại đều đạt yêu cầu kiểm định Cronbach's Alpha. Vì vậy 7 biến quan sát còn lại được

chấp nhận và đưa vào phần phân tích nhân tố tiếp theo sau gồm có: Tập trung vào

những tài sản Nhà nước cần quản lý, tập trung vào những tài sản có giá trị lớn, dựa

trên giá trị của tài sản, Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (tỷ lệ phần trăm trên giá trị tài sản),

quy định ngưỡng chịu thuế, đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu tài sản và

đánh thuế hàng năm đối với tài sản. Bảng 4.9: Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến “H12”

Cronbach's Alpha: 0.876

Biến quan sát Trung bình thang đo nếu loại bỏ biến Phương sai thang đo nếu loại bỏ biến Tương quan biến- tổng Cronbach's Alpha nếu loại bỏ biến

H10 21.88 21.322 .778 .841

H11 21.83 23.950 .604 .865

H13 21.60 24.845 .585 .867

H14 21.83 23.641 .597 .866

H15 21.74 23.557 .663 .857

H16 21.84 22.881 .667 .857

H17 21.77 23.026 .706 .852

 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo “Căn cứ tính thuế tài sản”

Kết quả lần 1: Hệ số Cronbach's Alpha: 0.582, hệ số tương quan biến-tổng của các thành phần đều lớn hơn 0.4 trừ biến thành phần “C19” có hệ số tương quan biến- tổng là 0.067 nhỏ hơn 0.4 nên sẽ loại biến này do không thỏa điều kiện. Biến thành phần bị loại khỏi mô hình chính là căn cứ tính thuế dựa trên “giá trị ròng của tài sản chịu thuế”. Để thực hiện điều này cần phải xác định giá trị thực của tài sản trừ đi các khoản chi phí đầu tư, tiền lãi, khấu hao…và điều này rất khó khả thi đối với Việt nam trong bối cảnh hiện nay khi công nghệ và khả năng quản lý thuế còn nhiều hạn chế .

Kết quả lần 2: Hệ số Cronbach's Alpha: 0.672, hệ số tương quan biến-tổng của các thành phần đều lớn hơn 0.4 trừ biến thành phần “C23” có hệ số tương quan biến- tổng là 0.181 nhỏ hơn 0.4 nên nghiên cứu sẽ loại biến này do không thỏa điều kiện. Biến thành phần bị loại khỏi mô hình chính là căn cứ tính thuế dựa trên “thuế suất lũy thoái”. Thuế lũy thoái là loại thuế suất giảm dần trong khi cơ sở đánh thuế lại tăng dần. Thông thường các nước áp dụng thuế suất lũy thoái để khuyến khích các đối

107

tượng nộp thuế kê khai thu nhập nhiều. Hà Lan trước đây đã dùng thuế suất lũy thoái đánh vào thu nhập công ty để thu hút các khoản đầu tư lớn, thúc đẩy quá trình tích lũy vốn. Tuy nhiên, thuế suất luỹ thoái không được áp dụng phổ biến ở các nước.

Kết quả lần 3: Sau khi loại bỏ biến thành phần “C19” và “C23”, các biến còn lại đều đạt yêu cầu kiểm định Cronbach's Alpha. Vì vậy 4 biến quan sát còn lại được chấp nhận và đưa vào phần phân tích nhân tố tiếp theo sau gồm có: giá thị trường của tài sản, giá trị tài sản ấn định, thuế suất lũy tiến, thuế suất tỷ lệ (trung bình). Bảng 4.10: Độ tin cậy thang đo sau khi loại biến C19 và C23

Cronbach's Alpha: 0.783

Biến quan sát Trung bình thang đo nếu loại bỏ biến Phương sai thang đo nếu loại bỏ biến Tương quan biến- tổng Cronbach's Alpha nếu loại bỏ biến

C18 12.76 4.239 .617 .715

C20 12.60 4.264 .651 .697

C21 12.96 4.724 .487 .781

C22 12.47 4.541 .606 .722

 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo “Tính hiệu quả của thuế TS”

Bảng 4.11 cho thấy hệ số tương quan Cronbach’s Alpha của nhóm biến cao (>0.6), và hệ số tương quan biến-tổng của các thành phần đều lớn hơn 0.4. Vì vậy cả 5 biến quan sát đều được chấp nhận và đưa vào phần phân tích nhân tố tiếp theo sau. Qua kết quả phân tích Cronbach’s Alpha, ngoài các biến thành phần không phù hợp với mô hình bị loại bỏ thì 22 biến còn lại (Phụ lục 3.3) được đưa vào bước phân tích nhân tố tiếp theo. Bảng 4.11: Độ tin cậy thang đo “Tính hiệu quả của thuế tài sản”

Cronbach's Alpha: 0.813

Biến quan sát Trung bình thang đo nếu loại bỏ biến Phương sai thang đo nếu loại bỏ biến Tương quan biến- tổng Cronbach's Alpha nếu loại bỏ biến

T24 14.99 9.827 .661 .757

T25 15.24 10.652 .523 .801

T26 15.08 11.145 .528 .797

T27 15.11 10.363 .612 .773

T28 15.01 10.419 .694 .751

4.2.4 Phân tích nhân tố

Phương pháp phân tích nhân tố (phân tích EFA) được dùng để kiểm định tính

đơn nguyên và giá trị hội tụ của từng thang đo, theo đó liên hệ giữa các nhóm biến có

108

quan hệ qua lại lẫn nhau được xem xét và trình bày dưới dạng một số ít các nhân tố cơ

bản. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Principal Component Analysis với phép

quay Varimax với các điều kiện thực hiện là [16]:

- Trị số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) lớn hơn 0.5

- Điểm dừng khi trích các yếu tố có trị riêng (eigenvalue) ≥ 1, trị riêng là tổng lệch

bình phương của một nhân tố, đại lượng đại diện cho lượng biến thiên giải thích

bởi nhân tố hay phương sai của một nhân tố.

- “Varience extracted” lớn hơn 50%, nghĩa là phần trăm phương sai tích lũy giải

thích được trên 50% biến thiên của dữ liệu.

- Sig. < 0.05 nhằm đảm bảo kiểm định có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.

- Các biến chỉ được chấp nhận khi nó có trọng số lớn hơn 0.5 và các trọng số tải của

chính nó ở factor khác phải nhỏ hơn 0.35 hoặc khoảng cách giữa hai trọng số tải

của cùng một biến ở hai factor khác nhau lớn hơn 0.3 nhằm đảm bảo nhân tố và

biến có liên hệ chặt chẽ với nhau.

Trong quá trình tiến hành, các biến không đạt yêu cầu sẽ bị loại bỏ và phân tích

nhân tố sẽ được thực hiện lại cho đến khi nào đạt được kết quả tốt nhất.

 Phân tích nhân tố đối với các biến độc lập

Từ kết quả phân tích độ tin cậy thang đo ở phần trên, việc phân tích nhân tố

trước tiên được tiến hành trên 17 biến quan sát của các biến độc lập ảnh hưởng đến

“tính hiệu quả của thuế tài sản”. Kết quả phân tích (phụ lục 3.4) cho hệ số KMO là

0.824, lớn hơn 0.5 cho thấy giả thuyết là đúng. Trong kiểm dịnh Barlett’s, p = 0.000

(bác bỏ giả thuyết H0: các biến quan sát không có tương quan với nhau trong tổng thể)

như vậy giả thuyết về ma trận tương quan giữa các biến là ma trận đồng nhất bị bác

bỏ, tức là các biến có tương quan với nhau và thỏa điều kiện phân tích nhân tố. Bước

tiếp theo là thực hiện phân tích nhân tố theo Principal components với phép quay

Varimax, kết quả (phụ lục 3.4) cho thấy 3 nhóm nhân tố và 17 biến quan sát đạt yêu

cầu sau khi phân tích.

Như vậy, sau khi tiến hành phân tích nhân tố 17 biến được giữ nguyên vì có giá

trị lớn hơn 0.5 và được được xác định với trị riêng lớn hơn 1. Kết quả cho thấy 3 nhân

tố “đối tượng chịu thuế”, “Căn cứ tính thuế” và “Hình thức đánh thuế” giải thích được

60,8 % biến thiên của dữ liệu và đạt yêu cầu phân tích dữ liệu.

 Phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc

Kết quả sau khi đưa các biến quan sát phụ thuộc vào phân tích nhân tố (phụ lục

3.4) cho thấy rằng tất cả các biến đều đạt mức độ phù hợp với điều kiện đã nêu ở trên

và kết quả cho một nhóm nhân tố duy nhất.

109

Như vậy, sau khi tiến hành phân tích nhân tố 5 biến được giữ nguyên vì có giá

trị lớn hơn 0.5 và được được xác định với trị riêng lớn hơn 1. Kết quả cho thấy nhân tố

“tính hiệu quả của thuế tài sản” trên giải thích được 57,66% biến thiên của dữ liệu và

đạt yêu cầu phân tích dữ liệu.

4.2.5 Phân tích hồi quy

Sau khi phân tích nhân tố các biến mới được hình thành từ các biến mô tả và

các biến này được sử dụng để phân tích hồi quy nhằm khẳng định các giả thuyết của

mô hình nghiên cứu (Phụ lục 3.4). Hồi quy đa biến được tiến hành với mức ý nghĩa α

bằng 5%. Bảng mô tả tương quan sau khi phân tích hồi quy với biến độc lập là “đối

tượng chịu thuế tài sản”, “hình thức đánh thuế tài sản”, “căn cứ tính thuế tài sản” và

biến phụ thuộc là “tính hiệu quả của thuế tài sản”.

Bảng 4.12: Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Model Summary

Model 1 R .725a R Square .526 Adjusted R Square .518 Std. Error of the Estimate .54904

Coefficientsa

Collinearity Statistics Standardized Coefficients Model t Sig. B Tolerance VIF Beta

1

Unstandardized Coefficients Std. Error .303 .055 .055 .064 (Constant) -.269 F_Doituong .387 F_Hinhthuc .294 .370 F_Cancu -.889 7.075 5.378 5.761 .375 .000 .000 .000 .871 .889 .888 1.148 1.125 1.126 .393 .296 .317

Kết quả trong bảng 4.12 cho thấy R2 = 0,526, như vậy 52,6% sự biến thiên của

biến phụ thuộc được giải thích bằng các biến độc lập đã đưa vào bên trên. Đối với

hiện tượng đa cộng tuyến, giả thiết đặt ra là không có mối tương quan giữa các biến

độc lập. Yêu cầu là chỉ số VIF trên cột Collinerity Statistics phải nhỏ hơn 2. Kết quả

đã cho thấy tất cả các thành phần đều có chỉ số VIF nhỏ hơn 2, như vậy là không có

mối tương quan giữa các thành phần, phân tích hồi quy được chấp nhận.

Kết quả hồi quy cũng cho thấy hệ số sig nhỏ hơn 0.05 ở tất cả các nhân tố đưa

vào, như vậy các biến trong các nhân tố này đều có ý nghĩa về mặt thống kê, nghĩa là

các biến có ý nghĩa trong việc giải thích cho sự biến thiên của biến phụ thuộc

“F_Hieuqua”. Như vậy các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu đã được chứng minh

cho thấy mô hình này phù hợp với nghiên cứu của đề tài luận án. Kết quả cũng cho

thấy rằng nhân tố “F_Doituong” với hệ số β = 0.387 ảnh hưởng mạnh nhất đến “Tính

110

hiệu quả của thuế tài sản”, kế tiếp là nhân tố “F_Cancu” với hệ số β = 0.370 và nhân

tố “F_Hinhthuc” với hệ số β = 0.294 có mức tác động ý nghĩa đến “tính hiệu quả của

thuế tài sản”.

4.2.6 Kết quả nghiên cứu định lượng

Kết quả phân tích cho thấy, mô hình thuế tài sản được cấu thành và chịu tác

động bởi các nhóm nhân tố trọng yếu như đối tượng chịu thuế, hình thức tính thuế và

căn cứ tính thuế (Hình 4.3).

Như vậy, trong mô hình nghiên cứu ban đầu, nghiên cứu đưa ra 3 nhân tố độc

lập với 23 biến để đánh giá tính hiệu quả của thuế tài sản. Sau khi phân tích độ tin cậy

và nhân tố, kết quả vẫn giữ nguyên 3 nhân tố và 17 biến. Trong 3 nhân tố thì nhân tố

“đối tượng chịu thuế tài sản” có tác động mạnh nhất đến “tính hiệu quả thuế của thuế

tài sản” và gần ngang bằng nhân tố trên là “căn cứ tính thuế”.

(a) Đối tượng chịu thuế tài sản

Đối tượng chịu thuế tài sản là các tài sản thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế tài

sản, các tài sản nằm trong danh mục cần phải có sự điều tiết của chính sách thuế. Tùy

theo đặc điểm của nền kinh tế - xã hội, mục tiêu, yêu cầu quản lý, tình trạng thu nhập

xã hội, mục đích sử dụng tài sản, tình trạng chủ sở hữu tài sản mà chính sách thuế

thiết lập phạm vi đối tượng chịu thuế tài sản. Tài sản chịu thuế phổ biến là bất động

111

sản, đây là tài sản khó có thể trốn hay lậu thuế, khả năng quản lý, kiểm soát dễ dàng;

về mức động viên có thể linh hoạt cao hay thấp tuỳ theo yêu cầu về ngân sách địa

phương; số thu có thể kế hoạch hoá một cách tương đối và là nguồn thu quan trọng

của các địa phương.

Kết quả phân tích đã chỉ ra phạm vị chịu thuế tài sản chủ yếu là bất động sản và

tài sản có giá trị cao như: Quyền sử dụng đất nông nghiệp, quyền sử dụng đất phi

nông nghiệp, nhà, công trình xây dựng gắn liền trên đất, tài sản đăng ký sử dụng và

phương tiện giao thông. Với hệ số β lớn nhất, bằng 0.387 và là nhân tố tác động mạnh

nhất đến “tính hiệu quả của thuế tài sản”. Điều này chứng tỏ nhân tố “đối tượng chịu

thuế” có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả thu thuế tài sản.

Biểu đồ 4.8 cho thấy nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng có xu hướng kết

quả nhận định gần giống nhau về đối tượng chịu thuế tài sản.

Biểu đồ 4.8: Xu hướng kết quả nhận định đối với đối tượng chịu thuế tài sản

(b) Hình thức đánh thuế tài sản

Với hệ số β = 0.294, cho thấy nhân tố “hình thức đánh thuế” có mức tác động ý

nghĩa đến tính hiệu quả của thuế tài. Tùy theo đối tượng chịu thuế mà mỗi quốc gia có

thể lựa chọn hình thức đánh thuế phù hợp. Quá trình phân tích kết quả cho thấy hình

thức đánh thuế nghiêng về hướng tập trung vào những tài sản Nhà nước cần quản lý,

những tài sản có giá trị lớn, cũng như việc kết hợp 2 phương thức đánh thuế một lần

và đánh thuế hàng năm. Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng cho thấy xu

hướng kết quả nhận định gần giống nhau về hình thức đánh thuế tài sản.

112

Biểu đồ 4.9: Xu hướng kết quả nhận định đối với hình thức đánh thuế tài sản

(c) Căn cứ tính thuế tài sản

Việc xác định căn cư tính thuế trong mô hình thuế tài sản là điều rất quan trọng đòi hỏi phải được nghiên cứu và cân nhắc thật kỹ lưỡng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, giá tính tính thuế của tài sản phải là giá thị trường của tải sản, trong một số trường hợp thì cần sử dụng giá trị tài sản ấn định. Về thuế suất thì mô hình nên áp dụng thuế suất lũy tiến và thuế suất tỷ lệ. Với hệ số β = 0.370, cho thấy căn cứ tính thuế cũng có mức tác động ý nghĩa đến tính hiệu quả của thuế tài sản. Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng cho thấy xu hướng kết quả nhận định gần giống nhau về căn cứ tính thuế tài sản. Biểu đồ 4.10: Xu hướng kết quả nhận định đối với căn cứ tính thuế tài sản

4.2.7 Các trường hợp nghiên cứu tình huống

4.2.7.1 Trường hợp nghiên cứu 1

Đối chiếu với cơ sở lý thuyết về thuế tài sản và qua kết quả phân tích nhận thấy

rằng, mặc dù chính sách thuế của Việt Nam đã có thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế

113

sử dụng đất phi nông nghiệp và lệ phí trước bạ, nhưng thuật ngữ “thuế tài sản” vẫn

còn khá xa lạ với người dân Việt nam và ngay cả trong các Luật thuế của Việt nam

cũng không đề cấp đến thuật ngữ này. Vì vậy, việc đưa mô hình thuế tài sản vào thực

tiễn áp dụng là một vấn đề thử thách không nhỏ đối với Chính phủ Việt nam và các

nhà nghiên cứu chính sách. Trước bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, nguồn thu về

cho NSNN trong thời gian qua đã sụt giảm mạnh từ thuế nhập khẩu, trong khi chi tiêu

ngân sách ngày càng tăng lên để phục vụ cho tiến trình CNH-HĐH đất nước. Bên

cạnh đó, Chính phủ Việt nam rất quan tâm đến vấn đề cải cách thuế giai đoạn 2015-

2020. Mô hình thuế tài sản trong giai đoạn sơ khai cần nghiên cứu một cách kỹ lưỡng

để trở thành một công cụ điều tiết hiệu quả của Nhà nước nhằm mang lại nguồn thu ổn

định và bền vững cho ngân sách, đơn giản và dễ vận dụng trong quá trình thực hiện

tạo tiền đề cho sự phát triển mô hình thuế tài sản về sau.

Chính vì lẽ trên, giả thuyết đặt ra đối với nghiên cứu trong tình huống này là

trong ngắn hạn nên vận dụng mô hình thuế tài sản như thế nào để thuế tài sản đạt

được tính bền vững, khả thi và giảm chi phí thực thi trong quá trình thực hiện.

Về mặt lý thuyết, tính bền vững của thuế tài sản phải đáp ứng được nguồn thu

cho ngân sách nhà nước, chính quyền địa phương yêu cầu một nguồn thu thuế ổn định

nhằm phát triển và duy trì mức độ cung cấp dịch vụ công tại địa phương như mong

muốn; tính khả thi đòi hỏi sắc thuế tài sản phải tính đến khả năng đóng thuế của người

dân từ đó đưa ra cách thức điều chỉnh thích hợp, tránh các trường hợp người dân phải

chịu gánh nặng về thuế quá mức; hệ thống thuế được thiết kế đơn giản, chính sách

minh bạch, không quá mở rộng là một trong những ưu điểm làm giảm chi phí trong

quá trình vận hành chính sách.

Vậy đối tượng và phạm vi của tài sản chịu thuế, hình thức đánh thuế và căn cứ

tính thuế nào cho phù hợp mục tiêu của thuế tài sản nhằm đạt được tính bền vững, khả

thi và giảm chi phí thực thi chính sách trong quá trình thực hiện là vấn đề cốt lõi của

nghiên cứu tình huống này. Nghiên cứu được dựa trên các tài liệu thu thập và kết quả

tổng hợp từ 45 phiếu phỏng vấn các chuyên gia ngành thuế và tài chính (phụ lục 3.5),

các ý kiến nhận định được tóm lược trong hộp 4.1 như sau:

114

Hộp 4.1: Các ý kiến nhận định mô hình thuế tài sản với mục tiêu bền vững, khả

thi và giảm chi phí thực thi chính sách thuế tài sản

 Sự cần thiết tạo một nguồn thu bền vững và chắc chắn cho ngân sách địa

phương là ưu tiên hàng đầu

 Nên mở rộng đối tượng chịu thuế tài sản một cách có giới hạn, cân nhắc đến

khả năng của người nộp thuế.

 Giai đoạn đầu nên tập trung vào nhóm bất động sản: đất nông nghiệp, đất

phi nông nghiệp và nhà, đây là những đối tượng có tiềm năng và khả năng

dễ thu.

 Thay thế khoản lệ phí trước bạ bằng thuế đăng ký tài sản

 Xây dựng mức chịu thuế khởi điểm (ngưỡng chịu thuế) đối với nhóm thuế

bất động sản.

 Xây dựng khung thuế suất lũy tiến từng phần cho nhóm thuế bất động sản,

thuế đăng ký tài sản nên theo thuế suất tỷ lệ cố định cho từng loại tài sản.

 Giá tính thuế nên theo sát giá thị trường, điều chỉnh 3 năm hoặc 5 năm 1

lần.

 Nhóm thuế bất động sản sẽ thu hàng năm, thuế đăng ký tài sản thu một lần

khi đăng ký.

 Trong giai đoạn đầu nên áp dụng thuế suất rất thấp đánh trên toàn bộ giá trị

tài sản chịu thuế.

(a) Về đối tượng chịu thuế tài sản Hiện tại chính sách thuế của Việt Nam liên quan đến tài sản đã có thuế SDĐNN, thuế SDĐPNN và lệ phí trước bạ. Trong chiến lược ngắn hạn, để đảm bảo nguồn thu ngân sách được bền vững khi nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm đi và thuế thu nhập cá nhân chưa thật sự phát huy hết vai trò của sắc thuế này, đồng thời để giúp cho ngân sách địa phương có đủ nguồn lực đảm bảo tốt việc cung cấp các dịch vụ công. Chính sách thuế tài sản nên mở rộng một phần đối tượng chịu thuế tài sản thuộc nhóm bất động sản đó chính là thuế nhà, bên cạnh đó để cho tính pháp lý được chặt chẽ hơn thì nên thay thế khoản lệ phí trước bạ thành thuế đăng ký tài sản. Việc mở rộng thêm đối tượng chịu thuế như thuế nhà có thể được xem là khả thi trong điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam hiện nay khi thu nhập và mức sống của người dân ngày càng được nâng cao.

