BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------
Ì
N G U Y Ễ N Đ N H H Ù N G
Nguyễn Đình Hùng
XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA
Q U Ả N T R
NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ
Ị
I
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN
K N H D O A N H
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH
K H O Á
: 2 0 1 1 B
Hà Nội – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------
Nguyễn Đình Hùng
XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA
NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS Lê Thị Anh Vân
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực của
người lãnh đạo Đoàn cấp cơ sở trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại
hóa đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu riêng
của cá nhân tôi. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn là trung
thực và rõ ràng.
Nghệ An, ngày 20 tháng 3 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Hùng
2
MỤC LỤC
Trang phụ bìa ......................................................................................................................2
Lời cam đoan .......................................................................................................................3
Danh mục các chữ viết tắt ...................................................................................................4
Danh mục các bảng .............................................................................................................5
Mở đầu ................................................................................................................................6
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................8
2. Lịch sử nghiên cứu ..........................................................................................................9
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu......................................................................11
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.....................................................................12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ
ĐOÀN CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH .................................13
1.1. CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ ..........................................................................................13
1.1.1. Khái niệm cán bộ đoàn cơ sở ..................................................................................13
1.1.2. Vai trò của cán bộ đoàn cơ sở .................................................................................14
1.1.3. Đặc điểm của cán bộ đoàn cơ sở .............................................................................16
1.1.4. Phân loại cán bộ đoàn cơ sở ....................................................................................16
1.2. NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ ...................................17
1.2.1. Khái niệm năng lực lãnh đạo ...................................................................................17
1.2.2. Yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa – hiện đại hóa .........................................................................................18
1.2.3. Tiêu chí đo lường năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở .................................21
1.2.4. Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở ...........................22
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA
NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH –
HĐH ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN ..............25
3
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN .............25
2.2. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH NGHỆ AN .............................................................................................................30
2.2.1. Số lượng .................................................................................................................. 30
2.2.2. Chất lượng ...............................................................................................................31
2.2.3. Cơ cấu .....................................................................................................................34
2.3. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ...............................................................................35
2.3.1. Điểm mạnh và nguyên nhân.................................................................................... 36
2.3.2. Điểm yếu và nguyên nhân .......................................................................................39
Chương 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO
CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG
NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ
AN
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN CỦA TỈNH NGHỆ AN ..................................................................... 44
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN
CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN
ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ...................................... 49
KẾT LUẬN ......................................................................................................................68
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 70
PHỤ LỤC .........................................................................................................................76
4
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt: 1. Đoàn Thanh niên Cộng sản: Đoàn TNCS
2. Đội Thiếu niên tiền phong: Đội TNTP
3. Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa: CNH – HĐH
4. Đoàn viên thanh niên: ĐVTN
5. Xã hội chủ nghĩa: XHCN
6. Ban Thường vụ: BTV
7. Ban Chấp hành: BCH
5
Danh mục các bảng:
Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.2: Thống kê về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ cán
bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy thanh niên luôn là lực lượng xung kích,
đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay, sự nghiệp
đổi mới có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào lực lượng thanh niên.
Đoàn Thanh niên cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, chỗ
dựa vững chắc của chính quyền; để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà đất nước đang
đặt ra đối với thanh niên thì đòi hỏi cần phải có đội ngũ cán bộ đoàn đủ phẩm chất và
năng lực
Khi nói về vai trò của thanh niên và đội ngũ cán bộ đoàn trong sự nghiệp đổi
mới Đảng ta đã khẳng định: "Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước
bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách
mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không phần lớn tùy thuộc
vào lực lượng thanh niên, vào sự bồi dưỡng, rèn luyện của thế hệ thanh niên" Do đó,
xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực, giữ vai trò hết sức quan trọng, vì chính đội
ngũ cán bộ đoàn là những người lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối, biến đường lối,
chính sách thành hiện thực.
Trong hệ thống tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thì đoàn cơ sở giữ vai trò
quan trọng, quyết định hiệu quả việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của các cấp bộ đoàn. Trong điều kiện
đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH thì cần phải nâng cao năng lực cán bộ đoàn cơ sở. Đội
ngũ cán bộ đoàn có năng lực là điều kiện cần thiết để đoàn kết, tập hợp và phát huy
những tiềm năng, thế mạnh của đoàn viên vào việc tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
Vấn đề này càng trở nên quan trọng và cấp bách khi năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý đang nói chung, trong đó có cán bộ đoàn nói riêng đang có chiều hướng
7
giảm sút như Đảng ta đã chỉ rõ: Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng, khi
nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức
kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Những yếu kém này đang
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiềm tin, uy tín của Đảng và Nhà nước đối với các
tầng lớp nhân dân.
Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH-HĐH vị trí của thanh niên và tổ chức đoàn ngày
càng giữ một vị trí hết sức quan trọng, do đó, củng cố, nâng cao năng lực của đội ngũ
cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết, đặc biệt là đội ngũ cán bộ đoàn
cơ sở. Tính đến tháng 5/2012, tổng số xã, phường, thị trấn của tỉnh Nghệ An là 477
đơn vị, theo đó có 477 tổ chức đoàn cấp xã, với tổng số 5.404 đồng chí uỷ viên Ban
Chấp hành được Đại hội Đoàn cấp xã bầu, trong đó có 1.741 đồng chí cán bộ đoàn.
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An đã có những chuyển
biến mạnh mẽ, không ngừng được củng cố, nâng cao về năng lực, góp phần tích cực
thực hiện thành công việc đẩy mạnh CNH-HĐH ở cơ sở. Đội ngũ cán bộ đoàn ngày
càng được trẻ hóa, có kiến thức cơ bản cần thiết về kinh tế - xã hội; các cấp ủy cũng đã
quan tâm hơn trong việc bồi dưỡng, tạo điều kiện cho tuổi trẻ cống hiến và trưởng
thành.
Thực tiễn cho thấy, cán bộ và công tác cán bộ đoàn cơ sở nhìn chung đang đứng
trước những khó khăn, hạn chế đó là khả năng đáp ứng ngày càng đa dạng nhu cầu của
thanh niên; công tác quy hoạch, đào tạo còn bất cập chưa đáp ứng được đặc thù cán bộ
đoàn luân chuyển nhanh. Cán bộ ít được đào tạo bài bản, phần lớn dựa vào kinh
nghiệm; một bộ phận năng lực công tác, phương pháp, lề lối làm việc hạn chế, thiếu
nhiệt tình say mê với phong trào, khó thuyên chuyển điều này đã góp phần không nhỏ
làm giảm suy giảm năng lực của tổ chức đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn. Từ thực trạng
đó, trrước yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH, với trách nhiệm của
8
người cán bộ đoàn, tôi chọn đề tài: “Xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo của
người cán bộ đoàn cấp cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp lớp cao
cấp lý luận chính trị của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Về chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở nói
riêng thì đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập từ những góc độ khác nhau; các
nghiên cứu này được trình bày dưới nhiều hình thức như sách tham khảo, luận văn,
luận án, các bài viết đăng báo, tạp chí… Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Luận án tiến sỹ "Đổi mới đội ngũ cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay"; của nghiên cứu sinh Lê Văn Cầu, thực hiện
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1999.
- Luận văn thạc sỹ: "Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục truyền thống cho đoàn viên các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An" của tác
giả Vương Quang Minh; bảo vệ tại Trường Đại học Vinh năm 2001.
- Bài "Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm trong thực hiện Nghị
quyết Trung ương 4 về công tác thanh niên ở Nghệ An", của tác giả Vương Quang
Minh, đăng trên Tạp chí Thanh niên, số 12-2005.
- Sách chuyên khảo "Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị", của
tác giả Nguyễn Thọ Ánh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội năm 2006.
- Sách tham khảo "Đổi mới phương thức hoạt động và lề lối làm việc của Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong tiến trình cải cách hành chính ở Việt Nam" của
tác giả Đoàn Văn Thái; Nxb. Thanh niên, Hà Nội năm 2008.
9
- Sách tham khảo "Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng chính trị cách mạng
đối với cán bộ, công chức đảng viên, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh trong thời kỳ đổi mới", do Minh Tiến, Thanh Hà sưu tầm và tuyển chọn; Nxb.
Lao động Xã hội, năm 2006.
- Sách: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với việc tham gia phát triển tài năng trẻ
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của tác giả Nguyễn Văn
Thanh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, năm 2004.
- Sách: Giới thiệu một số kết quả nghiên cứu về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham
gia phát triển tài năng trẻ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, của nhóm tác
giả An Đình Doanh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Công Tiệp, Nxb. Thanh niên, Hà Nội,
năm 2009.
- Sách: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương
Đoàn, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2008.
- Sách: Tâm lí học quản lí dành cho người lãnh đạo, của các tác giả Nguyễn Bá
Dương (chủ biên), Lê Văn Thái, Nguyễn Văn Nhận, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
năm 2002.
- Bài: Uy tín người lãnh đạo, quản lí và việc nâng cao phẩm chất đạo đức cách
mạng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, của tác giả Lãnh Thị Bích Hoà,
đăng trên số 1, tạp chí Tâm lí học, tr.37-40, Hà Nội, năm 2006.
- Sách: Một số vấn đề về công tác thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, của tác giả Văn Tùng, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2001.
