BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------

Ì

N G U Y Ễ N Đ N H H Ù N G

Nguyễn Đình Hùng

XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA

Q U Ả N T R

NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ

I

ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN

K N H D O A N H

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH

K H O Á

: 2 0 1 1 B

Hà Nội – Năm 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------

Nguyễn Đình Hùng

XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA

NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ

ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS Lê Thị Anh Vân

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực của

người lãnh đạo Đoàn cấp cơ sở trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại

hóa đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu riêng

của cá nhân tôi. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn là trung

thực và rõ ràng.

Nghệ An, ngày 20 tháng 3 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Hùng

2

MỤC LỤC

Trang phụ bìa ......................................................................................................................2

Lời cam đoan .......................................................................................................................3

Danh mục các chữ viết tắt ...................................................................................................4

Danh mục các bảng .............................................................................................................5

Mở đầu ................................................................................................................................6

1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................8

2. Lịch sử nghiên cứu ..........................................................................................................9

3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu......................................................................11

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.....................................................................12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ

ĐOÀN CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH .................................13

1.1. CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ ..........................................................................................13

1.1.1. Khái niệm cán bộ đoàn cơ sở ..................................................................................13

1.1.2. Vai trò của cán bộ đoàn cơ sở .................................................................................14

1.1.3. Đặc điểm của cán bộ đoàn cơ sở .............................................................................16

1.1.4. Phân loại cán bộ đoàn cơ sở ....................................................................................16

1.2. NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ ...................................17

1.2.1. Khái niệm năng lực lãnh đạo ...................................................................................17

1.2.2. Yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa – hiện đại hóa .........................................................................................18

1.2.3. Tiêu chí đo lường năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở .................................21

1.2.4. Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở ...........................22

Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA

NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH –

HĐH ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN ..............25

3

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN .............25

2.2. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH NGHỆ AN .............................................................................................................30

2.2.1. Số lượng .................................................................................................................. 30

2.2.2. Chất lượng ...............................................................................................................31

2.2.3. Cơ cấu .....................................................................................................................34

2.3. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ...............................................................................35

2.3.1. Điểm mạnh và nguyên nhân.................................................................................... 36

2.3.2. Điểm yếu và nguyên nhân .......................................................................................39

Chương 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO

CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG

NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ

AN

3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ

TRÊN ĐỊA BÀN CỦA TỈNH NGHỆ AN ..................................................................... 44

3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN

CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN

ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ...................................... 49

KẾT LUẬN ......................................................................................................................68

TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 70

PHỤ LỤC .........................................................................................................................76

4

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt: 1. Đoàn Thanh niên Cộng sản: Đoàn TNCS

2. Đội Thiếu niên tiền phong: Đội TNTP

3. Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa: CNH – HĐH

4. Đoàn viên thanh niên: ĐVTN

5. Xã hội chủ nghĩa: XHCN

6. Ban Thường vụ: BTV

7. Ban Chấp hành: BCH

5

Danh mục các bảng:

Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An

Bảng 2.2: Thống kê về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ cán

bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An

6

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy thanh niên luôn là lực lượng xung kích,

đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay, sự nghiệp

đổi mới có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào lực lượng thanh niên.

Đoàn Thanh niên cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, chỗ

dựa vững chắc của chính quyền; để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà đất nước đang

đặt ra đối với thanh niên thì đòi hỏi cần phải có đội ngũ cán bộ đoàn đủ phẩm chất và

năng lực

Khi nói về vai trò của thanh niên và đội ngũ cán bộ đoàn trong sự nghiệp đổi

mới Đảng ta đã khẳng định: "Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước

bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách

mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không phần lớn tùy thuộc

vào lực lượng thanh niên, vào sự bồi dưỡng, rèn luyện của thế hệ thanh niên" Do đó,

xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực, giữ vai trò hết sức quan trọng, vì chính đội

ngũ cán bộ đoàn là những người lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối, biến đường lối,

chính sách thành hiện thực.

Trong hệ thống tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thì đoàn cơ sở giữ vai trò

quan trọng, quyết định hiệu quả việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách

của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của các cấp bộ đoàn. Trong điều kiện

đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH thì cần phải nâng cao năng lực cán bộ đoàn cơ sở. Đội

ngũ cán bộ đoàn có năng lực là điều kiện cần thiết để đoàn kết, tập hợp và phát huy

những tiềm năng, thế mạnh của đoàn viên vào việc tham gia phát triển kinh tế - xã hội.

Vấn đề này càng trở nên quan trọng và cấp bách khi năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh

đạo, quản lý đang nói chung, trong đó có cán bộ đoàn nói riêng đang có chiều hướng

7

giảm sút như Đảng ta đã chỉ rõ: Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị,

đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng, khi

nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức

kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Những yếu kém này đang

làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiềm tin, uy tín của Đảng và Nhà nước đối với các

tầng lớp nhân dân.

Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH-HĐH vị trí của thanh niên và tổ chức đoàn ngày

càng giữ một vị trí hết sức quan trọng, do đó, củng cố, nâng cao năng lực của đội ngũ

cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết, đặc biệt là đội ngũ cán bộ đoàn

cơ sở. Tính đến tháng 5/2012, tổng số xã, phường, thị trấn của tỉnh Nghệ An là 477

đơn vị, theo đó có 477 tổ chức đoàn cấp xã, với tổng số 5.404 đồng chí uỷ viên Ban

Chấp hành được Đại hội Đoàn cấp xã bầu, trong đó có 1.741 đồng chí cán bộ đoàn.

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An đã có những chuyển

biến mạnh mẽ, không ngừng được củng cố, nâng cao về năng lực, góp phần tích cực

thực hiện thành công việc đẩy mạnh CNH-HĐH ở cơ sở. Đội ngũ cán bộ đoàn ngày

càng được trẻ hóa, có kiến thức cơ bản cần thiết về kinh tế - xã hội; các cấp ủy cũng đã

quan tâm hơn trong việc bồi dưỡng, tạo điều kiện cho tuổi trẻ cống hiến và trưởng

thành.

Thực tiễn cho thấy, cán bộ và công tác cán bộ đoàn cơ sở nhìn chung đang đứng

trước những khó khăn, hạn chế đó là khả năng đáp ứng ngày càng đa dạng nhu cầu của

thanh niên; công tác quy hoạch, đào tạo còn bất cập chưa đáp ứng được đặc thù cán bộ

đoàn luân chuyển nhanh. Cán bộ ít được đào tạo bài bản, phần lớn dựa vào kinh

nghiệm; một bộ phận năng lực công tác, phương pháp, lề lối làm việc hạn chế, thiếu

nhiệt tình say mê với phong trào, khó thuyên chuyển điều này đã góp phần không nhỏ

làm giảm suy giảm năng lực của tổ chức đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn. Từ thực trạng

đó, trrước yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH, với trách nhiệm của

8

người cán bộ đoàn, tôi chọn đề tài: “Xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo của

người cán bộ đoàn cấp cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa

đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp lớp cao

cấp lý luận chính trị của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu:

Về chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở nói

riêng thì đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập từ những góc độ khác nhau; các

nghiên cứu này được trình bày dưới nhiều hình thức như sách tham khảo, luận văn,

luận án, các bài viết đăng báo, tạp chí… Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có thể kể

đến một số công trình tiêu biểu sau:

- Luận án tiến sỹ "Đổi mới đội ngũ cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí

Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay"; của nghiên cứu sinh Lê Văn Cầu, thực hiện

tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1999.

- Luận văn thạc sỹ: "Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo

dục truyền thống cho đoàn viên các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An" của tác

giả Vương Quang Minh; bảo vệ tại Trường Đại học Vinh năm 2001.

- Bài "Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm trong thực hiện Nghị

quyết Trung ương 4 về công tác thanh niên ở Nghệ An", của tác giả Vương Quang

Minh, đăng trên Tạp chí Thanh niên, số 12-2005.

- Sách chuyên khảo "Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị", của

tác giả Nguyễn Thọ Ánh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội năm 2006.

- Sách tham khảo "Đổi mới phương thức hoạt động và lề lối làm việc của Đoàn

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong tiến trình cải cách hành chính ở Việt Nam" của

tác giả Đoàn Văn Thái; Nxb. Thanh niên, Hà Nội năm 2008.

9

- Sách tham khảo "Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng chính trị cách mạng

đối với cán bộ, công chức đảng viên, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí

Minh trong thời kỳ đổi mới", do Minh Tiến, Thanh Hà sưu tầm và tuyển chọn; Nxb.

Lao động Xã hội, năm 2006.

- Sách: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với việc tham gia phát triển tài năng trẻ

trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của tác giả Nguyễn Văn

Thanh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, năm 2004.

- Sách: Giới thiệu một số kết quả nghiên cứu về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham

gia phát triển tài năng trẻ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, của nhóm tác

giả An Đình Doanh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Công Tiệp, Nxb. Thanh niên, Hà Nội,

năm 2009.

- Sách: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương

Đoàn, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2008.

- Sách: Tâm lí học quản lí dành cho người lãnh đạo, của các tác giả Nguyễn Bá

Dương (chủ biên), Lê Văn Thái, Nguyễn Văn Nhận, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

năm 2002.

- Bài: Uy tín người lãnh đạo, quản lí và việc nâng cao phẩm chất đạo đức cách

mạng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, của tác giả Lãnh Thị Bích Hoà,

đăng trên số 1, tạp chí Tâm lí học, tr.37-40, Hà Nội, năm 2006.

- Sách: Một số vấn đề về công tác thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước, của tác giả Văn Tùng, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2001.

Nghiên cứu về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở là

vấn đề phức tạp còn tương đối mới mẻ. Những công trình nghiên cứu về vấn đề này mà

10

tác giả tiếp cận được đã trình bày được những vấn đề mang tính chất lý luận chung; mà

chưa đề cập sâu đến những vấn đề mang tính thực tiễn đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở, đặc

biệt ở một địa bàn như tỉnh Nghệ An.

3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.

3.1. Mục đích nghiên cứu.

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH qua thực

tiễn ở tỉnh Nghệ An.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về vai trò của cán bộ đoàn; các quan niệm

về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở; tiêu chí đánh giá, những nhân tố tác động

và ảnh hưởng đến năng lực cán bộ đoàn cơ sở.

- Phân tích thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ

An trong thời gian qua, qua đó rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh

nghiệm.

- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng

lực đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-

HĐH.

3.3. Phạm vi nghiên cứu.

Luận văn nghiên cứu đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là các uỷ viên

Ban Thường vụ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An từ năm 2007 đến nay.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

4.1. Cơ sở lý luận.

11

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng

phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận và phương pháp

luận nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn cũng tiếp cận những lý thuyết, kinh nghiệm, kế

thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu, số liệu điều tra, tổng kết thực tiễn của các

cá nhân, tổ chức để nghiên cứu vấn đề.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp

nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp tổng hợp; phương

pháp khảo cứu tài liệu; phương pháp chuyên gia; phương pháp xã hội học…

5. Kết cấu của Luận văn.

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được

kết gồm 3 chương với 6 tiết.

12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ

TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH - HĐH

1.1. CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ

1.1.1. Khái niệm cán bộ đoàn cơ sở

Cán bộ là vấn đề rất quan trọng, trong tình hình hiện nay vấn đề đó càng trở nên

cấp bách và có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp đổi mới và sự sống còn của một chế

độ. Bởi vì, cán bộ là lực lượng nòng cốt trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước và

các đoàn thể quần chúng, đồng thời là người lãnh đạo quản lý điều hành toàn bộ guồng

máy trong hệ thống chính trị. Mỗi giai đoạn cách mạng đều có nhiệm vụ, yêu cầu khác

nhau. Do vậy, đội ngũ cán bộ phải luôn được củng cố, đào tạo, nâng lên ngang tầm và

thích ứng với yêu cầu từng giai đoạn cách mạng. Nếu chất lượng cán bộ không chuyển

kịp với tình hình và nhiệm vụ mới thì không những cán bộ không quyết định thắng lợi

đường lối mà còn mắc sai lầm. Trong chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ, Đảng Cộng

sản Việt Nam đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách

mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt

trong công tác xây dựng Đảng”.

Cán bộ đoàn là cán bộ hoạt động chính trị - xã hội được Đảng giao nhịêm vụ

làm công tác vận động thanh thiếu nhi, trực tiếp thực hiện công tác vận động tuyên

truyền giáo dục thanh thiếu nhi theo đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và Điều

lệ Đoàn. Đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp gồm: Cán bộ đoàn chủ

chốt, cán bộ đoàn chuyên trách, cán bộ đoàn bán chuyên trách, cán bộ đoàn không

chuyên trách, cán bộ đoàn kiêm nhiệm. Trong đó, đội ngũ cán bộ đoàn chủ chốt là

những cán bộ đứng đầu, quan trọng nhất, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động

của tổ chức đoàn thanh niên ở từng cấp, từ cơ sở đến Trung ương như bí thư đoàn xã,

13

bí thư huyện đoàn, bí thư tỉnh đoàn.

Trong hệ thống phân cấp hành chính Việt Nam, cấp cơ sở là cấp thấp nhất,

thường được gọi chung là cấp xã, bao gồm cả xã - phường - thị trấn. Đây là nơi diễn ra

mọi hoạt động và cuộc sống của người dân. Cán bộ cấp cơ sở nói chung và cán bộ đoàn

cơ sở nói riêng là những người hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, có điều kiện

gần gũi, hiểu biết về người dân; năm bắt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, phát hiện

kịp thời những vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, chính họ cũng

là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật

của Nhà nước và các chủ trương của Đoàn vào cuộc sống.

Cán bộ đoàn cấp cơ sở là những người tham gia Ban Thường vụ đoàn cấp xã,

phường, thị trấn. Họ là những người xung kích đi đầu trong các hoạt động của Đoàn ở

địa phương; là cánh tay nối dài của Đảng, Nhà nước, Mặt trận ở cơ sở đến thanh niên,

đoàn viên. Cán bộ đoàn cấp cơ sở là những người được bầu lên bởi đại hội đoàn.

Trong đời sống hằng ngày họ là những người gương mẫu, được sự tín nhiệm

của đoàn viên, sự tin tưởng của Đảng, chính quyền, Mặt trận; là lực lượng đi đầu, làm

gương cho các thế hệ thiếu niên, nhi đồng, trong xây dựng nếp sống văn hóa, giáo dục

truyền thống đạo đức, giữ gìn thuần phong mỹ tục, phong chống tệ nạn xã hội, mê tín,

dị đoan…

Ngoài ra, cán bộ đoàn cấp cơ sở còn là đội ngũ cán bộ dự bị cho Đảng, chính

quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.

1.1.2. Vai trò của cán bộ đoàn cơ sở

Từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng

Cộng sản Việt Nam về vai trò cán bộ, công tác cán bộ trong sự nghiệp cách mạng nói

chung đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có vai trò rất quan trọng, thể hiện trên các mặt sau:

14

Một là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải đảm nhận nhiệm vụ của người cán bộ

đoàn chuyên trách.

Cán bộ đoàn cấp cơ sở là cấp thứ tư trong hệ thống tổ chức của Đoàn thanh

niên; ở cấp này không được thành lập cơ quan chuyên trách để giúp việc cho Ban

Thường vụ, Ban Chấp hành đoàn cơ sở. Cán bộ đoàn cấp cơ sở là người cụ thể hoá các

chủ trương chính sách của cấp trên, tham mưu cho cấp uỷ lãnh đạo công tác thanh niên,

đồng thời là người trực tiếp đưa chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của các cấp

bộ Đoàn đến với chi đoàn - là tổ chức tế bào của Đoàn, để tổ chức tuyên truyền và vận

động đoàn viên thanh niên thực hiện, đồng thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đoàn

viên thanh niên phản ánh với tổ chức Đoàn, với cấp uỷ Đảng.

Ngoài ra, cán bộ đoàn cấp cơ sở còn là cánh tay nối dài, lực lượng quan trong

phối hợp với chính quyền cơ sở trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa bàn cơ

sở; đi đầu trong các hoạt động xã hội. Mặt khác, xét trên góc độ cán bộ thì họ còn là

lực lượng kế cận cho các chức danh trong hệ thống chính trị cơ sở.

Hai là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng trực tiếp tổ chức, giáo dục, rèn

luyện đoàn viên, thanh thiếu nhi ở cơ sở.

Vị trí, vai trò này của cán bộ đoàn cơ sở xuất phát bởi chính vai trò của tổ chức

đoàn cơ sở. Đoàn cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hệ thống đoàn thanh

niên, bởi vì đây là một trong những nhân tố quan trọng hình thành nên nền tảng của tổ

chức đoàn, là nơi trực tiếp tổ chức giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng và phát huy vai trò

xung kích cách mạng của đoàn viên thanh niên, là cầu nối giữa tổ chức đoàn với thanh

niên. Mọi chủ trương của đoàn cơ bản đều được tổ chức triển khai ở cơ sở, chất lượng

của tổ chức cũng như chủ trương của các cấp bộ đoàn phần lớn được kiểm nghiệm và

phản ánh qua hiệu quả hoạt động của tổ chức đoàn cơ sở. Ngoài ra, đoàn xã còn là hạt

nhân lãnh đạo và là thành viên tập thể của Hội Liên hiệp thanh niên cơ sở, Đoàn định

15

hướng về chính trị, tư tưởng cho hoạt động của Hội. Đối với Đội thiếu niên tiền phong

Hồ Chí Minh, Đoàn quyết định phương hướng, nhiệm vụ công tác Đội và phong trào

thiếu nhi. Đoàn là lực lượng chủ yếu, nòng cốt trong việc đẩy mạnh công tác xã hội

hoá sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng.

Ba là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng nòng cốt tổ chức các phong trào

hành động cách mạng trong thanh niên, là lực lượng quan trọng trong quá trình đẩy

nhanh CNH-HĐH hiện nay.

Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là phải tổ chức

phong trào thanh niên ở cơ sở nhằm tham gia tích cực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

kinh tế, cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đáp ứng

nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn và bên ngoài; tham gia giải quyết vấn đề ruộng đất đối

với nông dân, tiêu thụ sản phẩm, phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu,

công tác khuyến nông, đầu tư khoa học kỹ thuật mới trong nông nghiệp, tiểu thủ công

nghiệp; vấn đề vay vốn phát triển ngành nghề, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc

làm; phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, thực hiện dân chủ hoá, hợp tác hoá nông

nghiệp, nông thôn,...

Bốn là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng quyết định năng lực tổ chức

đoàn cơ sở.

Một đoàn cơ sở thực sự vững mạnh chỉ khi tập hợp, đoàn kết được đoàn viên,

thanh niên vào tổ chức để tham gia tích cực các phong trào của đoàn phát động, hay

nói cách khác, tổ chức đoàn đó phải thực sự có năng lực. Muốn thực hiện được nội

dung này đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đủ năng lực, phẩm chất, trí tuệ đưa

đoàn viên, thanh niên vào các hoạt động, cũng chính thông qua các hoạt động đó đoàn

viên thanh niên lại là người trở lại để xây dựng củng cố tổ chức đoàn cơ sở.

Với vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở như vậy, để đáp

16

ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, thì vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ

cán bộ đoàn cơ sở là nhiệm vụ cấp bách của các cấp bộ đoàn ở tỉnh Nghệ An, nhằm

đáp ứng nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài cho sự nghiệp cách mạng của Đảng.

1.1.3. Đặc điểm của cán bộ đoàn cơ sở

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh

tế - xã hội; địa lý tự nhiên và đặc điểm truyền thống cách mạng, lịch sử, văn hoá của

quê hương.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đa dạng về đối tượng, gắn liền với địa bàn

dân cư, nên thành phần cũng phong phú, có dân tộc ít người, có tôn giáo, đang đi học,

buôn bán nhỏ, lao động sản xuất, nhưng đại đa số đều xuất thân từ nông thôn.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở không ổn định, thường xuyên có sự thuyên

chuyển vào các dịp đại hội đoàn và đây cũng là nguồn cán bộ cho Đảng, chính quyền

và các đoàn thể nên nhiều khi được điều động đột xuất đi nhận nhiệm vụ mới.