Thuế nhà được áp dụng khá phổ biến ở các nước như Philppines, Indonesia, Singapore, Đài Loan, các nước thuộc nhóm OECD... với mức thuế suất trung bình hàng năm từ 0,3% đến 1%, tỷ lệ chịu thuế trên giá trị tài sản chịu thuế từ 15% đến

115

100%. Tuy nhiên, chính sách thuế ở một số quốc gia như Indnonesia, Philippines không gọi là thuế nhà mà được gọi là thuế bất động sản và nó bao gồm đất và các công trình xây dựng trên đất.

Kết quả phỏng vấn nhóm chuyên gia chỉ ra rằng, việc mở rộng thêm đối tượng thuế nhà trong nhóm bất động sản sẽ tạo cho cơ sở thuế rộng hơn nhưng không quá mức làm biến dạng thị trường hay gây ra tổn thất xã hội. Vì xét cho cùng nhà cửa cũng là tài sản gắn liền trên đất nên việc đánh thuế tài sản là hoàn toàn có thể vận dụng khả thi. Bên cạnh đó, với việc quy định ngưỡng chịu thuế hợp lý thì chỉ có một phần những nhà cửa trị giá cao mới bị ảnh hưởng của thuế. Những người sở hữu nhà cửa vượt trên ngưỡng chịu thuế này đa phần là những người thuộc tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội. Vì vậy có thể suy luận rằng, thuế nhà sẽ được chấp nhận bởi công chúng vì đó chính là việc tái phân bổ nguồn lực của xã hội nên tính khả thi của sắc thuế này là vấn đề nghiên cứu có thể vận dụng.

Việc mở rộng thêm đối tượng thuế nhà và thay thế chính sách lệ phí trước bạ bằng thuế đăng ký tài sản không làm thay đổi quá lớn trong chính sách thuế. Vì thuế nhà thông thường được kê khai gắn liền với thuế đất và cách tính thuế cũng không có sự khác biệt nhiều giữa hai sắc thuế này. Thuế đăng ký tài sản là một hình thức kế thừa lệ phí trước bạ nhưng nâng tính pháp lý cao hơn và chặt chẽ hơn. Chính vì vậy, khi mở rộng và thay đổi hai sắc thuế này sẽ không làm phức tạp hệ thống thuế tài sản mà sẽ làm cho hệ thống thuế tài sản hoàn chỉnh hơn đáp ứng mục tiêu cải cách của Chính phủ Việt Nam với một hệ thống thuế đồng bộ và hiệu quả. (b) Về hình thức đánh thuế tài sản Đa phần các quốc gia áp dụng hình thức đánh thuế tài sản hàng năm trên bất động sản nhằm để duy trì bền vững nguồn thu cho ngân sách địa phương và đa số các trường hợp đều áp dụng mức giá khởi điểm để tính thuế đối với bất động sản hay được gọi là ngưỡng chịu thuế, ví dụ như ở Indonesia công trình xây dựng có giá trị thấp hơn 1.899USD được xem là dưới ngưỡng chịu thuế hay ở Chile giá trị đất nông nghiệp nhỏ hơn 15.735USD. Các quốc gia Indonesia, Philippnes và Chile đều đánh thuế đối với đất và công trình xây dựng trn đất, riêng Philippines có cơ sở đánh thuế danh nghĩa rộng nhất vì ngoài đất đai và công trình xây dựng còn đánh thuế trên máy móc thiết bị [66]. Philippines áp dụng tỷ lệ tính thuế từ 15% đến 80% trên giá trị bất động sản chịu chịu, Chile và Indonesia lần lượt là 80% và 20%. Các ý kiến thu thập được đều cho rằng nên đánh thuế hàng năm vào nhóm bất động sản, riêng đối với thuế đăng ký tài sản thì áp dụng hình thức thu một lần khi đăng ký hay có sự thay đổi chủ sở hữu như đã áp dụng ở nhiều quốc gia khác.

(c) Về căn cứ tính thuế tài sản Thuế suất và giá tính thuế có ảnh hưởng quan trọng đến tính hiệu quả của thuế tài sản nói chung và khả năng thu thuế tài sản nói riêng. Lý thuyết tối ưu về thuế đã

116

chỉ ra một hệ thống thuế hiệu quả cần có cơ sở thuế rộng và thuế suất thấp. Về thuế bất động sản, Indonesia áp dụng thuế suất đồng nhất 0,5% cho đất và công trình trên đất, Chile cũng áp dụng thuế suất đồng nhất là 2%. Việc áp dụng mức thuế đồng nhất của những quốc gia này đem lại sự đơn giản cho hệ thống thuế và có thể đem lại hiệu quả nguồn thu từ thuế và tiết kiệm chi phí trong công tác hành thu, tuy nhiên tính công bằng chưa được thể hiện cao khi không có sự phân loại mục đích sử dụng và phân hạng đất. Ở Philippines, thuế suất được áp dụng theo mức lũy tiến từ 0,5% đến 2% dựa theo mục đích sử dụng và phân loại bất động sản cộng thêm 1% quỹ phát triển giáo dục [66], mô hình của Philippines mang nhiều nét tiến bộ hơn về mặt công bằng và tính khoa học của sắc thuế tài sản. Về giá tính thuế, đa phần các quốc gia đều áp dụng giá thị trường để kê khai và tính thuế, việc điều chỉnh khung giá theo giá thị trường được tiến hành theo định kỳ bởi cơ quan thuế, ví dụ như ở Philippines và Indonesia theo định kỳ 3 năm, Jamaica theo định kỳ 5 năm và Chile là 10 năm. Một số ý kiến chuyên gia cho rằng, trong mục tiêu ngắn hạn của giai đoạn đầu cải cách thuế tài sản, có thể đánh thuế mức 100% giá trị tài sản (không cần dùng tỷ lệ chịu thuế) với thuế suất rất thấp. Một cách trực quan, người nộp thuế quan tâm đến mức thuế suất nhiều hơn là suy xét đến tỷ lệ chịu thuế của tài sản, mặc dù cuối cùng thuế suất hiệu dụng là như nhau. Hơn nữa, áp dụng cách tính này làm cho việc tính thuế trở nên đơn giản và dễ dàng đối với người nộp thuế trong giai đoạn đầu cải cách thuế tạo tiền đề cho giai đoạn đột phá hoàn thiện chính sách thuế tài sản hoàn chỉnh hơn. Ngoài ra cần phải kết hợp việc xây dựng khung thuế suất lũy tiến từng phần để áp dụng cho thuế đất và thuế nhà, riêng thuế đăng ký tài sản cần được thiết kế theo thuế suất tỷ lệ cố định cho từng loại tài sản. Tóm lại, trong ngắn hạn mục tiêu của thuế tài sản nhằm đạt được tính bền vững, khả thi và giảm chi phí thực thi chính sách trong quá trình thực hiện. Mô hình thuế tài sản trong trường hợp nghiên cứu (1) này dựa trên những điểm đề xuất sau: Bảng 4.13: Mô hình thuế tài sản trong trường hợp nghiên cứu 1

Căn cứ tính thuế tài sản Đối tượng chịu thuế tài sản Hình thức đánh thuế tài sản

 QSDĐNN  QSDĐPNN  Nhà

Hàng năm

Giá tính thuế là giá thị trường theo khung điều chỉnh của chính quyền địa phương, áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần và quy định mức khởi điểm chịu thuế

Tài sản đăng ký Một lần khi đăng ký

Giá tính thuế là giá thị trường, trong một số trường hợp không xác định được giá thị trường thì theo khung giá quy định của nhà nước, sử dụng các mức thuế suất tỷ lệ cố định cho từng loại tài sản đăng ký.

117

(d) Dự báo doanh thu thuế tài sản dựa trên trường hợp nghiên cứu 1 Dựa trên công thức gồm hai biến số, Doanh thu thuế tài sản (Tax revenue) = Cơ sơ thuế (Tax base) x Thuế suất (Tax rate). Suy ra, về mặt lý thuyết để đạt dược số thu thuế tài sản tối đa, Chính phủ cần tăng thuế suất và (hoặc) mở rộng cơ sở thuế (cơ sở thuế chính là giá trị tài sản bị đánh thuế, chứ không phải là giá trị tài sản). Khi đó, tổng doanh thu thuế tài sản: YTS = YNN + YPNN + YNH + YDK

Tổng doanh thu thuế tài sản YTS

Doanh thu thuế SDĐNN YNN

Doanh thu thuế SDĐPNN YPNN

Doanh thu thuế nhà YNH

 YNN = BNN x RNN (BNN: cơ sở thuế SDĐNN; RNN: Thuế suất thuế SDĐNN)  YPNN = BPNN x RPNN (BPNN: cơ sở thuế SDĐPN; RPNN: Thuế suất thuế SDĐPNN)

 YNN = BNH x RNH (BNH: cơ sở thuế nhà; RNH: Thuế suất thuế nhà)  YDK = BDK x RDK (BDK: cơ sở thuế đăng ký tài sản; RDK: Thuế suất thuế đăng ký tài

Doanh thu thuế đăng ký tài sản YDK

sản)

Trong trường hợp nghiên cứu này, mô hình thuế tài sản gồm có thuế SDĐNN,

thuế SDĐPNN, thuế nhà và thuế đăng ký tài sản. Cơ sở thuế đánh ở mức tối đa và

thuế suất ở mức thấp, các dữ liệu cho trường hợp (1) này như sau:

- Các cơ sở thuế BNN, BPNN, BNH, BDK: đánh trên 100% giá trị tài sản chịu thuế - Thuế suất RNN, RPNN, RNH : được tính ở mức 0,03% và 0,05%

- Thuế suất RDK : được tính ở mức 0,5% và 2,0% Kết quả doanh thu thuế tài sản (phụ lục 5,6,7,8) thể hiện qua bảng 4.14 như sau:

Bảng 4.14:Doanh thu thuế tài sản (tỷ đồng)

Thuế RNN, RPNN, RNH, = 0,03% RNN, RPNN, RNH = 0,05%

1.713 2.855 YNN

1.804 3.007 YPNN

829 1.383 YNH

14.006 14.006 YDK

18.354 21.252 YTS

- Kết quả từ bảng 4.14 cho thấy, khi áp dụng thuế suất 0,03% cho thuế sử dụng đất

nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế nhà; thuế suất 0,5% và 2,0% cho thuế đăng ký tài sản. Khi đó, kết quả tổng doanh thu thuế tài sản dự kiến đạt

được là 18.354 tỷ Đồng, chiếm tỷ lệ tương đương 2,47% tổng thu ngân sách năm 2012.

- Khi áp dụng thuế suất 0,05% cho thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế nhà; thuế suất 0,5% và 2,0% cho thuế đăng ký tài sản, kết

118

quả tổng doanh thu thuế tài sản dự kiến đạt được là 21.252 tỷ Đồng, chiếm tỷ lệ tương đương 2,86% tổng thu ngân sách năm 2012.

4.2.7.2 Trường hợp nghiên cứu 2

Theo kinh tế học đánh thuế thì một trong những nguyên tắc quan trọng của việc

đánh thuế là phải thể hiện được tính công bằng, điều này có ý nghĩa quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tâm lý người nộp thuế, số thu ngân sách, ảnh hưởng đến mức gánh

nặng phụ trội về thuế của người dân và có tác động đến nền kinh tế. Tuy nhiên tính công bằng cần phải được xem xét hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích quốc gia

nhằm góp phần mang lại tính hiệu quả kinh tế của thuế. Vì lẽ trên, giả thuyết đặt ra đối với nghiên cứu trong tình huống này là trong

chiến lược dài hạn nên vận dụng mô hình thuế tài sản như thế nào để thuế tài sản thể

hiện được tính công bằng cao hơn, đạt hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn

hồi cao và ổn định.

- Về mặt lý thuyết, tính công bằng của thuế phải dựa trên nguyên tắc công bằng

theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Hệ thống thuế được coi là công bằng

theo chiều ngang, nếu các cá nhân có điều kiện về mọi mặt đều như nhau thì được đối

xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Hệ thống thuế được coi là công bằng

theo chiều dọc, nếu người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn

những người khác có khả năng nộp thuế ít hơn. Hiện nay, người ta thường dùng tiêu

thức thu nhập hoặc tiêu dùng để đánh giá khả năng nộp thuế của người nộp thuế. Tuy

nhiên, việc đánh giá một hệ thống thuế được coi là công bằng không phải là công việc

dễ dàng. Do đó, công bằng trong thuế khoá vẫn thuộc về nhận thức và quan điểm của

mỗi quốc gia.

- Tính hiệu quả kinh tế của hệ thống thuế tài sản, (i) thể hiện ở hai góc độ: giảm

tối thiểu những tác động tiêu cực của thuế trong phân bổ các nguồn lực vốn đã đạt

hiệu quả dưới tác động của các lực lượng thị trường; tăng cường vai trò của thuế đối

với việc phân bổ các nguồn lực chưa đạt được hiệu quả dưới tác động của các lực

lượng thị trường, (ii) tính hiệu quả của thuế tài sản thể hiện được khi tổng số thuế thu

được là lớn nhất với chi phí hành chính thuế là thấp nhất.

- Độ đàn hồi của thuế (tax buoyancy) là chỉ số đo sự thay đổi của tổng thuế thu

được khi tổng sản phẩm trong nước thay đổi một lượng nào đó, chỉ số này đóng vai

trò quan trọng trong tác nghiệp dự báo thuế. Độ đàn hồi đo lường sự thay đổi thuế có

tính đến những can thiệp của chính phủ về mặt thuế suất và (hoặc) cơ sở tính thuế. Hệ

thống thuế cần phải có độ đàn hồi cao và ổn định để giúp cho nhà nước có thể đáp ứng

tốt các nhu cầu ngân sách gia tăng khi GDP của quốc gia tăng lên.

Vậy đối tượng và phạm vi của tài sản chịu thuế, hình thức đánh thuế và căn cứ

tính thuế nào cho phù hợp mục tiêu của thuế tài sản nhằm thể hiện tính công bằng cao

119

hơn, đạt hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn hồi cao và ổn định là vấn đề cốt lõi của nghiên cứu tình huống này. Nghiên cứu được dựa trên các tài liệu thu thập và

kết quả tổng hợp từ 45 phiếu phỏng vấn các chuyên gia ngành thuế và tài chính (phụ lục 3.6), các ý kiến nhận định được tóm lược trong hộp 4.2 như sau:

Hộp 4.2: Các ý kiến nhận định mô hình thuế tài sản với mục tiêu cần thể hiện tính công bằng, đạt hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn hồi cao và ổn định  Sự công bằng và hiệu quả kinh tế cần có một cơ sở thuế rộng hơn, nếu đối tượng

chịu thuế bị bỏ sót thì xem như tính công bằng theo chiều dọc bị vi phạm,

 Đánh thuế trên một cơ sở rộng không có nghĩa là tận thu vì chính sách có thể điều chỉnh tỷ lệ chịu thuế và thuế suất. Xét trên khía cạnh này thì chính sách thuế dễ dàng thực hiện mục tiêu công bằng hơn.

 Thuế tài sản đánh trên bất động sản phải bao gồm đất và công trình xây dựng trên

đất

 Thuế phương tiện giao thông cần được áp dụng, ngoài việc mang lại nguồn thu cho ngân sách địa phương để phát triển cơ sở hạ tầng còn có tác dụng trong việc chống ùn tắc giao thông của chính quyền địa phương.

 Thay thế khoản lệ phí trước bạ bằng thuế đăng ký tài sản sẽ mang lại tính Pháp lý

cao hơn và chặt chẽ hơn

 Xây dựng mức chịu thuế khởi điểm (ngưỡng chịu thuế) đối với nhóm thuế bất động sản là một trong những yếu tố quyết định đến tính công bằng và hiệu quả kinh tế của thuế tài sản.

 Xây dựng khung thuế suất lũy tiến từng phần cho nhóm thuế bất động sản, thuế

đăng ký tài sản nên theo thuế suất tỷ lệ cố định cho từng loại tài sản.

 Giá tính thuế nên theo sát giá thị trường, điều chỉnh 3 năm hoặc 5 năm 1 lần. Một

số trường hợp theo khung giá quy định của nhà nước.

 Nhóm thuế bất động sản và thuế phương tiện giao thông sẽ thu hàng năm, thuế

đăng ký tài sản thu một lần khi đăng ký.

 Nên áp dụng tỷ lệ chịu thuế ở mức thấp và tăng dần theo mức tăng trưởng GDP

trong từng giai đoạn.

(a) Về đối tượng thuế tài sản

Về mặt lý thuyết, hệ thống thuế tối ưu cần có cơ sở thuế rộng và thuế suất thấp

thì mới có thể phát huy cao tính hiệu quả. Tuy nhiên, việc mở rộng cơ sở thuế quá

mức có thể gây ra tác động xấu đến nền kinh tế và làm biến dạng thị trường hay sẽ

kích thích nền kinh tế phát triển, việc mở rộng cơ sở thuế đối với thuế tài sản có thể

đẩy áp lực gánh nặng phụ trội về thuế lên vai người sở hữu tài sản và có thể hiện được

tính công bằng hay không là vấn đế cần được xem xét kỹ lưỡng trong nghiên cứu và

áp dụng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam. Dựa trên trên mô hình thuế tài sản của một

số quốc gia và kết quả phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia đã chỉ ra những vấn đề sau:

120

So sánh với nhiều quốc gia khác, khái niệm bất động sản thường được bao hàm

là đất và các công trình xây dựng trên đất. Vì vậy, thuế đánh vào bất động sản cũng

phải bao gồm thuế đất và tất cả các công trình gắn liền trên đất như nhà, vật kiến trúc,

khu nghỉ dưỡng, hồ bơi, công viên, vườn cảnh, các công trình kiến trúc khác… Hiện

tại chính sách thuế của Việt Nam đã bỏ ngỏ đối tượng nhà và các công trình xây dựng

khác trên đất trong nhóm bất động sản chịu thuế. Bên cạnh đó, thuế phương tiện giao

thông đã được nhiều nước áp dụng như Indonesia, Đài Loan, Trung Quốc…Tuy

nhiên, Việt nam chỉ thu phí giao thông đường bộ trong giá mua xăng dầu.

Một vài quan sát cho tình huống nghiên cứu có thể dễ dàng nhận thấy, ví dụ

như với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng trong hai thập niên qua, có rất nhiều nhà cửa

khang trang được xây dựng với giá trị cao, những người chủ sở hữu này được hưởng

lợi nhiều mặt từ cơ sơ hạ tầng và dịch vụ công mang lại. Tuy nhiên, nhà cửa không

thuộc diện đánh thuế như hiện nay là điều không công bằng, trong khi những người sử

dụng đất nông nghiệp vẫn phải nộp thuế. Hãy so sánh tính công bằng trong trường

hợp có hai miếng đất với diện tích như nhau và liền kê, một bên được xây dựng một

căn biệt thự khang trang và một bên bỏ trống nhưng nộp thuế đều như nhau. Như vậy,

từ góc độ kinh tế học về thuế, việc bỏ ngỏ đối tượng nhà và các công trình xây dựng

trên đất thuộc đối tượng chịu thuế tài sản đã bỏ lỡ nguồn thu đáng kể cho ngân sách

nhà nước từ những người vốn có khả năng chi trả thuế. Tương tự như trên, những

người sở hữu phương tiện giao thông có giá trị đa số cũng là những người có thu nhập

cao trong xã hội và có điều kiện sử dụng cơ sở hạ tầng và dịch vụ công nhiều hơn.

Việc bỏ sót đa số người giàu, đáng lẽ phải nộp thuế nhiều hơn ra khỏi đối tượng chịu

thuế tài sản làm mất đi tính công bằng theo chiều dọc của sắc thuế. Khi cả nguyên tắc

công bằng và cơ sở thuế bị vi phạm thì mục tiêu hiệu quả kinh tế và tính công bằng

của thuế tài sản bị ảnh hưởng.

Với tình hình kinh tế-xã hội của Việt Nam hiện nay khi thu nhập và mức sống

của người dân ngày càng được nâng cao và tình trạng khoảng cách chênh lệch giàu-

nghèo trong xã hội ngày càng tăng lên. Vì vậy, trong chiến lược dài hạn, việc mở rộng

thêm đối tượng chịu thuế tài sản nên nghiên cứu áp dụng đối với (1) nhà, (2) các công

trình xây dựng gắn liền trên đất và (3) phương tiện giao thông. Điều này một mặt sẽ

mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn đối với thuế tài sản, mặt khác thể hiện rõ nét hơn

tính công bằng của thuế, vì các đối tượng chịu thuế như nhà, công trình xây dựng gắn

liền trên đất và phương tiện giao thông đa phần tập trung vào những người có thu

nhập và mức sống cao, xét về tính công bằng thì những đối tượng này cần phải có một

nghĩa vụ thuế cao hơn là hoàn toàn hợp lý.

