intTypePromotion=1
ADSENSE

Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

14
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày việc xây dựng được mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để cải tạo và nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước ở vùng cao núi đá Tây Bắc. Ứng dụng các công nghệ, kỹ thuật trong công tác quản lý công trình Hồ treo, góp phần đạt hiệu quả cấp nước và đảm bảo tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nguồn nước sạch hướng tới hoàn thành mục tiêu số 17.1 của tiêu chí số 17 về môi trường của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc

  1. Thông tin chung Tên Dự án: Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc vùng cao núi đá Tây Bắc. Thời gian thực hiện: Tháng 6/2018 đến tháng 12/2019 Cơ quan chủ trì: Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ cấp nước và vệ sinh môi trường – Trung tâm Quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lương Văn Anh ĐTDĐ: Email: TÓM TẮT Hiện nay, các hồ treo được xây dựng tại các tỉnh miền núi phía Bắc mang lại hiệu quả đầu tư, góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng nước, cũng như nâng cao chất lượng đời sống của bà con khu vực khó khăn. Hà Giang là một tỉnh miền núi có 6 huyện nghèo với 4 huyện thuộc vùng cao núi đá (Yên Minh, Quản Bạ, Mèo Vạc, Đồng Văn) rất khó khăn về nguồn nước, đặc biệt vào các tháng mùa khô trong năm. Địa hình của 4 huyện bị chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối thưa thớt, nằm sâu so với khu dân cư sinh sống nên việc đi lại lấy nước của bà con rất khó khăn vất vả. Kết quả xây dựng mô hình đã ứng dụng công nghệ này được triển khai thực hiện xây dựng tại 4 hồ treo Sùa Cán Tỷ xã Cán Tỷ huyện Quản Bạ, hồ treo Sủng Là xã Sủng Thài huyện Yên Minh, công trình chứa nước sinh hoạt Pải Lủng xã Pải Lủng huyện Mèo Vạc, Hồ chứa nước Ha Bua Đa xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, đại diện cho các hồ treo thuộc vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang. Các hồ treo được lựa chọn đã đảm bảo các tiêu chí như địa hình, mức độ tập trung dân cư, nhu cầu cấp thiết của người dân..., đáp ứng đủ không gian diện tích thuận lợi xây dựng, lắp đặt các hạng mục công nghệ (khoảng 50 -70m2). Ngoài ra, đã xây dựng hoàn thành, các hạng mục công nghệ hoạt động hỗ trợ và liên kết với nhau để đảm bảo tính bền vững của mô hình. Hệ thống thu nước được bố trí tại các sườn dốc, mái hồ bằng kênh dẫn kín dẫn về khu trữ sau khi qua bộ phận lược rác - ngăn cặn rồi chảy vào hố lọc sơ bộ. So với hiện trạng trước đây, dây chuyền công nghệ xử lý nước tại hồ treo được bổ sung thêm hạng mục bể lọc nhanh kết cấu bê tông cốt thép, trong quá trình lọc, dưới tác động của trọng lực, nước đi từ trên bề mặt lớp vật liệu lọc đi xuống. Trong khi đi qua không gian nhỏ hẹp giữa các hạt của vật liệu lọc, các tạp chất được loại bỏ. Nước tiếp tục đường đi thông qua lớp sỏi đỡ và được thu vào hệ thống ống thu nước chảy sang thiết bị thu nước sau lọc. Lớp vật liệu lọc bao gồm cát thạch anh, sỏi đỡ. Các lớp vật liệu lọc thường xuyên được làm sạch bằng quá trình rửa ngược. Tận dụng điều kiện chênh cao của địa hình có thể cho nước tự chảy vào bể lọc (có chứa phao chống tràn), tiết kiệm điện năng. 721