1.1.4. Phân loại cán bộ đoàn cơ sở

Cán bộ đoàn cấp cơ sở được hình thành thông qua bầu cử theo quy định của

Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Theo quy định của Điều lệ Đoàn, số lượng uỷ viên

ban chấp hành đoàn cấp xã từ 5 - 15 đồng chí. Để điều hành hoạt động giữa hai kỳ hội

nghị ban chấp hành, ban chấp hành đoàn xã bầu ra các đồng chí uỷ viên ban thường vụ

trong số các uỷ viên ban chấp hành.

1.2. NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ

1.2.1. Khái niệm năng lực lãnh đạo:

Theo cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực được chia

làm hai vế: Năng là lối làm việc, lực là sức mạnh. Năng lực được hiểu là sức mạnh có

thể làm nổi việc.

17

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục ấn hành thì năng lực

được hiểu là “Khả năng làm việc tốt”

Theo đại từ điển Tiếng Việt của NXB Văn hóa thông tin: Hiểu theo hai nghĩa:

1. Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì. Ví dụ: năng

lực tư duy của con người.

2. Năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc. Ví dụ: Có năng lực

chuyên môn, năng lực tổ chức.

Tóm lại: Năng lực là khả năng của con người để thực hiện tốt công việc hay làm

việc có hiệu quả cao.

Theo nhà Tâm lý học người Nga Cơvaliốp: Năng lực là một tập hợp hoặc tổng

hợp những thuộc tính cá nhân con người đáp ứng những nhu cầu của hoạt động và bảo

đảm cho hoạt động có kết quả cao.

Như vậy, nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả hoạt động nào

đó. Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẽ mà là một tổ hợp các

thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Các thuộc thuộc tính ấy có quan

hệ tác động lẫn nhau, thống nhất với nhau trong một chỉnh thể.

Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng lực tiềm ẩn, những năng lực đó được

bộc lộ ra hay không tùy thuộc vào những điều kiện chủ quan hay khách quan. Đối với

những người có tài năng đặc biệt và thiên tài, năng lực của họ được phát triển và bộc lộ

mạnh mẽ khiến họ đạt đến đỉnh cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Năng lực vừa mang tính bẩm sinh có sẳn vừa là kết quả của quá trình học tập,

rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người. Theo Hồ Chí Minh Năng lực con người

không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập

mà có. Vì thế, năng lực không chỉ là tư chất bẩm sinh thuần tuý vốn có của con người,

18

mà là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu

dưỡng, học tập thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

Người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói riêng dù ở cấp

nào cũng phải có năng lực nhất định.Trong đó, năng lực tư duy lý luận và năng lực tổ

chức thực tiễn là hai nhân tố quan trọng nhất. Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với

nhau, không tách rời nhau, cái này hỗ trợ cái kia phát triển. Không có năng lực tư duy

lý luận thì không có khả năng khái quát, sáng tạo và vận dụng đúng đắn linh hoạt các

qui luật khách quan. Ngược lại không có năng lực thực tiễn thì sa vào bệnh giáo điều,

chủ quan duy ý chí, quan liêu, mệnh lệnh xa rời thực tiễn, thoát ly cuộc sống đầy sôi

động đang cuộn chảy.

Cấp cơ sở là cấp trực tiếp, cấp cuối cùng triển khai, tổ chức, vận động nhân dân

thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đòi hỏi đội

ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị phải có năng lực toàn diện, nhất định

trên nhiều lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Ngoài ra cán bộ lãnh

đạo chủ chốt cơ sở còn phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán và khả năng làm việc

với con người.

Từ những phân tích như trên có thể hiểu, năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ

sở là tổng hợp khả năng lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động của hệ thống chính trị

cơ sở với chất lượng và hiệu quả cao.

1.2.2. Yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa:

Năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở gắn chặt với kết quả hoạt động của cả

một tổ chức đoàn cấp cơ sở. Năng lực của tổ chức cấp cơ sở nói chung và tỉnh Nghệ

An nói riêng gắn trực tiếp với năng lực cá nhân của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở.

Trên thực tế khó có thể thừa nhận tổ chức đoàn cơ sở có hiệu quả trong hoạt động của

19

mình khi đội ngũ cán bộ đoàn không có năng lực hoặc năng lực thấp và ngược lại, cũng

không thể chấp nhận được một hiện trạng đội ngũ cán bộ đoàn có uy tín thực sự khi tổ

chức Đoàn không có năng lực.

Năng lực được người cán bộ đoàn cơ sở hình thành trong quá trình hoạt động,

giao tiếp và chịu sự chi phối của các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Trên cơ

sở xác định các mục tiêu hoạt động cũng như những nhu cầu đẩy mạnh CNH-HĐH đất

nước, người cán bộ đoàn cơ sở tiến hành giải quyết được một cách có hiệu quả các vấn

đề thuộc về thẩm quyền của mình thì năng lực của họ được xác lập. Để người cán bộ

đoàn tạo lập năng lực trước hết cần phải có quyền lực, có những ưu thế do chức vụ

được giao, được bổ nhiệm hay bầu cử hợp pháp mang lại. Người cán bộ đoàn phải có

vị thế, chức danh, chức vụ, quyền hạn nhất định. Đây là yêu cầu cần thiết để tạo nên

năng lực, nó khẳng định uy quyền của người cán bộ đoàn cơ sở cũng như vai trò của họ

trước tập thể. Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, chức vụ bao giờ cũng gắn

với quyền hạn, trách nhiệm; quyền lợi gắn với nghĩa vụ. Những yếu tố này thể hiện

mối quan hệ giữa các điều kiện khách quan và chủ quan tạo nên năng lực người cán bộ

đoàn cơ sở.

Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như: cơ chế quản lý xã hội, sự tác

động công tác tổ chức các bộ, môi trường xã hội, nhóm và tập thể, các chuẩn mực xã

hội, các hoạt động giao tiếp của người cán bộ đoàn cơ sở. Nét đặc trưng của người cán

bộ đoàn cơ sở đó là sự hiểu biết và sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của thanh niên và xã

hội. Các yếu tố về trình độ nhận thức, tâm trạng, thái độ lòng tin của tập thể, của xã hội

đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc xây dựng năng lực của người cán bộ

đoàn cơ sở. Bên cạnh đó còn có các yếu tố khác như: thể chế chính trị xã hội, pháp

luật, bộ máy nhà nước... Trong đó bộ máy tổ chức đoàn có vai trò to lớn, tác động trực

tiếp đến sự hình thành năng lực người cán bộ đoàn cơ sở.

Ngoài các điều kiện khách quan nêu trên, một yếu tố không kém phần quan

20

trọng góp phần hình thành, củng cố và nâng cao năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở

đó là đặc điểm về tuổi tác, thâm niên công tác, trình độ học vấn, nhận thức và niềm tin

của thanh niên.

Bên cạnh đó, yếu tố nhân cách của người cán bộ đoàn cơ sở cũng giữ một vị trí

hết sức quan trọng. Trong tổ chức đoàn, người cán bộ đoàn phải là thủ lĩnh, là tấm

gương sáng cho đoàn viên thanh niên noi theo. Yếu tố này yêu cầu rất cao ở bản thân

cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở nói riêng. Người cán bộ đoàn cơ sở

phải có nhân cách đầy đủ, tích cực, mẫu mực và hoàn thiện. Nhân cách của họ phải có

những đặc trưng phù hợp với yêu cầu của hoạt động đoàn. Cụ thể, họ phải có năng lực

tổ chức thực tế và năng lực triển khai các Nghị quyết vào cuôc sống, phải được đặt ra

như là một yêu cầu bắt buộc, bởi kết quả hoạt động phụ thuộc vào năng lực tổ chức của

cán bộ đoàn. Năng lực này, biểu hiện rất phong phú trong hoạt động thực tiễn như khả

năng quyết đoán và sáng tạo, phân tích nhanh chóng, chính xác tình hình xảy ra để

quyết định kịp thời. Người cán bộ đoàn nếu không có óc quyết đoán và sáng tạo thì

sớm muộn cũng đưa tổ chức mình đi đến tan rã, Ngược lại khi có óc quyết đoán chính

xác, nhạy bén sẽ làm công việc có hiệu quả và năng lực của mình tăng lên gấp bội.

Khả năng chuyên môn là yếu tố cơ bản tạo nên năng lực của cán bộ đoàn Khả năng

chuyên môn của người cán bộ đoàn thể hiện qua các hoạt động thực tiễn, nó phải vượt trội

so với khả năng của các thành viên trong tập thể và những người cộng sự. Khả năng

chuyên môn này được hiểu và tổng hợp cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Người cán bộ đoàn

phải có tầm nhìn, có kiến thức chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn. Trình độ

chuyên môn của người cán bộ đoàn sẽ có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với cán bộ đoàn

viên, thanh niên.

Phong cách sống và làm việc của cán bộ đoàn cơ sở cũng là yếu tố quan trọng

hình thành nên năng lực. Phong cách sống và làm việc có liên quan trực tiếp đến năng

lực của người cán bộ đoàn cơ sở, đây là hệ thống các phương pháp được cán bộ đoàn

21

sử dụng để tác động những người dưới quyền, lựa chọn phương pháp làm việc khoa

học và quản lý đúng là rất quan trọng đối với cán bộ đoàn nó ảnh hưởng ngay đến năng

lực của họ.

Người cán bộ đoàn có năng lực thì phải có được sự tín nhiệm và phục tùng,

thậm chí đến mức tự nguyện của tập thể, của cấp dưới và các cộng sự; có được sự đánh

giá cao của cấp trên, sự khâm phục của bạn bè, đồng nghiệp, đây là những yếu tố giúp

họ có được phạm vi ảnh hưởng rộng rãi.

Như vậy, năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là sự kết hợp giữa các điều

kiện khách quan và chủ quan của người cán bộ đoàn, trong đó cần phải nhấn mạnh

những yếu tố hợp thành quan trọng nhất là có đủ quyền và thực hiện quyền được giao

phó, có nhân cách mẫu mực, hoàn thiện để được thừa nhận và tín nhiệm, có phẩm chất,

năng lực đáp ứng yêu cầu được giao. Trong những yếu tố này, cán bộ đoàn phải đặc

biệt chú ý tự bồi dưỡng và rèn luyện phẩm chất, năng lực sao cho tương xứng với chức

vụ và thực hiện được quyền hạn, trách nhiệm được giao phó.

1.2.3. Tiêu chí đo lường năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở:

Năng lực thực chất của người cán bộ đoàn cơ sở được biểu hiện ở năng lực thực

sự của họ trong việc tiếp nhận thông tin mới, cung cấp và xử lý thông tin. Những thông

tin có liên quan đến hoạt động của tổ chức đoàn phải được cung cấp đầy đủ, xử lý đề ra

được những quyết định đúng đắn, kịp thời, có chất lượng. Thái độ và hiệu quả tiếp

nhận, xử lý thông tin là dấu hiệu đáng tin cậy để xác định người cán bộ đoàn có năng

lực thực chất hay không.

Sự nhận xét đúng mực, chân thành và thiện chí của đoàn viên trong khi tổ chức

lấy phiếu điều tra tín nhiệm hoặc trong bình bầu thi đua khen thưởng cũng thể hiện

năng lực thực chất của người cán bộ đoàn cơ sở. Phương pháp thăm dò, điều tra qua

phiếu tín nhiệm cán bộ đoàn hiện nay đang được sử dụng rộng rãi, đây là việc cần thiết

22

để xác định đúng năng lực thực chất. Tuy nhiên không được dùng phương pháp này để

hạ thấp năng lực của người khác nhằm nâng cao uy tín của mình. Năng lực thực chất

của người cán bộ đoàn cơ sở được thể hiện ở sự đánh giá cao của cấp trên, sự khâm

phục và ủng hộ của bạn bè, đồng nghiệp, sự tín nhiệm của thanh niên.

Ngoài những biểu hiện như đã đề cập trên, năng lực thực chất của cán bộ đoàn

còn biểu hiện ở việc họ vẫn có năng lực khi chuyển công tác khác hoặc không còn giữ

chức vụ trong hệ thống cơ quan đoàn. Hình ảnh của họ vẫn sống trong lòng mọi người

với sự cảm phục, tin yêu và trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ kế tục, cho các

đoàn viên thanh niên noi theo.

Trong hoạt động của người cán bộ đoàn cơ sở, bên cạnh những biểu hiện của

năng lực thực chất, chúng ta cũng thấy có những biểu hiện của năng lực không thực

chất, đó là năng lực giả tạo được xây dựng bằng nhiều thủ đoạn. Biểu hiện của năng

lực giả tạo đó là thích phô trương thành tích quá khứ, tự coi mình công thần; có biểu

hiện chủ quan, phiến diện, ít chịu khó học tập, không chịu đổi mới, xem thường quần

chúng, xem thường cán bộ trẻ.

Bên cạnh đó, một loại biểu hiện năng lực không thực chất khá phổ biến hiện nay

cần chú ý tránh là chủ nghĩa hình thức. Những người này tạo năng lực không bằng thực

chất, mà chỉ bằng sự phô trương hình thức bề ngoài, thường phóng đại thành tích, che

dấu khuyết điểm. Cũng có những người cán bộ đoàn thường hay để ý, soi mói, chấp

vặt, nhỏ nhen, thù vặt, khuyếch đại những việc nhỏ để đe dọa cấp dưới mà không chú ý

đến những vấn đề lớn, chiến lược quan trọng. Cũng có những người tạo năng lực bằng

cách mua chuộc cấp dưới, bao che cho nhau, bảo vệ lẫn nhau trong việc làm sai trái để

vun vén cá nhân, lợi dung danh nghĩa tập thể, đối với cấp trên thì xun xoe, nịnh hót.

Năng lực không thực chất dù biểu hiện dưới hình thức nào cũng đều có hại cho

công việc và bản thân người cán bộ đoàn. Do đó, người cán bộ đoàn cần tỉnh táo để có

23

yếu tố cần thiết ban đầu của quá trình gây dựng củng cố và nâng cao năng lực tránh

năng lực giả hoặc thiếu năng lực.

1.2.4. Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở:

- Thứ nhất, về tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở.

Tiêu chuẩn là điều quy định làm căn cứ để đánh giá, phân loại và xác định năng

lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở là những quy định

đối với cán bộ về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hoá, chuyên

môn, ngoại ngữ, năng lực trí tuệ; khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng; lề lối làm

việc, tác phong công tác và sức khoẻ. Các yếu tố đó quan hệ mật thiết với nhau tạo nên

phẩm chất, năng lực người cán bộ đoàn cơ sở, mối yếu tố đều có vai trò riêng, song

chúng gắn bó chặt chẽ, là tiền đề của nhau, hợp lực tạo ra năng lực công tác, hoàn

thành các chức trách nhiệm vụ trên thực tế.

Việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung và cán bộ

đoàn cơ sở nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với nâng cao năng lực đội ngũ cán

bộ đoàn cơ sở. Bởi lẽ, tiêu chuẩn cán bộ là cơ sở và tiền đề để làm căn cứ xem xét,

đánh giá, lựa chọn, bố trí, sắp xếp, giới thiệu ứng cử; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,

sắp xếp cán bộ và đồng thời giải quyết chế độ chính sách cán bộ đoàn. Tiêu chuẩn cũng

là cơ sở để từng cán bộ đoàn phấn đấu, tự rèn luyện để hoàn thiện mình.

- Thứ hai, cơ chế đánh giá cán bộ đoàn cơ sở.

Đánh giá cán bộ là khâu đầu rất quan trọng và khó, rất nhạy cảm trong công tác

cán bộ, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.

Nếu đánh giá đúng sẽ xác định chính xác năng lực của cán bộ, đây là căn cứ cho việc

bố trí đúng cán bộ và cán bộ sẽ phát huy được ưu điểm và thế mạnh của mình còn

ngược lại nếu đánh giá sai sẽ bố trí sai, gây mất đoàn kết, bản thân cán bộ ngộ nhận

dẫn đến chủ quan, tự cao tự đại, gây mất năng lực của bản thân cán bộ và tổ chức.

24

- Thứ ba, quy hoạch, tuyển chọn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.

Quy hoạch, tuyển chọn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến

năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Thông qua quy hoạch, tuyển chọn, đòi hỏi đội ngũ

cán bộ phải thường xuyên không ngừng nâng cao năng lực. Trên cơ sở đánh giá đúng

cán bộ sẽ xây dựng được quy hoạch cán bộ đúng, chọn được những người có năng lực

để bổ nhiệm, đề bạt.

Quy hoạch cán bộ là nội dung trọng yếu trong nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ đoàn cơ sở, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có kế hoạch, đáp

ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Trong đặc thù công tác đoàn cơ sở thường xuyên

có sự biến động, thì quy hoạch cán bộ đoàn càng trở nên có ý nghĩa, đặc biệt là quy

hoạch cán bộ đoàn chủ chốt, đây cũng là khâu quan trọng để loại bỏ những cán bộ

thiếu năng lực.

- Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở.

Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở là việc làm thường xuyên để nâng

cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn, bởi lẽ cán bộ đoàn phần lớn là trẻ tuổi, nhiều đồng

chí trưởng thành trong thực tiễn hoạt động phong trào, mới chỉ có năng khiếu, nhiệt

tình mà chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức có hệ thống đáp ứng tiêu chuẩn. Do

vậy, cần phải tập trung vào việc nâng cao trình độ về lý luận chính trị, nghiệp vụ công

tác thanh vận và công tác chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, các tiến bộ khoa học kỹ

thuật... Đây là yếu tố quan trọng để hình thành nên năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn

cơ sở.

- Thứ năm, quản lý, bố trí, sử dụng cán bộ đoàn cơ sở.

Quản lý cán bộ: là hoạt động chủ động, thường xuyên có mục đích của cơ quan

quản lý cán bộ, cấp có thẩm quyền quyết định tác động có định hướng vào đội ngũ cán

bộ và từng cán bộ nhằm bồi dưỡng, rèn luyện, phát huy khả năng, năng lực của đội ngũ

25

và từng cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Do vậy, việc quản lý tốt cán

bộ đoàn cơ sở là để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn, chấn chỉnh kịp thời khi cán

bộ có các biểu hiện sai lệch đồng thời đảm bảo đánh giá đúng cán bộ làm căn cứ bố trí

sử dụng cán bộ.

Nội dung quản lý cán bộ đoàn cơ sở gồm tuyển chọn, bố trí, phân công nhiệm

vụ, tổ chức thực hiện việc quản lý; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nhận xét,

đánh giá cán bộ; khen thưởng, kỷ luật cán bộ; thực hiện chế độ, chính sách cán bộ; giải

quyết khiếu nại tố cáo về cán bộ. Quản lý cán bộ đoàn cấp cơ sở thông qua các biện

pháp như quản lý hồ sơ (để nắm được lý lịch, quá trình công tác, năng lực công tác,

phẩm chất, đạo đức,...); quản lý nhân sự (thông qua công tác, sinh hoạt tập thể, thông

qua việc chấp hành Điều lệ Đoàn, quy chế hoạt động, thông qua ý kiến nhận xét của

tập thể ban thường vụ đoàn cơ sở, đoàn viên thanh niên,...).

26

Chương 2

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN BỘ

ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC

HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN

Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì: Nghệ An núi

cao, sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn

cả ở Nam Châu. Người thì thuần hòa mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý, của lạ...,

được khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậc danh hiền..., thực là nơi hiểm yếu như

thành đồng, ao nóng của nước và là then khóa của các triều đại. Địa danh Nghệ An

xuất hiện từ thời nhà Lý, năm Thiên Thành thứ ba (1030) khi Lý Thái Tông đổi Hoan

Châu thành Châu Nghệ An. Năm 1101, Lý Nhân Tông nâng Châu Nghệ An thành Phủ

Nghệ An. Năm 1225, Nhà Trần đổi Phủ Nghệ An thành Trấn Nghệ An. Năm 1469,

Vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nước. Đơn vị cấp phủ, huyện gọi là Thừa tuyên.

Châu Diễn và Châu Hoan được hợp lại thành Thừa tuyên Nghệ An (bao gồm cả đất

Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay).