121

Việc xây dựng ngưỡng chịu thuế đối với nhóm tài sản là bất động sản cũng

đồng nghĩa với việc chỉ có một số đối tượng sở hữu nhiều bất động sản hoặc bất động

sản có giá trị cao mới thuộc diện phải nộp thuế. Vì vậy, không hoàn toàn là khi mở

rộng cơ sở thuế sẽ dẫn đến những thiệt hại về mặt kinh tế, mà ngược lại thuế tài sản sẽ

có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tài sản được đầu tư và sử dụng hiệu quả

hơn, góp phần hạn chế việc đầu cơ và thao túng thị trường bất động sản đã gây ra khó

khăn cho nền kinh tế cũng như nhu cầu về nhà ở của người có thu nhập thấp. Bài học

kinh nghiệm của Indonesia trước khi thực hiện cải cách thuế tài sản đã cho thấy rằng,

chính quyền phía Đông Indonesia không có được nguồn thu hiệu quả từ thuế tài sản

dẫn đến hệ thống cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công ở khu vực này yếu kém, điều này

đã làm chùn bước các nhà đầu tư và cư dân đến đây sinh sống và tình trạng GDP khu

vực này sụt giảm là điều không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, có nhiều ý kiến lo ngại rằng việc mở rộng đối tượng chịu thuế tài

sản sẽ làm chi phí thực thi chính sách thuế sẽ tăng lên so với hiệu quả thuế mang lại.

Điều này có thể luận giải rằng ngoài thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ hiện nay)

được nộp tại kho bạc khi thực hiện giao dịch đăng ký tài sản, còn lại thuế SDĐNN và

thuế SDPĐNN hiện nay được kê khai và nộp thuế tại địa phương cư ngụ hoặc địa bàn

nơi cấp quyền sử dụng đất, công việc hành thu này hiện nay do cán bộ của Chi cục

Thuế Quận (Huyện) đảm nhận và đặt trạm thuế trên địa bàn xã phường. Vì thế, việc

mở rộng thuế nhà, thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất và thuế phương tiện giao

thông đều thuộc thẩm quyền quản lý và thu thuế từ các Chi cục Thuế tại địa phương

như hiện nay mà không làm phát sinh thêm bộ phận thu thuế mới.

Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng liệu đánh thuế tài sản trên một diện rộng như

vậy có phải là hiện tượng “thuế chồng lên thuế” hay không. Điều này được lý giải

rằng, mỗi sắc thuế có nhiệm vụ và mục tiêu riêng của nó, vấn đề là căn cứ tính thuế và

hình thức đánh thuế phù hợp nhằm mang lại tính công bằng và hiệu quả kinh tế. Một

ví dụ điển hình như thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu bia và thuốc lá trước đây chỉ

đánh thuế TTĐB ở khâu sản xuất và nhập khẩu, tuy nhiên kinh doanh dịch vụ Karaoke

và vũ trường cũng chịu thuế TTĐB và từ ngày 1/4/2007 rượu bia và thuốc nếu được

bán ở đơn vị kinh doanh Karaoke và vũ trường được xem như chịu thuế TTĐB hai

lần.

Các ý kiến chuyên gia cũng cho rằng, việc mở rộng thêm đối tượng chịu thuế

tài sản sẽ tạo cho hệ thống thuế có cơ sở thuế rộng hơn. Vì vậy nhà nước có thể có

nhiều sự lựa chọn trong việc điều chỉnh cơ sở chịu thuế và thuế suất theo mức tăng

trưởng GDP, tạo cơ sở cho độ đàn hồi thuế tài sản duy trì ở mức cao và ổn định.

Chính vì vậy, việc mở rộng các đối tượng chịu thuế tài sản đã nghiên cứu trong trường 122

hợp nghiên cứu này sẽ không làm phức tạp hệ thống thuế tài sản mà sẽ làm cho hệ

thống thuế tài sản hoàn chỉnh hơn đáp ứng mục tiêu cải cách của Chính phủ Việt Nam

với một hệ thống thuế đồng bộ, hiệu quả và công bằng.

(b) Về hình thức đánh thuế tài sản

Các ý kiến thu thập được đều cho rằng nên đánh thuế hàng năm vào nhóm bất

động sản bao gồm thuế SDĐNN, thuế SDĐPNN, thuế nhà, thuế công trình xây dựng

gắn liền trên đất, thuế phương tiện giao thông, riêng đối với thuế đăng ký tài sản thì áp

dụng hình thức thu một lần khi đăng ký hay có sự thay đổi chủ sở hữu như đã áp dụng

ở nhiều quốc gia khác.

(c) Về căn cứ tính thuế tài sản

Thuế suất và giá tính thuế có ảnh hưởng quan trọng đến tính hiệu quả của thuế

tài sản về mặt hiệu quả kinh tế và thể hiện tính công bằng, các ý kiến chuyên gia cho

rằng:

Việc vận dụng thuế suất lũy tiến từng phần cho nhóm thuế bất động sản sẽ đem

lại sự hiệu quả và tính công bằng hơn vì thuế suất này lũy tiến theo giá trị tài sản chịu

thuế, những người sở hữu tài sản càng nhiều thì khả năng nộp thuế càng cao. Riêng

thuế đăng ký tài sản được tính một lần khi đăng ký và thuế phương tiên giao thông

nên vận dụng thuế suất cố định cho sự đơn giản và linh hoạt đối với hai đối tượng này.

Đa phần các ý kiến chuyên gia cho rằng, việc xây dựng ngưỡng chịu thuế đối

với nhóm bất động sản là yếu tố quan trọng và cần thiết, vì ngưỡng chịu thuế này có

tác động trực tiếp đến nguồn thu của thuế tài sản, chính sách thuế vận dụng ngưỡng

chịu thuế này cho việc điều chỉnh tăng hay giảm cơ sở thuế, điều chỉnh mối quan hệ

cung cầu thị trường liên quan đến tài sản và đặc biệt là bất động sản và phương tiện

giao thông. Bên cạnh đó, ngưỡng chịu thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nhóm người nộp

thuế, chính việc xây dựng ngưỡng chịu thuế đối với từng loại tài sản sẽ mang lại sự

công bằng thuế theo chiều dọc và chiều ngang. Về giá tính thuế, đa phần các ý kiến

đều cho rằng nên áp dụng giá thị trường để kê khai và tính thuế, việc điều chỉnh khung

giá theo giá thị trường được tiến hành theo định kỳ bởi chính quyền địa phương.

Tóm lại, trong chiến lược dài hạn, mục tiêu của thuế tài sản nhằm thể hiện tính

công bằng cao hơn, đạt hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn hồi cao và ổn định.

Mô hình thuế tài sản cần tập trung vào các vấn đề: (i) Mở rộng cơ sở thuế theo hướng

đánh thuế đối với các công trình trên đất và nhóm phương tiện giao thông, điều nay

không chỉ giúp cho tăng tính công bằng theo chiều dọc của thuế tài sản mà còn đem

lại hiệu quả nguồn thu tốt hơn; (ii) Từng bước tăng dần thuế suất và tỷ lệ chịu thuế lên

ngang bằng với các nước trong khu vực; (iii) Khi quá trình đô thị hóa đi vào giai đoạn

ổn định, nên điều chỉnh giá đất theo tỷ lệ tăng trưởng GDP giúp cho giá tính thuế sát 123

với thị trường và phù hợp mức tăng trưởng kinh tế. Mô hình thuế tài sản trong tình

huống nghiên cứu (2) này dựa trên những điểm đề xuất sau:

Bảng 4.15: Mô hình thuế tài sản trong trường hợp nghiên cứu 2

 Giá tính thuế là giá thị trường theo khung

Căn cứ tính thuế tài sản Đối tượng chịu thuế tài sản Hình thức đánh thuế

điều chỉnh của chính quyền địa phương

 Áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần  Quy định mức khởi điểm chịu thuế  Áp dụng tỷ lệ chịu thuế

 QSDĐNN  QSDĐPNN  Nhà  Công trình xây dựng gắn liền trên đất

Hàng năm

Hàng năm Phương tiện giao thông Áp dụng giá tính thuế theo khung quy định, sử dụng các mức thuế suất tỷ lệ cố định cho nhóm phương tiện giao thông

Tài sản đăng ký Một lần khi đăng ký

Giá tính thuế là giá thị trường, trong một số trường hợp không xác định được giá thị trường thì theo khung giá quy định của nhà nước, sử dụng các mức thuế suất tỷ lệ cố định cho từng loại tài sản đăng ký.

(d) Dự báo doanh thu thuế tài sản dựa trên trường hợp nghiên cứu 2 Mô hình Tibout (1956) cho rằng, thuế tài sản là giá mà mỗi địa phương đưa ra để tài trợ cho việc cung cấp hàng hóa công ở mức tối ưu. Nếu địa phương đang ở điểm cân bằng Tiebout hoàn hảo, tại đó tất cả dân cư đều định giá của hàng hóa công chính là số thuế mà họ phải nộp. Cho nên sẽ không có gánh nặng đối với thuế tài sản, đơn giản chỉ là giá cả mà dân cư tự nguyện trả cho hàng hóa và dịch vụ công. Mặt khác, qua nghiên cứu ở chương 2 cũng chỉ ra rằng thuế tài sản là nguồn thu chủ yếu của chính quyền địa phương (ngân sách địa phương) cho việc tài trợ hàng hóa, dịch vụ công như hạ tầng, văn hóa, giáo dục, y tế…

Ở Việt Nam hiện nay, cơ sở thuế và giá tính thuế đối với đất đai cũng do chính quyền địa phương xây dựng trên khung giá của Chính phủ. Vì vậy, kết quả nguồn thu thuế tài sản có sự ảnh hưởng từ việc lựa chọn mô hình thuế tài sản phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của quốc gia và nhu cầu ngân sách địa phương chủ yếu phục vụ cho hàng hóa dịch vụ công. Kỹ thuật quan trọng là chính sách thuế lựa chọn thuế suất, mức tính thuế khởi điểm, tỷ lệ giá trị tài sản chịu thuế để làm cơ sở tính thuế đáp ứng hiệu quả kinh tế, nhưng phải giảm thiểu tối đa tổn thất xã hội ở mức thấp nhất.

Dựa trên tình huống nghiên cứu (2), nghiên cứu đưa ra các phương án thuế suất

và cơ sở thuế đối với nguồn thu thuế tài sản như sau:

Tổng doanh thu thuế tài sản: YTS = YNN + YPNN + YNH + YCT + YDK + YGT

124

Tổng doanh thu thuế tài sản YTS

Doanh thu thuế SDĐNN YNN

Doanh thu thuế SDĐPNN YPNN

Doanh thu thuế nhà

Doanh thu thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất YNH YCT

Doanh thu thuế đăng ký tài sản

 YNN = BNN x RNN (BNN : cơ sở thuế SDĐNN; RNN : Thuế suất thuế SDĐNN)  YPNN = BPNN x RPNN (BPNN : cơ sở thuế SDĐPN; RPNN : Thuế suất thuế SDĐPNN)  YNN = BNH x RNH (BNH : cơ sở thuế nhà ; RNH : Thuế suất thuế nhà)  YCT = BCT x RCT (BCT : cơ sở thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất; RCT : Thuế

Doanh thu thuế phương tiện giao thông YDK YGT

 YDK = BDK x RDK (BDK : cơ sở thuế đăng ký tài sản; RDK : Thuế suất thuế đăng ký tài

suất thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất)

 YGT = BGT x RGT (BGT : cơ sở thuế phương tiện giao thông; RGT : Thuế suất thuế

sản)

phương tiện giao thông )

Các dữ liệu cho trường hợp (2) như sau:

- Các cơ sở thuế BNN, BPNN, BNH, BCT: lần lượt đánh trên 20% và 40% giá trị tài sản

chịu thuế

- Các cơ sở thuế BDK, BGT : đánh trên 100% giá trị tài sản chịu thuế - Thuế suất RNN, RPNN, RNH, RCT : được tính ở mức 0,1% - Thuế suất RDK : được tính ở mức 0,5% và 2,0% - Thuế suất RGT : được tính ở mức 0,5% và 1,0%

Kết quả doanh thu thuế tài sản (phụ lục 5,6,7,8,9,10) thể hiện qua bảng 4.16:

Bảng 4.16: Doanh thu thuế tài sản dựa trên trường hợp 2 ( tỷ đồng)

BNN, BPNN, BNH, BCT = 20% BNN, BPNN, BNH, BCT = 40%

1.142 2.284 Thuế YNN

1.202 553 2.405 1.106 YPNN YNH

28 57 YCT

3.129 3.129 YDK

21.526 27.583 24.453 33.437 YGT YTS

- Kết quả từ bảng 4.16 cho thấy, khi cơ sở thuế áp dụng tỷ lệ 20% cho thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế nhà, thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất với thuế suất 0,1% ; cơ sơ thuế áp dụng tỷ lệ 100% cho thuế đăng ký tài sản với thuế suất 0,5% và 0,2%; cơ sơ thuế áp dụng tỷ lệ 100% cho thuế phương tiện giao thông với thuế suất 0,5% và 1%. Khi đó, kết quả tổng doanh

125

thu thuế tài sản dự kiến đạt được là 27.583 tỷ Đồng, chiếm tỷ lệ tương đương 3,71% tổng thu ngân sách năm 2012.

- Tương tự, khi cơ sở thuế áp dụng tỷ lệ 40% cho thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế nhà, thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất và thuế suất 0,1%; cơ sơ thuế áp dụng tỷ lệ 100% cho thuế đăng ký tài sản với thuế suất 0,5% và 0,2%; cơ sơ thuế áp dụng tỷ lệ 100% cho thuế phương tiện giao thông với thuế suất 0,5% và 1%. Khi đó, kết quả tổng doanh thu thuế tài sản dự kiến đạt được là 33.437 tỷ Đồng, chiếm tỷ lệ tương đương 4,5% tổng thu ngân sách năm 2012.

- Thực tế thì ở các nước phát triển, trong quá trình cải cách thuế tài sản vẫn thường sử dụng trường hợp (2) này nhiều hơn và tăng dần cơ sở thuế lên theo từng giai đoạn.

4.2.8 Các trường hợp nghiên cứu thực nghiệm

4.2.8.1 Thuế tài sản và tính công bằng

Công bằng thuế là một khái niệm phức tạp, các nhà nghiên cứu thường phân

biệt công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang. Tuy nhiên, nhiều tác

giả thống nhất cho rằng:“công bằng chiều dọc yêu cầu các cá nhân hay hộ gia đình

với điều kiện khác nhau thì chịu thuế khác nhau”. Đồng ý với quan điểm trên có các

nhà kinh tế học Suits [dẫn theo 25], Kakwani [53], Musgrave [60]… Một số nghiên

cứu thường coi thu nhập là đặc trưng duy nhất quyết định tình trạng của hộ gia đình,

tuy nhiên cả hai yếu tố thu nhập và chi tiêu dùng đều có ảnh hưởng quyết định đến

mức sống của cá nhân hay hộ gia đình. Nghiên cứu gần đây của Phan Thị Minh Lý và

Lại Xuân Thủy [25] về đo lường công bằng chiều dọc của thuế GTGT cũng đã sử

dụng cả hai yếu tố thu nhập và chi tiêu dùng để xem xét tính công bằng của thuế

GTGT. Kế thừa những kinh nghiệm trên, nghiên cứu thực nghiệm sau đây sử dụng cả

hai yếu tố thu nhập và tiêu dùng để xem xét ảnh hưởng tính công bằng của thuế tài sản

như thế nào. Nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp Kakwani để đo lường,

phương pháp này dựa trên nền tảng lý thuyết về đường cong Lorenz và hệ số GINI,

tức là dựa trên phân phối tần suất tích lũy.

Xét trên khía cạnh hình học, hệ số GINI được tính bằng cách chia diện tích của

hình OCB tạo ra giữa đường chéo OB và đường cong Lorenz cho diện tích lớn nhất có

thể đạt được OAB (Hình 4.4). Đường chéo OB là đường công bằng tuyệt đối, khi đó

nếu đường cong Lorenz trùng với OB, hệ số GINI đạt giá trị nhỏ nhất bằng 0, thể hiện

trạng thái công bằng tuyệt đối. Đường cong Lorenz càng cách xa đường chéo OB, hệ

số GINI càng lớn thể hiện mức độ bất công bằng của thuế càng cao, cho đến khi

đường cong Lorenz trùng với hai trục OA và OB, hệ số GINI sẽ bằng 1, thể cong

126

Lorenz trùng với hai trục OA và OB khi đó hệ số GINI bằng 1 thể hiện trạng thái hoàn

toàn bất công bằng.

Hình 4.4: Đường cong Lorenz

Phương pháp của Kakwani [53] được xây dựng dựa trên so sánh mức độ tập

trung của gáng nặng thuế (ký hiệu là T) và mức độ tập trung của thu nhập hoặc tiêu

dùng trước thuế. Chỉ số Kakwani được tính như sau:

KR = T- GR hoặc KC = T - GC Trong đó: T là mức độ tập trung của thuế và GR hoặc GC là mức độ tập trung thu nhập hoặc chi tiêu dùng trước thuế của hộ gia đình, hay hệ số GINI trước thuế.

Khi mức độ tập trung thu nhập hoặc tiêu dùng và mức độ tập trung gánh nặng thuế là

như nhau, chỉ số K bằng 0, thuế được cho là tỷ lệ. Khi gánh nặng thuế được phân phối

đều nhau giữa các hộ gia đình nhưng thu nhập lại tập trung trong tay một hộ gia đình. Khi đó hệ số T = 0, nhưng hệ số GR = 1, do vậy chỉ số K sẽ bằng -1. Khi chỉ số K tiến về -1 có nghĩa là thuế mang tính luỹ thoái rất mạnh. Khi thu nhập được phân phối đều

nhau giữa các hộ gia đình nhưng gánh nặng thuế lại chỉ tập trung vào một hộ gia đình giàu nhất, lúc này chỉ số T = 1 và GR = 0, do vậy chỉ số K sẽ nhận giá trị +1 và thuế luỹ tiến rất mạnh. Tóm lại:

Nếu K = 0, thuế là tỷ lệ

Nếu K > 0 và tiến đến + 1, thuế là thuế luỹ tiến và mức độ luỹ tiến cao Nếu K < 0 và tiến đến - 1, thuế là thuế luỹ thoái và mức độ luỹ thoái cao

Trong phần nghiên cứu này, dữ liệu được thu thập từ phiếu điều tra trực tiếp 400 hộ gia đình trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, theo

phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, trong đó tiêu chí phân tầng là theo vùng thành thị và nông thôn với tỷ lệ 50/50, cụ thể là 200 hộ ở thành thị và 200 hộ ở nông

thôn (mẫu thu thập dữ liệu thu nhập và chi tiêu hộ gia đình, theo Phụ lục 11.1). Nội

dung chính của dữ liệu gồm có: Thu nhập của hộ gia đình được hiểu là tổng thu cả

127

năm của tất cả các thành viên của hộ, chi tiêu dùng được hiểu là số tiền thực chi cho các nhu cầu trong năm của hộ gia đình và không bao gồm chi cho đầu tư và phần dành

cho tiết kiệm, các khoản thuế tài sản phải nộp của hộ gia đình gồm có thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và lệ phí trước bạ (Phụ lục 11.2).

Nghiên cứu tiến hành phân tích mức độ tập trung thu nhập GR (Phụ lục 11.3), mức độ tập trung chi tiêu dùng GC (Phụ lục 11.4) và mức độ tập trung của thuế tài sản T (Phụ lục 11.5), cho kết quả như sau:

KR = T- GR = 0,3931 - 0,3244 = 0,0687 KC = T - GC = 0,3931 - 0,2576 = 0,1355 Các chỉ số của Kakwani đều mang dấu dương và rất nhỏ (+0,0687 và + 0,1355)

chứng tỏ thuế tài sản hiện nay (thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi

nông nghiệp và lệ phí trước bạ) có tính luỹ tiến nhẹ, trong đó mức độ luỹ tiến của thuế

so với chi tiêu dùng cũng cao hơn so với thu nhập. Mức độ tập trung của thuế T = 0,3931 cho thấy sự phân phối gánh nặng thuế giữa các hộ gia đình ở mức công bằng

tương đối.

4.2.8.2 Thuế tài sản và hiệu quả kinh tế

Mô hình thuế tài sản nhằm hoàn thiện một hệ thống thuế hiệu quả, việc mở

rộng cơ sở thuế tài sản có khả năng đem lại nguồn thu thuế tốt hơn. Khả năng thu thuế

tài sản được đo lường bằng tổng thu thuế tài sản so với GDP. Nghiên cứu sử dụng mô

hình hồi quy với những biến giải thích đại diện cho các yếu tố ảnh hưởng khả năng

thu thuế của Le và cộng sự [55], nghiên cứu của Bird và cộng sự [42], đặc biệt là

nghiên cứu gần đây nhất cùa Sử Đình Thành và cộng sự [30], nghiên cứu thực nghiệm

tiếp cận mô hình cơ bản như sau:

TAX = F(GDPβ1, TRAβ2, AGRβ3,POPβ4)

Trong đó:

- TAX: Tỷ lệ thu thuế/GDP

- GDP: Tỷ lệ tăng trưởng GDP, biến này đại diện cho trình độ phát triển kinh tế,

GDP đầu người càng cao tương quan mạnh với nhu cầu chi tiêu, mua sắm và

tích lũy tài sản, thu nhập càng cao thì khả năng đóng thuế càng lớn [30]. Vì vậy

hệ số hồi quy được kỳ vọng là dấu dương.