  2. Mặt khác, để khắc phục một phần khó khăn cho người dân sống xa hồ treo có đủ nước sinh hoạt trong mùa thiếu nước cũng như đảm bảo mục tiêu nâng tỷ lệ người dân ở 4 huyện vùng cao Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn tăng thêm 0,6% số người hưởng lợi được sử dụng nước hợp vệ sinh từ nguồn nước mưa. Ngoài ra còn thực hiện cung cấp và lắp đặt 30 thiết bị thu, trữ nước mưa (bể inox chứa nước mưa dung tích 10m3) tại chỗ để cấp nước sinh hoạt góp phần đảm bảo sự bền vững cho mô hình. Bể chứa nước mưa giúp giảm gánh nặng lấy nước cho các nhóm hộ sống xa hồ treo phải đi từ 1- 5km để lấy nước về dùng rất vất vả, mất nhiều công sức. Giải phóng sức lao động nhất là phụ nữ và trẻ em góp phần xóa đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới trẻ em trong độ tuổi đến trường được đến lớp. Việc sử dụng thiết bị inox thu, trữ nước mưa tại khu dân cư sống xa hồ treo rất phù hợp vì vật liệu nhẹ, dễ vận chuyển, lắp đặt, bền, thị trường cung ứng phong phú, hiệu quả sử dụng cao. 1. Đặt vấn đề Hiện nay, các hồ treo được xây dựng tại các tỉnh miền núi phía Bắc mang lại hiệu quả đầu tư, góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng nước, cũng như nâng cao chất lượng đời sống của bà con khu vực khó khăn. Hà Giang là một tỉnh miền núi có 6 huyện nghèo với 4 huyện thuộc vùng cao núi đá (Yên Minh, Quản Bạ, Mèo Vạc, Đồng Văn) rất khó khăn về nguồn nước, đặc biệt vào các tháng mùa khô trong năm. Địa hình của 4 huyện bị chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối thưa thớt, nằm sâu so với khu dân cư sinh sống nên việc đi lại lấy nước của bà con rất khó khăn vất vả. Trong những năm qua với sự nỗ lực của các cấp, ngành của tỉnh và sự hỗ trợ từ Trung ương đến địa phương, 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh đã được đầu tư xây dựng 99 hồ treo với kinh phí hàng trăm tỷ đồng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trong những tháng mùa khô của bà con. Trong đó các hồ treo được xây dựng có dung tích lớn như: Hồ treo Sùa Cán Tỷ, xã Cán Tỷ với dung tích khoảng 8.000m3; hồ treo thôn Lao Xa xã Sủng Là với dung tích 5.680m3; hồ treo thôn Tìa Súng xã Sủng Trái 6.500m3; hồ chứa nước Ha Bua Đa, xã Thài Phìn Tủng với dung tích 10.000m3,... Các hồ được lựa chọn xây dựng tại các địa điểm thuận lợi về nguồn nước và gần khu dân cư. Bên cạnh những hiệu quả công trình hồ treo đem lại vẫn tồn tại một số vấn đề: (i) công trình xuống cấp: nứt đáy, rò rỉ thấm nước. (ii) nước trong hồ bị ô nhiễm rong rêu tảo vi sinh. (iii) mô hình quản lý khai thác vận hành sử dụng bị bỏ ngỏ. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên được đưa ra do: - Đa số công trình hồ treo chưa có các hạng mụcxử lý nước, chưa xây dựng khu lấy nước độc lập, chưa có hệ thống rãnh thoát nước thải riêng biệt. 722