Đến thời Nhà Nguyễn, đơn vị là Trấn bị bãi bỏ; cả nước được chia là 29 tỉnh,

trực thuộc Triều đình. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), Nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức

Thọ và Hà Hoa, thành lập một tỉnh mới là Hà Tĩnh. Từ năm 1831 đến nay, về căn bản,

địa giới tỉnh Nghệ An không thay đổi. Song về cấp dưới tỉnh, sau Cách mạng Tháng

Tám năm 1945, các đơn vị hành chính là cấp phủ được đổi thành , còn cấp tổng (cấp

trung gian giữa huyện và xã) bị bãi bỏ.

Sau khi nước nhà được thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1991, tỉnh Nghệ An

và tỉnh Hà Tĩnh được hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Từ tháng 9-1991, Nghệ An lại

được tách ra thành một tỉnh như trước. Hiện nay, Nghệ An có Thành phố Vinh (thành

27

phố loại I), Thị xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hòa và 17 huyện: Kỳ Sơn, Con Cuông, Tương

Dương, Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Đô Lương,

Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh

Lưu.

Nghệ An là một miền đất rộng ở phía Bắc Trung Bộ, nằm trong tọa độ từ 18 033’08” đến 19059’52” vĩ độ Bắc, và từ 103052’30” đến 105048’20” kinh độ Đông.

Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển

Đông, phía Tây giáp các tỉnh Hủa phăn, Xiêng Khoảng, Pô ly khăm xay thuộc nước

Cộng hóa dân chủ Nhân dân Lào, với đường biên giới dài 419,5 km.

Diện tích tự nhiên của Nghệ An có 16.409,68 km2, đứng đầu cả nước. Nằm trong

vùng kiến tạo đặc biệt có từ tuổi địa chất già đến rất trẻ, địa hình Nghệ An rất đa dạng; núi,

đồi, trung du chiếm phần lớn đất đai toàn tỉnh. Trong lòng đất chứa nhiều khoáng sản như

vàng, thiếc, chì, kẽm, măng gan..., và nhiều khoáng sản phi kim loại như đá hoa, các loại đất sét làm gạch ngói...; đặc biệt, đá vôi có trữ lượng rất lớn (khoảng 250 triệu m3), phân

bổ nhiều nơi trong tỉnh.

Với nhiều vùng tiểu khí hậu, nhiều loại đất đai khác nhau, Nghệ An có điều kiện

phát triển nền kinh tế đa dạng. Đất đai trồng trọt phong phú, vùng đất đỏ ba dan Phủ Quỳ

rất thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê. Vùng đồi núi

thấp có nhiều khả năng phát triển các loại cây: chè, mía, quế, cây ăn quả. Vùng đất phù

sa ven sông, ven biển, tuy độ màu mỡ không cao nhưng là vùng thâm canh cây lương

thực và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, vừng... Tuy nhiên do địa hình dốc,

lượng mưa lớn nên hàng năm, khoảng một phần tư diện tích canh tác bị bào mòn, rửa

trôi khá mạnh, gây khó khăn cho việc phát triển nông nghiệp, giao thông vận tải,...

Rừng Nghệ An có hầu hết các loại thực vật, động vật của vùng nhiệt đới và á

nhiệt đới. Hệ thực vật rừng phong phú về chủng loại; trong đó, rừng lá rộng nhiệt đới là

28

phổ biến nhất. Trữ lượng gỗ rất lớn với nhiều loại gỗ quý như Powmu, lát hoa, sa mộc,

sến, lim, táu, gụ, săng lẻ, chò chỉ, dổi, vàng tâm,.. cùng các loại khác như Song mây,

tre nứa, luồng mét,...

Biển Nghệ An dài 82km với 6 cửa lạach: Lạch Cờn, Lạch Quèn, Lạch Vạn, Cửa

Lò, Cửa Hội. Biển đáy rộng, tương đối bằng phẳng. Độ mặn trung bình từ 3,4 đến

3,5%. Nhờ độ mặn như vậy mà nghề làm muối có sản lượng cao trong mùa nắng. Biển

có các loại hải sản quý như cá chim, cá thu, cá nhám, tôm, mực, cua, ốc,... Ven các cửa

lạch có nhiều bãi lầy, đầm phá, có thể khai thác làm các đầm nuôi tôm cua. Nghệ An

có khu nghỉ mát Cửa Lò hấp dẫn với những bãi tắm bằng phẳng và đẹp, ngày càng thu

hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

Con sông lớn nhất Nghệ An là sông Lam, bắt nguồn từ Thượng Lào, chảy về

theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, dài 523 km (trong địa bàn tỉnh Nghệ An có 375km).

Hệ thống sông Lam có tới 151 nhánh lớn nhỏ. Các phụ lưu chính có sông Nậm Mộ,

sông Con, Sông Giăng, sông La,... Sông Lam bồi đắp phù sa màu mỡ cho bãi ven sông,

nhưng về mùa mưa thường hung dữ, gây lũ lụt lớn, Ngoài sông tự nhiên còn có hệ

thống kênh đào nối các sông với nhau, lớn nhất là Kênh Nhà Lê. Núi Nghệ An sừng

sững ở miền tây, thấp dần về phía Đông tạo thành thế nghiêng Đông – tây, cao nhất là

đỉnh Puxailaileng với độ cao 2.711m, cao nhất dãy Trường Sơn. Dãy Puxailaileng dốc

đứng trên một giải dài 200km, tạo thành biên giới tự nhiên giữa hai nước Việt – Lào và

thấp dần về phía Nam.

Khí hậu Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Từ tháng 10 đến tháng

4 năm sau có gió mùa Đông Bắc gây mưa phùn rét buốt. Từ cuối tháng 4 đến tháng 10 có gió Tây – Nam rất nóng, làm cho nhiệt độ có thể lên tới 400C. Từ tháng 7 đến tháng

10 thường có bão, mưa lơn, gây lụt úng. Có thể nói, khí hậu Nghệ An khắc nghiệt hơn

nhiều vùng khác trong nước ta, với gió Tây – Nam, hạn hán gay gắt, giông bão, lũ lụt

trầm trọng và thường xẩy ra vào giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây trồng, nhất là

29

lúa mùa, gây ảnh hưởng tới năng suất cây trồng, vật nuôi và cả đến sinh hoạt của con

người.

Theo kết luận của giới sử học qua di chỉ Thẩm Ồm (Quỳ Châu), trên đất Nghệ

An đã có người vượn cư trú cách ngày nay khoảng 20 vạn năm. Ngoài di chỉ Thẩm Ồm

thuộc sơ kỳ đá cũ, giới khảo cổ đã phát hiện ra các di chỉ thời cuối đồ đá cũ thuộc Văn

hóa Sơn Vi; các di chỉ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Quỳnh Văn, Văn hóa Bàu Tró, Văn

hóa Tiền Đông Sơn, Văn hóa Đông Sơn. Nghệ An là một trong những trung tâm Văn

hóa Đông Sơn.

Cư dân Nghệ An ngày càng đông đúc, đến nay đã có trên 3,1 triệu người. Đông

nhất là dân tộc Kinh, phần lớn cư trú ở đồng bằng. Dân tộc Thái có số dân cao nhất

trong các dân tộc thiểu số ở Nghệ An với nhóm Tày Thanh, Tày Mường, Tày Khang,...

cư trú tại các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tương Dương, Con Cuông, Kỳ

Sơn. Dân tộc Mông phần lớn cư trú trên các triền núi cao thuộc huyện Kỳ Sơn. Dân tộc

Khơ mú sinh sống ở Kỳ Sơn, Tương Dương. Dân tộc Ơ Đu sống dọc sông Nậm Nơn

(Cửa Rào, Tương Dương). Dân tộc Thổ chủ yếu cư trú ở huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ,

Quỳ Hợp. Các sắc tộc thiểu số ở Nghệ An đã gắn bó lịa cùng nhau và đoàn kết với

người Kinh thành một cộng đồng ổn định, chung lưng đất cật xây dựng quê hương và

thực hiện nghĩa vụ đối với Tổ quốc.

Nghệ An có số lượng giáo dân Công giáo khá đông (khoảng 9% tổng số dân

trong tỉnh). Còn tín đồ Phật giáo thì không nhiều, sống phân tán ở các chùa chiền.

Đồng bào giáo – lương có truyền thống đoàn kết đấu tranh bảo vệ và xây dựng quê

hương, đất nước.

Nghệ An có kho tàng văn học dân gian rất phong phú, đa dạng. Thơ, ca dao, tục

ngữ, câu đối, câu đố rất hàm súc, giàu hình tượng. Các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh trầm

lắng, mênh mang, đậm đà chất trữ tình. Dân tộc Kinh có làn điệu hát dặm, hát ví

30

(phường vải, đò đưa,..). Ngoài ra còn có hát bội (tuồng), ca trù. Dân tộc Thái có thể

loại trường ca rất hấp dẫn (Lái Lông Mương, Lái Nộc Yêng, Trường ca Khủn Tinh...).

Dân tộc Thổ có đàn Thổ với cấu tạo âm hưởng trầm bổng, du dương tựa đàn bầu. Nghệ

An có nhiều công trình kiến trúc cổ với kỹ thuật chạm khắc rất tinh vi như Đền Cờn,

Đền Bạch Mã, Đền Chiêu Trưng, Đình Hoành Sơn, Đình Trung Cần,,...

Truyền thống hiếu học của Nghệ An đã hun đúc nên nhiều nhà khoa bảng nổi

danh như Trạng nguyên Bạch Liêu, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Thám hoa Nguyễn

Văn Giao, Thám hoa Phan Thúc Trực,..., nhà cách tân uyên bác Nguyễn Trường Tộ,

“Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương;.. Các thầy đồ Nghệ - tầng lớp trí thức bình dân

đông đảo đã từng đặt chân đến nhiều vùng đất trong cả nước để dạy chữ “thánh hiền”

và dạy đạo làm người. Ngoài ra, còn có nhiều thầy thuốc giỏi, hành nghề với phương

châm “Nam dược trị Nam nhân” và lấy y đức trị bệnh cứu người làm lẽ sống.

Nhân dân Nghệ An có truyền thống yêu nước và cách mạng oanh liệt, vẻ vang.

Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà trưng năm 40 cho đến cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (Lý Nam

Đế) năm 543, trong 5 thế kỷ đó, dân vùng đất này luôn sẵn sàng hưởng ứng. Đến thế

kỷ thứ VIII, dân Hoan Diễn (bao gồm Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) đã vùng dậy

khởi nghĩa chống ách cai trị tàn bạo của nhà Đường. Cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc

Loan lãnh đạo, ông đã cùng nghĩa quân từ Thành Vạn An và căn cứ Sa Nam (Nam

Đàn) tấn công ra Bắc, đánh chiếm phủ thành Tống Bình (Hà Nội), giải phóng cả nước

rồi tự xưng là Mai Hắc Đế (năm 722). Đây là vị Đế thứ hai sau Lý Nam Đế. Thành

Vạn An trở thành Quốc đô trong thời điểm ấy.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII, đất Nghệ An

có danh tướng Hoàng Tá Thốn, người có công chặn giặc vùng ven biển và có tài lặn lâu

dưới nước để đục thủng thuyền giặc. Năm 1285, tướng giặc Toa Đô phải bỏ vùng này để

rút quân ra Thanh Hóa, vì vấp phải cuộc chặn đánh quyết liệt của dân xứ Nghệ. Nghệ An

đã từng là “đất đứng chân” của Nhà Lê Sơ để chống giặc Minh, giải phóng đất nước (vào

31

thế kỷ XV). Đặc biệt khi người anh hùng áo vải Quang Trung dừng chân tại Nghệ An

(quê tổ của Người) để tuyển quân vào cuối năm 1788, hàng vạn trai tráng xứ Nghệ đã

sẵn sàng gia nhập nghĩa quân chỉ trong vòng mấy ngày, góp phần đáng kể vào cuộc đại

thắng giặc Thanh tại Ngọc Hồi, Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu (1789).

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Nghệ An đã thể hiện quyết tâm

“đánh cả Triều lẫn Tây”, tức là đánh cả bọn cướp nước lẫn bọn bán nước đầu hàng

giặc. Tại Thanh Chương, Nam Đàn, từ năm 1874 đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của Trần

Tấn và Đặng Như Mai. Sau khi phái chủ chiến Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi

lánh về vùng rừng núi Nghệ Tĩnh, ra Chiếu Cần Vương, tại vùng Bắc Nghệ An liền dấy

lên cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng từ Hương Khê phát triển ra, nhân dân Nghệ An

đã sôi nổi hưởng ứng trên 10 năm (1885 – 1896). Đến đầu thế kỷ XX, Nghệ An là nơi

khởi phát phong trào Đông Du với người đứng đầu là nhà chí sỹ yêu nước lừng danh

Phan Bội Châu – nhân vật tiêu biểu nhất của phong trào yêu nước Việt Nam trong thập

kỷ đầu thế kỷ XX. Đến tháng 6/1911, Nguyễn Tất Thành, người con ưu tú của quê

hương Nghệ An đã lên tàu thủy sang phương Tây tìm đường cứu nước. Trước và sau

đó, hàng trăm thanh niên xứ Nghệ lần lượt xuất dương qua Trại Cày do Đặng Thúc

Hứa thành lập tại Xiêm. Trong số ấy có những thanh niên ưu tú được cử sang Trung

Quốc và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện vào những năm 1924 - 1927. Đó là

những hạt nhân nòng cốt cho Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.

Trong tiến trình lịch sử, con người xứ Nghệ mang đầy đủ tính chất chung của

dân tộc Việt Nam; song, bản sắc riêng của địa phương cũng được hình thành ngày càng

đậm nét. Đó là do điều kiện thiên nhiên nơi đây khắc nghiệt hơn nhiều nơi khác với

bão lớn, lụt to, gió tây – Nam nóng bỏng, hạn hán dai dẳng, con người phải thường

xuyên vật lộn với thiên tai. Mặt khác, vùng đất này từng là “phên dậu”, “đất đứng

chân” của các triều đại, nơi thường xảy ra chiến sự; con người phải luôn luôn lo chống

chọi với giặc giã. Những nhân tố đó đã hun đúc nên con người xứ Nghệ với những đặc

32

tính như:

Rất cương trực, khảng khái, giàu đức hi sinh: thẳng thắn, thật thà, bộc trực, trung

thực, không nịnh bợ; ghét thói xu nịnh, lèo lái, dối trá; trọng đạo lý, sẵn sàng xả thân vì

nghĩa lớn; có khí phách, trọng danh dự, không chịu khuất phục; sẵn lòng giúp đỡ người

một cách hào hiệp, vô tư, không tính thiệt hơn.

Rất mực cần kiệm, giản dị: Tiết kiệm, căn cơ, khắc khổ trong sinh hoạt; ghét lối

sống xa hoa.

Rất hiếu học: Học để làm người, để lập thân và để kiếm sống; sự học đã trở

thành một nếp sống xã hội; nghèo đến mấy cũng học, học đến mức “khổ học”.

Giàu nghị lực, ý chí mạnh, quyết tâm cao: Dũng cảm chấp nhận những thách

thức quyết liệt, gan góc, kiên trì, nhẫn nại, bền bỉ phấn đấu để vượt lên khuôn khổ bình

thường.

Những đặc điểm về địa lý, văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội nói trên có ảnh

hưởng không nhỏ đến việc hình thành năng lực người cán bộ đoàn cơ sở trước yêu cầu

đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước hiện nay.

2.2. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH NGHỆ AN

2.2.1. Số lượng

Đoàn viên, thanh niên Nghệ An trong độ tuổi (Từ 16 - 30 tuổi) hiện có gần 1

triệu người, chiếm khoảng 27% dân số và 47% lực lượng lao động của tỉnh. Cơ cấu

thành phần thanh niên đa dạng và có nét đặc thù: thanh niên trên địa bàn dân cư chiếm

trên 70%; thanh niên học sinh, sinh viên chiếm gần 25%; thanh niên CNVC và lực

lượng vũ trang chiếm 5%; trong đó thanh niên dân tộc ít người chiếm 15 %; thanh niên

tôn giáo chiếm 9,5%; nữ thanh niên chiếm 50,3 %. Tỷ lệ tập hợp thanh niên trong tổ

33

chức đạt khoảng 67,5%.

Hiện nay, tổng số xã, phường, thị trấn của tỉnh Nghệ An là 480 đơn vị. Theo đó

có 480 tổ chức đoàn cấp xã, với tổng số 5.404 đồng chí ủy viên Ban Chấp hành được

đại hội đoàn xã bầu. Đơn vị cơ cấu nhiều ủy viên ban chấp hành nhất là 15 đồng chí,

đơn vị ít nhất là 5 đồng chí; theo Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn nếu ban chấp hành

có dưới 9 ủy viên thì có bí thư và một phó bí thư; có từ 9 ủy viên trở lên thì bầu ban

thường vụ gồm bí thư, phó bí thư và các ủy viên ban thường vụ (tổng số ủy viên

thường vụ không quá 1/3 số ủy viên ban chấp hành), trường hợp thật cần thiết thì có

thể bầu 2 phó bí thư nếu được sự đồng ý của cấp ủy đảng và đoàn cấp trên trực tiếp.

Căn cứ vào số lượng ủy viên ban chấp hành của đoàn cấp xã, nên số lượng chủ yếu ủy

viên ban thường vụ đoàn xã ở tỉnh Nghệ An là 3 đồng chí, chỉ có một số ít xã, phường

là có 4 hoặc 5 đồng chí. Tổng số ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó bí thư đoàn cấp xã

tỉnh Nghệ An hiện nay là 1741 đồng chí, như vậy cơ bản cán bộ đoàn cấp xã ở tỉnh

Nghệ An có đủ số lượng theo quy định để thực hiện nhiệm vụ.

2.2.2. Chất lượng

Trong những năm qua, đặc biệt kể từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban

Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa VIII) về công tác cán bộ Đoàn trong thời kỳ mới,

cùng với sự phát triển toàn diện của công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, công

tác cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An có nhiều chuyển biến tích cực. Đội ngũ cán

bộ đoàn thường xuyên được kiện toàn, đủ về số lượng và nâng cao một bước về chất

lượng. Nhìn chung cán bộ đoàn cơ sở có năng lực, thể hiện qua việc đội ngũ cán bộ

đoàn cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với

thanh niên; có kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, năng động

sáng tạo trong công tác; có khả năng đề xuất, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chương

trình công tác của Đoàn, nhiệt tình, tâm huyết với phong trào; số cán bộ đoàn được bổ

sung cho đội ngũ cán bộ của Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội ngày một

34

nhiều. Những nổi trội đó được thể hiện trên các mặt sau:

* Năng lực về chính trị

Có thể khẳng định cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An có bản lĩnh chính trị

vững vàng, luôn có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng,

pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết và Điều lệ Đoàn; có tinh thần đoàn kết, phối hợp

trong công tác, năng động hơn trong cơ chế thị trường, không ngại khó, ngại khổ.

Trong những năm qua, chưa có hiện tượng cán bộ đoàn cơ sở nói và làm trái cương

lĩnh chính trị của Đảng, không dao động trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các

thế lực thù địch. Đặc biệt các cán bộ đoàn ở vùng sâu, vùng xa, vùng giáo, vùng biển là

đối tượng của các phần tử xấu lôi kéo, nhưng với phẩm chất chính trị của mình, đội

ngũ cán bộ đoàn cơ sở đã luôn tích cực phấn đấu, tăng cường tuyên truyền vận động

đoàn viên, thanh thiếu nhi đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính trị, tệ nạn xã

hôi,... Một lòng tin Đảng, tin vào sự nghiệp đổi mới quê hương đất nước, vì mục tiêu

dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; vì tương lai tươi sáng của

tuổi trẻ.

* Năng lực về phẩm chất đạo đức, lối sống

Để đánh giá phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ đoàn cơ sở, qua phân tích

tổng hợp hồ sơ lưu trữ, báo cáo và số liệu thống kê hàng năm, đồng thời tiến hành lấy ý

kiến của 44 đồng chí lãnh đạo, 46 cán bộ đoàn và 75 đoàn viên thanh niên trong một số

xã, phường, thị trấn của các đơn vị: Thành phố Vinh, Nghi Lộc, Thanh Chương, Quỳnh

Lưu, Quỳ Hợp, Con Cuông. Kết quả thu được (phụ lục 2)

Thông qua số liệu phân tích và đánh giá 11 tiêu chí, mỗi tiêu chí được đánh giá

ở 4 mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu. Đa số những người được hỏi ý kiến đều nhận xét

các tiêu chí đánh giá phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ đoàn ở mức độ cao.