- TRA: Kim ngạch XNK, thuế xuất nhập khẩu là một nguồn thu quan trọng nên

kỳ vọng có mối tương quan dương. Tuy nhiên mối tương quan này sẽ bị giảm

đi khi nền kinh tế hội nhập quốc tế sâu rộng [30].

- AGR: Tỷ trọng nông nghiệp so với GDP, biến này chính là tỷ trọng nông

nghiệp so với GDP, nông nghiệp là lĩnh vực thu thuế kém. Giá trị nông nghiệp

càng cao trong GDP thì khả năng thu thuế càng thấp [30]. Vì vậy hệ số hồi quy

được kỳ vọng là dấu âm.

128

- POP: Tỷ lệ tăng dân số, Bird và cộng sự [42] giải thích rằng khi tỷ lệ dân số

tăng lên cao thì hệ thống thuế có thể chậm trễ hơn hơn trong việc theo dõi và

quản lý những đối tượng chịu thuế mới phát sinh. Vì vậy hệ số hồi quy được kỳ

vọng là dấu âm.

Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu này được tác giả thu thập từ giai đoạn 2003-

2013 từ trang điện tử năm 2014 của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Bộ Tài

Chính và Tổng cục Thống kê (phụ lục số 12.1) . Tổng thu thuế tài sản (TAX) gồm có

thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, lệ phí trước bạ ở

Việt Nam. Dựa trên nghiên cứu của Sử Đình Thành và cộng sự [30] thì tỷ lệ tăng

trưởng (GDP) được tính theo sai phân bậc 1 logarit của GDP đầu người; kim ngạch

xuất-nhập khẩu (TRA) là tổng giá trị kim ngạch xuất-nhập khẩu so với GDP; tỷ trọng

nông nghiệp (AGR) là giá trị nông nghiệp so với GDP; tỷ lệ tăng dân số là sai phân

bậc 1 logarit của dân số Việt Nam.

Nghiên cứu sử dụng công cụ phân tích dữ liệu hồi quy và thu nhận được các số

liệu kết quả thống kê (phụ lục số 12.2) như sau:

α = -0,0064; β1 = 0,1322; β2 = 0,0106; β3 = - 0,0059; β4 = - 0,3985

 Hàm hồi quy của thuế tài sản theo GDP dựa trên mẫu quan sát có dạng:

TAX = 0,1322GDP + 0,0106TRA - 0,0059AGR - 0,3985POP – 0,0064

 R2 = 0,9632 cho thấy có đến 96,32% biến thiên của số thu thuế tài sản có thể

được giải thích bởi mối liên hệ tuyến tính giữa thay đổi GDP đầu người, kim

ngạch xuất nhập khẩu, trị giá nông nghiệp và tỷ lệ tăng dân số.

Kết quả phân tích trên cho thấy toàn bộ hệ số của các biến giải thích có dấu

như kỳ vọng của mô hình ban đầu và có ý nghĩa thống kê. Kết quả phân tích hồi quy

cho thấy các biến giải thích (GDP,TRA,AGR,POP) có tác động ý nghĩa đến tiềm năng

thu thuế tài sản. Hàm ý rằng chính sách thuế tài sản cần tạo ra môi trường hỗ trợ tăng

trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế để cũng cố

tính bền vững của nguồn thu thuế. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu thuế tài sản trong

trường hợp này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến khả

năng thu thuế của Le và cộng sự, Bird và cộng sự, Sử Đình Thành và cộng sự về cải

cách hệ thống thuế Việt Nam theo cam kết hội nhập Quốc tế đến năm 2020.

4.2.8.3 Thuế tài sản và tổn thất xã hội (DWL)

Bên cạnh tính bền vững nguồn thu của một sắc thuế thì tính hiệu quả của thuế

cũng được các nhà hoạch định chính sách rất quan tâm, tính hiệu quả của thuế thể hiện

gánh nặng phụ trội do thuế tạo ra phải ở mức thấp nhất, gánh nặng phụ trội là phần tổn

thất phúc lợi xã hội vượt quá số thuế mà chính phủ thu được [29,346]. Nghiên cứu

129

tình huống sau đây phần nào chỉ rõ hơn thuế tài sản gây ra tổn thất xã hội (deadweight

loss: DWL) ra sao.

‘(a) DWL đối với thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ)

Nghiên cứu sử dụng số liệu đăng ký trước bạ đối với tài sản là nhà, đất, xe

máy, xe ô tô (Phụ lục số 9), thuế suất 0,5% đối với nhà và đất, 2% đối với xe máy và

xe ô tô, trong trường hợp độ co giãn của cầu (Ed) là -0,4 và độ co giãn của cung (Es)

là 0,5. Kết quả ở Bảng 4.17 cho thấy doanh thu thuế đăng ký tài sản đạt mức 13.980 tỷ

Đối tượng

đồng, khi đó DWL do thuế tạo ra là 12,86 tỷ đồng và tương đương 0,092%

Số lượng (Qo) 1.043.332 625.999 3.097.239 150.293

1.500 1.000 25 500

Thuế suất % 0,5 0,5 2,0 2,0

Nhà Đất Xe máy Xe ô tô

Cộng

7.816.292 3.126.517 1.541.737 1.496.250 13.980.796

DWL (triệu) 4.347 1.739 3.441 3.340 12.867

Tỷ lệ DWL/T 0,0005562 0,0005562 0,0022321 0,0022321 0,0009204 Nguồn: Theo số liệu tính toán của tác giả

Bảng 4.17: DWL đối với thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ) Doanh thu thuế Giá (Po) (T)-triệu triệu

‘(b) DWL đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp

Nghiên cứu sử dụng số liệu thống kê đối với 06 loại đất (Phụ lục số 5.1), áp

dụng thuế suất 0,03% trong trường hợp độ co giãn của cầu (Ed) là -0,4 và độ co giãn

của cung (Es) là 0,5. Kết quả ở Bảng 4.18 cho thấy doanh thu thuế sử dụng đất nông

nghiệp đạt mức 1.713 tỷ đồng, khi đó DWL do thuế tạo ra là 0,057 tỷ đồng và tương

Giá

Doanh

Số lượng

Thuế

DWL

Tỷ lệ

Đối tượng

(Po)

thu thuế

(Qo) ha

suất %

(Tỷ)

DWL/T

tỷ

(T)- Tỷ

Đất trồng cây hàng năm

6.282.500 0,36

669,04 0,022303

0,000033

0,03

Đất trồng cây lâu năm

3.316.300 0,34

338,24 0,011275

0,000033

0,03

Đất lâm nghiệp

14.757.800 0,15

664,06 0,022137

0,000033

0,03

Đất nuôi trồng thuỷ sản

738.400 0,18

39,87 0,001329

0,000033

0,03

Đất làm muối

14.100 0,31

1,31 0,000044

0,000033

0,03

Đất nông nghiệp khác

18.200 0,13

0,73 0,000024

0,000033

0,03

Cộng

1.713 0,057112

0,000033

đương 0,003% Bảng 4.18: DWL đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp

Nguồn: Theo số liệu tính toán của tác giả

‘(c) DWL đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Nghiên cứu sử dụng số liệu thống kê đối với đất phi nông nghiệp phân theo khu

vực thành thị và nông thôn tại TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu (Phụ

lục số 6.1), áp dụng thuế suất 0,03% trong trường hợp độ co giãn của cầu (Ed) là -0,4

130

và độ co giãn của cung (Es) là 0,5. Kết quả ở Bảng 4.19 cho thấy doanh thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đạt mức 584,16 tỷ đồng, khi đó DWL do thuế tạo ra là

Đối tượng

Số lượng (Qo) ha

Giá (Po) tỷ

DWL - Tỷ

Tỷ lệ DWL/T

Thuế suất %

Doanh thu thuế (T)- Tỷ

TP.Hồ Chí Minh Đất Phi NN (Thành thị) Đất Phi NN (Nông thôn) Đồng Nai Đất Phi NN (Thành thị) Đất Phi NN (Nông thôn) Bà Rịa-Vũng tàu Đất Phi NN (Thành thị) Đất Phi NN (Nông thôn)

6.158 2.460 1.431 4.258 860 1.121

277,20 51,29 39,77 2,77 40,84 9,23

0,03 0,03 0,03 0,03 0,03 0,03

Cộng

512,07 0,017070 0,000033 37,85 0,001262 0,000033 17,07 0,000569 0,000033 3,53 0,000118 0,000033 10,54 0,000351 0,000033 3,10 0,000103 0,000033 584,16 0,019473 0,000033

0,019 tỷ đồng và tương đương 0,003% Bảng 4.19:DWL đối với thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Nguồn: Theo số liệu tính toán của tác giả Về quan điểm lý thuyết cho rằng mức thuế suất cao chưa hẳn đem lại doanh thu

thuế cao cho Chính phủ. Bởi khi mức thuế suất cao thì quy mô thị trường sẽ nhỏ và có

thể sẽ gây ra tổn thất xã hội càng lớn. Qua các tình huống nghiên cứu DWL trên cho

thấy Chính sách thuế Việt nam vận dụng thuế suất rất thấp, chính vì vậy tổn thất xã

hội tạo ra do thuế chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với doanh thu thuế. Điều này hoàn toàn phù

hợp với quan điểm của các nhà kinh tế học khi nghiên cứu về hệ thống thuế hiệu quả

cho rằng “Nguyên tắc hướng dẫn cho đánh thuế hiệu quả là tạo ra sân chơi rộng lớn

chứ không nên đánh thuế cao vào một số nhóm người hoặc nhóm hàng hóa, còn một

số đối tượng thì không [29,355]”. Bằng lô-gic này, hệ thống thuế hiệu quả là hệ thống

trải dài gánh nặng đánh thuế trên diện rộng, theo đó thuế suất và tổn thất xã hội được

thu hẹp.

4.2.8.4 Độ đàn hồi của thuế tài sản (tax buoyancy)

Độ co giãn thuế (tax elasticity) và độ đàn hồi của thuế (tax buoyancy) là hai chỉ

số đo sự thay đổi của tổng thuế thu được khi tổng sản phẩm trong nước thay đổi một

lượng nào đó, độ co giãn thuế đo lường sự thay đổi tự nhiên của thuế, độ đàn hồi đo

lường sự thay đổi thuế có tính đến những can thiệp của Chính phủ về mặt thuế suất và

cơ sở tính thuế [29]. Độ đàn hồi của thuế cần có sự ổn định, lớn hơn hay bằng 1 là

điều mà các nhà hoạch định chính sách và Chính phủ mong muốn. Hệ thống thuế cần

phải có độ đàn hồi ổn định để giúp cho Nhà nước có thể đáp ứng tốt các nhu cầu tài

chính gia tăng khi GDP của quốc gia tăng lên. Độ đàn hồi của thuế là tỷ số giữa phần

trăm về số thu thuế với thay đổi % trong GDP. Nếu gọi %ΔT là phần trăm về số thu

131

thuế của năm nay so với năm trước và gọi %ΔY là phần trăm về thay đổi tăng trưởng

GDP năm nay so với năm trước, khi đó độ đàn hồi của thuế là tỷ số %ΔT/%ΔY

Kết quả nghiên cứu độ đàn hồi của thuế tài sản (bảng 4.20 và đồ thị 4.1) cho

thấy độ đàn hồi của thuế tài sản không ổn định, không tăng trưởng đồng bộ với GDP,

đặc biệt là thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp có

những thời điểm rơi về cận âm. Điều này có thể nhìn nhận rằng chính sách thuế đối

với tài sản ở Việt nam không ổn định, có nhiều thay đổi về cơ sở tính thuế như giá

tính thuế và thuế suất, các chính sách miễn giảm thuế cũng làm ảnh hưởng rất nhiều

đến thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện nay.

Bảng 4.20: Độ đàn hồi thuế tài sản (2004-2013)

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Khoản mục

Tổng thu thuế

1,19

1,34

1,45

0,78

1,20

1,53

0,86

0,02

0,59

0,13

Lệ phí trước bạ

2,40

0,42

1,26

3,87

1,05

1,58

(0,39)

0,33

1,44

1,40

Thuế SDĐPNN

1,21

1,01

0,96

1,13

0,92

0,83

0,48

(1,49) 2,04

1,49

Thuế SDĐNN

(0,77) 0,09

(0,99) 0,10

(0,48)

(1,38)

(0,85)

0,99

(0,25)

-

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính

Đồ thi 4.1: Độ đàn hồi của thuế tài sản (2004-2013)

Nguồn: Tác giả tổng hợp số liệu từ website Bộ Tài chính

4.3 Kết luận mô hình thuế tài sản

Dựa trên kết quả phân tích vá đánh giá mô hình thuế tài sản, qua phân tích thực

trạng chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra các điểm

tương đồng và dị biệt giữa mô hình và các tình huống nghiên cứu để xác định những

ưu-nhược điểm của mô hình hoặc những phần mà các trường hợp nghiên cứu đã vượt

ra khỏi phạm vi của mô hình. Đồng thời, xuất phát từ những mục tiêu và định hướng

của mô hình thuế tài sản đã trình bày, kết hợp từ những kinh nghiệm áp dụng mô hình

thuế tài sản của các quốc gia trên thế giới, luận án đề xuất mô hình thuế tài sản gồm

những sắc thuế như sau:

132

Hình 4.5: Hệ thống thuế tài sản

Tóm lại, mô hình thuế tài sản được xây dựng dựa trên khuôn khổ các lý thuyết

về tài sản và thuế tài sản, dựa trên kinh nghiệm thuế tài sản của một số quốc gia khác

và đồng thời qua phân tích đánh giá thực trạng chính sách thuế tài sản ở Việt nam có

đối chiếu so sánh với các nước khác. Đặc biệt là qua kết quả kiểm định, phân tích mô

hình thông qua phương pháp định lượng cho kết quả nghiên cứu đáng tin cậy. Từ

những kết quả phân tích trên, luận án xin đưa ra bảng kết luận mô hình thuế tài sản,

bao gồm những điểm sau:

Bảng 4.21: Diễn giải mô hình thuế tài sản đề xuất

Hình thức đánh thuế Căn cứ tính thuế Các sắc thuế Tài sản Đối tượng chịu thuế

tính

Thuế đăng ký tài sản Giá trị tài sản tính thuế là giá thị trường hoặc khung giá quy định tại thời điểm thuế đăng ký tài sản. Áp dụng Thuế suất tỷ lệ.

Nhà, đất, tàu thuyền, máy bay, ô tô, mô tô, một số tài sản vô hình khác khi đăng ký.

Thuế được thu một lần đối với tài sản nằm trong danh mục tài sản nhà nước cần quản lý khi thực hiện các thủ tục đăng ký tài sản, hoặc khi có nhu cầu được xác nhận tính pháp lý của các văn tự liên quan đến chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các tài sản

Thuế sử dụng đất nông nghiệp Ðất trồng trọt, đất nuôi trồng thủy sản, đất rừng trồng. Thuế được thu hàng năm, với mức động viên không quá cao. Quy định ngưỡng chịu thuế và tỷ lệ chịu thuế.

Cách tính thuế dựa trên giá tính thuế, thuế suất và diện tích đất tính thuế, Giá theo khung giá của chính quyền địa phương được xây

133

dựng theo chu kỳ khoảng 3 năm. Vận dụng thuế suất lũy tiến từng phần.

tại Đất nông thôn, đất ở tại đô thị, đất sản kinh xuất, phi doanh nông nghiệp Là loại thuế động viên vào người chủ sở hữu quyền sử dụng đất phi nông nghiệp. Thuế được thu hàng năm, với mức động viên cao hơn nhiều so với đất nông nghiệp. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Cách tính thuế dựa trên giá tính thuế, thuế suất và diện tích đất tính thuế. Giá một mét vuông đất (m2) theo khung giá của chính quyền phương địa được xây dựng theo chu kỳ khoảng 3 năm. Vận dụng thuế suất lũy tiến từng phần.

Thuế nhà

Thuế nhà về bản chất là thuế tài sản. Thuế được thu hàng năm, với mức động viên thấp vào các đối tượng có quyền sở hữu nhà. Xây dựng mức giá tính thuế khởi điểm đối với tài sản này, tức là trị giá tính thuế dưới mức khởi điểm thuế sẽ có thuế suất bằng không.

Các loại nhà đối thuộc tượng này bao gồm nhà làm ở, nhà việc, nhà dùng vào sản kinh xuất, doanh và nhà dùng vào các mục đích khác. Cách tính thuế dựa trên giá tính thuế, thuế suất và diện tích nhà tính thuế. Giá một mét vuông nhà (m2) theo khung giá của chính quyền phương địa được xây dựng theo chu kỳ khoảng 3 năm, có tính đến phân hạng. Áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần.

Thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất

Chính sách thuế này được xây dựng nhằm mục đích đánh thuế trên các tài sản là vật kiến trúc gắn liền trên đất. Thuế được thu hàng năm nhằm quản lý các tài sản, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng tài sản.

nghỉ Khu dưỡng, công viên, vườn cảnh, hồ bơi, các công trình kiến trúc khác (Ngoại trừ sử dụng vào mục công đích cộng, phúc lợi xã hội) Dựa trên giá tính thuế, thuế suất và diện tích công trình. Giá một (m2) công trình theo khung giá của chính quyền địa phương được xây dựng theo chu kỳ khoảng 3 năm, có tính đến phân hạng công trình. Vận dụng thuế suất lũy tiến từng phần.

134

Là sắc thuế đánh hàng năm vào việc sử dụng và sở hữu các phương tiện giao thông

Thuế phương tiện giao thông

Các đối chịu tượng thuế như tàu bay, tàu, du thuyền, xe ô tô, mô tô

Căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất. Giá tính thuế là giá thị trường hoặc theo khung giá quy định của Chính phủ.Vận dụng thuế suất tỷ lệ.

Kết luận chương 4

Mục tiêu cần đạt được của mô hình nghiên cứu là nhận diện các đối tượng chịu

thuế tài sản, phạm vi đối tượng chịu thuế; lựa chọn hình thức nào để đánh thuế cho

phù hợp và căn cứ tính thuế của mỗi loại tài sản ra sao. Đó chính là những nội dung

cốt lõi mà kết quà nghiên cứu có được trong việc xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt

Nam nhằm đạt được tính hiệu quả và tối ưu. Đối chiếu cơ sơ lý thuyết, mô hình thuế

tài sản của một số quốc gia và qua phân tích thực trạng chính sách thuế liên quan đến

tài sản ở Việt nam. Chương 4 của luận án đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên

cứu. Mô hình thuế tài sản bao gồm những nội dung của các nhân tố cấu thành thuế tài

sản và cách thức tổ chức thực hiện những nội dung đó. Qua phân tích các nhân tố tác

động đến mô hình thuế tài sản thông qua các bước kiểm định Cronbach’s alpha, phân

tích hồi quy và các trường hợp nghiên cứu thực nghiệm. Kết quả phân tích cho thấy

các nhân tố tác động đến tính hiệu quả thuế tài sản đạt mức độ tin cậy chấp nhận được.

Mô hình nghiên cứu có khả năng ứng dụng vào thực tiễn cho việc xây dựng chính

sách thuế tài sản và dự báo khả năng thu ngân sách. Kết quả các trường hợp nghiên

cứu tình huống cũng đã làm sáng tỏ hơn mục tiêu của thuế tài sản trong từng giai

đoạn, là một cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu và những người quan tâm chính

sách thuế tài sản có thể vận dụng cho nghiên cứu tiếp theo.

Từ những kết quả phân tích mô hình thuế tài sản ở chương 4, mô hình thuế tài

sản được đề xuất bởi những lý do: Kết quả kiểm định và phân tích các nhân tố đạt độ

tin cậy ở mức chập nhận, có mối tương quan chặt chẽ và tác động đến tính hiệu quả

của mô hình thuế tài sản; các phân tích cho thấy xu hướng kết quả nhận định có sự

tương đồng giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng; kết quả nghiên cứu

phản ánh phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế-xã hội của Việt Nam; mô hình được

xây dựng tiệm cận với các mô hình thuế tài sản ở các nước đang phát triển; đáp ứng

được tầm nhìn chiến lược cải cách thuế của Chính phủ, tạo một mắt xích vững chắc

trong hệ thống thuế bao gồm thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản.

135

CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN

VÀO VIỆC XÂY DỰNG CÁC CHÍNH SÁCH

THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

5.1 Những khuyến nghị ứng dụng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam

Để vận dụng mô hình thuế tài sản một cách hiệu quả đem lại nguồn thu ổn định

cho ngân sách, thể hiện tính công bằng và đơn giản trong vận dụng chính sách thuế tài

sản, tác giả luận án xin được nêu ra một số khuyến nghị sau:

Thứ nhất, cần thiết phải xác định phạm vi đối tượng chịu thuế tài sản (cơ sở

thuế), từ đó dự thảo và ban hành các Luật thuế liên quan đến tài sản chịu thuế. Ngoài

ra cũng nên sớm ban hành Luật tài sản như một số nước trên thế giới.