  3. - Ý thức của người dân về vấn đề giữ gìn vệ sinh và sử dụng nước tại các hồ chưa cao, nhiều nơi còn để người dân tắm giặt trực tiếp làm ô nhiễm nước. - Công tác quản lý vận hành hồ treo chưa được quan tâm đúng mức. Không có cơ chế tài chính áp dụng nên công trình hoạt động kém hiệu quả, chất lượng nước không đảm bảo. Tuy nhiên, đã có một số đề tài, dự án cũng như các sản phẩm nghiên cứu khoa học công nghệ xử lý vi sinh bằng hóa chất và công nghệ sử dụng bể lọc với thời gian lọc hiệu quả tốt, công trình cấp nước ổn định, cách thức hoạt động cũng như vật liệu của các công nghệ này đơn giản, dễ vận chuyển, cách sử dụng không đòi hỏi phức tạp, trình độ cao, đặc biệt là phù hợp với khu vực nông thôn đem đến chất lượng nước sinh hoạt tốt hơn, làm cơ sở định hướng cho các công nghệ xử lý nước. Xuất phát từ các điều kiện thực tế trên, việc thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm "Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc tại 4 huyện vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang" là hết sức cần thiết nhằm nâng tỷ lệ dân số nông thôn vùng cao núi đá được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh góp phần ổn định an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung Xây dựng được mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để cải tạo và nâng cao hiệu quả hồ treo cấp nước ở vùng cao núi đá Tây Bắc. Ứng dụng các công nghệ, kỹ thuật trong công tác quản lý công trình Hồ treo, góp phần đạt hiệu quả cấp nước và đảm bảo tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nguồn nước sạch hướng tới hoàn thành mục tiêu số 17.1 của tiêu chí số 17 về môi trường của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. 2.2. Mục tiêu cụ thể - Xây dựng hoàn thiện được 04 mô hình ứng dụng công nghệ kỹ thuật xử lý nước hồ treo đạt quy chuẩn của Bộ Y tế. Tăng tỷ lệ người dân được sử dụng nước hợp vệ sinh tại 4 huyện vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang thêm 34,36%. - Đề xuất mô hình quản lý sau đầu tư cho công trình hồ treo đảm bảo cấp nước bền vững. - Xây dựng hoàn thiện bộ tài liệu hướng dẫn thiết kế cải tạo, xây dựng, vận hành, quản lý nâng cao hiệu quả khai thác hồ treo. 3. Các kết quả chính của nhiệm vụ đã đạt được 3.1. Xây dựng hoàn thiện 04 mô hình ứng dụng công nghệ kỹ thuật xử lý nước hồ treo đạt quy chuẩn của Bộ Y Tế. Trước đây, hầu hết các hồ treo được xây dựng ở 4 huyện vùng cao núi đá Hà Giang thu gom nước mưa, nước chảy từ khe đá, rãnh thu nước mặt đường chảy trực tiếp xuống 723
  4. hồ, chưa được xử lý cũng như đảm bảo chất lượng nước trong lòng hồ về lâu dài cấp cho người dân. Các công trình hồ treo cấp nước chỉ bao gồm các hạng mục cơ bản thu trữ nước mà chưa chú trọng đến công tác đảm bảo chất lượng nước sau khi trữ và cấp cho người dân. Sơ đồ quy trình mô tả như sơ đồ 1: Nước mưa Nước khe, mó nước Hệ thống dẫn Hồ treo nước về hồ Nước suối, mạch ngầm Sơ đồ 1: Thực tế sơ đồ lấy nước vào hồ treo cấp nước tại 4 huyện vùng cao núi đá HG Hầu hết các hồ treo được xây dựng ở 4 huyện vùng cao núi đá Hà Giang chủ yếu thu gom nước mưa, nước chảy từ khe đá, rãnh thu nước mặt đường chảy trực tiếp xuống hồ. Không có các công nghệ xử lý cũng như đảm bảo chất lượng nước trong lòng hồ về lâu dài để cấp cho người dân. Bên cạnh đó, về quản lý hồ treo: hầu hết các hồ đã được bàn giao cho UBND xã về hồ sơ, tuy nhiên cũng có một số UBND xã giao cho thôn gần hồ quản