Kết quả thu được này cho thấy đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An có lối sống

35

lành mạnh, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản và tình yêu thương đồng chí, gần

gũi đoàn viên, thanh niên, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết hi sinh lợi ích cá nhân cho

phong trào, không chạy theo chức vụ và địa vị; tiên phong gương mẫu trong xây dựng

nếp sống văn hóa, đặc biệt là cưới hỏi, sinh nhật trong thanh niên,...

* Năng lực về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị

Nhìn chung, cán bộ đoàn cơ sở đã đảm bảo được các yêu cầu về tiêu chuẩn, có

trình độ học vấn, chính trị và chuyên môn khá cao.

Trình độ học vấn, chuyên môn, chính trị:

Cán bộ đoàn cơ sở phần lớn tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn về các

lĩnh vực như nông nghiệp, hành chính, thú y, sư phạm, kinh tế, luật.

* Năng lực và phong cách công tác:

Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An đa số có năng lực công tác tốt, hầu hết

đều kinh qua thực tiễn, trưởng thành từ phong trào quần chúng, đã từng làm công tác

đội, công tác đoàn trong trường học, xét về thời gian hoạt động công tác đoàn là khá

nhiều, nên có điều kiện tích lũy kinh nghiệm, kiến thức cần thiết; có năng lực trong

công tác tham mưu với cấp ủy, chỉ đạo, hướng dẫn các chi đoàn và đoàn viên, thanh

niên triển khai thực hiện chủ trương, kế hoạch; có kỹ năng thiết kế và tổ chức hoạt

động; có khả năng phối hợp tốt với các ngành, đoàn thể xã hội hóa công tác thanh niên;

khả năng lôi cuốn, vận động thanh niên là tốt; phong cách làm việc có kế hoạch, nhanh

nhẹn, sáng tạo phù hợp với tâm lý, nhu cầu ngày càng đa dạng của thanh niên; việc ứng

xử các tình huống phát sinh trong đời sống hàng ngày cũng như những hoạt động lớn

tập trung của thanh niên nhìn chung là tốt. Ngoài kỹ năng về công tác đoàn thông

thường, cán bộ đoàn cơ sở còn thường xuyên tự nâng cao năng lực, tham dự các lớp tập

huấn về khuyến nông, khuyến ngư, công nghệ sau thu hoạch, chuyển giao kỹ thuật mới

trong nuôi trồng thủy sản, vay vốn xóa đói giảm nghèo, giới thiệu việc làm, phòng

36

chống tệ nạn xã hội, nên về năng lực thực hành của cán bộ đoàn ngày một cao, đáp ứng

được yêu cầu trong cơ chế thị trường và các phong trào của đoàn phát động. Họ đã đáp

ứng được nhiệm vụ vừa là người tuyên truyền viên, vừa là người trực tiếp tổ chức tập

hợp, giáo dục thanh niên vào các phong trào của đoàn phát động, để triển khai các chủ

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, điển hình là

phong trào thi đua làm giàu, xây dựng quê hương, phong trào phấn đấu trở thành người

đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào thanh niên tình nguyện vì cuộc sống

cộng đồng... Đây chính là điểm mới trong năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở được

hình thành khá rõ nét trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ, từng bước đáp ứng

được yêu cầu trong tình hình hiện nay.

Năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An trong những năm qua có

chuyển biến tích cực đảm bảo yêu cầu công tác mà thực tiễn đang đặt ra. Mặt tiến bộ rõ

nhất trình độ văn hóa, chuyên môn, chính trị của cán bộ đoàn được nâng lên một bước

so với chỉ tiêu của Tỉnh đoàn đặt ra đều đạt và vượt. Số đông có đạo đức, tác phong

công tác tốt, có kỹ năng nghiệp vụ và tâm huyết với phong trào, không ngừng đưa công

tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi chuyển biến từ cơ sở, góp phần tích cực vào

phong trào chung của cả tỉnh.

2.2.3. Cơ cấu

Về cơ cấu đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở Nghệ An nhìn chung là khá hợp lý giữa

nam, nữ, dân tộc thiểu số, tôn giáo, tỷ lệ đảng viên, độ tuổi (tính đến đối tượng bí thư

đoàn cơ sở – số liệu tính đến hết năm 2012: nguồn: Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn

Nghệ An)

+ Về số lượng: 480

Trong đó: Nữ: 69 đồng chí = 14,4%

- Dân tộc thiểu số:

37

+ Dân tộc Thái: 70 đồng chí = 14,6%

+ Dân tộc Thổ: 10 đồng chí = 2,09%

+ Dân tộc H’Mông: 7 đồng chí = 1,46%

+ Dân tộc Khơ Mú: 8 đồng chí = 1,67%

+ Dân tộc Thanh: 2 đồng chí = 0,41%

- Tôn giáo: 2 đồng chí

Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ

An

T Độ tuổi

vụ 5 40

Bí thư 0 0 1 1 9 5 11 0 0 1 0 3 2 1 0 0

Phó BT 0 3 10 4 11 7 9 1 0 0 2 4 1 2 0 0

UVBT 17 17 29 11 15 36 28 30 16 3 4 1 0 0 1 0 0 V

Nguồn: Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn Nghệ An năm 2012

+ Về trình độ:

* Chuyên môn: Đại học, Cao đẳng: 257 đồng chí (53,5%); trung cấp: 210 đồng

chí (43,8%); sơ cấp: 13 đồng chí (2,7%).

* Lý luận chính trị: Cao cấp: 0 đồng chí (0%); trung cấp: 248 đồng chí

38

(51,9%); sơ cấp và chưa có trình độ: 232 đồng chí = 40,9%

Bảng 2.2: Thống kê về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ

cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An

Số lượng Trình độ chuyên môn Trình độ chính trị

TT Chức vụ Nam Nữ SC TC CĐ SC TC CN, CC ĐH

Bí thư 411 69 13 210 20 237 232 248 0

Phó BT 355 139 0 98 204 192 0 178 0

UVBTV 523 245 351 230 83 104 691 77 0

Nguồn: Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn Nghệ An năm 2012

2.3. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ

SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

2.3.1. Điểm mạnh và nguyên nhân

Sau khi có Quyết định số 631-QĐ/TU ngày 20/11/2007 của Ban Thường vụ

Tỉnh ủy Nghệ An về phân cấp quản lý cán bộ, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn đã xây dựng

và thực hiện quy trình tuyển chọn, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, phân công cán

bộ theo phân cấp quản lý cán bộ và hướng dẫn các cấp bộ đoàn thực hiện qua đó nhằm

xây dựng và nâng cao năng lựcc của người cán bộ đoàn cơ sở. Trên cơ sở phát huy vai

trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cán bộ đoàn cấp cơ sở bước đầu đã tham

39

mưu cho cấp ủy, phối hợp với chính quyền, các tổ chức đoàn thể nâng cao chất lượng

và năng lực đội ngũ cán bộ đoàn. Từng bước tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, việc đánh

giá, sử dụng cán bộ tốt hơn và dân chủ hơn trước, đã đào tạo bồi dưỡng một thế hệ cán

bộ đoàn có trình độ lý luận, đạo đức, tác phong công tác cơ bản đáp ứng được yêu cầu

nhiệm vụ. Đặc biệt đoàn cấp xã trên cơ sở hướng dẫn của đoàn cấp trên, đã cụ thể hóa

và xây dựng được tiêu chuẩn cán bộ phù hợp, lấy đó làm căn cứ đánh giá cán bộ, và

cũng thông qua tiêu chuẩn cán bộ từng bước nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ.

Có thể đánh giá những ưu điểm của việc xây dựng, củng cố và nâng cao năng

lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An trên các mặt sau:

(1). Tính tiên phong, gương mẫu và khả năng quy tụ, tập hợp thanh niên của đội

ngũ cán bộ đoàn cơ sở.

Phần lớn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có năng lực thông qua việc họ luôn nhận

thức được vai trò tiên phong, gương mẫu của mình. Thể hiện qua việc họ là những

người đi đầu trong công tác quy tụ, đoàn kết và lãnh đạo phong trào thanh niên, điển

hình là các phong trào như xây dựng nông thôn mới, phủ xanh đất trống đồi trọc, tuyên

truyền xây dựng đời sống văn hóa mới trên địa bàn dân cư của thanh niên nông thôn

hay hoạt động mùa hè tình nguyện của các tổ chức đoàn ở đô thị. Nhìn chung bằng sự

tiên phong gương mẫu, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, với vai trò là hạt nhân của

phong trào thanh niên đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đã không ngừng củng cố và nâng cao

năng lực của mình, đây là nhân tố quan trọng để đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH trên

địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay.

(2). Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị; năng lực triển khai công việc trong

thực tế; năng lực tổng kết thực tiễn của cán bộ đoàn cơ sở, khả năng tự học tập, tự tu

dưỡng rèn luyện để nâng cao phẩm chất, năng lực; khả năng tập hợp, thu hút thanh

niên.

40

Hầu hết đoàn cơ sở đều nhận thức được tầm quan trọng và đã rất chú ý đến công

tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cán bộ đoàn cơ sở những năm gần đây được đào tạo, bồi

dưỡng toàn diện cả về lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng, trình độ quản

lý Nhà nước, quản lý kinh tế và chuyên môn nghiệp vụ ngày một tăng lên điều này đã

góp phần không nhỏ vào việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Việc

lựa chọn cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng đều xuất phát từ tổ chức, từ yêu cầu nhiệm vụ, từ

quy hoạch cán bộ và đổi mới mà lựa chọn cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng cũng là nhằm

từng bước trẻ hóa, trí thức hóa đội ngũ cán bộ, đồng thời đảm bảo tính liên tục, tính kế

thừa trong đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Việc lựa chọn cán bộ được thực hiện theo

nguyên tắc tập thể, dân chủ, từ đó nhận định các mặt mạnh, yếu của từng cán bộ để cử

đi đào tạo, bồi dưỡng. Hầu hết các cán bộ được lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng đều có khả

năng phát triển tốt, đảm bảo năng lực trước thanh niên và cộng đồng, trước cơ quan cấp

trên.

Đội ngũ cán bộ đoàn đã không ngừng học tập nâng cao trình độ. Cán bộ đoàn cơ

sở đã được cấp ủy các cấp quan tâm và có chủ trương giao cho trung tâm chính trị, Ban

Tuyên giáo, Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn mở các lớp tập huấn giáo dục chính trị

tư tưởng, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ đoàn cơ sở đoàn cấp xã, cấp huyện

tập huấn cho cán bộ đoàn cấp xã và chi đoàn. Đặc biệt, để nâng cao trình độ, các cán

bộ đoàn cấp xã đã chủ động đăng ký, dự tuyển tham gia các chương trình học nâng cao

trình độ như học tại chức, từ xa tất cả các ngành học mà địa phương, đơn vị đang cần

để phục vụ công tác.

(3). Phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở

Phần lớn đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở có phong cách làm việc dân chủ, đúng

“chất” thanh niên. Với phong cách làm việc dân chủ, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có khả

năng thu hút, tập hợp được phong trào thanh niên, tạo ra động lực để thanh niên phát

huy hết khả năng của mình, cống hiến cao nhất cho hoạt động đoàn, khơi gợi được

41

tiềm năng, lợi thế của mỗi cán bộ và của địa phương vào mục đích chung. Phong cách

làm việc dân chủ, khoa học là nhân tố quan trọng tạo nên năng lực của người cán bộ

đoàn cơ sở, chính họ là nhân tố để quy tụ thanh niên và đi đầu trong các phong trào của

địa phương, cơ sở trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời gian vừa qua.

(4). Khả năng đưa ra những quyết định đúng, phù hợp và được đoàn viên thanh

niên cũng như xã hội ủng hộ.

Cán bộ Đoàn cơ sở có khả năng quy tụ, phát huy được phong trào; nhờ tri tri

thức, khả năng biến kiến thức thành hiện thực trong phong trào nên phần lớn các quyết

định của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đưa ra có được sự ủng hộ của đông đảo thanh niên,

của cấp ủy đảng, chính quyền và tổ chức đoàn cấp trên.

Nguyên nhân dẫn đến những ưu điểm trên có thể đánh giá như sau:

+ Đại bộ phận đoàn cấp trên, cấp ủy cơ sở nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò,

năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn đối với phong trào thanh niên nên đã tập trung lãnh

đạo, chỉ đạo việc triển khai các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ, đồng thời ra

một số nghị quyết chuyên đề về công tác thanh niên nhằm chăm lo xây dựng đội ngũ

cán bộ đoàn trên tất cả các mặt về tiêu chuẩn, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử

dụng; tăng cường kiểm tra, đôn đốc hệ thống chính trị quan tâm đến công tác thanh

niên, vì vậy đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nâng cao năng lực đội ngũ cán

bộ đoàn cơ sở.

+ Chính quyền, mặt trận, đoàn thể đã tăng cường phối hợp với tổ chức đoàn

trong triển khai công tác thanh niên, từng bước cụ thể hóa được Nghị quyết của Đảng

về công tác cán bộ thành các chương trình về giáo dục, văn hóa, giải quyết việc làm và

các chính sách kinh tế - xã hội khác vào chương trình phát triển thanh niên, tạo môi

trường thuận lợi cho đội ngũ cán bộ đoàn rèn luyện, học tập nâng cao trình độ về mọi

mặt đáp ứng yêu cầu mới.

42

+ Tổ chức đoàn cấp cơ sở đã tích cực tham mưu với cấp ủy Đảng về công tác

cán bộ, không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, rèn luyện bản lĩnh chính trị, kỹ

năng nghiệp vụ công tác; chủ động làm tốt công tác quy hoạch, đánh giá, tiêu chuẩn

hóa đội ngũ cán bộ bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo trong triển khai chủ

trương của đoàn cấp trên; giúp đỡ, tôn vinh nhau để cùng nâng cao năng lực đội ngũ và

trưởng thành.

2.3.2. Điểm yếu và nguyên nhân

- Việc đánh giá cán bộ đoàn một số nơi thực hiện chưa đúng quy trình, còn qua

loa, sơ sài, chung chung cho nên vẫn còn hiện tượng năng lực được tạo ra thiếu thực

chất. Kết quả đánh giá cán bộ chưa được đưa vào hồ sơ lưu trữ làm căn cứ để nhận xét,

đánh giá cán bộ cho cả một quá trình, nên nhiều khi chưa làm cơ sở cho đề bạt cán bộ

có chất lượng. Còn hiện tượng đánh giá cán bộ chưa dân chủ, chế độ tự phê bình và

phê bình chưa được phát huy trong tập thể ban thường vụ, ban chấp hành đoàn, mà còn

dựa vào nhận xét của cá nhân đồng chí lãnh đạo chủ chốt, dẫn đến còn đánh giá cảm

tính... đây là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng thiếu năng lực của một số

cán bộ đoàn cơ sở; hoặc có năng lực nhưng thiếu tính thực chất.

- Năng lực của một số cán bộ đoàn cơ sở còn nhiều bất cập, do nguồn cán bộ

để bổ sung cho đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở hiện nay thiếu những cán bộ được đào tạo

bài bản, đủ tiêu chuẩn về năng lực trình đọ chuyên môn, nghiệp vụ nên việc bổ nhiệm

hết sức khó khăn, chưa chọn được những người có năng lực thực sự đảm nhận các

chức danh của tổ chức đoàn cơ sở. Một số đơn vị chưa tuân thủ quy trình trong đánh

giá cán bộ, lấy phiếu tín nhiệm trong đoàn viên thanh niên, còn chủ quan, hời hợt dẫn

đến trong công tác tuyển chọn cán bộ thông qua bầu cử chưa đảm bảo dúng định

hướng, nhiệm kỳ đại hội đoàn cấp xã 2005-2010 có 81 đồng chí không đúng định

hướng, trong đó 54 đồng chí bầu không đúng cơ cấu ban chấp hành, 14 đồng chí bầu

không đúng định hướng ban thường vụ và có 13 đồng chí không đúng định hướng bí

43

thư và phó bí thư, điều này phản ánh năng lực của một số tổ chức đoàn cơ sở chưa thực

sự cao, nhiều trường hợp vẫn mang tính hình thức, thiếu thực chất.

- Một số cấp ủy và tổ chức đoàn các cấp chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan

trọng của công tác cán bộ đoàn, còn buông lỏng và coi nhẹ việc nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ đoàn cơ sở, chưa quan tâm đến quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán

bộ. Quan điểm và phương pháp đánh giá cán bộ chậm đổi mới; nhiều nghị quyết, chủ

trương về công tác cán bộ thiếu các biện pháp đồng bộ, thiết thực để triển khai; việc sơ

tổng kết đúc rút kinh nghiệm và phê phán những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ

chưa được thực hiện tốt.

- Chính quyền, mặt trận và các đoàn thể còn xem công tác cán bộ là của cấp ủy,

chưa thật sự chú ý đến vị trí, vai trò của cán bộ đoàn, do vậy chưa chủ động có các

chương trình đầu tư thỏa đáng để nâng cao chất lượng cán bộ như tạo điều kiện cho cán

bộ học tập nâng cao trình độ, giải quyết chế độ chính sách đối với cán bộ đoàn.

Nguyên nhân của những hạn chế có thể khái quát như sau:

- Tổ chức đoàn cấp cơ sở chưa làm tốt quy trình về công tác cán bộ, còn thiếu

đầu tư nghiên cứu, trăn trở đề ra các chương trình hành động nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ đoàn; năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện về công tác cán bộ còn hạn

chế. Một số cán bộ đoàn chưa thực sự tu dưỡng rèn luyện, học tập nâng cao trình độ,

còn biểu hiện né tránh đùn đẩy việc khó, ít tiếp thu ý kiến của đoàn viên thanh niên và

chưa lắng nghe dư luận xã hội. Đây là nguyên nhân chính của những hạn chế trong

nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trong giai đoạn hiện nay.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ đoàn cơ sở còn thụ động, thiếu kế hoạch,

phụ thuộc vào phân bố chỉ tiêu của cấp trên. Mới chỉ có một số cán bộ được cử đi học

lớp nghiệp vụ công tác thanh thiếu nhi tập trung một tháng còn ít, trong khi đó nội

dung tập huấn còn đơn điệu, mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ công tác đoàn

44

(công tác đoàn vụ), triển khai các nghị quyết, chương trình mới mà chưa mở rộng đến

các nội dung cần thiết hơn như phương pháp xây dựng và duy trì các mô hình, tổ chức

các hoạt động, kỹ năng thiết kế hoạt động... nên chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

chưa được nâng lên nhiều.

- Đang còn tình trạng lựa chọn cán bộ đi đào tạo dàn trải, chất lượng hiệu quả

thấp, đào tạo chưa gắn với sử dụng và tiêu chuẩn chức danh; đang còn bị chi phối bởi

tư tưởng cục bộ địa phương theo kiểu “dòng họ gia tộc”, thậm chí có hiện tượng cử cán

bộ đi đào tạo, bồi dưỡng do ý kiến của một vài người có quyền, việc lấy ý kiến dân chủ

là hình thức nhằm hợp thức hóa quan điểm cá nhân. Đây là những nguyên nhân trực

tiếp dẫn đến tình trạng năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chưa cao.

- Năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chưa cao xuất phát từ việc trình độ

chuyên môn của họ chưa đáp ứng yêu cầu, số chưa qua đào tạo vẫn còn, nhiều nhất là ở

vùng sâu, vùng xa. Đây là điểm yếu của cán bộ đoàn cơ sở hiện nay, trong khi đó hoạt

động của người cán bộ đoàn lại cần kiến thức tổng hợp, ngoài các kỹ năng về công tác

thanh niên thông thường, người cán bộ đoàn còn phải biết kiến thức về khuyến nông,

khuyến ngư; chăm sóc sức khỏe cộng đồng, về hoạt động kinh tế,... thì mới đảm đương

được nhiệm vụ công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi hiện nay.