Thứ hai, cần nghiên cứu và xác định mức thuế suất phù hợp, mức giá tính thuế

khởi điểm khi đánh thuế tài sản thông qua các phương pháp dự báo doanh thu thuế.

Thứ ba, dựa trên nền tảng mô hình thuế tài sản, ban hành các chính sách thuế

tài sản phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại ở Việt Nam.

Thứ tư, vận dụng mô hình thuế tài sản trong công tác dự báo ngân sách hàng

năm và dài hạn phục vụ cho công tác quản lý và thực thi NSNN.

5.2 Những khuyến nghị xây dựng chính sách thuế tài sản dựa trên mô hình

5.2.1 Thuế đăng ký tài sản

Thuế đăng ký tài sản là khoản thu mà các tổ chức, cá nhân khi nộp sẽ được nhà

nước cung cấp dịch vụ hành chính, pháp lý tương ứng… điều này có ý nghĩa rằng nhà

nước công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hợp pháp.

Quan điểm xây dựng chính sách thuế đăng ký tài sản

- Thuế đăng ký tài sản được xây dựng trên quan điểm phát triển tính chất thuế của lệ

phí trước bạ, thuế đánh một lần vào các tài sản chịu thuế khi các chủ thể đăng ký

quyền sở hữu, sử dụng tài sản. Việc phát triển lệ phí trước bạ theo hướng này có

ưu điểm là kết hợp một cách hợp lý tính chất phí và tính chất thuế của lệ phí trước

bạ hình thành một sắc thuế thống nhất. Như vậy, thuế đăng ký tài sản sẽ kế thừa có

bổ sung, sửa đổi chính sách hiện hành về lệ phí trước bạ.

- Thông qua thuế đăng ký tài sản, nhà nước quản lý, kiểm soát được các tài sản quan

trọng, từng bước bảo đảm quá trình quản lý trong chuyển dịch tài sản, tạo căn cứ

cho việc xây dựng một số chính sách về kinh tế - xã hội.

- Thuế đăng ký tài sản vừa động viên được nguồn thu, đảm bảo tính chất điều tiết

thu nhập của sắc thuế này, vừa có chi phí hành thu không cao, đảm bảo được tính

hiệu quả và công bằng.

136

- Với những quan điểm này, đối chiếu với hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, đây là sắc

thuế phù hợp và có tính khả thi.

Nội dung chủ yếu của thuế đăng ký tài sản

 Đối tượng tài sản chịu thuế đăng ký tài sản: Là các tài sản thuộc danh mục nhà

nước cần quản lý và thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng. Có thể vẫn

quy định như các tài sản hiện đang chịu lệ phí trước bạ hiện nay, bao gồm các loại

tài sản: đất đai, nhà cửa, vật kiến trúc và những tài sản gắn liền với đất, phương

tiện giao thông.

 Tài sản không thuộc diện chịu thuế: được xác lập căn cứ vào tính chất, mục đích

của việc sử dụng tài sản; chủ thể sở hữu, sử dụng tài sản và đặt trong mối quan hệ

với các chính sách kinh tế xã hội khác. Trước mắt, có thể quy định các tài sản

không thuộc diện chịu thuế đăng ký tài sản giống như các tài sản không thuộc diện

chịu lệ phí trước bạ như hiện nay: đất đai, các tài sản sử dụng cho mục đích công

cộng; an ninh, quốc phòng; nghiên cứu khoa học, cơ quan ngoại giao được hưởng

tiêu chuẩn miễn trừ; tài sản phân chia, sáp nhập, chuyển đổi của cùng một chủ sở

hữu; tài sản của một số đối tượng chính sách xã hội…

 Đối tượng nộp thuế: tổ chức, cá nhân khi mua sắm, xây dựng mới, khi chuyển

nhượng các tài sản thuộc danh mục nhà nước quản lý muốn xác lập quyền sở hữu

hợp pháp là đối tượng phải nộp thuế.

 Căn cứ tính thuế: là giá trị tài sản tính thuế đăng ký tài sản và thuế suất.

Thuế đăng ký tài Giá trị tài sản = x Thuế suất sản phải nộp tính thuế

- Giá trị tài sản tính thuế là giá chuyển nhượng tài sản thực tế trên thị trường trong

nước tại thời điểm tính thuế đăng ký tài sản. Việc xác định giá trị tài sản tính thuế

đăng ký tài sản trong một số trường hợp thực hiện như sau: o Giá trị đất tính thuế đăng ký tài sản là giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất

thực tế do người nộp thuế kê khai, được xác định như sau:

Giá trị đất tính Diện tích đất chịu = x thuế đăng ký tài thuế đăng ký tài sản Giá một mét vuông đất (m2)

sản

o Giá trị nhà tính thuế đăng ký tài sản là giá trị nhà thực tế chuyển nhượng trên

thị trường tại thời điểm tính đăng ký tài sản như sau:

= x x Giá một (01) mét vuông (m2) nhà Tỷ lệ (%) chất lượng còn lại của nhà chịu thuế đăng ký tài sản Giá trị nhà tính thuế đăng ký tài sản Diện tích nhà chịu thuế đăng ký tài sản

137

Trường hợp không xác định được giá trị thực tế chuyển nhượng hoặc kê khai

giá trị thực tế chuyển nhượng thấp hơn giá thị trường thì áp dụng giá nhà tính

thuế đăng ký tài sản do nhà nước quy định tại thời điểm đăng ký tài sản

o Giá trị tài sản là tàu thuyền, xe ôtô, xe gắn máy tính thuế đăng ký tài sản là giá

trị tài sản thực tế chuyển nhượng trên thị trường trong nước tại thời điểm tính

thuế đăng ký tài sản

- Trong quá trình quản lý thu thuế đăng ký tài sản, nếu cơ quan thuế phát hiện các

trường hợp giá tính thuế đăng ký tài sản quy định chưa phù hợp với giá thị trường

hoặc tài sản đã xuất hiện trên thị trường địa phương đăng ký nộp thuế trước bạ

nhưng chưa được quy định trong bảng gía tính thuế đăng ký tài sản của địa phương

thì phải có ý kiến đề xuất kịp thời gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc cơ quan được uỷ

quyền ban hành bảng giá để sửa đổi, bổ sung bảng giá tính thuế đăng ký tài sản

- Thuế suất dùng làm căn cứ tính thuế đăng ký tài sản được quy định theo tỷ lệ phần

trăm trên trị giá tính thuế tuỳ thuộc vào tính chất từng loại tài sản, chủ sở hữu tài

sản, địa bàn sử dụng tài sản nhằm đảm bảo động viên hợp lý phần thu nhập của các

chủ thể và phù hợp với các chính sách kinh tế - xã hội khác của nhà nước. Do vậy

có thể quy định thuế suất thấp đối với các tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp

và các tài sản có giá trị lớn thuộc diện chịu các sắc thuế hàng năm (như thuế nhà,

thuế sử dụng đất); quy định thuế suất cao đối với những tài sản chỉ chịu thuế một

lần hoặc của các cá nhân ở các đô thị lớn…

5.2.2 Thuế sử dụng đất nông nghiệp

Quan điểm xây dựng chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp

Trong thời gian quan, Nhà nước thu từ nông dân sử dụng đất nông nghiệp các

khoản: tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và một số lệ phí quản lý đất đai. Nhìn chung,

tổng thu thuế sử dụng đất nông nghiệp không lớn. Từ năm 2003 đến năm 2014, Chính

phủ đã quyết định miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điền cho tất cả hộ

nông dân và miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất cho hộ nông dân nghèo, giảm 50% cho

diện tích vượt hạn điền. Tiền thuê đất chỉ áp dụng đối với diện tích đất vượt hạn điền

hoặc đất đấu thầu. Các khoản lệ phí về đất không lớn, thường là phí cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất, phí trích lục bản đồ, phí đăng ký đất...

Xét tổng thể, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam được

giảm nhẹ ở nhiều khâu, kể cả việc Nhà nước không thu thuế chuyển nhượng đất nông

nghiệp giữa những người nông dân với nhau nhằm khuyến khích tập trung đất và chưa

thu thuế giá trị gia tăng từ đất. Trước thực trạng hiện nay có quá nhiều diện tích đất

nông nghiệp bị bỏ hoang phí, bên cạnh tốc độ đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ như hiện

nay, dẫn đến tình trạng lãng phí và không hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp, có

khá nhiều trường hợp các nhà đầu tư mua đất nông nghiệp bỏ hoang nhằm mục đích 138

đón đầu quy hoạch để hưởng đền bù hoặc chờ cơ hội tăng giá, mở đường xá và chuyển

sang đất thổ cư để bán. Qua đó, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp trong giai

đoạn tới cần tập trung các vấn đề sau:

- Cần xây dựng hạng đất trong từng giai đoạn để xác định giá tính thuế theo hạng

đất phù hợp hơn để loại bỏ định suất thuế tính bằng kg thóc đang áp dụng hiện nay.

Điều này sẽ giúp cho việc tính thuế đơn giản hơn, dễ tính toán, dễ quản lý và dễ

hiểu

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp phải đảm bảo tốt về mặt quản lý đất đai, khuyến

khích sử dụng đất đai có hiệu quả, thúc đẩy phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu

sử dụng đất hợp lý, góp phần quan trọng trong việc quản lý và ổn định thị trường

bất động sản, động viên công bằng, hợp lý và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà

nước

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp phải bao quát được tất cả các đối tượng chịu thuế và

đối tượng nộp thuế, xây dựng cách tính thuế khoa học, hợp lý, vận dụng hiệu quả,

thể hiện được tính minh bạch và công bằng.

Nội dung chủ yếu của chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Đối tượng chịu thuế: Việc xác định đối tượng chịu thuế sử dụng đất nông

nghiệp được thực hiện trên nguyên tắc đất dùng vào sản xuất nông nghiệp, lâm

nghiệp, nuôi trồng thủy sản thì phải chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp. Dựa theo

nguyên tắc này, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định đối tượng chịu

 Ðất trồng trọt.

 Ðất có mặt nước nuôi trồng thủy sản.

 Ðất rừng trồng.

thuế bao gồm:

- Đối tượng không thuộc diện chịu thuế: Nhằm phân biệt rõ phạm vi đất chịu

thuế sử dụng đất nông nghiệp, Nhà nước quy định các loại đất sau đây không chịu

 Đất có rừng tự nhiên

 Đất đồng cỏ tự nhiên.

 Đất ở.

 Đất chuyên dùng.

sự điều chỉnh của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp:

- Căn cứ tính thuế: Số thuế sử dụng đất nông nghiệp phải nộp được xác định dựa

trên những căn cứ nhất định, đó là: diện tích đất, giá tính thuế theo hạng đất và

thuế suất

o Diện tích tinh thuế: là diện tích giao cho hộ sử dụng đất phù hợp với sổ địa

chính Nhà nước. Trường hợp chưa lập sổ địa chính thì diện tích tính thuế là

diện tích ghi trên tờ khai của hộ sử dụng đất.

139

o Giá tính thuế theo hạng đất: Căn cứ để xác định giá của từng loại hạng đất

gồm các yếu tố sau:

 Chất đất

 Vị trí

 Địa hình

 Điều kiện khí hậu, thời tiết

 Điều kiện tưới tiêu

Giá tính thuế theo hạng đất được ổn định 3 năm (theo thông lệ quốc tế) thay vì

10 năm như trước đây, bởi lẽ đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại

hóa và có nhiều biến chuyển nhanh chóng trong cơ cấu kinh tế sẽ dẫn đến những thay

đồi nhanh chóng. Ðối với những vùng Nhà nước có đầu tư lớn, đem lại hiệu qủa kinh

tế cao, Chính phủ sẽ điều chỉnh lại hạng đất. Căn cứ vào tiêu chuẩn của từng hạng đất

và hướng dẫn của UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Sự chỉ đạo của

UBND cấp huyện; UBND cấp xã xác định hạng đất tính thuế cho từng hộ nộp thuế

sau đó trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Chính quyền địa phương cần thiết phải lập Hội đồng tư vấn thuế nhằm xây

dựng khung giá tính thuế đất cho phù hợp với từng địa phương, thay thế cho định suất

thuế một năm tính bằng kg thóc trên 1 hec-ta của từng hạng đất đã áp dụng trong

khoảng thời gian khá dài vừa qua.

o Thuế suất: Thuế suất lũy tiến, trong hạn mức sử dụng thì áp dụng thuế suất

thấp, vượt hạn mức thì áp dụng thuế suất cao hơn.

Giá tính thuế SDĐ Diện tích đất x = nông nghiệp tính thuế Giá một mét vuông đất (m2) theo hạng đất

Thuế SDĐ nông nghiệp Giá tính thuế SDĐ Thuế suất x = phải nộp nông nghiệp

5.2.3 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Quan điểm xây dựng chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Chính sách thuế SDĐ phi nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở kế thừa có

chọn lọc hai loại thuế sử dụng đất hiện hành để áp dụng cho các mục đích sử dụng đất.

Chúng ta xác định đất đai là nguồn tài sản quốc gia quý hiếm, do đó cần phải được

quản lý chặt chẽ, khuyến khích sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, ngăn chặn

đầu cơ, lũng đoạn thị trường đất đai.

Thông qua chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thực hiện kiểm kê,

kiểm soát quỹ đất đai với từng đối tượng sử dụng đất và tạo nguồn thu quan trọng cho

ngân sách địa phương. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp khi thực hiện phải bảo đảm

140

công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ kinh tế của người sử dụng đất, phù hợp với Luật

đất đai.

Nội dung chủ yếu của sắc thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

 Đối tượng chịu thuế

o Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị. o Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công

nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác,

chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

 Đối tượng không chịu thuế: Đất phi nông nghiệp sử dụng không vào mục đích

kinh doanh, bao gồm:

- Đất sử dụng vào mục đích công cộng bao gồm: đất giao thông, thủy lợi; đất xây

dựng công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi

ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất xây

dựng công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ;

- Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng;

- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;

- Đất sông ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;

- Đất có công trình tôn giáo;

- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào

mục đích quốc phòng, an ninh;

- Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của pháp luật.

 Người nộp thuế

- Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối

tượng chịu thuế

- Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì

người đang sử dụng đất là người nộp thuế.

Căn cứ tính thuế gồm giá tính thuế và thuế suất

Thuế SDĐ phi nông Giá tính thuế SDĐ Thuế suất x = nghiệp phải nộp phi nông nghiệp

 Giá tính thuế: Giá tính thuế đối với SDĐ phi nông nghiệp được xác định như sau

Giá tính thuế Diện tích đất SDĐ x = tính thuế Giá một mét vuông đất (m2) phi nông nghiệp

 Diện tích đất tính thuế được quy định như sau:

- Diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế sử dụng.

141

- Trường hợp có quyền sử dụng nhiều thửa đất ở thì diện tích đất tính thuế là

tổng diện tích các thửa đất tính thuế.

- Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để xây dựng khu công

nghiệp thì diện tích đất tính thuế không bao gồm diện tích đất xây dựng kết cấu

hạ tầng sử dụng chung.

- Đối với đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư bao gồm cả trường hợp

vừa để ở, vừa để kinh doanh thì diện tích đất tính thuế được xác định bằng hệ

số phân bổ nhân với diện tích nhà của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử

dụng. Hệ số phân bổ được xác định bằng diện tích đất xây dựng nhà nhiều tầng

nhiều hộ ở, nhà chung cư chia cho tổng diện tích nhà của các tổ chức, hộ gia

đình, cá nhân sử dụng.

- Đối với công trình xây dựng dưới mặt đất thì áp dụng hệ số phân bổ nhân với

diện tích đất xây dựng và chia cho tổng diện tích công trình của các tổ chức, hộ

gia đình, cá nhân sử dụng.

- Giá của 1m2 đất là giá đất theo mục đích sử dụng do Ủy ban nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương quy định và được ổn định theo chu kỳ khoảng

3 năm (theo thông lệ quốc tế). Chính phủ cần có hướng dẫn cho Ủy ban cấp

tỉnh, thành xây dựng khung giá đất từng thời kỳ cho từng khu vực địa lý khác

nhau.

 Thuế suất: Thuế suất đối với đất ở bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh

áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

5.2.4 Thuế nhà

Thuế nhà, đất về bản chất là thuế tài sản, một loại thuế trực thu đánh vào các tài

sản. Không thể cho rằng đánh thuế đối với nhà ở là “thuế chồng lên thuế” như một số

ý kiến không đồng tình. Bởi mỗi sắc thuế có một đối tượng điều chỉnh và mục tiêu

riêng. Đây là loại thuế thu hàng năm, với mức động viên thấp vào các đối tượng có

quyền sở hữu nhà.

Ở các nước phát triển như Đức, Singapore, Mỹ… sắc thuế này là phổ biến.

Nguyên lý chung để hình thành loại thuế này là tiền, tài sản của bất cứ cá nhân nào,

suy cho cùng cũng là tài sản của xã hội và chúng phải được huy động vào sản xuất,

kinh doanh, hạn chế việc tồn trữ, không sử dụng như đầu cơ, làm vật trang trí không

cần thiết…

Tuy nhiên, sử dụng tài sản cá nhân như thế nào lại thuộc quyền của từng cá

nhân, pháp luật không thể quy định cứng nhắc. Vì vậy chỉ có thể sử dụng chính sách

thuế để hạn chế những hành vi nói trên. Với nguyên lý đó, thuế tài sản là loại thuế

đánh vào các tài sản cá nhân đến một mức nhất định, người có tài sản có trách nhiệm

142

nộp thuế cho nhà nước. Khi đó, tình trạng đầu cơ và sử dụng lãng phí tài sản xã hội sẽ

được hạn chế.

Hiện nay tình trạng đầu cơ nhà, đất ở nước ta đang rất nghiêm trọng. Vì vậy, rất

cần những biện pháp để hạn chế tình trạng này, huy động tất cả nguồn lực vào phát

triển kinh tế. Tất nhiên, cũng cần khẳng định thuế không phải là công cụ duy nhất mà

chỉ là một trong những công cụ có hiệu quả nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ trên thị

trường bất động sản. Nguồn thu ngân sách của nước ta sẽ bị giảm khá nhiều trong

những năm tới. Vì vậy, rất cần tạo ra nguồn thu hợp lý để phục vụ cho kế hoạch phát

triển kinh tế, tránh tình trạng dồn nhiều khoản thu vào doanh nghiệp.

Quan điểm xây dựng chính sách thu thuế nhà

- Luật thuế nhà phải thực hiện được yêu cầu kiểm kê, kiểm soát, quản lý của nhà

nước đối với quỹ nhà. Từ đó, làm căn cứ hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô

về sử dụng nhà ở, khuyến khích sử dụng quỹ nhà ở tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả

trong phát triển kinh tế - xã hội.

- Luật thuế nhà ra đời nhằm góp phần thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng

cách chênh lệch về thu nhập, tài sản, đời sống của các tầng lớp dân cư.

- Cũng như các sắc thuế khác, Luật thuế nhà phải từng bước bao quát nguồn thu

trong lĩnh vực nhà ở, động viên sự đóng góp cho ngân sách nhà nước, phù hợp với

yêu cầu của chương trình cải cách thuế, tạo điều kiện mở rộng đầu tư, xây dựng cơ

sở hạ tầng, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

- Chế độ thu đối với thuế nhà phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, phù

hợp với trình độ dân trí trung bình trong xã hội.

- Luật thuế nhà khi triển khai thực hiện phải có bước đi thích hợp với điều kiện kinh

tế - xã hội ở thành thị và nông thôn, phù hợp với khả năng đóng góp của người nộp

thuế, gắn với yêu cầu khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn và nâng cao

dần đời sống nhân dân

Nội dung chủ yếu của chính sách thuế nhà

 Đối tượng chịu thuế: Là các loại nhà thuộc đối tượng này bao gồm nhà ở, nhà làm

việc, nhà dùng vào sản xuất, kinh doanh và nhà dùng vào các mục đích khác.

 Đối tượng không chịu thuế: Chính sách thuế nhà không thu thuế đối với nhà sử

dụng vào mục đích công cộng, phúc lợi xã hội hoặc từ thiện không vì mục đích

kinh doanh; Nhà chuyên dùng vào việc thờ cúng của các tôn giáo, các tổ chức

không vì mục đích kinh doanh.

 Đối tượng nộp thuế:

- Tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu

thuế được quy định là người nộp thuế;

143

- Trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng

nhận quyền sở hữu nhà nhưng có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật thì người có

đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

là người nộp thuế.

- Trường hợp người có quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đem góp vốn bằng

quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền

sở hữu nhà, quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định thì

pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sở hữu nhà,

quyền sử dụng đất là người nộp thuế.

Căn cứ tính thuế nhà là giá tính thuế và thuế suất.