lý và sử dụng nhưng không có văn bản ký kết giữa xã và thôn. Ngoài ra, về hình thức lấy nước chủ yếu của bà con là sử dụng trực tiếp tại lòng hồ (tắm giặt, lấy nước về nấu ăn...), dùng bơm dẫn về nhà với các hộ dân sống gần hồ và dùng xe máy trở nước bằng can nhựa (20 lít) về sử dụng. Để giải quyết tình trạng bất cập đã nêu ở phần trên, dự án đã sử dụng sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lý như sơ đồ 2. Chloramine B Hệ thống Khu vực sử Bể thu - ngăn dụng nước Lọc sơ Bể lọc chứa cặn - điều Hồ treo sạch tại chỗ; hòa nguồn bộ nhanh sạch rãnh thoát nước chảy Inox nước thải. vào hồ Bơm Sơ đồ 2: Dây chuyền công nghệ xử lý nước hồ treo cấp nước tại 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn 724
  5. Mô hình ứng dụng công nghệ này được triển khai thực hiện xây dựng tại 4 hồ treo Sùa Cán Tỷ xã Cán Tỷ huyện Quản Bạ, hồ treo Sủng Là xã Sủng Thài huyện Yên Minh, công trình chứa nước sinh hoạt Pải Lủng xã Pải Lủng huyện Mèo Vạc, Hồ chứa nước Ha Bua Đa xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, đại diện cho các hồ treo thuộc vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang. Các hồ treo được lựa chọn đã đảm bảo các tiêu chí như địa hình, mức độ tập trung dân cư, nhu cầu cấp thiết của người dân..., đáp ứng đủ không gian diện tích thuận lợi xây dựng, lắp đặt các hạng mục công nghệ (khoảng 50 -70m2). Dự án xây dựng hoàn thành, các hạng mục công nghệ hoạt động hỗ trợ và liên kết với nhau để đảm bảo tính bền vững của mô hình. Hệ thống thu nước được bố trí tại các sườn dốc, mái hồ bằng kênh dẫn kín dẫn về khu trữ sau khi qua bộ phận lược rác - ngăn cặn rồi chảy vào hố lọc sơ bộ. Tuy nhiên, quá trình này chỉ loại bỏ lượng cặn, rác có trong nước còn vi sinh vật vẫn tồn tại và gây ra hiện tượng rêu tảo trong lòng hồ. Vậy nên, cần kết hợp để xử lý vi sinh vật trong nước một cách triệt để bằng cách sử dụng hóa chất Cloramine B trong xử lý nước hồ treo. Hóa chất được định kỳ sục khuyếch tán đều trong nước hồ trước khi bơm vào lòng hồ, khoảng 4 lần/năm vào trong mùa khô. Nước sau khi được xử lý hóa chất sẽ được bơm qua bể lọc nhanh (10m3/h). Tại bể lọc nhanh, toàn bộ lượng tạp chất còn lại được loại bỏ hoàn toàn qua lớp vật liệu lọc cát thạch anh rồi chuyển sang bồn chứa nước bằng inox 2m3 cấp cho các hộ dân. Tại đây, người dân lấy nước qua vòi từ bể chứa này, đồng thời dự án cũng bố trí xây dựng sân và rãnh thoát nước thải tránh tình trạng chảy ngược vào lòng hồ. Ngoài ra, dự án cũng đã cải tạo lại khu vực sử dụng nước độc lập (tận dụng mặt bằng bên cạnh hồ), có hàng rào bảo vệ để tránh những tác động bên ngoài làm hỏng hoặc gây ô nhiễm nước từ các hạng mục bể lọc nhanh, bể chứa nước sạch, khu vực hóa chất và bơm,... tạo ra môi trường sử dụng nước đảm bảo cho người dân sử dụng. So với hiện trạng trước đó, dây chuyền công nghệ xử lý nước tại hồ treo được bổ sung thêm hạng mục bể lọc nhanh kết cấu bê tông cốt thép, trong quá trình lọc, dưới tác động của trọng lực, nước đi từ trên bề mặt lớp vật liệu lọc đi xuống. Trong khi đi qua không gian nhỏ hẹp giữa các hạt của vật liệu lọc, các tạp chất được loại bỏ. Nước tiếp tục đường đi thông qua lớp sỏi đỡ và