Một nguyên nhân khác đó là trình độ chính trị, đang còn 87 đồng chí cán bộ

đoàn chưa có trình độ trung cấp, sơ cấp về chính trị (trong đó có đến 86 đồng chí là Bí

thư), vì vậy khả năng nắm bắt và cụ thể hóa các chủ trương chính sách của Đảng sẽ hạn

chế, dẫn tới việc tuyên truyền về đường lối chính trị của Đảng tới thanh niên không

theo kịp diễn biến tình hình, thiếu chiều sâu, còn chung chung, nên khó đi vào cuộc

sống của thanh niên. Điểm đáng lưu ý là những hạn chế ở trên vẫn còn tồn tại khá lớn ở

trong đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chủ chốt, nếu không kịp thời có chính sách đào tạo,

bồi dưỡng thì trong tương lai đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở Nghệ An sẽ không đủ năng

lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, và như vậy với số cán bộ này cũng sẽ khó trưởng thành

45

ở những cương vị mới.

- Công tác quản lý cán bộ đoàn cấp cơ sở chưa được quan tâm đúng mức.

Nhìn chung hồ sơ sổ sách quản lý cán bộ ở cơ sở còn sơ lược, việc thực hiện tự phê

bình và phê bình còn yếu, nên chất lượng nội dung bổ sung hồ sơ cán bộ còn thấp,

Công tác đoàn vụ chưa được chú trọng, công tác lưu trữ hồ sơ sổ sách làm thiếu bài

bản, nên hầu như khi chuyển giao giữa các thế hệ đã làm thất thoát tài liệu, ảnh hưởng

đến đánh giá, quản lý cán bộ cả quá trình. Đặc biệt việc quản lý cán bộ được cử đi đào

tạo, bồi dưỡng thiếu chặt chẽ nên dẫn đến chất lượng của cán bộ còn thấp.

- Một số đơn vị bố trí cán bộ không phù hợp vị trí công tác và khả năng của

cán bộ hoặc có trường hợp cán bộ phải phụ trách quá nhiều mảng công việc nên hiệu

quả công việc chưa cao. Cũng có đơn vị khi bố trí nhân sự dàn đều cho các lĩnh vực

theo kiểu “dĩ hòa vi quý” để khỏi mất lòng nhau. Điểm đáng lưu ý là không ít nơi sau

khi cán bộ được đi đào tạo, bồi dưỡng trở về địa phương không được sử dụng, nên vào

dịp bầu cử hội đồng nhân dân, đại hội Đảng, đại hội Đoàn hầu như cán bộ đoàn cơ sở

đều “bám trụ” ở địa phương để được bố trí vào cơ cấu trong bộ máy, làm cho chất

lượng cán bộ không được nâng lên kịp thời.

- Chưa có chính sách thỏa đáng về đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đối với

đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở, mà chủ yếu còn khai thác mặt mạnh của cán bộ như nhiệt

tình công tác, tinh thần tình nguyện trước những khó khăn của cộng đồng. Chính sách

đãi ngộ về vật chất với cán bộ đoàn cơ sở còn rất hạn hẹp, còn nhiều cán bộ đoàn chưa

có phụ cấp, dù họ thường xuyên phải công tác thêm ngoài giờ hành chính; phương tiện,

cơ sở vật chất phục vụ công tác còn thiếu thốn; vẫn còn cơ chế “xin cho” trong giải

quyết kinh phí hoạt động và chế độ đối với cán bộ. Việc ban hành, sửa đổi chính sách

cán bộ đoàn còn nhiều bất hợp lý, chưa thật sự khuyến khích người có tài năng, người

làm việc có hiệu quả. Chế độ đãi ngộ thu hút nhân tài chưa đủ sức hấp dẫn đối với cán

bộ trẻ, giỏi về công tác tại xã.

46

- Do vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, xuất phát điểm của các xã ở Nghệ An nhìn

chung là thấp, nhất là vùng biển, dân tộc, miền núi và vùng giáo đang gặp nhiều khó

khăn, nguồn tuyển chọn cán bộ đoàn hạn hẹp, chất lượng hạn chế. Thanh niên thường

xuyên phải rời quê đi làm ăn xa, kéo theo đó làm đội ngũ cán bộ đoàn thường xuyên

biến động, mất ổn định nên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ không kịp để kiện toàn, dẫn đến

quy trình cán bộ không đảm bảo và ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực ngũ cán bộ

đoàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.

- Mặt trái của cơ chế thị trường tác động đến nhiều mặt đời sống chính trị xã

hội, một số vấn đề bức xúc đang đặt ra cho thahh niên nói chung chưa thể giải quyết

được như việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, nên nhiều đoàn viên thanh niên có khả năng

không muốn trở thành cán bộ đoàn, mà chỉ làm những công việc có thu nhập cao. Hơn

nữa với chính sách cán bộ hiện nay, đã làm những cán bộ đoàn cơ sở đang công tác

chưa thực sự yên tâm công tác và gắn bó với tổ chức.

- Nghệ An đang nỗ lực tập trung cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

nông thôn, bước đầu triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới. Đây là quá trình

đầy khó khăn, nhiều vấn đề mới đặt ra, môi trường kinh tế xã hội phức tạp, do vậy trong

công tác cán bộ không thể tránh khỏi lúng túng, bất cập. Cấp ủy cấp cơ sở chưa dự báo

trước được những tình huống mới, đoàn cấp trên chưa hiểu đầy đủ về cơ sở, chưa giúp

được cơ sở những giải pháp hữu hiệu và các yêu cầu nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ

đoàn cấp cơ sở.

47

Chương 3

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN

BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH - HĐH ĐẤT

NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP

CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN CỦA TỈNH NGHỆ AN

Hiện nay, sự tăng trưởng kinh tế, sự nâng cao mức thu nhập chung của xã hội sẽ

mở ra những điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi để Nhà nước và toàn dân ta

quan tâm nhiều hơn tới thanh niên. Tỷ lệ ngân sách Nhà nước dành cho thanh niên sẽ

lớn hơn, việc đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị cho công tác chăm sóc, giáo dục,

bồi dưỡng thanh niên sẽ được nâng cao, môi trường lao động, học tập sinh hoạt, vui

chơi giải trí cho thanh niên sẽ được triển khai, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho các hoạt

động tự giác và chủ động của thanh niên trong đời sống hàng ngày. Trong bối cảnh

trên, chúng ta có thể dự báo được những điều cơ bản sau đây về tình hình thanh niên.

- Nhu cầu về vật chất và tinh thần của thanh niên sẽ phong phú, đa dạng và cao

hơn, khác hơn với thế hệ cha anh. Đó là lẽ thường tình và tự nhiên của phát triển chứ

không phải theo kiểu "Tri túc tân thường lạc, vô cầu phẩm tự cao". Người lãnh đạo,

quản lý phải giáo dục, làm gương cho thanh niên Việt Nam mới làm chủ đất nước, làm

chủ khoa học kỹ thuật hiện đại, làm chủ nhu cầu bản thân.

- Về cơ cấu dân số thanh niên: Với việc thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch

gia đình, mức độ của tăng dân số ở nước ta có chiều hướng giảm dần và trong cơ cấu

dân số chung, số nhân khẩu thanh niên sẽ giảm dần. Tuy nhiên, trong những năm trước

mắt, tỷ lệ dân số thanh niên trong cơ cấu vẫn khá cao trong những năm đầu thế kỷ

XXI, thanh niên chiếm tỷ lệ cao trong lao động xã hội.

Trong cơ cấu của nhóm nhân khẩu thanh niên, tỷ lệ những người không có việc

48

làm sẽ giảm dần, tỷ lệ nhóm công nhân kỹ thuật, công nhân có tay nghề cao sẽ tăng lên

cùng với đà phát triển của quá trình CNH-HĐH. Thanh niên giữa các khu vực, vùng

miền, giữa các đối tượng tiếp tục có sự phân hóa, chênh lệch về thu nhập, mức sống, về

trình độ học vấn, về cơ hội và điều kiện phát triển cũng như hưởng thụ văn hóa, vui

chơi, giải trí... Sự chênh lệch ấy sẽ dần dần được khắc phục bởi các chính sách kinh tế -

xã hội của Đảng và Nhà nước.

- Sự phát triển thể chất và sức khỏe của thanh niên được nâng lên một bước:

Trong bối cảnh kinh tế tiếp tục phát triển, điều kiện chăm sóc sức khỏe và chế độ dinh

dưỡng được cải thiện, thanh niên nước ta chắc chắn sẽ phát triển vượt hơn về thể chất

và sức vóc.

Tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình CNH, HĐH, một số bệnh

như: tim mạch, thần kinh, nhiễm độc về môi trường và thực phẩm, hoặc một số bệnh

xã hội cũng sẽ xuất hiện và phát triển. Bởi vậy, chúng ta cần có chính sách và chương

trình hoạt động cụ thể để ngắn chặn kịp thời những loại bệnh tật này. Khả năng về trí

tuệ và chuyên môn của thanh niên không ngừng phát triển. Được quan tâm tốt hơn về

điều kiện giáo dục và đời sống văn hóa, tinh thần, trình độ văn hóa của thanh niên sẽ

được nâng cao hơn. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mới của khoa học kỹ thuật, sư

xuất hiện của những ngành nghề đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, làm cho thanh niên

phải sống trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ về chất lượng học tập, lao động. Điều

đó buộc họ phải có những nỗ lực lớn trong học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên

môn và về mọi mặt. Nó cải tạo môi trường khách quan để thanh niên không ngừng phát

triển năng lực tư duy và sáng tạo. Trong bối cảnh này, khả năng trí tuệ và chuyên môn

của thanh niên sẽ có những bước phát triển đáng kể, giúp họ năng động và tự chủ hơn

trong lao động, làm giàu cho Tổ quốc, quê hương và bản thân mình.

Xã hội ngày càng tạo điều kiện để các nhân tài trẻ xuất hiện và đến lượt mình

những nhân tài trẻ tuổi lại đóng góp tích cực vào sự phát triển và sự tiến bộ của xã hội.

49

Tính tích cực xã hội của thanh niên được phát huy: Những thành tựu của công

cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước mà thanh niên là lực lượng tham gai

nòng cốt đã khiến cho chính thanh niên ngày càng nhận thức được rõ hơn về tương lai

và tiền đồ của đất nước, của dân tộc Việt Nam và của bản thân. Nhận thức chính trị của

thanh niên được tăng cường sẽ giúp họ tiếp tục duy trì tinh thần chủ động và tích cực

trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng mà các thế hệ

trước mang lại. Thanh niên tiếp tục là lực lượng chủ yếu trên mặt trận bảo vệ an ninh

chính trị, trật tự an toàn xã hội, tình nguyện ở những nơi khó khăn gian khổ. Đa số

thanh niên Việt Nam sẽ là chủ tương lai của Tổ quốc Việt Nam XHCN, thanh niên Việt

Nam nhất định sẽ trở về với cội nguồn dân tộc. "Con hơn cha là nhà có phúc", "Trò

hơn thầy là nước phúc dày", do đó thanh niên Việt Nam nhất định đưa Tổ quốc Việt

Nam độc lập, dân chủ và giàu mạnh sánh vai với các cường quốc năm châu. Đó là xu

thế lịch sử không thể đảo ngược dù có biến động và thách thức đến mức nào.

Tuy nhiên, sẽ có một bộ phận thanh niên bị cuốn hút bởi sự cám dỗ của đồng

tiền và những đòi hỏi về vật chất, ít quan tâm đến quyền lợi chung của tập thể, sa vào

các tệ nạn xã hội. Số thanh niên vi phạm pháp luật, nghiện ma túy, tham gia vào các tệ

nạn cờ bạc mại dâm... nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ còn tăng lên.

Có năng lực và thực chất là yêu cầu tiêu chuẩn hàng đầu để cán bộ đoàn cơ sở

tỉnh Nghệ An có thể hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, để tổ chức Đoàn xứng

đáng với vai trò và vị trí lực lượng xung kích, chủ đạo trong quá trình CNH, HĐH đất

nước. Yêu cầu mới về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đòi hỏi ngày càng cao về

mọi mặt. Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải có tầm nhìn sâu rộng, biết kế thừa truyền

thống anh hùng của dân tộc Việt Nam, thật sự xứng đáng là con cháu Hồ Chí Minh,

biết giữ vững và thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, biết dẫn dắt và

duy trì sự tin cậy, lòng trung thành và sự tôn trọng người khác, biết huy động họ làm

việc sáng tạo để đạt được kết quả ngày càng cao hơn.

50

Những yêu cầu mới về năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An

trong tình hình mới không nằm ngoài những yêu cầu của người lãnh đạo, quản lý nói

chung nhưng cần chú ý đặc biệt đến những điểm sau đây:

- Trước hết đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải trung thành với mục tiêu và con

đường đã lựa chọn là độc lập dân tộc và CNXH ở Việt Nam, dựa trên nền tảng tư

tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lenin và tư tưởng

Hồ Chí Minh.

- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải có khả năng thu thập và xử lý thông tin phục

vụ tốt cho công tác của mình. Nhưng phải hiểu rằng, thông tin chưa phải là kiến thức,

kiến thức là thông tin đã được xử lý, được chắt lọc, được liên hệ với các thông tin khác

để cho nó có ích và phù hợp với thực tiễn hơn. như vậy, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở

phải biến thông tin thành kiến thức và áp dụng nó vào thực tiễn công việc của mình để

ra quyết định đúng đắn, kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhằm thực hiện mục

tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.

- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải luôn biết rằng dù khoa học công nghệ có vai

trò rất quan trọng trong cuộc sống, song con người mới với trình độ khoa học tiến bộ

và công nghệ hiện đại vẫn là mối quan tâm hàng đầu. Phải biết huy động tốt, tối ưu mọi

nguồn lực, mà trước hết là người lãnh đạo, quản lý cần chú ý hơn nữa đến lực lượng

thanh niên, nâng cao nghệ thuật giao tiếp với đoàn viên thanh niên và cấp dưới, biết

cách tốt nhất để động viên họ làm việc, hoạt động, biết khuyến khích tài năng, sự sáng

tạo ở họ. Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải nhạy cảm với cái mới, sẵn sàng tiếp nhận cái

mới, những ý tưởng sáng tạo, từ đó tạo mọi điều kiện để hiện thực hóa những sáng kiến

có giá trị. Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải biết kiên trì thuyết phục, vận động và tổ

chức mọi người tham gia thực hiện tốt các ý tưởng mới, đúng mục tiêu và con đường

đã lựa chọn.

51

- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải dân chủ hơn song lại phải quyết đoán kịp thời

hơn, nhất là phải quyết định trong khi còn nhiều ý kiến khác nhau và những thời điểm

khó khăn. Đôi khi phải chấp nhận mạo hiểm; tức là phải quyết định dứt khoát và tổ

chức hành động có hiệu quả trong điều kiện không có thời gian bàn bạc nhiều. Thực

chất ở đây là phải quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, biết mở

rộng dân chủ, tranh thủ ý kiến của nhiều người nhưng phải quyết đoán kịp thời với tinh

thần trách nhiệm cao. Dám quyết định và tự chịu trách nhiệm, cũng là yêu cầu cao và

quan trọng nhất đối với năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở hiện nay.

- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải có niềm tin vào quần chúng lao động trẻ tuổi,

vào nhân dân và cần thiết phải có được những cộng sự tin cậy, chân thực, tài năng.

Muốn thế, họ phải giữ được chuẩn mực cao về mọi mặt, phải có tính trung thực và tính

liêm khiết ngay cả khi không có ai giám sát. Bên cạnh đó người lãnh đạo, quản lý phải

có tính khiêm nhường, luôn thừa nhận và tôn trọng những đóng góp của người khác,

không khoe khoang thành tích của riêng cá nhân mình.

- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải có hiểu biết rộng, có kiến thức và kinh nghiệm

sống phong phú, biết vận dụng chúng một cách tổng hợp và thích hợp vào từng lĩnh

vực công việc. Phải có tư duy chiến lược tốt, biết kết hợp yêu cầu trước mắt và lâu dài,

phải có phản ứng nhanh, nhạy cũng như phải làm việc vất vả và thích ứng được với

cường độ lao động cao, vì vậy cần có sức khỏe tốt.

Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, trong các năm tới, toàn Đảng

phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng "Phải

tăng cường công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống

chủ nghĩa cá nhân, nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

... không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức

lãnh đạo, quản lý... Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ

hội, thực dụng, tệ tham nhũng, quan liêu...

52

Tập trung chăm lo xây dựng tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở phù hợp với đặc

điểm vùng miền, thành phần dân tộc, giới tính, trên cơ sở đó xây dựng một cơ cấu đồng

bộ, hợp lý hơn; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn, quy hoạch, đào

tạo, bồi dưỡng, đánh giá, quản lý sử dụng, luân chuyển cán bộ; đảm bảo nguyên tắc tập

trung dân chủ và tính chủ động của tổ chức đoàn cơ sở trong giới thiệu và chuẩn bị

nhân sự. Nâng cao hiệu quả công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền về xây dựng

cơ chế chính sách đối với cán bộ đoàn và đầu tư về cơ sở vật chất cho phong trào thanh

thiếu nhi; kiện toàn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có năng lực, đáp ứng yêu cầu công tác

đoàn trong giai đoạn hiện nay. Xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực của đội ngũ

cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An cần quán triệt phương hướng sau:

+ Công tác cán bộ đoàn là bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của

Đảng. Xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực cán bộ đoàn thực chất là góp phần xây

dựng Đảng trước một bước, bởi vì, cán bộ đoàn là nguồn cung cấp cán bộ cho hệ thống

chính trị. Cán bộ đoàn là cán bộ của Đảng làm công tác thanh thiếu nhi.

+ Xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn nhằm đáp

ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong giai đoạn đẩy

mạnh CNH-HĐH đất nước là nhân tố quyết định sự vững mạnh của các tổ chức đoàn,

hội, đội; đồng thời, tích cực tham gia xây dựng Đảng và chính quyền trong thời kỳ

mới.

+ Thông qua hoạt động thực tiễn công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi

để phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đảm bảo về số lượng và

chất lượng, từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ đoàn các cấp, quan tâm cán bộ cơ sở, cán

bộ nữ, cán bộ người dân tộc, tôn giáo

+ Cán bộ đoàn là cán bộ làm công tác chính trị - xã hội, nhưng do tính đặc thù

của đối tượng, vì vậy ngoài những yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ cán bộ đoàn còn

53

phải có nhiệt tình, năng khiếu, kỹ năng nghiệp vụ và phương pháp công tác thanh thiếu

nhi.

+ Từng bước trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đủ về số

lượng, có cơ cấu hợp lý; tăng cường đầu tư cho công tác cán bộ nhằm tạo chuyển biến

mới trong công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, góp phần tạo nguồn cán bộ cho

đoàn cấp trên, cho Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân. Phấn đấu đến năm

2012 (cuối nhiệm kỳ Đại hội đoàn toàn tỉnh Nghệ An lần thứ XV) có 90% cán bộ đoàn

cơ sở nằm trong độ tuổi đoàn viên, 50 % bí thư đoàn xã, phường, thị trấn có trình độ

đại học, cao đẳng; 65% bí thư đoàn cơ sở nông thôn, miền núi có trình độ trung cấp;

100% cán bộ đoàn cơ sở đều được đào tạo bồi dưỡng về lý luận và nghiệp vụ thanh

vận.

3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ

ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA –

HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở và năng

lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở

Nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là yêu cầu cơ

bản hàng đầu không những của cán bộ, đoàn viên thanh niên mà còn là yêu cầu đối với

cán bộ Đảng, chính quyền và toàn xã hội. Đối với đoàn cấp cơ sở, nhận thức đúng vấn

đề trên là nền tảng cơ sở để hoạch định đúng về phương hướng, mục tiêu, chương trình

hành động nâng cao năng lực cán bộ đoàn. Đối với hệ thống chính trị và xã hội, nhận

thức đúng sẽ có thái độ đúng trong việc đặt ra những yêu cầu khách quan, sẽ xây dựng

được ý thức trách nhiệm và có chuẩn mực đánh giá xác đáng đối với những thành công

hay hạn chế của đội ngũ cán bộ đoàn. Quán triệt nhận thức đầy đủ về nâng cao năng

lực đội ngũ cán bộ đoàn là yêu cầu đặt ra đối với cả hệ thống chính trị và toàn xã hội,

54

nhưng trước hết là đối với đoàn cơ sở. Bởi vì, trong thực tiễn hoạt động, nhiều cán bộ

đoàn cơ sở mất đi tính tiên phong, qua đó làm giảm vai trò làm hạt nhân chính trị để

đoàn kết tập hợp thanh niên.