 Giá tính thuế: Giá tính thuế của nhà được xác định như sau

Giá tính thuế Diện tích nhà

= x đối với nhà chịu thuế Giá tính thuế một mét vuông nhà (m2)

- Diện tích nhà chịu thuế là toàn bộ diện tích sàn xây dựng thuộc quyền sở hữu

hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

- Giá tính thuế của 1m2 nhà được xác định như sau: Đối với nhà mới xây dựng là đơn giá 1m2 nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; đối với nhà đã sử dụng là đơn giá 1m2 nhà xây dựng mới

của nhà ở cùng loại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, trừ đi tỷ lệ

% đơn giá cho mỗi năm đã sử dụng. Nhà nước quy định cụ thể việc xác định

thời gian đã sử dụng của nhà, tỷ lệ giảm trừ đối với từng loại, cấp, hạng nhà để

tính thuế theo quy định tại điểm này

- Đối với nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư (bao gồm cả trường hợp vừa

để ở vừa để kinh doanh), giá tính thuế được xác định bằng việc áp dụng hệ số

phân bổ cho các tầng theo quy định của Nhà nước

- Giá tính thuế đối với nhà được ổn định trong vòng 3 năm kể từ năm tính thuế

đầu tiên theo quy định của chính sách thuế

 Thuế suất: Áp dụng thuế suất theo biểu thuế lũy tiến từng phần dựa theo phân loại

và hạn mức chịu thuế.

5.2.5 Thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất

Quan điểm xây dựng chính sách thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất

Chính sách thuế này được xây dựng nhằm mục đích đánh thuế trên các công

trình và vật kiến trúc gắn liền trên đất, nhằm quản lý các tài sản, bảo vệ quyền lợi hợp

pháp của người sử dụng tài sản, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Nội dung chủ yếu của chính sách thuế công trình xây dựng gắn liền trên đất

144

 Đối tượng chịu thuế: Khu nghỉ dưỡng, công viên, vườn cảnh, hồ bơi, công trình

kiến trúc khác …

 Đối tượng không chịu thuế: Chính sách thuế công trình xây dựng không thu thuế

đối với đối tượng sử dụng vào mục đích công cộng, phúc lợi xã hội hoặc từ thiện

không vì mục đích kinh doanh

 Đối tượng nộp thuế: Tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu công trình xây dựng gắn

liền trên đất thuộc đối tượng chịu thuế được quy định là người nộp thuế.

Căn cứ tính thuế nhà là giá tính thuế và thuế suất.

 Gía tính thuế: Giá tính thuế của công trình xây dựng được xác định như sau

Giá tính thuế Diện tích công Giá tính thuế một mét

đối công trình xây trình xây dựng = x

dựng chịu thuế vuông công trình xây dựng (m2)

Giá tính thuế của 1m2 nhà được xác định như sau: - Đơn giá 1m2 do chính quyền địa phương quy định. - Nhà nước quy định cụ thể việc xác định thời gian sử dụng của công trình xây

dựng, tỷ lệ giảm trừ đối với từng loại, cấp, hạng công trình xây dựng để tính

thuế theo quy định tại điểm này.

 Thuế suất: Áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần dựa theo phân loại và hạn mức

chịu thuế.

5.2.6 Thuế phương tiện giao thông

Quan điểm xây dựng chính sách thuế phương tiện giao thông

- Thuế phương tiện giao thông là sắc thuế thu hàng năm đánh vào việc sở hữu và sử

dụng các phương tiện giao thông.

- Phương tiện giao thông được xem là khá phổ biến và là tài sản nhiều nhất được sử

dụng hiện nay. Việc đánh thuế phương tiện giao thông nhằm giúp cho công tác

quản lý phương tiện giao thông được chặt chẽ hơn, kiểm soát sự an toàn của các

phương tiện này, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người sử dụng tài sản, có tác động

đến chính sách bảo vệ môi trường, khuyến khích người sử dụng phương tiện hợp

lý và hiệu quả, đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách địa phương cho việc

quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông.

- Thuế phương tiện giao thông phải được xây dựng trên nền tảng đơn giản, dễ hiểu,

rõ ràng, tính hiệu quả cao, cần nghiên cứu mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách

thuế này với các chính sách thuế đăng ký tài sản, chính sách môi trường, chính

sách đăng kiểm an toàn phương tiện giao thông…

Nội dung chủ yếu của chính sách thuế phương tiện giao thông

- Đối tượng chịu thuế: bao gồm các phương tiện giao thông như tàu bay, tàu,

thuyền, xe ô tô, mô tô.

145

- Đối tượng không chịu thuế: là các phương tiện giao thông thuộc sở hữu nhà

nước, tài sản sử dụng cho các tổ chức nhà nước, tổ chức nước ngoài, tổ chức tôn

giáo và các phương tiện giao thông sử dụng phi kinh doanh.

- Đối tượng nộp thuế: là các tổ chức và cá nhân sở hữu phương tiện giao thông

theo quy định.

- Căn cứ tính thuế: giá tính thuế và thuế suất

 Giá tính thuế: được xác định theo giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm tính

thuế hoặc theo giá quy định của Nhà nước cho từng loại phương tiên giao

thông

 Thuế suất: áp dụng thuế tỷ lệ, nên xây dựng mức thuế suất thấp vì đây là loại

tài sản khá phổ biến, thuế suất cần phân ra nhiều mức khác nhau cho từng loại

tài sản

5.3 Một số gợi ý chính sách và điều kiện để triển khai mô hình thuế tài sản ở

Việt nam đạt hiệu quả

Có thể nói rằng việc xây dựng mô hình thuế tài sản nằm trong phạm vi cải cách

thuế của Việt Nam nhằm tạo ra một hệ thống thuế hiệu quả, xây dựng nền tảng cho sự

phát triển công nghiệp hóa-hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cải cách thuế đóng góp

vào việc mở rộng khả năng thu thuế, các nguồn thu tiềm năng có ảnh hưởng tới khả

năng thu thuế. Qua kết quả phân tích và đề xuất mô hình thuế tài sản ở Việt Nam

được trình bày ở chương 4, nghiên cứu xin nêu ra một số gợi ý chính sách và điều kiện

để vận dụng mô hình thuế tài sản đạt được hiệu qủa.

Thứ nhất, việc cấu trúc lại hệ thống thuế quốc gia mà cụ thể là thuế tài sản, mở

rộng đối tượng chịu thuế bao gồm: quyền sử dụng đất nông nghiệp, quyền sử dụng đất

phi nông nghiệp, nhà, công trình xây dựng, tài sản đăng ký, phương tiện giao thông

nhằm tạo ra một hệ thống thuế có cơ sở thuế rộng hơn, qua đó cho phép Chính phủ áp

dụng mức thuế suất thấp nhưng vẫn gia tăng được nguồn thu một cách hợp lý và hiệu

quả. Nghiên cứu của Giannopoulos (2009) liên quan đến trường hợp của Chính phủ

Malaysia (cũng giống với trường hợp của Việt Nam) kết luận rằng: “Tự do hóa

thương mại tăng lên sẽ giảm bớt lệ thuộc vào sắc thuế mậu dịch như thuế nhập khẩu,

sẽ gia tăng áp lực hơn đối với việc giảm sút nguồn thu”. Vì lẽ trên, việc tái cấu trúc hệ

thống thuế là điều cần xem xét của Chính phủ Việt Nam trong bối cảnh kinh tế-xã hội

hiện nay. Việc tạo ra một hệ thống thuế có cơ sở thuế bao quát hơn và thuế suất vừa

phải sẽ giúp tối thiểu hóa gánh nặng phụ trội do thuế tạo ra. Bởi lẽ theo Quy tắc

Ramsey cho rằng: “tổn thất từ đánh thuế gia tăng theo bình phương thuế suất, Chính

phủ nên trải dài đánh thuế trên diện rộng, không nên đánh thuế vào một nhóm hàng

hóa với thuế suất cao”. Bên cạnh đó, việc hình thành và mở rộng đối tượng chịu thuế

146

tài sản kết hợp căn cứ tính thuế dựa theo giá thị trường của tài sản chịu thuế và thuế

suất lũy tiến sẽ giúp cho tính công bẳng của thuế theo chiều ngang cũng như công

bằng dọc được thể hiện rõ hơn.

Thứ hai, việc xây dựng chính thuế tài sản cũng như hoạt động quản lý thuế cần

được hiện đại hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Kết quả quản lý thuế có thể cải thiện được

thông qua việc thúc đẩy những nổ lực như: (1) Thực thi pháp luật và (2) Sự hợp tác

giữa Cơ quan thuế và các ban ngành liên quan.

(1).Việc thực thi pháp luật và chính sách thuế tài sản đóng một vai trò quan

trọng trong công cuộc cải cách thuế. Nghiên cứu mô hình thuế tài sản ở chương 4 đã

chỉ ra những nguyên tắc nằm trong phạm vi của việc thực thi pháp luật và chính sách

thuế tài sản như tính đơn giản, minh bạch và khả thi.

(2). Sự hợp tác giữa Cơ quan thuế và các ban ngành liên quan là rất cần thiết

cho việc thực thi chính sách thuế tài sản như: Xác định giá tính thuế tài sản, các thông

tin số liệu về kê khai và quản lý tài sản..., các ban ngành liên quan nên xem xét việc

đánh đổi giữa tính công bằng và tính hiệu quả của thuế tài sản, vấn đề nào sẽ được đặt

lên hàng đầu cho chính sách.

Thuế tài sản nằm trong mối quan hệ với các loại thuế khác trong toàn bộ hệ

thống thuế ở nước ta và là loại thuế ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mọi tầng lớp

nhân dân, đặc biệt với hơn chục triệu hộ nông dân phải nộp thuế sử dụng đất nông

nghiệp, đất ở và đất kinh doanh. Vì vậy, khi thực hiện thuế tài sản phải giải quyết

đồng bộ các điều kiện chủ yếu để có thể bảo đảm triển khai thuế tài sản một cách

thuận lợi, đó là:

- Cần có sự chủ động và quyết tâm cao từ phía chính phủ đối với chương trình cải

cách, bao gồm cả việc cụ thể hóa trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai

đoạn 2011-2020.

- Việc xây dựng chính sách, chế độ được thực hiện trên cơ sở điều tra, khảo sát thận

trọng, phân tích khách quan, toàn diện, tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp để có

những quy định khả thi.

- Nhanh chóng hoàn thành việc đo đạc, lập bản đồ và hồ sơ địa chính, cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, thực hiện phân loại đất theo các

mục đích sử dụng đất khác nhau.

- Thành lập Hội đồng tư vấn thuế địa phương nhằm xây dựng khung giá tính thuế tài

sản, phân hạng tài sản chịu thuế, hạn mức chịu thuế...

- Ứng dụng công nghệ thông tin để cập nhật và theo dõi những biến động về tình

hình sử dụng những tài sản mà nhà nước cần quản lý. Hiện đại hóa quản lý thuế tài

sản theo phương thức quản lý thu thuế tài sản trên mạng vi tính thống nhất cả nước

147

bằng cách cấp "mã số" của thửa đất, lô đất theo bản đồ địa chính cho từng tổ chức,

cá nhân sử dụng đất để quản lý tổng diện tích đất tính thuế của cả nước, từng địa

phương, từng chủ sử dụng đất, theo dõi tình hình biến động của từng thửa đất (thay

đổi chủ sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng đất…)

- Thiết lập hệ thống chứng từ hợp pháp về những tài sản nhà nước cần quản lý và có

quy định chế tài phù hợp. Thực hiện chế độ báo cáo và quản lý thuế tài sản từ các

cơ quan quản lý về thu thuế tài sản theo yêu cầu, biểu mẫu thống nhất.

- Phân định rõ trách nhiệm cho các cấp chính quyền trong việc quản lý các tài sản

thuộc diện nhà nước quản lý. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý thuế tài sản theo

hướng trực tiếp hành thu phân cấp cho các chi cục, ở Cục thuế và Tổng Cục thuế

có bộ phận chỉ đạo, hướng dẫn quản lý thuế tài sản.

- Hạn chế việc lồng ghép chính sách xã hội vào trong chính sách thuế để đảm bảo sự

đơn giản trong chính sách thuế.

- Văn bản Luật thuế tài sản cần được ban hành đồng bộ với các Nghị định, Thông tư

quy định và hướng dẫn thi hành cụ thể theo những quan điểm nhất quán, gắn chính

sách thuế với các quy định pháp lý về quản lý tài sản.

- Thực hiện đào tạo cán bộ công chức thuế thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ,

quy trình quản lý thu thuế tài sản. Cải tiến thủ tục hành chính theo hướng đơn giản,

đặc biệt là bồi dưỡng đạo đức, phong cách làm việc lịch sự, chu đáo, tận tình với

người nộp thuế, đồng thời phải có quy chế xử lý nghiêm minh với cán bộ thuế có

hành vi vi phạm đạo đức cán bộ thuế.

- Mở rộng và đa đạng hóa các hình thức tuyên truyền để nâng cao trình độ hiểu biết

về chính sách thuế của đông đảo các tầng lớp dân cư, qua đó làm cho mọi người

thấy rõ trách nhiệm, tự giác làm tốt nghĩa vụ thuế tài sản.

- Tăng cường cơ sở vật chất đối với bộ phận tổ chức thu thuế tài sản tại cơ quan thu

thuế. Văn phòng giao dịch nơi trực tiếp thu thuế phải đảm bảo khang trang, có đủ

phương tiện, trang thiết bị đảm bảo cho cán bộ thuế làm việc giao dịch với người

nộp thuế văn minh, lịch sự.

Kết luận chương 5

Qua đối chiếu giữa cơ sở lý luận về thuế tài sản và thực trạng về chính sách

thuế liên quan đến tài sản ở Việt nam. Tác giả nhận thấy, việc xây dựng chính sách

thuế tài sản thật sự là một yêu cầu cần thiết mang tính khách quan bởi lẽ:

- Đất nước đang trong quá trình đổi mới và phát triển, thu nhập và đời sống của đa

số nhân dân tăng lên nhanh chóng. Cùng với quá trình đô thị hóa, việc mở rộng

diện tích đất ở, xây dựng nhà cửa, mua sắm tài sản phát triển nhanh, kéo theo sự

148

gia tăng khoảng cách giàu nghèo của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Để góp

phần thực hiện phân phối lại thu nhập trong dân cư, thực hiện mục tiêu công bằng

xã hội, nhưng vẫn bảo đảm sự tăng trưởng vững chắc, ổn định của nền kinh tế, các

nhà nghiên cứu cần thiết phải xem xét, sửa đổi, bổ sung chính sách thuế hiện hành.

Trong đó, chế độ thu ngân sách đối với đất đai, nhà cửa, tài sản được điều chỉnh

chủ yếu thông qua chính sách thuế đối với tài sản.

- Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các quan hệ tài sản, nhà cửa, đất đai

đang biến động khá phức tạp, đa dạng không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn

trong phạm vi quốc tế. Vì vậy, chính sách thuế đối với tài sản cần rõ ràng hơn và

phù hợp hơn với thông lệ quốc tế để góp phần đắc lực vào yêu cầu quản lý tài sản

quốc gia, phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập.

- Quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế tất yếu dẫn đến sự giảm sút

nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế nhập khẩu… Chính sách thuế được hoàn

thiện theo hướng tăng tỷ trọng thu trong nước, trên cơ sở phát triển sản xuất kinh

doanh, nâng dần tỷ lệ thuế trực thu trong tổng thu ngân sách. Vì vậy, cần xem xét

việc cải cách các sắc thuế nội địa, trong đó có thuế đối với tài sản nhằm khai thác

thêm nguồn thu, đáp ứng nhu cầu chi tiêu không ngừng tăng lên của ngân sách nhà

nước.

- Việc hoàn thiện mô hình thuế tài sản sẽ góp phần bảo đảm mối quan hệ hữu cơ với

các sắc thuế khác trong quá trình cải cách hệ thống chính sách thuế, tiến dần đến

việc xây dựng một hệ thống thuế hoàn chỉnh và đồng bộ.

KẾT LUẬN

Luận án “Xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam” được hoàn thiện dựa trên

cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn nhằm nghiên cứu các nội dung cốt lõi để xây dựng

mô hình thuế tài sản ở Việt Nam trong những năm tới. Trong phạm vi nghiên cứu có

hạn, luận án đã thực hiện các nội dung và kết quả đạt được chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận liên

quan đến tài sản và thuế tài sản, làm rõ các yếu tố cấu thành thuế tài sản, tầm quan

trọng của thuế tài sản, vai trò và vị trị chiến lược của thuế tài sản trong hệ thống thuế

quốc gia

Thứ hai, luận án chỉ ra được cách thức thiết lập mô hình thuế tài sản, những

nhân tố cốt lỗi cấu thành mô hình thuế tài sản.

Thứ ba, luận án đã phân tích và chỉ rõ thực trạng về việc quản lý tài sản hiện

nay, các chính sách thuế có liên quan đến tài sản đang được áp dụng hiện tại, từ đó chỉ

149

ra các ưu điểm và khuyết điểm của chính sách thuế hiện nay, những mặt đã đạt được

và những mặt còn hạn chế trong quá trình vận dụng của nước ta hiện nay.

Thứ tư, luận án đã tìm hiểu và đúc kết những kinh nghiệm vận dụng mô hình

thuế thuế tài sản ở một số quốc gia khác như Thụy Điển, Đài Loan, Cộng Hòa Pháp…

từ đó vận dụng cho việc xây dựng mô hình thuế tài sản ở Việt Nam

Thứ năm, qua nghiên cứu bối cảnh tình hình kinh tế-xã hội ở Việt nam, luận án

đã đề xuất mô hình thuế tài sản trong giai đoạn tới cho Việt Nam cũng như các điều

kiện để chính sách thuế tài sản thực hiện được hoàn chỉnh.

Như vậy, trong chiến lược cải cách thuế ở nước ta từ nay đến 2020, luận án đề

xuất mô hình thuế tài sản gồm các sắc thuế: Thuế đăng ký tài sản, thuế sử dụng đất

nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế nhà, thuế công trình xây dựng

gắn liền trên đất, thuế phương tiện giao thông. Các sắc thuế này có mối quan hệ

tương thích, bổ sung và phụ thuộc nhau theo ý nghĩa hệ thống. Có thể thấy rằng sự tồn

tại nhiều hình thái của thuế tài sản không đơn giản là để tận thu mà còn là yêu cầu

khách quan mang tính kỹ thuật nghiệp vụ và lô-gíc hệ thống. Sự kết hợp chặt chẽ và

hợp lý giữa các loại thuế tài sản không những tạo điều kiện thực hiện mục tiêu toàn bộ

hệ thống thuế một cách hữu hiệu nhất mà còn tạo điều kiện nâng cao hiệu quả của

công tác hành thu. Chính vì vậy, tuy thuế tài sản không phải là loại thuế mang lại tỷ

trọng thu lớn cho ngân sách ở Việt nam, song luôn được coi là loại thuế phức tạp cần

được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ban hành.

Trong điều kiện thời gian có hạn, luận án chỉ tập trung nghiên cứu việc xây

dựng mô hình thuế tài sản, chủ yếu nghiên cứu các thành tố của mô hình thuế tài sản

sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam, không đi vào phần nghiên

cứu dự báo của mô hình (số thu thuế của mô hình) và chi tiết cách thức vận dụng mô

hình (chính sách áp dụng). Tác giả mong muốn trong tương lai gần sẽ tiếp tục hoàn tất

phần tiếp theo của mô hình nhằm đóng góp một phần nghiên cứu khoa học cho ngành

tài chính nhà nước trong công cuộc cải cách thuế./.

150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

1. Bùi Hồng Điệp (2014), “Về hiệu quả của việc áp dụng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 10, tháng

5/2014, trang 83-85.

2. Bùi Hồng Điệp (2014), “Chính sách thuế đối với tài sản ở Việt Nam”, Tạp chí

Kinh tế và Dự báo-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 16, tháng 8/2014, trang 3-5.

3. Bùi Hồng Điệp (2014), “Kinh nghiệm đánh thuế tài sản ở một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế-Xã hội – Trung tâm Thông tin và Dự

báo Kinh tế-Xã hội Quốc gia, số 107, tháng 11/2014, trang 30-38.

4. Bùi Hồng Điệp (2014), “Tình hình thuế và ngân sách của Việt Nam giai đoạn 2003-2012”, Tạp Kinh tế và Dự báo-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số 23, tháng 12/2014, trang 10-12.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Bộ Tài chính (2007), “Đánh thuế tài sản để bình ổn thị trường bất động sản”,

Trang thông tin điện tử Bộ Tài chính, truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009,

.

2. Bộ Tài chính (2007), “Thuế tài sản-Kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng tại

Việt nam”, Trang thông tin điện tử Bộ Tài chính, truy cập ngày 11 tháng 6 năm

2008, .

3. Bộ Tài chính (2008), Cách đánh thuế tài sản ở Việt Nam, Tài liệu Hội thảo ngày

22 và 23/8/2008 tại Hải Phòng.

4. Bộ Tài chính (2008), “Hội thảo cách đánh thuế tài sản ở Việt Nam”, Trang thông

tin điện tử Bộ Tài chính, truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2009,

.

5. Bộ Tài chính (2009), Cải cách thuế của Việt Nam, Tài liệu Hội thảo ngày 26 và

27/2/2009 tại TP. Hồ Chí Minh.

6. Bộ Tài chính (2009), “Dự thảo Luật thuế nhà, đất: Hướng tới rõ ràng, công bằng

và minh bạch”, Trang thông tin điện tử Bộ Tài chính, truy cập ngày 28 tháng 12

năm 2009, .

7. Bộ Tài chính (2015), “Số liệu công khai dự toán, quyết toán NSNN hàng năm”,

Trang thông tin điện tử Bộ Tài chính, truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2015,

.