được thu vào hệ thống ống thu nước chảy sang thiết bị thu nước sau lọc. Lớp vật liệu lọc bao gồm cát thạch anh, sỏi đỡ. Các lớp vật liệu lọc thường xuyên được làm sạch bằng quá trình rửa ngược. Tận dụng điều kiện chênh cao của địa hình có thể cho nước tự chảy vào bể lọc (có chứa phao chống tràn), tiết kiệm điện năng. Thêm vào đó, để khắc phục một phần khó khăn cho người dân sống xa hồ treo có đủ nước sinh hoạt trong mùa thiếu nước cũng như đảm bảo mục tiêu nâng tỷ lệ người dân ở 4 huyện vùng cao Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn tăng thêm 0,6% số người hưởng lợi được sử dụng nước hợp vệ sinh từ nguồn nước mưa. Dự án thực hiện cung cấp và lắp đặt 30 thiết bị thu, trữ nước mưa (bể inox chứa nước mưa dung tích 10m3) tại chỗ để cấp nước sinh hoạt góp phần đảm bảo sự bền vững cho mô hình. 725
  6. Mặt khác, bể chứa nước mưa giúp giảm gánh nặng lấy nước cho các nhóm hộ sống xa hồ treo phải đi từ 1- 5km để lấy nước về dùng rất vất vả, mất nhiều công sức. Giải phóng sức lao động nhất là phụ nữ và trẻ em góp phần xóa đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới trẻ em trong độ tuổi đến trường được đến lớp. Việc sử dụng thiết bị inox thu, trữ nước mưa tại khu dân cư sống xa hồ treo rất phù hợp vì vật liệu nhẹ, dễ vận chuyển, lắp đặt, bền, thị trường cung ứng phong phú, hiệu quả sử dụng cao. Do đó, việc lắp đặt thiết bị thu, trữ nước mưa để cấp nước cho cộng đồng sống xa hồ treo là rất thiết thực và hiệu quả như hồ treo. Thiết bị loại Hệ thống thu Thiết bị chứa nước bỏ nước mưa mưa bằng inox nước mưa, đầu trận nước mặt dung tích 10m3 Sơ đồ 3: Dây chuyền thu, trữ nước cấp cho sinh hoạt tại khu dân cư xa hồ treo Các thiết bị được thu nước mưa có hệ thống vòi lấy nước thuận tiện cho người dân. Dùng ống nhựa dẫn nước mưa từ mái thu hứng, qua thiết bị loại bỏ nước mưa đầu trận rồi chảy vào thiết bị chứa. Thiết bị loại bỏ nước mưa đầu trận là một thiết bị tự động loại bỏ lượng nước bẩn ở đầu trận mưa giúp nước mua thu gom được có chất lượng tốt hơn. Thiết bị loại bỏ nước mưa đầu trận đã tạo ra sự tiện lợi cho các hộ dân và cải thiện chất lượng nước mưa gom được. Thiết bị này đã giúp người dân không mất thời gian canh chừng để thu được nước mưa có chất lượng tốt nhờ vào việc nước sạch tự động chảy vào bồn nên bồn chứa nước được đậy kín, tránh sự sinh sản của muỗi, côn trùng cũng như sự tái nhiễm bẩn do bụi và các tác nhân gây bệnh đi vào bồn chứa nước inox. Kết quả thu được từ mô hình ứng dụng tại các hồ treo thí được thí điểm như sau: Tại Hồ treo Sùa Cán Tỷ - Huyện Quản Bạ Nước mưa chảy vào lòng hồ qua các lỗ thu thuộc hành lang thu nước nằm dọc dưới hệ thống mái tôn. Nước trữ trong lòng hồ được xử lý bằng hóa chất và các biện pháp làm sạch. Sau đó, nước được xử lý thông qua đường ống được xử lý chất lượng thông qua bể lọc, sau đó trữ vào bể inox 2m3 được. Qua việc theo dõi quá trình hoạt động của mô hình sau khi được nghiệm thu, Trung tâm nước sinh hoạt và VSMTNT tỉnh Hà Giang đánh giá chất lượng nước được cấp cho người dân khu vực quanh hồ treo Sùa Cán Tỷ được cải thiện hơn so với hiện trạng trước đây khi hồ treo chỉ có một hố thu nước cũ dung tích khoảng 2 m3, đang xuống cấp, ô nhiễm do không có nắp đậy, người dân múc trực tiếp vào bể. Xung quanh hệ thống công trình hồ treo không còn hiện tượng ô nhiễm do chất thải chăn nuôi của khu chuồng trại. 726