Cũng như các tổ chức chính trị - xã hội khác, cán bộ đoàn luôn luôn giữ vai

trò quyết định trực tiếp đến năng lực, hiệu quả thực thi chức năng của tổ chức đoàn. Để

có đội ngũ cán bộ có năng lực, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công tác đoàn

và phong trào thanh thiếu nhi, Đoàn thanh niên cần phải xác định công tác cán bộ là

điều kiện căn bản quyết định. Từ thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở của

tỉnh Nghệ An cho thấy rất cần thiết phải tuyên truyền để nâng cao và thống nhất nhận

thức trong cấp ủy cấp cơ sở, cán bộ, đảng viên, tổ chức đoàn các cấp và đoàn viên,

thanh niên về nội dung này. Nhìn chung đa số cấp ủy, đoàn cấp trên quan tâm đến nâng

cao chất lượng cán bộ đoàn cơ sở, bên cạnh đó ở một số cấp ủy địa phương thường

không chỉ đạo sát sao và ít quan tâm đến đội ngũ cán bộ đoàn, còn tư tưởng coi nhẹ cán

bộ đoàn còn trẻ tuổi, ít kinh nghiệm và hiểu biết, chưa thật sự tin tưởng họ là “thủ lĩnh”

của thanh niên. Mặt khác, cấp ủy là người có quyền quyết định trong công tác tổ chức

cán bộ, nên tổ chức đoàn thường rơi vào thế bị động trong xây dựng đội ngũ cán bộ

đoàn hoặc là trông chờ, ỷ lại dẫn đến chưa chú trọng về nội dung nâng cao chất lượng

cán bộ, do vậy không chủ động trong xây dựng đúng quy trình các khâu về công tác

cán bộ, làm cho việc bố trí cán bộ tùy tiện, thiếu tính khoa học và chưa có tham mưu,

đề xuất kịp thời với cấp ủy trong quản lý, sử dụng cũng như chế độ chính sách đối với

cán bộ đoàn, làm cho đội ngũ cán bộ ở những đơn vị đó vừa thiếu, vừa không đủ năng

lực giải quyết những đòi hỏi mới của công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi.

Trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị

trí, vai trò của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở nhằm thống nhất nhận thức thực hiện đồng

thời hai yêu cầu: Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở và góp phần hình thành

được hệ thống cán bộ một cách hợp lý, khoa học. Muốn vậy, cần tập trung tuyên truyền

55

các quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn theo hướng đa dạng hóa trên tờ tin,

sách báo, tạp chí, truyền thanh của xã nhằm góp phần mở rộng thông tin, nâng cao hiệu

quả trong công tác tuyên truyền về công tác đoàn cũng như tiêu chuẩn của đội ngũ cán

bộ đoàn, làm cho cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể và quần chúng nhân dân hiểu biết

sâu sắc hơn về tính chất, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.

Phương pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ cán

bộ đoàn cơ sở thuyết phục nhất vẫn là phải kết hợp công tác giáo dục cơ bản (qua

chương trình đào tạo huấn luyện ở các trường Chính trị, trường đoàn), hoặc qua những

hoạt động sinh động như thi cán bộ đoàn giỏi, tập huấn, công khai dân chủ tiêu chuẩn

cán bộ và công tác quy hoạch; mở những cuộc đối thoại trực tiếp giữa các thế hệ cán

bộ, giữa cấp ủy với thanh niên. Tăng cường những chuyên mục nêu gương cán bộ đoàn

tốt, việc tốt và xây dựng quy chế mỗi cán bộ đoàn, đoàn viên đều là một tuyên truyền

viên tích cực,... để từ đây lấy các phong trào này mà giáo dục cán bộ, tạo dư luận xã

hội rộng rãi ủng hộ cái hay, cái tốt, cái đẹp, phản đối cái dở, cái xấu trong nâng cao

chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.

3.2.2. Không ngừng rèn luyện và nâng cao bản lĩnh, phẩm chất chính trị,

lập trường và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chấp

hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải luôn có lập trường chính trị vững vàng, kiên

quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, thấm nhuần và vận dụng đúng đắn các

chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào lĩnh vực công tác được

giao. Luôn chấp hành tốt Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nói và làm

theo Nghị quyết của Đảng, nghiêm túc chấp hành các chế độ chính sách của Đảng và

Nhà nước, các quy định của tổ chức Đoàn. Tổ chức, thuyết phục và giáo dục mọi người

trong phạm vi mình phụ trách và ngoài xã hội cùng thực hiện và chấp hành tốt đường

lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xây dựng và triển khai thực hiện

56

tốt quy chế dân chủ cơ sở trong tổ chức Đoàn, theo phương châm: "Thanh niên biết,

thanh niên bàn, thanh niên làm, thanh niên kiểm tra".

Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, học

tập, rèn luyện nâng cao lập trường chính trị, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trước hết cần

phải nắm vững đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các

đường lối, chính sách có liên quan đến tuổi trẻ để từ đó chủ động, sáng tạo trong công

tác. Trên cơ sở đó có nhiều ý kiến đóng góp vào các quyết định của tập thể, tổ chức

thực hiện có hiệu quả tốt nhất nhiệm vụ của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở cần nắm bắt thông tin, xử lý thông tin kịp thời, nhất

là nắm vững nhu cầu của tuổi trẻ và xã hội để dự báo chính xác tình hình, nhận định rõ

và đúng mục tiêu, ra các quyết định rõ và đúng mục tiêu, ra các quyết định sao cho phù

hợp vào thực tế ở từng điều kiện cụ thể, tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả cao

nhất.

Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở cần phải có năng lực xây dựng, tổ chức và điều hành

bộ máy, phải căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ chung để vạch ra kế hoạch chi tiết, cụ thể

cho hàng tháng, hàng quý, 6 tháng, cả năm và dự báo kế hoạch dài hạn trong nhiệm kỳ.

Phải có kế hoạch tổ chức thực hiện chu đáo, sát sao và thường xuyên kiểm tra quá trình

thực hiện. Thường xuyên học tập kinh nghiệm, tổ chức sơ, tổng kết, phát huy các thế

mạnh, các thành tích, kịp thời sửa chữa những lệch lạc.

Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải biết xây dựng khối đoàn kết nội bộ, trên dưới

một lòng, đồng tâm hợp lực, như Bác Hồ đã dạy: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

thành công, thành công, đại thành công". Người lãnh đạo, quản lý của các đơn vị có vai

trò quyết định trong việc tạo ra bầu không khí tâm lý lành mạnh, lạc quan, thường

xuyên quan tâm đến cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, sinh hoạt của người dưới

quyền. Biết sử dụng và bố trí cán bộ, bố trí con người đúng năng lực và sở trường, phát

57

huy được tính sáng tạo và chủ động của mọi người để họ làm việc có năng suất và hiệu

quả cao.

Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở cần phải tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất

đạo đức, nêu gương sáng trong sinh hoạt, lối sống, cụ thể:

- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải là người cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô

tư, hết lòng vì sự nghiệp chung và say mê vì công việc.

- Có ý thức tổ chức, kỷ luật chấp hành nghiêm túc pháp luật và các quy định của

Đảng, Nhà nước, của tổ chức Đoàn, làm gương cho mọi người noi theo.

- Là người có tác phong đúng mực, sâu sát, cụ thể, thiết thực và hòa đồng, thông

cảm và hiểu cấp dưới, có thái độ cộng tác chân thành.

- Biết khơi dậy và phát huy tài năng của cán bộ, phong trào thanh niên, biết

đánh giá đúng con người, biết xử lý tốt các mối quan hệ trong và ngoài tổ chức, quan

hệ đúng mức với cấp trên và người dưới quyền.

- Có lối sống trong sáng, giản dị, không cục bộ và vun vén cá nhân, luôn có ý

thức tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.

- Xây dựng gia đình văn hóa mới và tuyên truyền vận động gia đình gương mẫu

trong sinh hoạt và công tác.

3.2.3. Xây dựng tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phù hợp với yêu cầu

đặc điểm.

Tiêu chuẩn là cái khung để đánh giá cán bộ, là cơ sở để cán bộ có hướng phấn

đấu rèn luyện, tự hoàn thiện mình qua đó nâng cao năng lực. Muốn làm tốt công tác

cán bộ đoàn thì tiêu chuẩn đối với cán bộ đoàn phải đảm bảo cụ thể, chính xác, có tính

khả thi, có hướng phát triển. Có được tiêu chuẩn sẽ loại trừ được những yếu tố khách

quan trong quá trình lựa chọn tuyển dụng cán bộ, đặc biệt là những chức danh chủ

58

chốt. Trong tiêu chuẩn của cán bộ đoàn cấp cơ sở, ngoài yêu cầu về phẩm chất chính

trị, đạo đức cần quan tâm đến năng lực tập hợp, tổ chức các hoạt động cho thanh niên,

vì đây là đặc thù riêng của cán bộ đoàn. Ngoài ra còn từng vùng, miền, thành phần dân

tộc, tôn giáo mà định ra tiêu chuẩn về trình độ văn hóa và chuyên môn cụ thể, nhưng

phải đảm bảo cán bộ đoàn phải là đại biểu có trình độ học vấn, văn hóa, chuyên môn

cao so với mặt bằng của thanh niên ở cơ sở.

Việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở phải dựa trên các đặc trưng riêng

có của cán bộ đoàn, có như vậy mới phù hợp với thực tiễn, có khả năng triển khai thực

hiện. Các đặc trưng cơ bản của cán bộ đoàn là:

Thứ nhất, cán bộ đoàn phải là người nhiệt tình công tác xã hội, chăm lo lợi ích

chính đáng cho đoàn viên, thanh thiếu nhi.

Thứ hai, cán bộ đoàn là những người trẻ tuổi, năng động, sáng tạo, lời nói đi đôi

với việc làm.

Thứ ba, người cán bộ đoàn phải có hiểu biết sâu sắc về đối tượng quần chúng

thanh thiếu nhi. Đặc biệt ở nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo,

cán bộ đoàn phải có kiến thức về phong tục tập quán, về giáo lý.

Thứ tư, phải có kỹ năng công tác thanh thiếu nhi, nghiệp vụ xây dựng Đoàn,

Hội, Đội.

Thứ năm, phải có năng lực tranh thủ sự ủng hộ, tạo lập và mở rộng các mối

quan hệ để phát huy sức mạnh tổng hợp cửa toàn xã hội chăm lo cho công tác thanh

niên.

Thứ sáu, phải nắm vững quan điểm đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà

nước, chương trình công tác của đoàn cấp trên; nhạy cảm về chính trị, ủng hộ cái mới,

tích cực, tiến bộ.

59

Có thể nêu ra tiêu chuẩn của cán bộ đoàn cơ sở theo quy định tại Quyết định số

289 – QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy chế cán bộ Đoàn

TNCS Hồ Chí Minh như sau:

+ Về tiêu chuẩn chung.

Tiêu chuẩn cán bộ đoàn được cụ thể hóa theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần

thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) là:

- Có tinh thần yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân,

kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt chủ trương,

đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực,

không cơ hội; nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có khả năng tổ chức tập hợp, gắn bó mật

thiết và được sự tín nhiệm của đoàn viên, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và nhân dân.

- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,

chính sách và pháp luật của Nhà nước; trình độ học vấn, chuyên môn, ngoại ngữ, tin

học phù hợp với yêu cầu của vị trí công tác được giao; trường thành từ phong trào

đoàn, hội, đội hoặc tham gia hoạt động phong trào thanh thiếu nhi hoặc đã được đào

tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức công tác thanh vận.

- Có sức khỏe tốt, ngoại hình phù hợp với công tác thanh vận; tuổi cán bộ đoàn

được quy định theo cương vị được giao và có thể hơn từ 1 đến 2 tuổi để phù hợp với

yêu cầu công tác cụ thể.

+ Tiêu chuẩn cụ thể:

- Trình độ chuyên môn: từ trung cấp trở lên.

- Trình độ lý luận chính trị: sơ cấp.

60

- Giữ chức vụ không quá 35 tuổi.

Đối với vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, đối tượng chính sách, trình độ

văn hóa nói chung từ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, đã được bồi dưỡng chương

trình lý luận chính trị sơ cấp. Giữ chức vụ không quá 37 tuổi.

3.2.4. Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn

cơ sở.

Gây dựng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trước hết phải chú

trọng đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đội ngũ, bố trí cán bộ hợp

lý; đó là chìa khóa cho việc gây dựng và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh

đạo, quản lý vì mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém như Bác

Hồ đã dạy.

Trước hết, phải có quy hoạch cán bộ, thực sự quan tâm về điều kiện công tác

quy hoạch cán bộ trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền.

Cần tổng kết, đánh giá việc thực hiện quy hoạch cán bộ của tổ chức Đoàn. Có sự phối

hợp giữa các cấp, để có nhận xét cụ thể về mức độ phấn đấu, trưởng thành của cán bộ

trong diện quy hoạch, khi họ đang có xu hướng đi lên.

Quy hoạch cán bộ đoàn là một quá trình phát hiện tạo nguồn để đào tạo, bồi

dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ mới và tình hình đội

ngũ cán bộ, tổ chức đoàn cơ sở tiến hành rà soát và xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ

theo các tiêu chuẩn quy định. Quy hoạch cán bộ phải gắn với quy hoạch chung của đội

ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị và các khâu trong công tác cán bộ. Quy hoạch đó

phải sát với thực tiễn, trên cơ sở nắm chắc đội ngũ cán bộ hiện có và nguồn cán bộ, dự

báo được yêu cầu sắp đến, đề ra được các biện pháp tích cực, khả thi, hiệu quả. Cần

xác định quy hoạch cán bộ là khâu trọng yếu của công tác cán bộ đoàn. Quy hoạch cán

bộ đoàn sẽ tạo ra sự chủ động về công tác cán bộ, tránh hiện tượng chắp vá, tùy tiện

61

thường gặp hiện nay.

Công tác quy hoạch cán bộ đoàn cơ sở nếu làm tốt sẽ góp phần quan trọng tạo

nên đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực, từ đó nâng cao chất lượng công tác đoàn và

phong trào thanh thiếu nhi của từng xã, tạo nguồn cán bộ cho đoàn cấp trên và cấp ủy,

chính quyền, các đoàn thể nhân dân của xã.

Công tác quy hoạch cán bộ đoàn phải thực hiện đúng quan điểm của Đảng, của

đoàn; phải dựa trên các căn cứ đó là: gắn với công tác quy hoạch cán bộ của cơ quan

đơn vị địa phương, do cấp ủy đảng chủ trì, gắn với nhiệm vụ chính trị của đoàn cơ sở ở

mỗi địa phương, vùng miền; hệ thống tổ chức hiện có và dự báo mô hình tổ chức thời

gian tới; tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở; thực trạng đội ngũ cán bộ đoàn hiện có. Trong

quy hoạch cần mạnh dạn đưa cán bộ dự bị vào các vị trí kế cận để rèn luyện và khẳng

định năng lực của cán bộ; đồng thời coi trọng việc quy hoạch chức danh bí thư đoàn,

với chức vụ này, cần đảm bảo quy hoạch từ 2 đến 3 nguồn dự bị thay thế.

Nội dung quy hoạch được tiến hành theo quy định chung của Đảng, hàng năm rà

soát để điều chỉnh, bổ sung quy hoạch. Cụ thể gồm: lập kế hoạch quy hoạch, trong đó

xác định rõ tiêu chuẩn cán bộ ở từng chức danh, vị trí; điều tra khảo sát đánh giá thực

trạng cán bộ; dự báo nhu cầu cán bộ; nguồn cán bộ; các giải pháp thực hiện quy hoạch

cán bộ. Triển khai kế hoạch quy hoạch để có kết quả là danh sách cán bộ thuộc diện

quy hoạch theo từng giai đoạn. Kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện công tác quy hoạch

hàng năm.

Cấp ủy Đảng, ban thường vụ đoàn các cấp có trách nhiệm xây dựng, quản lý

quy hoạch chức danh cán bộ đoàn cấp mình. Cấp ủy Đảng và ban thường vụ đoàn cấp

huyện phối hợp với cấp ủy đảng cơ sở xây dựng quy hoạch chức danh cán bộ đoàn cấp

cơ sở.

Căn cứ vào mặt mạnh, yếu của cán bộ, căn cứ vào yêu cầu công việc mà tiến

62

hành đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho phù hợp. Cấp ủy, Bí thư Đoàn và cơ quan tổ chức

cán bộ phải trực tiếp và thường xuyên theo dõi, giúp đỡ, đánh giá mức độ trưởng thành

của cán bộ một cách sát đúng, thông báo kịp thời cho cán bộ đó biết những mặt tốt để

phát huy và đặc biệt là hạn chế để khắc phục. Việc quản lý, kiểm tra diện cán bộ quy

hoạch cũng dựa vào quần chúng và thanh niên. Nếu làm tốt khâu quản lý cán bộ quy

hoạch sẽ góp phần bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ và nâng cao chất lượng phấn đấu của

cán bộ, hạn chế việc "rơi vãi" cán bộ trong diện quy hoạch.

Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn các cấp trước đây do Trung

ương Đoàn và các tỉnh có hệ thống trường Đoàn, Đội chuyên trách việc đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ. Từ năm 1992, hệ thống này bị giải thể sáp nhập vào khoa dân vận của

các trường chính trị. Từ đây việc đào tạo, huấn luyện cán bộ vốn được Bác Hồ quan

niệm “là công việc của Đảng” lại trở thành việc làm vừa thiếu tính hệ thống vừa thiếu

tính chuyên nghiệp, tức là mạnh địa phương nào thì địa phương đó làm và nghĩ như thế

nào, làm như thế ấy. Hệ quả tất yếu của vấn đề này là tình trạng đội ngũ cán bộ đoàn

cơ sở rất đông, luân chuyển nhanh nhưng chủ yếu lại không được đào tạo, huấn luyện.

Thực trạng hiện nay đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An có khoảng 85 % được

qua lớp tập huấn dưới 7 ngày, 20% cán bộ được đào tạo lớp nghiệp vụ công tác thanh

thiếu nhi một tháng. Một vấn đề quan trọng để công tác đào tạo, bồi dưỡng có tính hệ

thống và chuyên nghiệp là phải gắn đào tạo, bồi dưỡng với việc tiêu chuẩn hóa đội ngũ

cán bộ đoàn – nhất là chức danh chủ chốt để cán bộ đoàn cơ sở nhận thức được rằng:

Muốn đảm nhận một vị trí nào đó trong hệ thống thì phải có trình độ nghiệp vụ tương

đương (tức là phải được đào tạo).

Căn cứ yêu cầu công tác, khả năng và kế hoạch quy hoạch cán bộ, ban thường

vụ đoàn cơ sở cần chủ động lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn của đơn vị

mình. trong đó cần xác định rõ những cán bộ cần được đào tạo nâng cao trình độ

chuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp vụ công tác đoàn, hội, đội; ngoại ngữ, tin học,

63

hoặc tiếng dân tộc thiểu số. Đề xuất với cấp ủy và đoàn cấp trên quan tâm tạo điều kiện

cho việc tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ. Trong điều kiện hiện nay của tỉnh Nghệ

An, Tỉnh đoàn cần tiếp tục đề xuất với Tỉnh ủy tạo điều kiện để phối hợp với Trường

Chính trị tỉnh tăng số lớp bồi dưỡng cán bộ đoàn cấp cơ sở; phối hợp với Học viện

Thanh thiếu niên Việt Nam mở các lớp đào tạo cán bộ đoàn tại tỉnh để bồi dưỡng kỹ

năng nghiệp vụ cho cán bộ đoàn cấp xã tập trung vào một số nội dung mà cán bộ còn

yếu như: những quan điểm, đường lối, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước,

những chủ trương công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, các kỹ năng nghiệp vụ

và phương pháp công tác chủ yếu đối với mỗi chức danh, kỹ năng thiết kế hoạt động;

kỹ năng tổ chức thực hiện, kỹ năng giao tiếp ứng xử; kỹ năng nghiệp vụ công tác đoàn.