8. Đàm Văn Huệ (2006), Thuế đất đai – công cụ quản lý và điều tiết thị trường

BĐS, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.

9. Đinh Văn Ân, Trần Kim Chung (2008), “Phát triển thị trường bất động sản: Phải

phối hợp đồng bộ các chính sách”, Tạp chí Tài chính, số 3, trang 41-44.

10. Đỗ Đức Định (2004), Kinh tế học phát triển về công nghiệp hóa và cải cách nền

kinh tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội

11. ETV2 (2009), “Thuế tài sản - Các phương thức quốc tế tốt nhất và khả năng thực

hiện ở Việt Nam”, Trang thông tin điện tử ETV2, truy cập ngày 31 tháng 12 năm

2009, .

12. Fulbright (2014), “Tài chính công”, Trang thông tin điện tử Fulbright, truy cập

ngày 12 tháng 4 năm 2014,

13. Gangadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn

(2011), Cải cách thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ thống hiệu quả và công

bằng hơn, Ban quản lý kinh tế và xóa đói giảm nghèo Khu vực Châu Á Thái

Bình Dương, Hà Nội.

14. Harvey S.Rosen (2004), Tài chính công, Bản dịch Tiếng Việt của Khoa Tài

chính nhà nước – Đại học Kinh tế, TP. Hồ Chí Minh.

15. Hoàng Thị Giang (2008), “Xây dựng luật thuế tài sản hay pháp luật thuế tài sản ở

Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán , số 10, trang 66-67.

16. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Thống kê ứng dụng trong kinh

tế xã hội, Nhà xuất bản Thống Kê.

17. Học viện Tài chính (2005), Giáo trình Quản lý tài chính công, NXB Tài chính,

Hà Nội.

18. Huỳnh Huy Quế (2008), “Góp ý hoàn thiện Dự luật thuế tài sản”, Tạp chí Thuế

nhà nước, số 38,39,40.

19. Ngô Văn Khương (2009), “Góp ý xây dựng luật thuế tài sản ở Việt Nam”, Tạp

chí Nghiên cứu tài chính kế toán, số 1, trang 53-56.

20. Nguyễn Đình Chiến (2006), “Thuế tài sản và khả năng áp dụng ở Việt Nam”,

Thuế Nhà Nước, kỳ 1 tháng 3, trang 9-11.

21. Nguyễn Đình Chiến (2006), “Xây dựng chính sách thuế đánh vào tài sản ở Việt

Nam trong thời gian tới”, Nghiên cứu tài chính kế toán, số 1/18, trang 22-24.

22. Nguyễn Hồng Sơn và Trần Quang Tuyến (2014), “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở Việt Nam”, Kinh tế và Chính trị thế giới, số 5(217).

23. Nguyễn Hồng Thắng, Sử Đình Thành (2010), Mô hình tài chính công, tài liệu

lưu hành nội bộ, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM.

24. Nguyễn Văn Hiệu, Lê Xuân Trường (2008), Hệ thống thuế một số nước Asean và

Trung Quốc, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.

25. Phan Thị Minh Lý, Lại Xuân Thủy (2011), “Đo lường công bằng chiều dọc của

thuế GTGT- Bằng chứng từ nghiên cứu từ các hộ gia đình ở Thừa Thiên Huế”,

Tạp chí Khoa học và Công Nghệ-Đại Học Đà Nẵng, số 1(42), trang 159-165.

26. Quách Đức Pháp (2002), “Nghiên cứu thuế tài sản áp dụng tại Việt Nam trong

những năm tới”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội.

27. Quốc hội (2005), Luật dân sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam số

33/2005/QH11, Quốc hội ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005, Hà nội.

28. Quốc hội (2013), Luật đất đai số 45/2013/QH13, Quốc hội ban hành ngày 29

tháng 11 năm 2013, Hà nội.

29. Sử Đình Thành, Bùi Thị Mai Hoài (2006), Lý thuyết Tài chính công, Nhà xuất

bản Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

30. Sử Đình Thành và cộng sự (2015), “Cải cách hệ thống thuế Việt Nam theo cam

kết hội nhập Quốc tế đến năm 2010”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 3, trang 2-26.

31. Tổng cục thống kê (2015), “Niên giám thống kê năm”, Trang thông tin điện tử

Tổng cục thuế, truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015,

32. Tổng cục thuế (2008), “Thuế nhà và thuế đất: Cần cải cách toàn diện”, Trang

thông tin điện tử Tổng cục thuế, truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2008,

33. Tổng cục thuế (2009), “Chính sách thuế trong quản lý Nhà nước về đất đai”,

Trang thông tin điện tử Tổng cục thuế, truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2009,

34. Tổng cục thuế (2009), “Tác động của thuế đối với thị trường bất động sản”,

Trang thông tin điện tử Tổng cục thuế, truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2009,

35. Tổng cục thuế (2008), “Thuế tài sản và khả năng áp dụng tại Việt Nam”, Trang

thông tin điện tử Tổng cục thuế, truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2008,

36. Tổng cục thuế (2009), “Thuế Tài Sản ở Việt Nam nên xây dựng theo hướng

nào?”, Trang thông tin điện tử Tổng cục thuế, truy cập ngày 10 tháng 10 năm

2009,

37. Tổng cục thuế (2009), “Định hướng chính sách tài chính liên quan đến đất đai”,

Trang thông tin điện tử Tổng cục thuế, truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2009,

38. Việt Tuấn (2008), “Xây dựng dự thảo Luật thuế tài sản ở Việt Nam: Những đề

xuất từ thực tế”, Tạp chí Thuế Nhà nước, số 33, trang 8-9.

39. Vũ Đình Ánh (2008), “Chính sách thuế, phí, lệ phí đối với thị trường bất động

sản: Để vừa quản lý hiệu quả, vừa thúc đẩy thị trường phát triển?”, Tạp chí Tài

chính, số 2, trang 26-30.

Tiếng Anh

40. ADB (2015), Key indicators for Asia and the Pacific 2015,

41. Barro R.J. (1991), “Economic growth in across-section of countries”, Quarterly

Journal of Economics, No 106.

42. Bird R. M., Martinez j. & Torgler B. (2004), Societal institutions and tax effort

in developing countries, Georgia State University, Attalanta Georgia.

43. Caspresen E. & Metcalf G. (1994), "Is a Value Added Tax regressive? Annual

versus lifetime incidence measures", National Tax Journal, No 4, pp. 731-746.

44. Chenery & Robinson (1986), Industrialization and growth, Oxford University

Press, for the World Bank.

45. David L. Cameron (1999), Property taxex, Willamette University Publishers,

USA, pp. 95-127.

46. Edel Matthew & Sclar Elliot (1974), ‘Taxes, Spending, and Property Values:

Supply Adjustment in a Tiebout-Oates Model’, Journal of Political Economy,

No 82, pp. 941-954.

47. Fischel William A. (1975), Fiscal Zoning and Land Use Controls, Lexington

Books, Lexington, MA.

48. Hamilton Bruce W. (1975), ‘Property Taxes and the Tiebout Hypothesis: Some Empirical Evidence’, Fiscal Zoning and Land Use Controls, Lexington Books, MA, pp. 13-29.

49. Hamilton Bruce W. (1976), ‘The Effects of Property Taxes and Local Public

Spending on Property Values: A Theoretical Comment’, Journal of Political

Economy, No 84, pp. 647-650.

50. Hamilton Bruce W. (1983), Local Provision of Public Services: The Tiebout

Model After Twenty-Five Years, Academic Press, New York.

51. IMF (2015), IMF eLibrary data,

52. Jonathan Gruber (2005), Puclic Finace and Public Policy, Worth Publishers.

53. Kakwani N.C. (1984), "On the measurement of Tax Progressivity and

Redistributive Effects of Taxes with Applications to Horizontal and Vertical

Equity", Advances in Econometriecs, Vol. 3, pp. 149-168.

54. King R. G. & Rebelo S. (1990), “Public policy and economic growth:

Developing neoclassical implications”, Journal of Political Economics, No 98,

pp. 126-150.

55. Le T.M., Moreno Dodson B. & Rojchaichaninthorn J. (2008), Expanding taxable

capacity and reaching revenue potential: Cross-country analysis, World bank,

Washington DC.

56. Mieszkowski (1972), ‘The Property Tax: An Excise or Profits Tax’, Journal of

Public Economics, No 1, pp. 73-96.

57. Mieszkowski & Zodrow (1983), Local Provision of Public Services:The Tiebout

Model After Twenty-Five Years, Academic Press, New York.

58. Mieszkowski & Zodrow (1989), ‘Taxation and the Tiebout Model: The

Differential Effects of Head Taxes, Taxes in Land Rents, and Property Taxes’,

Journal of Economic Literature, No 27, pp. 1098-1146.

59. Murphy Higgins (2007), Concepts in Federal Taxation, Thomson Publishers,

USA.

60. Musgrave R.A. (1984), Public finance in theory and practice, McGraw-Hill

Book.

61. Netzer (1966), Economics of the Property Tax, Washington DC, Brookings

Institution.

62. Netzer (1973), ‘The Incidence of the Property Tax Revisited’, National Tax

Journal, No 26, pp. 515-535.

63. Oates Wallace E. (1969), ‘The Effects of Property Taxes and Local Public

Spending on Property Values: An Empirical Study of Tax Capitalization and the

Tiebout Hypothesis’, Journal of Political Economy, No7, pp. 957-971.

64. OECD (2015), Tax revenue, < https://data.oecd.org/tax/tax-revenue.htm>

65. Robert Carroll J. & John Yinger (1994), ‘Is the Property Tax a Benefit Tax? The

Case of Rental Housing’, National Tax Journal, No 47, pp. 295-316.

66. Rosengard J. K. (1998), Property Tax Reform in Developing Countries, Kluver

Academic Publishers, Boston.

67. Simon (1943), ‘The Incidence of a Tax on Urban Real Property’, Quarterly

Journal of Economics, No 57, pp. 398-421.

68. Tamaoka M. (1994), "The Regressivity os a Value Added Tax : Tax Credit

Method and Subtraction Method : A Japanese Case", Fiscal Studies, Vol. 15, No

. 2, pp. 57-73.

69. Thomson (1965), ‘The Property Tax and the Rate of Interest’, The American

Property Tax, Lincoln School of Public Finance, California.

70. Wassmer Robert W. (1993), ‘Property Taxation, Property Base, and Property

Value: An Empirical Test of the “New View”’, National Tax Journal, No 46,

pp. 135-159.

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1.1: Phiếu điều tra về chính sách thuế hiện nay

1-2

Phụ lục 1.2: Kết quả điều tra về chính sách thuế hiện nay 3-4

Phụ lục 2.1: Nội dung thảo luận 5-6

Phụ lục 2.2: Phiếu phỏng vấn chuyên gia 7-8

Phụ lục 3.1: Phiếu điều tra 9-10

Phụ lục 3.2: Mã hóa các biến quan sát của mô hình 11

Phụ lục 3.3: Các biến còn lại sau khi kiểm định Cronch’s Alpha 12

Phụ lục 3.4: Kết quả phân tích từ SPSS 18.0 13-22

Phụ lục 3.5: Phiếu phỏng vấn chuyên gia 23-25

Phụ lục 3.6: Phiếu phỏng vấn chuyên gia 26-27

Phụ lục 4: Thu ngân sách Nhà nước 28

Phụ lục 5 : Doanh thu thuế dự kiến đối với thuế SDĐNN 29-30

Phụ lục 6 : Doanh thu thuế dự kiến đối với thuế SDĐPNN 31-47

Phụ lục 7 : Doanh thu thuế dự kiến đối với thuế nhà 48

Phụ lục 8 : Doanh thu thuế dự kiến đối với thuế đăng ký tài sản 49

Phụ lục 9 : Doanh thu thuế dự kiến đối với thuế phương tiện giao thông 50

Phụ lục 10 : Doanh thu thuế dự kiến đối với thuế công trình xây dựng 50

Phụ lục 11.1 : Mẫu thu thập dữ liệu Thu nhập và chi tiêu hộ gia đình 51-68

Phụ lục 11.2 : Kết quả điều tra thu nhập và chi tiêu hộ gia đình 69

Phụ lục 11.3 : Mức độ tập trung thu nhập (GR) 70

Phụ lục 11.4 : Mức độ tập trung thu nhập (GC) 71

Phụ lục 11.5 : Mức độ tập trung thuế tài sản (T) 72

Phụ lục 12.1 : Bảng thống kê GDP, GDP bình quân đầu người, thuế tài sản, kim

ngạch XNK, giá trị nông nghiệp và Dân số 73

Phụ lục 12.2 : Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng khả năng thu thuế

74 tài sản

Phụ lục 1.1

PHIẾU ĐIỀU TRA

Từ 5 năm đến < 10 năm  Từ 15 năm trở lên

MỘT SỐ THÔNG TIN CÁ NHÂN : Giới tính : Nam Nữ Trình độ: Đại học Trên đại học Nghề nghiệp:.................................................................................................................... Đơn vị công tác:............................................................................................................. Thâm niên công tác < 5 năm    Từ 10 năm đến <15 năm Nhằm để thu thập thông tin và dữ liệu cho việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay, xin Ông/Bà vui lòng tham gia đóng góp ý kiến nhận định theo những nội dung theo bảng hỏi sau đây: NỘI DUNG THU THẬP THÔNG TIN RKĐY: rất không đồng ý KYK: không ý kiến KĐY: không đồng ý ĐY: đồng ý RĐY: rất đồng ý

TT K ĐY RK ĐY K YK ĐY R ĐY

1.1

1.2 Xin quý vị cho biết nhận xét về chính sách thuế SDĐNN hiện nay Tỷ trọng thu thuế SDĐNN so với NSNN hiện nay Cách phân loại hạng đất hiện nay làm căn cứ tính thuế

1.4

1.5

TT RK ĐY K ĐY K YK ĐY R ĐY

2.1

2.2

2.3 1.3 Định suất thuế áp dụng hiện nay Chính sách miễn giảm thuế SDĐNN Tính khoa học của việc quản lý thu thuế SDĐNN hiện nay Xin quý vị cho biết nhận xét về chính sách thuế nhà đất hiện nay Tỷ trọng thu thuế nhà đất so tổng thu NSNN hiện nay Cách thức phân loại hạng đất hiện nay làm căn cứ tính thuế Quy định về đối tượng chịu thuế nhà đất hiện nay

2.4 Quy định giá tính thuế

2.5 Chính sách miễn giảm thuế nhà đất

1

TT RK ĐY K ĐY K YK ĐY R ĐY

3.1 Xin quý vị cho biết nhận xét về chính sách lệ phí trước bạ hiện nay Tỷ trọng thu thuế trước bạ so tổng thu NSNN hiện nay

3.2 Là khoản thu lệ phí hành chính

3.3 Là khoản thu mang tính chất thuế

3.4 Căn cứ tính thuế trước bạ hiện nay

3.5 Những quy định hiện nay về giá trị TS để tính lệ phí trước bạ

TT Chỉ liên quan đến tài sản Xin quý vị cho biết quan điểm của mình về các sắc thuế liên quan đến tài sản hiện nay

Mang tính chất thuế tài sản 4.1 Thuế SDĐNN

4.2 Thuế SDĐ phi NN

4.3 Tiền sử dụng đất

4.4 Tiền thuê đất

4.5 Lệ phí trước bạ

4.6 Thuế TN đối với chuyển nhượng BĐS

4.7 Thuế Tài nguyên

4.8 Lệ phí địa chính

2

Phụ lục 1.2

Kết quả điều tra từ Bảng hỏi (Phụ lục 1.1)

TT Chính sách thuế SDĐNN hiện nay RK ĐY K ĐY K YK ĐY R ĐY

Tỷ trọng thu thuế SDĐNN so với 1.1 135 29 11 5 - NSNN hiện nay

Cách phân loại hạng đất hiện nay làm 1.2 - - 9 27 144 căn cứ tính thuế

1.3 Định suất thuế hiện nay 20 155 5 - -

1.4 Chính sách miễn giảm thuế SDĐNN 40 92 29 16 4

Tính khoa học của việc quản lý thu thuế 1.5 31 130 14 5 - SDĐNN hiện nay

K RK K R TT Chính sách thuế nhà đất hiện nay ĐY YK ĐY ĐY ĐY

Tỷ trọng thu thuế nhà đất so tổng thu 2.1 135 38 5 2 - NSNN hiện nay

Cách thức phân loại hạng đất hiện nay 2.2 121 47 7 4 2 làm căn cứ tính thuế

Quy định về đối tượng chịu thuế nhà 2.3 4 117 32 16 11 đất hiện nay

2.4 Quy định giá tính thuế 160 20 - - -

2.5 Chính sách miễn giảm thuế nhà đất 119 40 13 9 -

3

TT RK K K R Chính sách lệ phí trước bạ hiện nay ĐY ĐY YK ĐY ĐY

Tỷ trọng thu thuế trước bạ so tổng thu 3.1 - 29 - 45 106 NSNN hiện nay

3.2 Là khoản thu lệ phí hành chính 153 27 - - -

3.3 Là khoản thu mang tính chất thuế - - - 27 153

3.4 Căn cứ tính thuế trước bạ hiện nay 149 22 9 - -

Những quy định hiện nay về giá trị TS 3.5 117 58 5 - - để tính lệ phí trước bạ

TT Quan điểm về các sắc thuế liên quan đến Mang tính chất thuế TS Chỉ liên quan đến TS tài sản hiện nay

4.1 Thuế SDĐNN 175 5

4.2 Thuế SDĐ phi NN 180 -

4.3 Tiền sử dụng đất 4 176

4.4 Tiền thuê đất - 180

4.5 Lệ phí trước bạ 178 2

4.6 Thuế TN đối với chuyển nhượng BĐS 5 175

4.7 Thuế Tài nguyên 4 176

4.8 Lệ phí địa chính - 180

4

Phụ lục 2.1:

VIỆN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN VÀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP --------------------------------

NỘI DUNG THẢO LUẬN

ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

Nhóm thảo luận:

Trưởng nhóm:

Thư ký:

Địa điểm tổ chức:

Thành phần tham dự:

Thời gian:

Nhằm để thu thập thông tin và dữ liệu cho việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản

ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay với định hướng mô hình thuế tài

sản cần phải đảm bảo tính hiệu quả. Viện Kế Toán-Kiểm Toán và Tài Chính Doanh

Nghiệp tổ chức buổi thảo luận chuyên đề với những nội dung sau:

- Tại sao phải đánh thuế tài sản?

- Thuế tài sản có vai trò và sự ảnh hưởng như thế nào? A. Thuế tài sản - Dưới góc độ Luật thuế của Việt Nam hiện nay quy

định như thế nào về thuế tài sản?

- Những đối tượng tài sản nào thuộc phạm vi đánh

thuế tài sản?

- Tại sao phải mở rộng đối tượng chịu thuế tài sản?

- Tài sản nào nên chịu thuế trong nhóm? Tại sao?

B. Đối tượng chịu thuế tài sản  Bất động sản

 Động sản

 Tài sản tài chính

 Tài sản vô hình

 Tài sản khác

- Nên áp dụng hình thức đánh thuế nào cho phù hợp?

- Tại sao không đánh thuế thu nhập từ tài sản? C. Hình thức đánh thuế tài sản - Tập trung vào những tài sản nào để đánh thuế?

- Đánh thuế định kỳ hay thường xuyên?

5

- Nên áp dụng giá tính thuế như thế nào cho phù hợp? D. Căn cứ tính thuế tài sản - Dạng thuế suất nào cho phù hợp?

- Để cho mô hình thuế tài sản ở Việt Nam đạt hiệu quả E. Tính hiệu quả thuế tài sản thì cần dựa trên những tiêu chí nào để xây dựng.

6

Phụ lục 2.2:

VIỆN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN VÀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP --------------------------------

PHIẾU PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA

ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

Nhóm thảo luận:

Trưởng nhóm:

Thành viên:

Chức vụ:

Đơn vị công tác:

Ngày thực hiện phỏng vấn:

Viện Kế Toán-Kiểm Toán và Tài Chính Doanh Nghiệp xin chân thành cám ơn

quý vị đã đến tham dự buổi thảo luận chuyên đề. Sau khi tổng hợp kết quả thảo luận

nhóm, nhằm để thu thập thông tin và dữ liệu cho việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản

ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay với định hướng mô hình thuế tài

sản cần phải đảm bảo tính hiệu quả, xin ông/bà vui lòng cho biết những nhận định sau:

Đồng Không Theo ông/bà nên hay không đánh thuế tài sản đối với: ý đồng ý

1 Quyền sử dụng đất nông nghiệp

2 Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp

3 Nhà

4

5 Công trình xây dựng gắn liền trên đất (khu nghỉ dưỡng, hồ bơi, công viên, vườn cảnh, các công trình kiến trúc khác… không sử dụng cho mục đích kinh doanh) Tài sản đăng ký sử dụng (trước bạ)

6 Tài nguyên (quyền khai thác)

7 Phương tiện giao thông (máy bay, ô tô, mô tô, tàu thuyền)

8 Tài sản vô hình (bản quyền, bằng phát minh, sáng chế, thương

hiệu)

9 Chứng khoán

7

Đồng Không Theo ông/bà đánh thuế tài sản thì nên: ý đồng ý

10 Tập trung vào những TS Nhà nước cần quản lý

11 Tập trung vào những tài sản có giá trị lớn

12 Dựa trên thu nhập của tài sản

13 Dựa trên giá trị của tài sản

14 Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (% trên giá trị tài sản)

15 Quy định ngưỡng chịu thuế

16 Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu TS

17 Đánh thuế hàng năm đối với TS

Đồng Không Theo ông/bà về căn cứ tính thuế tài sản thì nên dựa vào: ý đồng ý

Giá thị trường của tài sản 18

Giá trị ròng của tài sản chịu thuế 19

Giá trị tài sản ấn định 20

Thuế suất lũy tiến 21

Thuế suất tỷ lệ (trung bình) 22

Thuế suất lũy thoái 23

Đồng Không Theo ông/bà để có một hệ thống thuế tài sản hiệu quả thì cần dựa vào ý đồng ý

Hiệu quả kinh tế 24

Tính bền vững và khả thi 25

Độ đàn hồi ổn định 26

Thể hiện tính công bằng 27

Giảm chi phí thực thi khi thực hiện (đơn giản, minh bạch, linh 28

hoạt)

Xin cám ơn

8

Phụ lục 3.1

VIỆN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN VÀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP PHIẾU ĐIỀU TRA

MỘT SỐ THÔNG TIN CÁ NHÂN :

Giới tính : Nam Nữ

Trình độ: Đại học Trên đại học

Nghề nghiệp:....................................................................................................................