  7. Vị trí Hồ treo Sùa Cán Tỷ, xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ Tại Hồ treo Sủng Là - Huyện Yên Minh Lòng hồ được xử lý bằng hóa chất và các biện pháp dọn dẹp, vớt rác do đó chất lượng nước trong hồ không còn có hiện tượng ô nhiễm hữu cơ, vi sinh, rác thải. Ngoài ra, khu vực dùng nước riêng được xây dựng mới nên người dân không còn hiện tượng dùng dụng cụ múc trực tiếp nước hay giặt giũ tại lòng hồ. Vị trí Hồ treo Sủng Là, huyện Yên Minh Tại Hồ treo Pải Lủng - huyện Mèo Vạc Sau khi mô hình được hoàn thành: Nước trong lòng hồ được đưa qua bể lọc để lọc sạch các tạp chất, ô nhiễm hữu cơ, vi sinh, nhằm đảm bảo chất lượng nước hồ khi cấp đến người dân đạt quy chuẩn về nước sinh hoạt. Nước hồ sau khi được xử lý trữ tại bể inox 2m3, nằm trong khi vực sử dụng riêng, có rào lưới thép B40, đảm bảo việc sử dụng của người dân không làm tái ô nhiễm chất lượng hồ. 727
  8. Vị trí Hồ treo Pải Lủng, huyện Mèo Vạc Tại Hồ treo Ha Bua Đa - huyện Đồng Văn Dự án tận dụng sử dụng nhà bơm cũ có sẵn, máy bơm đang hoạt động bình thường để bơm nước trong lòng hồ đã được xử lý hóa chất lên bể lọc, loại bỏ các tạp chất gây ô nhiễm, sau đó trữ về bể inox 2m3. Xây dựng thêm khu vực sử dụng nước riêng, có rãnh thoát giúp đảm bảo không làm tái ô nhiễm chất lượng nước trong hồ treo so với hiện trạng trước đây.Vị trí lắp đặt hệ thống xử lý nước sau hồ nằm trong khuôn viên UBND xã, cách hồ 35m, lấy nguồn điện chung của xã sử dụng cho hệ thống xử lý nước tại hồ chứa. Sau khi có mô hình, chất lượng nước hồ đảm bảo chất lượng theo quy chuẩn cấp nước sinh hoạt cho người dân khu vực quanh hồ, được người dân rất phấn khởi vui mừng. Vị trí tại Hồ chứa nước Ha Bua Đa, xã Thài Phìn Tủng, Huyện Đồng Văn 3.2. Đề xuất mô hình quản lý sau đầu tư cho công trình hồ treo đảm bảo cấp nước bền vững 3.2.1. Đối với mô hình quản lý hồ treo UBND xã ra quyết định thành lập tổ quản lý vận hành mô hình gồm có 02 thành viên bao gồm 01 tổ trưởng và 01 tổ viên. Tổ có trách nhiệm kiểm tra vận hành, sửa chữa và bảo dưỡng mô hình xử lý nước cấp tại hồ. Tổ trưởng tổ quản lý nước có thể là già làng, trưởng bản hoặc trưởng thôn. Tổ quản lý vận hành là một mô hình tự quản của cộng đồng, do cộng đồng bầu ra, phục vụ lợi ích cộng đồng và được UBND xã công nhận. Tổ quản lý vận hành được thành lập theo các bước như sau: 728
  9. Bước 1: Sau khi tiếp nhận, chính quyền địa phương (UBND xã) sẽ thực hiện họp dân (người hưởng lợi tại hồ treo) để lấy ý kiến thống nhất bầu ra 02 người là thành viên của Tổ quản lý vận hành mô hình. Bước 2: Trên cơ sở ý kiến thống nhất tại cuộc họp, UBND xã ra quyết định thành lập Tổ quản lý vận hành hồ treo cấp nước sinh hoạt, trong đó nêu rõ trách nhiệm, quyền hạn, lợi ích và xử lý vi phạm đối với các thành viên thuộc Tổ quản lý; Tổ quản lý vận hành có nhiệm vụ thực hiện quản lý, vận hành, báo cáo định kỳ và báo cáo kịp thời những bất thường trong quá trình quản lý vận hành mô hình xử lý nước tại hồ lên UBND