Chỉ đạo Trung tâm hỗ trợ phát triển thanh niên tỉnh Nghệ An ngoài việc giúp

thanh niên học nghề, giải quyết việc làm, còn đảm nhận việc tập huấn, huấn luyện cán

bộ đoàn trong thời gian ngắn ngày, chủ yếu về kỹ năng hoạt động. Ngoài hình thức tập

huấn, các đoàn cơ sở cũng cần thiết thành lập các câu lạc bộ kỹ năng hay câu lạc bộ

cán bộ đoàn liên xã, phường. Các câu lạc bộ này vừa góp phần nâng cao chất lượng cán

bộ đoàn, vừa giao lưu học hỏi kinh nghiệm, tạo nên phong trào thi đua học tập giữa các

cán bộ đoàn.

Xây dựng các cơ chế chính sách khuyến khích động viên cán bộ đoàn cơ sở tự

học tập, tự nghiên cứu, tự đổi mới kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

và công tác thanh vận. Mạnh dạn giao việc, đưa cán bộ đoàn vào hoạt động tổ chức

phong trào thanh niên, thông qua hoạt động thực tiễn mà bồi dưỡng, đào tạo.

Cán bộ đoàn cần chủ động đề xuất việc học tập nâng cao trình độ về chuyên

môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học của mình để cấp ủy đảng, tập thể lãnh đạo xem xét,

giải quyết, tạo điều kiện cho đi học và có kế hoạch bố trí, sắp xếp công tác.

Cần đổi mới nhận thức trong việc bố trí, sử dụng cán bộ Đoàn trong diện quy

64

hoạch, khi cần bổ sung cán bộ cho một vị trí, chức danh nào thì lựa chọn một cách tập

thể dân chủ, nên tham khảo sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên.

Có quan điểm rõ ràng, không phải bất cứ cán bộ nào trong diện quy hoạch cũng đều

được sử dụng, đề bạt, không phải người được quy hoạch nào cũng đều được sử dụng,

đề bạt, không phải người được quy hoạch trước thì bố trí trước. Việc bố trí, sử dụng

cán bộ, bổ nhiệm cán bộ vào các cương vị lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào tiêu

chuẩn, năng lực, hiệu quả công việc thực tế, năng lực và khả năng phát triển của cán

bộ.

Công tác tuyển chọn cán bộ luôn là vấn đề thường xuyên nhưng rất khó khăn

đối với các đoàn cơ sở. Lý do là cán bộ đoàn thì cần phải trẻ tuổi nhưng yêu cầu nhiệm

vụ lại đặt ra tiêu chuẩn cao đối với cán bộ đoàn. Trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất

và năng lực cán bộ đoàn, cấp ủy đảng, tập thể lãnh đạo bố trí, sử dụng phù hợp với

trình độ, năng lực, sở trường và chiều hướng phát triển của cán bộ.

Việc bố trí, sử dụng cán bộ đoàn cơ sở do ban thường vụ đoàn xã chủ động phân

công, đồng thời báo cáo cấp ủy cùng cấp. Đối với Bí thư, Phó bí thư đoàn xã, ban

thường vụ đoàn cơ sở báo cáo với cấp ủy đảng xem xét, quyết định.

Cấp ủy đảng phối hợp với ban thường vụ đoàn cơ sở để xem xét, bố trí, sắp xếp

công tác cho đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở khi hết tuổi tham gia công tác đoàn hoặc đã

hoàn thành nhiệm vụ công tác đoàn phù hợp với trình độ, năng lực và quy hoạch cán

bộ đã được phê duyệt.

Nguồn tuyển chọn cán bộ đoàn cơ sở ưu tiên các bí thư chi đoàn trực thuộc, có

đủ trình độ, kinh nghiệm, năng lực, phẩm chất theo quy định. Ngoài ra, nguồn tuyển

chọn còn từ các sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có khả

năng công tác thanh niên. Hiện nay, học viên tốt nghiệp Học viện Thanh thiếu niên

Việt Nam được cấp bằng trung cấp về chuyên môn và trung cấp về chính trị. Chính vì

65

vậy, những học viên này sau khi tốt nghiệp nên quy hoạch giữ vị trí chủ chốt đoàn cấp

cơ sở. Trong quá trình công tác nếu hoàn thiện trình độ theo tiêu chuẩn, có năng lực,

tâm huyết với phong trào thì tiến hành tuyển chọn, giao nhiệm vụ theo con đường bầu

cử. Đây sẽ là đội ngũ cán bộ đoàn có chất lượng cao.

Lựa chọn, bố trí đúng cán bộ theo quan điểm của Đảng ta là phải căn cứ vào yêu

cầu công tác và sự đánh giá đúng cán bộ, nghĩa là vì việc mà dùng người, chứ không

phải vì người mà đặt việc. Giao việc cho cán bộ phải theo khả năng, trình độ, đúng

năng lực sở trường, phù hợp với sức vươn lên của từng cán bộ, phải biết tùy tài mà

dùng người, chống tư tưởng cục bộ bè phái, gia đình trong công tác cán bộ. Trong việc

lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ cần chú ý đảm bảo đúng tiêu chuẩn, thực hiện trẻ hóa

cán bộ nhưng phải bảo đảm tính liên tục và phát triển. Đề bạt cán bộ đúng lúc, giao

việc đúng tầm, đừng để đến lúc cán bộ chững lại mới đề bạt, cần phải khuyến khích

cán bộ vươn lên. Trong việc sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường phê phán

những người có các chứng bệnh sau đây:

“Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn

người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính

trực.

Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình

không hợp với mình.

Vì những bệnh đó, kết quả là những người kia đã làm bậy, mình cũng cứ bao

dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người

chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù. Như thế, cố nhiên là hỏng cả công việc của

Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”.

Do vậy, việc bố trí đúng cán bộ đoàn cơ sở vào các vị trí phù hợp trình độ, khả

năng là cực kỳ quan trọng. Trong điều kiện các xã tỉnh Nghệ An đang thiếu cán bộ đủ

66

năng lực thì việc này càng trở nên cần thiết. Việc bố trí cán bộ phải căn cứ yêu cầu

nhiệm vụ, tiêu chuẩn cán bộ, chất lượng cán bộ. Mạnh dạn sử dụng cán bộ trẻ, có trình

độ, có triển vọng, đã được rèn luyện trong thực tiễn phong trào vào các vị trí chủ chốt.

Với cán bộ đoàn cơ sở chủ chốt tuổi từ 35 trở lên thì cần lập danh sách báo cáo

cấp ủy, Đoàn cấp trên để có hướng thuyên chuyển kịp thời. Làm tốt việc này sẽ giúp

đoàn cơ sở chủ động và bản thân cán bộ yên tâm công tác, đồng thời thể hiện trách

nhiệm của tổ chức Đảng, Đoàn với cán bộ đoàn. Thực tế một số đồng chí khi được

thuyên chuyển sang môi trường mới phù hợp hơn nên đã phát huy tốt khả năng của

mình, có bước phát triển trong công việc.

Xây dựng và hoàn thành quy chế, quy trình đề bạt cán bộ, nhằm làm cho công tác

cán bộ đi vào nề nếp, thực sự có tính khoa học, đảm bảo cho công tác cán bộ hoạt động

thống nhất theo nguyên tắc, chuẩn mực chung. Tránh tình trạng tùy tiện, áp đặt, duy ý

chí trong công tác cán bộ. Hệ thống quy trình, quy chế công tác cán bộ còn là cơ sở căn

cứ để cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ kiểm tra đánh giá và giám sát hoạt động của mình

theo quy định chung.

Đánh giá cán bộ nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách

mạng, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ đoàn đồng thời làm căn cứ tuyển chọn,

quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và

thực hiện các chính sách đối với cán bộ. Trên cơ sở đảm bảo tính khách quan, toàn

diện, nguyên tắc tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình trong đánh giá cán bộ phải

làm rõ những ưu khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu và phẩm chất chính trị, đạo đức lối

sống, năng lực, hiệu quả công tác, chiều hướng phát triển của cán bộ.

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các nội dung liên quan đến việc nhận xét, đánh

giá cán bộ đoàn thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước

Thời gian đánh giá: Đánh giá cán bộ được tiến hành định kỳ hàng năm (vào

67

cuối năm), theo nhiệm kỳ công tác; trước khi tiến hành công tác quy hoạch, giới thiệu

ứng cử.

Nội dung đánh giá:

+ Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; số lượng, chất lượng, hiệu

quả công việc trong từng vị trí, từng thời gian công tác; khả năng đoàn kết, quy tụ, phát

huy cán bộ dưới quyền và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác; tinh

thần học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ lý luận chính trị, ý thức tổ chức

kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự phê bình và phê bình.

+ Về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống: việc chấp hành nghiêm chỉnh chính

sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ Đoàn, chủ trương, nghị quyết của

Đoàn cấp trên; tinh thần đoàn kết nội bộ, ý thức xây dựng địa phương, cần, kiệm, liêm,

chính, chí công vô tư, chống lãng phí, tiêu cực, bè phái cục bộ. Mối quan hệ trong công

tác với các ngành, đồng nghiệp, cán bộ đoàn cấp trên, cấp dưới, với đoàn viên thanh

niên và ý thức bảo vệ quyền lợi chính đáng của cán bộ, đoàn viên, thanh niên.

+ Chiều hướng và khả năng phát triển: trên cơ sở trình độ, năng lực, kết quả

thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao và phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống để

đánh giá chiều hướng và khả năng phát triển của cán bộ theo các hướng: có khả năng

đảm nhận các chức vụ cao hơn; ổn định; cần bố trí lại hoặc tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng.

+ Khả năng quy tụ và ảnh hưởng trong thanh thiếu nhi, trong nhân dân.

+ Sức khỏe, sở trường.

+ Phân loại, bình chọn cán bộ dựa trên cơ sở nhận xét, đánh giá. Căn cứ vào kết

quả đánh giá cán bộ phân loại thành 4 mức:

- Hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được giao: Hoàn thành vượt mức

các yêu cầu, chỉ tiêu nhiệm vụ được giao về số lượng, chất lượng, thời gian; có đề xuất

68

sáng kiến đã được áp dụng trong thực tiễn công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả

công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi; gương mẫu về phẩm chất chính trị đạo

đức lối sống; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của cán bộ đoàn theo quy định.

- Hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao: đạt các yêu cầu, nhiệm vụ

được giao về số lượng, chất lượng, thời gian; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

lành mạnh; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của cán bộ đoàn theo quy định.

- Hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao: đạt yêu cầu, nhiệm vụ được giao

dưới mức hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối

sống lành mạnh.

- Chưa hoàn hành chức trách, nhiệm vụ được giao: chưa đạt các yêu cầu, nhiệm

vụ được giao về số lượng, chất lượng, thời gian; có thiếu sót về đạo đức, lối sống, có

sai phạm trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của

Đảng, Nhà nước và Điều lệ Đoàn.

3.2.5. Tăng cường quản lý cán bộ, thực hiện tốt chế độ chính sách đối với

cán bộ đoàn cơ sở.

Quản lý cán bộ là nhằm nắm chắc cả đội ngũ cán bộ, từng người cán bộ. Việc

tạo ra một đội ngũ cán bộ có cơ cấu hợp lý và đủ tiêu chuẩn như mong muốn đòi hỏi

phải cải tiến nhiều khâu trong công tác cán bộ và chừng nào đó còn tùy thuộc vào các

điều kiện khách quan khác, vào sự nỗ lực phấn đấu của bản thân mỗi cán bộ. Song

công tác quản lý cán bộ đóng góp phần quan trọng vào quá trình đó. Nếu được tiến

hành một cách thực sự nghiêm túc, khoa học thì công tác quản lý cán bộ sẽ phát hiện

và bồi dưỡng những cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực trưởng thành nhanh, đưa họ

sớm vào các cương vị chủ chốt. Trái lại, nếu công tác quản lý cán bộ làm giản đơn,

luộm thuộm, thiếu khách quan, thì sẽ đánh đồng người làm việc tốt với người làm việc

kém, để lọt tài năng, làm nhụt chí của người có tâm huyết.

69

Hơn nữa, với quan điểm quản lý cán bộ đoàn cơ sở là nhằm mục đích bồi

dưỡng, rèn luyện, phát huy khả năng của cả đội ngũ cán bộ, làm cho từng cán bộ đoàn

cũng như toàn thể đội ngũ không ngừng lớn mạnh. Nếu thấy cán bộ gặp khó khăn, mắc

khuyết điểm thì lãnh đạo cần tìm hiểu nguyên nhân, chân thành giúp đỡ. Nếu cán bộ có

khuyết điểm, vi phạm đã được nhắc nhở, giúp đỡ mà không tiến bộ thì cần báo cáo cấp

ủy xã, Đoàn cấp trên có hướng giải quyết tùy mức độ vi phạm. Do vậy, cần phải “Tăng

cường công tác quản lý cán bộ về số lượng và chất lượng, về tư tưởng, năng lực và nhu

cầu nguyện vọng, trên cơ sở đó có biện pháp giúp đỡ, bồi dưỡng và phát huy phù hợp”.

Có thể thấy hạn chế trong công tác quản lý cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An

thời gian qua bắt nguồn từ việc buông lỏng công tác quản lý cán bộ, nhất là về phía các

huyện, thành, thị đoàn chưa có sự quản lý tốt đối với đội ngũ ban thường vụ đoàn cơ

sở, còn “khoán” cho cấp ủy cơ sở; đoàn cơ sở thì chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan

trọng của công tác quản lý cán bộ. Trong khi đó, muốn đánh giá đúng cán bộ thì cần

phải làm tốt công tác quản lý cán bộ. Do vậy, các huyện, thành, thị đoàn cần khắc phục

tình trạng trên, phải thường xuyên phân công cán bộ chuyên phụ trách theo dõi, quản lý

đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở. Đặc biệt là các vị trí bí thư, phó bí thư đoàn cơ sở cần

có sơ yếu lý lịch được bổ sung hàng năm để quản lý về hồ sơ, hoàn cảnh gia đình, năng

lực, sở trưởng, tình trạng sức khỏe, tâm tư tình cảm, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực

trong thanh thiếu nhi...; với đội ngũ ủy viên ban thường vụ đoàn cơ sở cần quản lý qua

danh sách trích ngang. Kiên quyết không thỏa thuận đồng ý giới thiệu nhân sự kiện

toàn ban thường vụ, chủ chốt đoàn cơ sở khi không đáp ứng tiêu chuẩn quy định.

Theo định kỳ, ban thường vụ đoàn cơ sở cần duy trì nghiêm túc công tác tự phê

bình và phê bình để báo cáo với cấp ủy, đoàn cấp trên và bổ sung hồ sơ cán bộ. Như

vậy, việc quản lý cán bộ đoàn muốn làm tốt thì bên cạnh vai trò của tổ chức đoàn cần

phải có vai trò của cấp ủy, đoàn thể khác thông qua ý kiến nhận xét và sự tín nhiệm của

tập thể cấp ủy, của đoàn viên thanh niên và nhân dân nơi cư trú.

70

Một trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế nhiệt tình công tác của cán

bộ đoàn cơ sở nói chung, và làm hạn chế nguồn quy hoạch lâu dài đối với đội ngũ cán

bộ đoàn cơ sở nói riêng là bắt nguồn từ chế độ chính sách. Chế độ chính sách đãi ngộ

là khâu quan trọng, là động lực để thúc đẩy phát huy mọi tiềm năng, khả năng của cán

bộ, là lực thu hút cán bộ vào các tổ chức đoàn, hội, đội. Với công tác thanh niên luôn

cần đảm bảo hai mặt, phát huy thanh niên và chăm lo, bồi dưỡng thanh niên. Với cán

bộ đoàn cơ sở thì chính sách cán bộ rất quan trọng, nó đảm bảo xây dựng đội ngũ cán

bộ đoàn đông đủ, tinh nhuệ. Trong chính sách đối với cán bộ đoàn cơ sở của tỉnh Nghệ

An cần chú trọng hơn đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng xuất phát từ thực trạng trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận của đội ngũ cán bộ đoàn.

Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng, Tỉnh đoàn và các huyện, thành, thị đoàn cần

tích cực tham mưu, đề xuất để tăng nguồn kinh phí cho việc mở các lớp tập huấn, bồi

dưỡng cán bộ, trong đó cơ sự ưu tiên đối với cán bộ người dân tộc thiểu số, vùng khó

khăn, nơi có đông đoàn viên thanh niên theo đạo và cán bộ nữ.

Về chính sách đãi ngộ vật chất, tinh thần, một thực tế chung là cán bộ đoàn cơ

sở chỉ mới có đồng chí bí thư là thuộc diện cán bộ chuyên trách cấp xã, có lương hàng

tháng nhưng nhìn chung chưa đủ đáp ứng cuộc sống, còn các cán bộ khác chỉ hưởng

phụ cấp. Ở nhiều địa phương dân cư đông, tình hình kinh tế xã hội phức tạp, cán bộ

phải làm việc nhiều giờ trong ngày, hầu như không có thứ bảy. Với mức sinh hoạt đó

chưa tương xứng với sự cống hiến của đội ngũ cán bộ, giữa cán bộ làm tốt và không tốt

chưa có ranh giới rõ ràng, chưa có sự gắn bó chặt chẽ giữa nghĩa vụ, quyền lợi và trách

nhiệm. Vì vậy, cần phải cải tiến đổi mới chế độ đãi ngộ cán bộ để động viên những

người làm tốt có hiệu quả phải được hưởng các quyền lợi xứng đáng.

Biện pháp để giải quyết sự bất hợp lý đó là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,

giao cho cán bộ đoàn đảm nhiệm thêm một số việc, thời gian làm việc tăng theo như

thời gian hành chính để xem làm cán bộ đoàn ở cơ sở cũng như là một nghề, và là nơi

71

hấp dẫn thu hút mọi đối tượng có năng lực vào làm việc ở đoàn cơ sở. Tiếp đến là cần

tăng cường công tác quản lý, không ngừng nâng cao số vốn ủy thác do đoàn quản lý

cho thanh niên vay vốn để phát triển sản xuất; đảm nhận các công trình thanh niên,

phối hợp với các ngành, doanh nghiệp thực hiện một số chương trình, dự án như làm

đường giao thông nông thôn, nạo vét kênh mương, xây dựng mô hình, tư vấn, giới

thiệu việc làm,... để tạo nguồn kinh phí hoạt động cho đoàn, có nguồn công tác phí bồi

dưỡng cho cán bộ.

3.2.6. Đổi mới về lề lối và phong cách làm việc.

Lề lối làm việc là những quy định về cách thức, nguyên tắc làm việc đã trở

thành thói quen. Lề lối và phong cách làm việc luôn giữ vai trò quyết định trực tiếp đến

tính hiệu quả trong hoạt động, bởi vì nếu có lề lối và phong cách làm việc tốt thì sẽ tạo

ra cách thức hoạt động tốt và theo đó phát huy được những năng lực chủ quan phù hợp

với điều kiện khách quan để đạt hiệu quả tối đa. Đối với đoàn cơ sở, việc đổi mới lề lối

và phong cách làm việc là một yêu cầu thực tiễn khách quan, khi tình hình nhiệm vụ

công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi đã có những thay đổi. Những năm gần đây

phong trào của đoàn phát động là “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ

quốc” phát triển với nhiều nội dung phong phú, thiết thực, tạo môi trường bồi dưỡng,

phát huy thanh niên xung kích tham gia phát triển kinh tế - xã hội, tình nguyện vì cuộc

sống cộng đồng, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội

và "4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp" đã mang lại hiệu quả thiết thực,

góp phần giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của thanh niên, huy động

được các nguồn lực xã hội để hỗ trợ thanh niên trong học tập, công tác và cuộc sống;

các chiến dịch như “Tháng thanh niên”, “Chiến dịch thanh niên học sinh, sinh viên tình

nguyện hè”,... phát động thanh niên xung phong tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng,

thi đua làm giàu; hơn nữa trong cơ chế thị trường và xu hướng đổi mới hệ thống chính

trị đã làm cho nhận thức chính trị cũng như đời sống xã hội của thanh niên hiện nay

72

cao hơn và dân chủ hơn; do vậy cũng cần phải đổi mới lề lối và phong cách làm việc

phù hợp với tình hình đặc hình đặc điểm.