Đơn vị công tác:.............................................................................................................

Thâm niên công tác < 5 năm    Từ 10 năm đến <15 năm Từ 5 năm đến < 10 năm  Từ 15 năm trở lên

Nhằm để thu thập thông tin và dữ liệu cho việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản ở

Việt Nam trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay, xin Ông/Bà vui lòng tham gia

đóng góp ý kiến nhận định theo những nội dung sau:

ý g n ồ đ g n ô h k n à o t n à o H

ý g n ồ đ g n ô h K

n ế i k ý g n ô h K

ý g n ồ Đ

ý g n ồ đ n à o t n à o H

NỘI DUNG THU THẬP THÔNG TIN

Xin cho biết mức độ tán thành của Anh/Chị đối với các vấn đề sau đây 1 2 3 4 5 Hoàn toàn không đồng ý Hoàn toàn đồng ý Trả lời bằng cách khoanh tròn vào ô tương ứng, nghĩa là: Chọn ô số (1): khi Hoàn toàn không đồng ý Chọn ô số (5): khi Hoàn toàn đồng ý Chọn một trong các ô số (2), (3), (4) tương ứng với các mức độ trung gian. Theo ông/bà nên đánh thuế tài sản đối với:

1 1 1 2 2 2 3 3 3 4 4 4 5 5 5

1 2 3 4 5

1 Quyền sử dụng đất nông nghiệp 2 Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp 3 Nhà 4 Công trình xây dựng gắn liền trên đất (khu nghỉ dưỡng, hồ bơi, công viên, vườn cảnh, các công trình kiến trúc khác… không sử dụng cho mục đích kinh doanh)

9

1 1 2 2 3 3 4 4 5 5

5 Tài sản đăng ký sử dụng (trước bạ) 6 Tài nguyên (quyền khai thác) 7 Phương tiện giao thông (máy bay, ô tô, mô tô, tàu 1 2 3 4 5 thuyền)

8 Tài sản vô hình (bản quyền, bằng phát minh, sáng 1 2 3 4 5 chế, thương hiệu)

1 2 3 4 5

9 Chứng khoán Theo ông/bà đánh thuế tài sản thì nên:

1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 4 4 4 4 4 4 4 4 5 5 5 5 5 5 5 5

10 Tập trung vào những TS Nhà nước cần quản lý 11 Tập trung vào những tài sản có giá trị lớn 12 Dựa trên thu nhập của tài sản 13 Dựa trên giá trị của tài sản 14 Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (% trên giá trị tài sản) 15 Quy định ngưỡng chịu thuế 16 Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu TS 17 Đánh thuế hàng năm đối với TS Theo ông/bà về căn cứ tính thuế tài sản thì nên dựa vào:

2 2 2 2 2 2 1 1 1 1 1 1 3 3 3 3 3 3 4 4 4 4 4 4 5 5 5 5 5 5

18 Giá thị trường của tài sản 19 Giá trị ròng của tài sản chịu thuế 20 Giá trị tài sản ấn định 21 Thuế suất lũy tiến 22 Thuế suất tỷ lệ (trung bình) 23 Thuế suất lũy thoái Theo ông/bà để có một hệ thống thuế tài sản hiệu quả thì cần dựa vào :

24 Hiệu quả kinh tế 1 2 3 4 5

25 Tính bền vững và khả thi 1 2 3 4 5

26 Độ đàn hồi ổn định 1 2 3 4 5

27 Thể hiện tính công bằng 1 2 3 4 5

28 Giảm chi phí thực thi khi thực hiện (đơn giản, 1 2 3 4 5 minh bạch, linh hoạt)

Xin cám ơn.

10

Phụ lục 3.2: Mã hóa các biến quan sát của mô hình

Thành phần Mã hóa Biến quan sát

D01

D02

D03

D04 Đối tượng TT 1 Quyền sử dụng đất nông nghiệp 2 Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp 3 Nhà ở 4 Công trình xây dựng gắn liền trên đất Tài sản đăng ký sử dụng (trước bạ) D05 5 chịu thuế tài Tài nguyên (quyền khai thác) D06 6 sản Phương tiện giao thông D07 7

Tài sản vô hình (bản quyền, bằng phát minh, 8 D08 sáng chế, thương hiệu)

D09

9 Chứng khoán 10 Tập trung vào những tài sản Nhà nước cần H10 quản lý

11 Tập trung vào những tài sản có giá trị lớn H11

12 Dựa trên thu nhập của tài sản H12

13 Dựa trên giá trị của tài sản Hình thức H13

14 Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (% trên giá trị tài sản) đánh thuế tài H14

sản 15 Quy định ngưỡng chịu thuế H15

16 Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu

H16 tài sản

17 Đánh thuế hàng năm đối với tài sản H17

18 Giá thị trường của tài sản C18

19 Giá trị ròng của tài sản chịu thuế C19

20 Giá trị tài sản ấn định C20 Căn cứ tính

21 Thuế suất lũy tiến thuế tài sản C21

22 Thuế suất tỷ lệ (trung bình) C22

23 Thuế suất lũy thoái C23

24 Hiệu quả kinh tế T24

25 Tính bền vững và khả thi T25 Tính hiệu quả 26 Độ đàn hồi ổn định của thuế tài T26

27 Thể hiện tính công bằng sản T27

28 Giảm chi phí thực thi khi thực hiện T28

11

Phụ lục 3.3: Các biến còn lại của mô hình sau khi kiểm định Hệ số Cronbach’s Alpha

Thành Biến Mã hóa phần

1 Quyền sử dụng đất nông nghiệp D01

2 Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp D02 Đối tượng 3 Nhà ở D03 chịu thuế 4 Công trình xây dựng gắn liền trên đất D04 tài sản 5 Tài sản đăng ký sử dụng (trước bạ) D05

6 Phương tiện giao thông D07

7 Tập trung vào những tài sản Nhà nước cần quản lý H10

8 Tập trung vào những tài sản có giá trị lớn H11

9 Dựa trên giá trị của tài sản H13 Hình thức 10 Dựa trên tỷ lệ chịu thuế (% trên giá trị tài sản) H14 đánh thuế 11 Quy định ngưỡng chịu thuế H15 tài sản 12 Đánh thuế một lần khi thiết lập quyền sở hữu tài H16 sản

13 Đánh thuế hàng năm đối với tài sản H17

14 Giá thị trường của tài sản tại thời điểm tính thuế C18

15 Giá trị tài sản ấn định C20 Căn cứ tính

thuế tài sản 16 Thuế suất lũy tiến C21

17 Thuế suất tỷ lệ (trung bình) C22

18 Hiệu quả kinh tế T24

19 Tính bền vững và khả thi T25 Tính hiệu

quả của 20 Độ đàn hồi ổn định T26

thuế tài sản 21 Thể hiện tính công bằng T27

22 Giảm chi phí thực thi khi thực hiện T28

12

Phụ lục 3.4: Kết quả phân tích từ SPSS 18.0

Descriptive Statistics

N Minimum Maximum Mean Std. Deviation

.996 1.099 1.009 .890 1.070 1.003 1.073 .997 1.040 1.169 1.030 1.026 .924 1.082 1.012 1.099 1.034 .906 1.323 .871 .881 .828 1.343 1.107 1.105 .995 1.056 .960

5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 5 3.59 3.62 3.72 3.83 3.48 3.77 3.57 3.87 3.75 3.53 3.58 4.09 3.82 3.59 3.68 3.57 3.64 4.17 3.78 4.33 3.97 4.46 3.83 3.86 3.62 3.78 3.75 3.85 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 180 D01 D02 D03 D04 D05 D06 D07 D08 D09 H10 H11 H12 H13 H14 H15 H16 H17 C18 C19 C20 C21 C22 C23 T24 T25 T26 T27 T28 Valid N (listwise)

13

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.803 9

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

D01 D02 D03 D04 D05 D06 D07 D08 D09 29.61 29.58 29.48 29.38 29.72 29.44 29.64 29.33 29.46 25.948 25.730 25.827 26.370 25.353 28.750 24.925 27.039 29.132 .579 .527 .582 .618 .586 .284 .629 .461 .231 .773 .780 .772 .770 .771 .810 .765 .788 .817

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.817 8

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

D01 D02 D03 D04 D05 D06 D07 D08 25.86 25.83 25.73 25.63 25.97 25.69 25.89 25.58 22.176 21.994 21.973 22.648 21.547 26.998 21.351 24.412 .636 .575 .649 .672 .648 .108 .668 .378 .782 .790 .780 .780 .779 .851 .776 .817

14

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.851 7

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

D01 D02 D03 D04 D05 D07 D08 22.09 22.07 21.97 21.86 22.21 22.12 21.82 20.030 19.928 19.809 20.567 19.349 19.393 23.212 .671 .597 .687 .699 .691 .683 .290 .822 .833 .819 .820 .818 .820 .874

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.874 6

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

D01 D02 D03 D04 D05 D07 18.22 18.19 18.09 17.99 18.33 18.25 16.900 16.716 16.332 17.039 16.145 16.021 .650 .588 .719 .733 .689 .703 .857 .869 .845 .846 .850 .848

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.862 8

15

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

H10 H11 H12 H13 H14 H15 H16 H17 25.97 25.92 25.42 25.69 25.92 25.83 25.93 25.86 25.323 28.206 31.094 28.964 27.742 27.819 27.046 27.238 .771 .595 .317 .598 .602 .649 .658 .692 .824 .846 .876 .846 .846 .840 .839 .835

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.876 7

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

H10 H11 H13 H14 H15 H16 H17 21.88 21.83 21.60 21.83 21.74 21.84 21.77 21.322 23.950 24.845 23.641 23.557 22.881 23.026 .778 .604 .585 .597 .663 .667 .706 .841 .865 .867 .866 .857 .857 .852

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.582 6

16

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

20.37 20.76 20.21 20.57 20.08 20.71 9.352 10.485 9.061 9.811 9.458 9.661 .475 .067 .570 .403 .523 .161 .478 .672 .445 .509 .469 .630

C18 C19 C20 C21 C22 C23

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.672 5

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

16.59 16.43 16.79 16.30 16.93 7.058 6.996 7.508 7.373 7.363 .541 .593 .456 .539 .181 .573 .554 .611 .581 .783 C18 C20 C21 C22 C23

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.783 4

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

C18 C20 C21 C22 12.76 12.60 12.96 12.47 .617 .651 .487 .606 .715 .697 .781 .722 4.239 4.264 4.724 4.541

17

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.813 5

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item Deleted

T24 T25 T26 T27 T28 14.99 15.24 15.08 15.11 15.01 9.827 10.652 11.145 10.363 10.419 .757 .801 .797 .773 .751 .661 .523 .528 .612 .694

KMO and Bartlett's Test

.824

1.471 Approx. Chi-Square

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. Bartlett's Test of Sphericity 136 df

.000 Sig.

Communalities

Initial Extraction

D01 D02 D03 D04 D05 D07 H10 H11 H13 H14 H15 H16 H17 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 .580 .506 .692 .703 .625 .672 .751 .529 .511 .502 .596 .581 .651

18

C18 C20 C21 C22 1.000 1.000 1.000 1.000 .636 .672 .500 .630

Extraction Method: Principal Component Analysis.

Total Variance Explained

Initial Eigenvalues Extraction Sums of Squared Loadings Rotation Sums of Squared Loadings

Comp onent % of Variance Cumulati ve % Total % of Variance Cumula tive % Total % of Variance Cumula tive % Total

32.139 32.139 4.058 23.872 23.872 16.849 48.988 3.798 22.341 46.213 11.821 60.809 2.481 14.596 60.809

5.464 2.864 2.010 .862 .797 .656 .602 .582 .532 .523 .437 .422 .345 .279 .260 .229 .135 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17

32.139 5.464 32.139 48.988 2.864 16.849 60.809 2.010 11.821 65.877 5.068 70.565 4.688 74.425 3.860 77.968 3.542 81.393 3.426 84.526 3.132 87.600 3.075 90.171 2.571 92.656 2.485 94.688 2.032 96.331 1.643 97.861 1.530 99.207 1.346 .793 100.000

Extraction Method: Principal Component Analysis.

19

Rotated Component Matrixa

Component

1 2 3

.863 .801 .768 .749 .697 .681 .637

.813 .810 .810 .785 .752 .653

.804 .770 .768 .705 H10 H17 H15 H16 H11 H14 H13 D04 D03 D07 D05 D01 D02 C20 C18 C22 C21

KMO and Bartlett's Test

.788

Approx. Chi-Square 297.386

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. Bartlett's Test of Sphericity df 10

Sig. .000

Communalities

Initial Extraction

1.000 1.000 1.000 1.000 1.000 .651 .476 .492 .581 .683

T24 T25 T26 T27 T28 Extraction Method: Principal Component Analysis.

20

Total Variance Explained

Initial Eigenvalues Extraction Sums of Squared Loadings

% of

Total Variance Cumulative % Comp onent Total % of Variance Cumulative %

57.661

57.661 2.883 2.883 .742 .634 .394 .347 57.661 14.844 12.671 7.878 6.946

57.661 72.505 85.176 93.054 100.000

1 2 3 4 5 Extraction Method: Principal Component Analysis.

Component Matrixa

Component

1

T28 T24 T27 T26 T25 .827 .807 .762 .701 .690

Extraction Method: Principal Component Analysis. a. 1 components extracted.

Correlations

F_Doituong F_Hinhthuc F_Cancu F_Hieuqua

F_Doituong Pearson 1 .283** .284** .567** Correlation

Sig. (2-tailed) .000 .000 .000

N 180 180 180 180

F_Hinhthuc Pearson 1 .250** .486** .283** Correlation

Sig. (2-tailed) .001 .000 .000

N 180 180 180 180

21

F_Cancu .284** .250** 1 .503** Pearson Correlation

Sig. (2-tailed) .000 .000

N 180 .001 180 180 180

F_Hieuqua Pearson .567** .486** .503** 1 Correlation

Sig. (2-tailed) .000 .000 .000

N 180 180

180 180 **. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).

Variables Entered/Removedb

Variables Entered Variables Removed Method Model

1

. Enter

F_Cancu, F_Hinhthuc, F_Doituonga

a. All requested variables entered. b. Dependent Variable: F_Hieuqua

Model Summary

Model R Square Adjusted R Square Std. Error of the Estimate

1 R .725a .526 .518 .54904

a. Predictors: (Constant), F_Cancu, F_Hinhthuc, F_Doituong

ANOVAb

Model Sum of Squares df Mean Square F Sig.

1 Regression 58.956 3 65.194 .000a

Residual 53.053

Total 112.010 176 179

19.652 .301

a. Predictors: (Constant), F_Cancu, F_Hinhthuc, F_Doituong b. Dependent Variable: F_Hieuqua

22

Coefficientsa

Unstandardized Coefficients Standardize d Coefficients Collinearity Statistics

Model B Std. Error Beta t Sig. Tolerance VIF

1 (Constant) -.269 .303 -.889 .375

F_Doituong .387 .055 .393 7.075 .000 .871 1.148

F_Hinhthuc .294 .055 .296 5.378 .000 .889 1.125

F_Cancu .370 1.126

.064 .317 5.761 .000 .888

a. Dependent Variable: F_Hieuqua

Collinearity Diagnosticsa

Variance Proportions

Mode l Dimen sion Eigenvalue Condition Index (Constant) F_Doituong F_Hinhthuc F_Cancu

1 3.928 1.000 .00 .00 .00 .00 1

.033 10.909 .00 .57 .66 .00 2

.027 12.002 .10 .42 .31 .29 3

.012 .71 4

17.965 .90 .01 .03 a. Dependent Variable: F_Hieuqua

23

Phụ lục 3.5:

VIỆN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN VÀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP --------------------------------

PHIẾU PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA

ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

Họ và tên:

Chức vụ:

Đơn vị công tác:

Ngày thực hiện phỏng vấn:

Nhằm để thu thập thông tin và dữ liệu cho việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản

ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay với mục tiêu trong ngắn hạn, thuế

tài sản nhằm đạt được tính bền vững, khả thi và giảm chi phí thực thi chính sách trong

quá trình thực hiện.Viện Kế Toán-Kiểm Toán và Tài Chính Doanh Nghiệp xin ông/bà

cho biết những nhận định sau:

1. Để cho mô hình thuế tài sản vận dụng được bền vững, khả thi và giảm chi phí trong

thực thi chính sách thì cần tập trung vào những yếu tố nào? Và xin giải thích vì

sao?

----------------------------------------------------------------------------------------------- -

----------------------------------------------------------------------------------------------

2. Theo ý kiến của ông/bà để cho mô hình thuế tài sản vận dụng được bền vững, khả

thi và giảm chi phí trong thực thi chính sách, theo ông/bà thì nên đánh thuế tài sản

vào những đối tượng nào sau đây:

- Quyền sử dụng đất nông nghiệp

- Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp

- Nhà

- Công trình xây dựng gắn liền trên đất

- Tài sản đăng ký

- Phương tiện giao thông

24

3. Để cho mô hình thuế tài sản vận dụng được bền vững, khả thi và giảm chi phí

trong thực thi chính sách thì nên áp dụng hình thức đánh thuế nào cho phù hợp?

-----------------------------------------------------------------------------------------------

-----------------------------------------------------------------------------------------------

4. Theo ông/bà để cho mô hình thuế tài sản vận dụng được bền vững, khả thi và

giảm chi phí trong thực thi chính sách thì nên căn cứ tính thuế như thế nào cho phù

hợp? Xin nêu rõ về thuế suất và giá tính thuế?

-----------------------------------------------------------------------------------------------

-----------------------------------------------------------------------------------------------

Xin cám ơn

25

Phụ lục 3.6:

VIỆN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN VÀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP --------------------------------

PHIẾU PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA

ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG MÔ HÌNH THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

Họ và tên:

Chức vụ:

Đơn vị công tác:

Ngày thực hiện phỏng vấn:

Nhằm để thu thập thông tin và dữ liệu cho việc nghiên cứu mô hình thuế tài sản

ở Việt Nam, trong chiến lược dài hạn, mục tiêu của thuế tài sản nhằm thể hiện tính

công bằng cao hơn, đạt hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn hồi cao và ổn

định. .Viện Kế Toán-Kiểm Toán và Tài Chính Doanh Nghiệp xin ông/bà cho biết

những nhận định sau:

1. Để cho mô hình thuế tài sản ở Việt Nam thể hiện tính công bằng cao hơn, đạt hiệu

quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn hồi cao và ổn định thì cần tập trung vào

những yếu tố nào? Và xin giải thích vì sao?

----------------------------------------------------------------------------------------------- -

----------------------------------------------------------------------------------------------

2. Theo ý kiến của ông/bà để cho mô hình thuế tài sản ở Việt Nam thể hiện tính công

bằng cao hơn, đạt hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn hồi cao và ổn định,

theo ông/bà thì nên đánh thuế tài sản vào những đối tượng nào sau đây:

- Quyền sử dụng đất nông nghiệp

- Quyền sử dụng đất phi nông nghiệp

- Nhà

- Công trình xây dựng gắn liền trên đất

- Tài sản đăng ký

- Phương tiện giao thông

26

3. Để cho mô hình thuế tài sản ở Việt Nam thể hiện tính công bằng cao hơn, đạt

hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn hồi cao và ổn định thì nên áp dụng

hình thức đánh thuế nào cho phù hợp?

-----------------------------------------------------------------------------------------------

-----------------------------------------------------------------------------------------------

4. Theo ông/bà để cho mô hình thuế tài sản ở Việt Nam thể hiện tính công bằng

cao hơn, đạt hiệu quả kinh tế, thuế tài sản cần có độ đàn hồi cao và ổn định thì nên

căn cứ tính thuế như thế nào cho phù hợp? Xin nêu rõ về thuế suất và giá tính

thuế?

-----------------------------------------------------------------------------------------------

-----------------------------------------------------------------------------------------------

Xin cám ơn

27