xã. Tổ gồm 2 người, do chính các hộ dân dùng nước khu vực hồ treo bầu ra công khai (có sự thống nhất bằng văn bản) để tập trung trách nhiệm và giảm chi phí nhân công; Tổ trưởng của Tổ quản lý nên là người của thôn có hồ treo, do dân bầu (nhưng không nhất thiết phải là trưởng thôn để tránh làm việc theo nhiệm kỳ). Các thành viên là cá nhân có uy tín trong thôn, có kinh nghiệm trong công tác cộng đồng. Khi có thay đổi nhân sự cần có kế hoạch và thông báo, thống nhất giữa các bên quản lý và người hưởng lợi. Bước 3: Tập huấn quản lý vận hành cho các thành viên trong cán bộ phụ trách nước sạch nông thôn của xã và tổ quản lý vận hành mô hình xử lý nước tại hồ treo thông qua các lớp tập huấn do Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tổ chức. Trách nhiệm và quyền hạn của tổ Tổ chức, phân công thực hiện các công tác môi trường thuộc công trình hồ treo do Tổ quản lý (phát dọn cỏ cây, rác thải, nạo vét đất đá, giữ thông dòng chảy, tiết kiệm nước cấp; Thau rửa bể lọc, bể chứa nước thường xuyên); Kiểm tra, xử lý sự cố ống dẫn, bể lọc và những hư hỏng đột xuất; Liên kết tuyên truyền hoạt động truyền thông với cán bộ thôn bản và người dân hưởng lợi trong các hoạt động chung bảo vệ công trình hồ treo; Bảo vệ công trình, bảo vệ vệ sinh khu vực xung quanh hồ treo và bảo vệ nguồn nước khu vực hồ treo; Sửa chữa, làm sạch cột mốc, biển báo, nội quy; Ghi chép đầy đủ các khoản thu - chi tài chính thực hiện quản lý, duy tu, bảo dưỡng vận hành hồ treo cấp nước sinh hoạt. Báo cáo công khai các khoản thu chi tài chính trước UBND xã và người hưởng lợi Thành viên trong tổ quản lý, vận hành được hưởng trợ cấp tiền công theo cơ chế tài chính do UBND xã quy định. 3.2.2 Đối với các thiết bị thu trữ nước lắp đặt tại khu vực dân cư xa hồ treo Theo Điều 105 của Nghị định 151/2017/NĐ-CP việc giao tài sản được hình thành thông qua triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ sử dụng vốn nhà nước, các thiết bị thu trữ nước nước được lắp đặt tại khu dân cư sống xa hồ treo được giao quyền 729
  10. sở hữu cho UBND các xã. Trên cơ sở nhiệm vụ của thiết bị là thu trữ nước, đề xuất công tác quản lý vận hành như sau: UBND xã thực hiện tổ chức quản lý vận hành thiết bị theo mục đích sử dụng. UBND xã ra văn bản giao quản lý vận hành trực tiếp đối với từng thiết bị. Cử ra 01 người quản lý trực tiếp, là người của thôn hoặc cán bộ tại cơ sở công cộng được lắp đặt thiết bị và là người do dân bầu ra (không nhất thiết phải là trưởng thôn để trách làm việc theo nhiệm kỳ). 3.3. Hoàn thiện bộ tài liệu hướng dẫn thiết kế cải tạo, xây dựng, vận hành, quản lý nâng cao hiệu quả khai thác hồ treo. Tài liệu về “Hướng dẫn thiết kế cải tạo, xây dựng, vận hành, quản lý nâng cao hiệu quả khai thác hồ treo hiện có” đã được Vụ Nguồn Nước và Nước sạch nông thôn - Tổng cục Thủy lợi góp ý sản phẩm dự án khoa học công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới tại văn bản số 97/NN ngày 04/12/2019, với mục tiêu hướng dẫn thiết kế, cải tạo, quản lý vận hành công trình cấp nước hồ treo cấp nước sinh hoạt cho các vùng đồng bào dân tộc miền núi hoặc những địa bàn có điều kiện khó khăn về nguồn nước vào các tháng