Thực trạng hiện nay, không ít cán bộ đoàn cơ sở không bắt kịp được với nhu cầu

của thanh niên, hành chính hóa công tác đoàn, nặng về tuyên truyền một chiều, xơ

cứng; một số cán bộ đoàn trở thành “quan” đoàn, phong cách làm việc xa rời với quần

chúng, không hiểu được tâm tư nguyện vọng của đoàn viên, thanh niên; không ít nơi vi

phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không hoạch định được chương trình công tác, lề

lối làm việc không được đảm bảo, sinh hoạt tùy tiện làm giảm sức chiến đấu của tổ

chức. Vì vậy, cần phải đổi mới lề lối, phong cách làm việc của cán bộ đoàn để đội ngũ

này đáp ứng được vai trò định hướng chính trị, bảo trợ cho các nhóm lợi ích, sở thích

của thanh niên ra đời và hoạt động trong quỹ đạo xã hội công dân lành mạnh.

Để đổi mới lề lối và phong cách làm việc của ban thường vụ đoàn cơ sở cần

phải xây dựng được quy chế làm việc, quy định rõ chức trách, chế độ công tác, quyền

hạn của cá nhân, tập thể, nguyên tắc làm việc, lề lối chỉ đạo, trong đó tập trung vào các

vấn đề sau:

- Chế độ sinh hoạt một tháng một lần nhằm đánh giá công việc trong tháng

trước và xây dựng kế hoạch tháng tiếp theo; họp đột xuất khi cần để triển khai các nội

dung, chỉ thị của đoàn cấp trên hoặc của cấp ủy.

- Trong từng nội dung công việc, ban thường vụ thảo luận tập thể, dân chủ, chủ

trì phiên họp tổng hợp ý kiến quyết định phương án thực hiện. Từng ủy viên ban

thường vụ có quyền và có trách nhiệm tham gia vào các quyết định của tập thể

- Trong quá trình hoạt động, từng cán bộ đoàn cơ sở đều được phân công và phải đảm

nhận phụ trách từng mặt công tác cụ thể, phải chịu trách nhiệm trước tập thể ban thường vụ về

mặt công tác, lĩnh vực được phân công phụ trách.

- Các vấn đề đưa ra bàn bạc tại hội nghị đều phải được chuẩn bị chu đáo và

73

thông báo trước cho từng ủy viên ban thường vụ để chủ động nghiên cứu, tham gia có

hiệu quả. Trong hội nghị cần tập trung thảo luận để làm rõ những vấn đề trọng tâm và

những ý kiến còn khác nhau.

3.2.7. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và tổ chức đoàn các cấp.

Trước yêu cầu đổi mới diễn ra trong bối cảnh đất nước đang đẩy nhanh CNH-

HĐH và hội nhập quốc tế, sẽ chứa đựng nhiều khả năng khó lường trước. Thời kỳ này

vừa có những thuận lợi, vừa có nhiều thử thách mới, đồng thời xuất phát từ vai trò đặc

biệt quan trọng của cán bộ và thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ

sở, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và đoàn cấp trên để xây

dựng được đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trung thành với lý tưởng của Đảng, có phẩm chất

đạo đức tốt, vững vàng, không dao động; đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước

những biến đổi khó khăn.

Sự thật lịch sử luôn chỉ ra rằng, nếu không đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán

bộ kế cận thì sẽ không kế tục được sự nghiệp cách mạng mà Đảng và dân tộc đã dày

công vun đắp. Song đứng trước cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân

làm chủ trong thực tế chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện nên việc nâng cao chất lượng cán

bộ đoàn còn gặp phải một số trở ngại. Để khắc phục những hạn chế này, trong thời

gian tới cần phải định hướng lãnh đạo và tạo các điều kiện cần thiết cho Đoàn cấp xã

nâng cao chất lượng cán bộ theo hướng sau:

- Giữ vững chế độ làm việc định kỳ giữa cấp ủy, đoàn cấp trên định hướng cho

đoàn cơ sở hoạt động, trọng tâm là công tác cán bộ. Coi trọng vai trò chủ động của

đoàn cơ sở trong đánh giá, quy hoạch, tuyển chọn cán bộ, đồng thời đáp ứng những

nhu cầu chính đáng trong chính sách cán bộ đối với cán bộ đoàn.

- Đặt đúng vị trí, vai trò của cán bộ đoàn cơ sở, coi việc nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ đoàn chính là xây dựng trước một bước đội ngũ cán bộ cho Đảng, chính

74

quyền, các đoàn thể và đoàn cấp trên. Vì vậy phải gắn giao việc cho cán bộ để rèn luyện

cống hiến và trưởng thành với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như cử đi học các lớp nâng cao

trình độ chính trị, đề bạt cán bộ,...

- Phân công ủy viên trong cấp ủy theo dõi đoàn thanh niên, thường xuyên dự

sinh hoạt đoàn để gắn quản lý đội ngũ cán bộ với chấn chỉnh những suy nghĩ lệch lạc

về cán bộ, đồng thời quán triệt các yêu cầu của Đảng trong nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ tới cán bộ đoàn. Đoàn cấp trên cần tăng cường công tác kiểm tra theo

chuyên đề, có thể tiến hành kiểm tra chéo các đơn vị. Hoạt động kiểm tra được triển

khai nghiêm túc sẽ giúp đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở nhận thức được khiếm khuyết, hạn

chế để có hướng khắc phục.

75

KẾT LUẬN

Năng lực của người đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có vai trò hết sức quan trọng đối

với chất lượng hiệu quả hoạt động của tổ chức đoàn. Năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn

cơ sở là các cá nhân, nhưng nó có tác động, ảnh hưởng lớn đối với tổ chức, nó có thể

làm nâng cao hoặc giảm sút năng lực của một tập thể, của một tổ chức và cả một hệ

thống chính trị.

Trong giai đoạn hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang tích cực đẩy mạnh sự

nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát

triển, làm tiền đề để đến năm 2020 cơ bản đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo

hướng hiện đại. Thực tiễn cho thấy, vai trò của tổ chức đoàn thanh niên càng trở nên

quan trọng, là hạt nhân đoàn kết, tập hợp, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên xung kích

đi đầu thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Vì vậy, hơn lúc

nào hết, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn có ý nghĩa quyết định.

Xác định được vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ đoàn, trong thời gian qua

các cấp bộ đoàn trong toàn tỉnh Nghệ An đã tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, mà trọng tâm là đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở để trực tiếp phục vụ cho yêu cầu công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Nhiều nội dung trong công tác cán bộ

không ngừng được đổi mới và đã đạt được kết quả bước đầu tương đối quan trọng

trong đánh giá, quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ đoàn cơ sở.

Chuyển biến này đã tác động tích cực vào việc xây dựng tổ chức đoàn xã vững mạnh,

tăng cường công tác đoàn kết tập hợp thanh niên thi đua làm giàu, xây dựng Đảng, xây

dựng quê hương.

Nội dung luận văn cũng đã khái quát được cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực

đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Luận văn cũng đã nêu lên, phân tích rõ thực trạng thanh

niên và công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới nhất là những năm gần đây: Thực

76

trạng năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở, con đường gây dựng và nâng cao năng lực

của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra những yêu cầu,

những giải pháp, kiến nghị nhằm củng cố và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ

sở ở tỉnh Nghệ An trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH.

Các giải pháp nêu trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, làm tốt giải pháp

này sẽ là tiền đề cho việc thực hiện giải pháp khác, vì vậy trong quá trình triển khai

không được xem nhẹ giải pháp nào.

Những nội dung, giải pháp nêu ra trong luận văn mới chỉ là những tìm tòi ban

đầu, rất cần được bổ sung, kiểm nghiệm trong thực tiễn. Sự quan tâm ủng hộ của cấp

ủy, các cấp bộ đoàn và cửa đội ngũ cán bộ đoàn, đoàn viên thanh niên sẽ là những nhân

tố quyết định việc thực hiện các giải pháp ở trên, và do đó quyết định tới việc xây

dựng, củng cố và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An.

77

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát

PHIẾU ĐÁNH GIÁ

Để giúp cho công tác nghiên cứu nâng cao chất lượng cán bộ đoàn có kết quả

tốt, xin đồng chí cho biết ý kiến tự đánh giá của mình về phẩm chất đạo đức, lối sống

và năng lực, phong cách công tác của cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An theo những

tiêu chí dưới đây, khi đánh giá đồng chí chú ý tới các mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu.

Cụ thể:

- Tốt: là hoàn thành đầy đủ, đạt hầu hết các nội dung của tiêu chí; nếu còn hạn

chế chỉ là một phần rất nhỏ (đạt trên 85% nội dung), xin đánh dấu (x) vào cột tốt (4).

- Khá: là hoàn thành phần lớn các nội dung của tiêu chí, song vẫn còn một số

hạn chế nhỏ (ở mức độ 65 – 84%), xin đánh dấu (x) vào cột khá (3).

- Trung bình: là hoàn thành được một số nội dung cơ bản, song vẫn còn một số hạn

chế nhất định (được 50 – 64%), đánh dấu (x) vào cột trung bình (2).

- Yếu: là chưa đạt được các nội dung cơ bản, còn một số yếu điểm (thực hiện

dưới 50% nội dung), xin đánh dấu (x) vào cột yếu (1).

Ý kiến đánh giá TT

Hệ thống tiêu chí phẩm chất đạo đức, lối sống 4 3 2 1

1 Bản lĩnh chính trị vững vàng

2 Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, của Đoàn

3 Chấp hành nội quy, quy chế của Đoàn, pháp luật của Nhà

nước

4 Nói đi đôi với làm

5 Tinh thần học tập nâng cao trình độ

6 Có trách nhiệm cao với công việc, nhiệt tình, sáng tạo

78

7 Đạo đức trong sáng, sống trung thực

8 Phấn đấu vì tập thể, mình vì mọi người

9 Sống chân tình, cởi mở, được mọi người tin yêu

10 Thẳng thắn trong đấu tranh tự phê bình và phê bình

11 Tích cực đấu tranh với tệ nạn xã hội

Hệ thống tiêu chí năng lực và phong cách công tác

1 Trình độ đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ đạt chuẩn theo

quy định

2 Nắm vững và cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của

Đảng, Đoàn, pháp luật của Nhà nước vào công việc

3 Kết quả công tác (số lượng công việc hoàn thành trong năm)

4 Hiểu và thực hiện đúng vai trò, chức trách nhiệm vụ được

phân công

5 Năng lực hoàn thành nhiệm vụ, đúc kết kinh nghiệm, phát

huy sáng kiến

6 Nhạy cảm, tinh tế trong ứng xử các mối quan hệ làm việc

7 Chủ động trong công việc, có khả năng tham mưu những

vấn đề lớn trong lĩnh vực công tác

8 Sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ khó khăn khi

được giao

9 Khả năng phối hợp trong công tác (phối hợp công tác với

các tổ chức liên quan và đồng nghiệp)

Xin chân thành cảm ơn.

79

Phụ lục 2: Kết quả đánh giá về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ

đoàn cơ sở

Ý kiến lãnh đạo Ý kiến cán bộ đoàn Ý kiến đoàn viên TT Hệ thống tiêu chí

phẩm chất đạo 4 3 2 1 TB 4 3 2 1 TB 4 3 2 1 TB

đức, lối sống

1 Bản lĩnh chính trị 25 18 1 3.54 24 22 3.52 35 36 4 3.41

vững vàng

20 24 3.45 22 22 2 3.43 37 31 7 3.4 2 Nắm vững đường

lối, chủ trương

của Đảng, của

Đoàn

30 14 3.68 29 16 1 3.6 50 24 1 3.62 3 Chấp hành nội

quy, quy chế của

Đoàn, pháp luật

của Nhà nước

4 Nói đi đôi với 21 22 1 3.45 25 21 3.54 45 30 3.6

làm

5 Tinh thần học tập 15 27 2 3.3 17 26 3 3.3 40 33 2 3.48

nâng cao trình độ

26 18 3.6 27 19 3.59 47 28 3.62 6 Có trách nhiệm

cao với công việc,

nhiệt tình, sáng

tạo

32 12 3.72 25 11 3.76 55 20 3.73 7 Đạo đức trong

sáng, sống trung

thực

8 Phấn đấu vì tập 31 13 3.7 30 16 3.65 51 24 3.68

80

thể, mình vì mọi

người

27 17 3.61 27 18 1 3.56 50 23 2 3.64 9 Sống chân tình,

cởi mở, được mọi

người tin yêu

18 21 4 1 3.27 20 22 4 3.34 35 49 1 3.85 1 Thẳng thắn trong

đấu tranh tự phê 0

bình và phê bình

32 12 3.72 33 13 3.72 65 10 3.86 1 Tích cực đấu

tranh với tệ nạn 1

xã hội

81

Phụ lục 3: Kết quả đánh giá về năng lực và phong cách công tác của cán bộ

đoàn cơ sở

Ý kiến lãnh đạo Ý kiến cán bộ đoàn Ý kiến đoàn viên T Hệ thống tiêu chí

T năng lực và phong 4 3 2 1 TB 4 3 2 1 TB 4 3 2 1 TB

cách công tác

19 25 3.43 16 18 5 7 2.93 25 34 8 8 3.01 1 Trình độ đào tạo về

chuyên môn,

nghiệp vụ đạt

chuẩn theo quy

định

21 20 3 3.4 21 21 4 3.37 32 43 3.42 2 Nắm vững và cụ

thể hóa các chủ

trương, chính sách

của Đảng, Đoàn,

pháp luật của Nhà

nước vào công việc

24 20 3.54 25 20 1 3.5 39 33 3 3.48 3 Kết quả công tác

(số lượng công

việc hoàn thành

trong năm)

25 19 3.56 26 19 1 3.52 40 35 3.53 4 Hiểu và thực hiện

đúng vai trò, chức

trách nhiệm vụ

được phân công

5 Năng lực hoàn 13 19 6 6 2.88 14 19 6 7 2.87 23 35 7 1 2.95

82

0 thành nhiệm vụ,

đúc kết kinh

nghiệm, phát huy

sáng kiến

23 21 3.52 25 21 3.54 38 35 2 3.48 6 Nhạy cảm, tinh tế

trong ứng xử các

mối quan hệ làm

việc

15 17 5 7 2.9 19 24 3 3.34 37 36 2 3.46 7 Chủ động trong

công việc, có khả

năng tham mưu

những vấn đề lớn

trong lĩnh vực công

tác

26 17 1 3.57 28 17 3.54 45 30 3.6 8 Sẵn sàng nhận và

hoàn thành mọi

nhiệm vụ khó khăn

khi được giao

19 21 3 1 3.23 19 23 4 3.32 31 42 2 3.36 9 Khả năng phối hợp

trong công tác

(phối hợp công tác

với các tổ chức liên

quan và đồng

nghiệp)

83

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thọ Ánh (2006), Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị, Nhà

xuất bản Thanh niên; Hà Nội.

2. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An (1998), Lịch sử Đảng

bộ tỉnh Nghệ An, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An (2004), Báo cáo của Ban thường vụ Tỉnh uỷ

Nghệ An về tổng kết Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về "Công tác

thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá" và một số chủ

trương biện pháp để tiếp tục thực hiện Nghị quyết, tài liệu lưu hành nội bộ.

4. Ban Tổ chức Tỉnh đoàn Nghệ An (2009), Thống kê đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở giai

đoạn 2005-2009, tài liệu lưu hành nội bộ.

5. Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An (2007), Báo cáo tổng kết đại hội đoàn cơ sở xã

phường thị trấn, tài liệu lưu hành nội bộ.

6. Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An (2007), Dự thảo Báo cáo của Ban chấp hành

Tỉnh đoàn Nghệ An khoá XIV trình Đại hội đại biểu đoàn toàn tỉnh lần thứ XV, liệu

lưu hành nội bộ.

7. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003 của Chính Phủ về chế độ, chính sách đối

với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, http//www.chinhphu.vn.

8. Lê Văn Cầu (1999), "Đổi mới đội ngũ cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí

Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay"; luận án tiến sỹ, thực hiện tại Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1999.

9. An Đình Doanh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Công Tiệp (2009), Giới thiệu một số

kết quả nghiên cứu về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham gia phát triển tài năng trẻ

84

trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.

10. Nguyễn Bá Dương (chủ biên), Lê Văn Thái, Nguyễn Văn Nhận (2002), Tâm lí học

quản lí dành cho người lãnh đạo, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

11. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành

Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới. Nxb. Sự

thật, Hà Nội.

12. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành

Trung ương Đảng (khoá VIII), về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước. Nxb. Chính trị quốc gia.

13. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nhà xuất bản

chính trị Quốc gia; Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Quyết định số 289-QĐ/TW của Ban Bí thư

Trung ương Đảng ngày 08/02/2010 về “Ban hành quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ

Chí Minh”.

15. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2007), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS

Hồ Chí Minh lần thứ IX, Nhà xuất bản thanh niên, Hà Nội.

16. Dương Tự Đam (2000), Những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về

xây dựng Đảng, xây dựng Đoàn. Nxb. Thanh niên.

17. Lãnh Thị Bích Hoà (2006), Uy tín người lãnh đạo, quản lí và việc nâng cao phẩm

chất đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, Tập chí

Tâm lí học, tr.37-40, Hà Nội.

18. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng (2007), Giáo trình

xây dựng Đảng (Chương trình cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

85

19. Lịch sử Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Nghệ

An, Nhà xuất bản thanh niên, Hà Nội, 2001.

20. Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 5. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội 1995.

21. Vương Quang Minh (2007), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ

Chí Minh cấp xã ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay, luận văn cao cấp lý luận

chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

22. Vương Quang Minh (2005), "Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm

trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về công tác thanh niên ở Nghệ An", Tạp

chí Thanh niên, số 12-2005.

23. Hoàng Phê -chủ biên (2000), Viện ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất

bản Đà Nẵng.

24. Minh Tiến, Thanh Hà (2006), "Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng chính trị

cách mạng đối với cán bộ, công chức đảng viên, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng

sản Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới"; Nxb. Lao động Xã hội, năm 2006.

25. Văn Tùng (2001), Một số vấn đề về công tác thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước, của tác giả , Nxb.Thanh niên, Hà Nội,

26. Tỉnh ủy Nghệ An (2007), Quyết định số 631- QĐ/TU ngày 20/11/2007 của Ban

Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An “về phân cấp quản lý cán bộ” .

27. Nguyễn Văn Thanh (2004), Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với việc tham gia phát triển

tài năng trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb. Thanh

niên, Hà Nội, năm 2004.

28. Đoàn Văn Thái (2004), Nhiệm vụ cơ bản của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.

29. Đoàn Văn Thái (2008), "Đổi mới phương thức hoạt động và lề lối làm việc của Đoàn

86

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong tiến trình cải cách hành chính ở Việt Nam";

Nxb. Thanh niên, Hà Nội năm 2008.

30. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2003), Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn,

Nxb. Thanh niên, Hà Nội.

31. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban

chấp hành Trung ương Đoàn khoá VIII về công tác cán bộ đoàn trong thời kỳ mới,

Nxb. Thanh niên, Hà Nội

32. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban tổ chức (2004), Một số văn bản về công

tác cán bộ đoàn trong thời kỳ mới, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.

33. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban tổ chức (2006), Hướng dẫn kỹ năng

nghiệp vụ công tác tổ chức của Đoàn, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.

34. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban tổ chức (2006), Một số văn bản về nâng

cao chất lượng tổ chức cơ sở đoàn, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.

35. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của Ban Tư

tưởng Văn hoá Trung ương Đoàn, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2008

36. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Sở nội vụ (2004), Đề án chế độ phụ cấp cho cán

bộ không chuyên trách ở cấp xã và ở xóm, khối, bản. tài liệu lưu hành nội bộ.

87