mùa khô trong năm, khu vực dân cư sống xa nguồn nước… nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ cấp nước và tính bền. Nội dung hướng dẫn cụ thể như sau: + Phần I: Giới thiệu tóm tắt + Phần II: Hướng dẫn thiết kế cải tạo Hồ treo + Phần III: Hướng dẫn quản lý vận hành cấp nước hồ treo Tài liệu này được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho mọi đối tượng, tuy nhiên, đối tượng sử dụng ở cấp độ trực tiếp và thường xuyên nhất của tài liệu này là UBND xã, Cán bộ quản lý vận hành công trình cấp nước; Đơn vị cấp nước và cộng đồng dân cư, bao gồm khách hàng là các hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ cũng như các trường học, trạm y tế và các cơ quan địa phương. Tài liệu này được xây dựng và sử dụng cho các hồ treo chứa nước cấp cho các vùng đồng bào dân tộc miền núi hoặc những nơi có điều kiện khó khăn về nguồn nước kể cả công trình được xây mới hay nâng cấp, cải tạo. Tùy theo hiện trạng xây mới hay nâng, cấp cải tạo công trình mà đơn vị (người) sử dụng tài liệu có thể lựa chọn tham khảo toàn bộ hay một phần tài liệu hướng dẫn này 4. KIẾN LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận Đến nay, mô hình đã được đưa vào sử dụng, kịp thời xử lý nước và tích trữ nước mùa mưa phục vụ nhu cầu sử dụng nước của người dân địa phương ngay trong mùa khô năm 2019, nước sau bể lọc tại 4 hồ treo đã được kiểm tra, chất lượng đảm bảo theo QCVN 02:2009/BYT. 730
  11. Mô hình ứng dụng công nghệ nâng cao hiệu quả cấp nước Hồ treo góp phần làm tăng tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch từ hồ treo 38,5% tương đương với hơn 3.550 người và với mô hình lắp đặt thiết bị thu trữ nước trong khu dân cư sống xa hồ treo cấp nước tại chỗ thêm cho hơn 1.500 người đồng thời góp phần giải phóng sức lao động cho phụ nữ và trẻ em vùng cao, tạo cảnh quan, cải thiện môi trường khu vực. Kiến nghị Để các mô hình hoạt động bền vững, cần sự hỗ trợ thường xuyên của Sở NN&PTNT tỉnh Hà Giang, UBND 4 huyện và UBND các xã trong công tác hướng dẫn cơ chế, phân cấp quản lý vận hành các mô hình, truyền thông cộng đồng hình thành tác phong quản lý vận hành có chuyên môn, phù hợp với phát triển thực tế tại địa phương, tạo thói quen sử dụng nước có ý thức trong cộng đồng. TÀI LIỆU THAM KHẢO - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: “Nghiên cứu khả năng áp dụng công nghệ lọc nước với hai lớp vật liệu lọc trong trạm xử lý cấp nước” - mã số 28-2007/KHXD. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Việt Anh - Giảng viên trường Đại học Xây Dựng. Đề tài được nghiệm thu ngày: 12/12/2007. - Tài liệu kế hoạch về quản lý chất lượng nước - “Khử trùng nước giếng - Dùng phương pháp khử trùng bằng Chlorine đơn giản” và “Sự thật về nước uống có chất Chlorine” - tỉnh bang British Columbia và Bộ Nông nghiệp & Thực phẩm của Canada pháthành.(http://www.env.gov.bc.ca/wsd/plan_protect_sustain/groundwater/wells/factsh eets/PFRA_simple_chlorification.pdf) - Nghiên cứu giải pháp công trình giữ nước, cấp nước cho sản xuất và dân sinh cho một số vùng khan hiếm ở 8 tỉnh vùng núi Bắc Bộ - Viện Quy hoạch Thủy lợi 731
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2