Nghiên cứu về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở là
vấn đề phức tạp còn tương đối mới mẻ. Những công trình nghiên cứu về vấn đề này mà
10
tác giả tiếp cận được đã trình bày được những vấn đề mang tính chất lý luận chung; mà
chưa đề cập sâu đến những vấn đề mang tính thực tiễn đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở, đặc
biệt ở một địa bàn như tỉnh Nghệ An.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH qua thực
tiễn ở tỉnh Nghệ An.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về vai trò của cán bộ đoàn; các quan niệm
về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở; tiêu chí đánh giá, những nhân tố tác động
và ảnh hưởng đến năng lực cán bộ đoàn cơ sở.
- Phân tích thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ
An trong thời gian qua, qua đó rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh
nghiệm.
- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng
lực đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-
HĐH.
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn nghiên cứu đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là các uỷ viên
Ban Thường vụ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An từ năm 2007 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
4.1. Cơ sở lý luận.
11
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng
phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận và phương pháp
luận nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn cũng tiếp cận những lý thuyết, kinh nghiệm, kế
thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu, số liệu điều tra, tổng kết thực tiễn của các
cá nhân, tổ chức để nghiên cứu vấn đề.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp tổng hợp; phương
pháp khảo cứu tài liệu; phương pháp chuyên gia; phương pháp xã hội học…
5. Kết cấu của Luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết gồm 3 chương với 6 tiết.
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ
TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH - HĐH
1.1. CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ
1.1.1. Khái niệm cán bộ đoàn cơ sở
Cán bộ là vấn đề rất quan trọng, trong tình hình hiện nay vấn đề đó càng trở nên
cấp bách và có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp đổi mới và sự sống còn của một chế
độ. Bởi vì, cán bộ là lực lượng nòng cốt trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước và
các đoàn thể quần chúng, đồng thời là người lãnh đạo quản lý điều hành toàn bộ guồng
máy trong hệ thống chính trị. Mỗi giai đoạn cách mạng đều có nhiệm vụ, yêu cầu khác
nhau. Do vậy, đội ngũ cán bộ phải luôn được củng cố, đào tạo, nâng lên ngang tầm và
thích ứng với yêu cầu từng giai đoạn cách mạng. Nếu chất lượng cán bộ không chuyển
kịp với tình hình và nhiệm vụ mới thì không những cán bộ không quyết định thắng lợi
đường lối mà còn mắc sai lầm. Trong chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách
mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt
trong công tác xây dựng Đảng”.
Cán bộ đoàn là cán bộ hoạt động chính trị - xã hội được Đảng giao nhịêm vụ
làm công tác vận động thanh thiếu nhi, trực tiếp thực hiện công tác vận động tuyên
truyền giáo dục thanh thiếu nhi theo đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và Điều
lệ Đoàn. Đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp gồm: Cán bộ đoàn chủ
chốt, cán bộ đoàn chuyên trách, cán bộ đoàn bán chuyên trách, cán bộ đoàn không
chuyên trách, cán bộ đoàn kiêm nhiệm. Trong đó, đội ngũ cán bộ đoàn chủ chốt là
những cán bộ đứng đầu, quan trọng nhất, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động
của tổ chức đoàn thanh niên ở từng cấp, từ cơ sở đến Trung ương như bí thư đoàn xã,
13
bí thư huyện đoàn, bí thư tỉnh đoàn.
Trong hệ thống phân cấp hành chính Việt Nam, cấp cơ sở là cấp thấp nhất,
thường được gọi chung là cấp xã, bao gồm cả xã - phường - thị trấn. Đây là nơi diễn ra
mọi hoạt động và cuộc sống của người dân. Cán bộ cấp cơ sở nói chung và cán bộ đoàn
cơ sở nói riêng là những người hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, có điều kiện
gần gũi, hiểu biết về người dân; năm bắt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, phát hiện
kịp thời những vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, chính họ cũng
là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật
của Nhà nước và các chủ trương của Đoàn vào cuộc sống.
Cán bộ đoàn cấp cơ sở là những người tham gia Ban Thường vụ đoàn cấp xã,
phường, thị trấn. Họ là những người xung kích đi đầu trong các hoạt động của Đoàn ở
địa phương; là cánh tay nối dài của Đảng, Nhà nước, Mặt trận ở cơ sở đến thanh niên,
đoàn viên. Cán bộ đoàn cấp cơ sở là những người được bầu lên bởi đại hội đoàn.
Trong đời sống hằng ngày họ là những người gương mẫu, được sự tín nhiệm
của đoàn viên, sự tin tưởng của Đảng, chính quyền, Mặt trận; là lực lượng đi đầu, làm
gương cho các thế hệ thiếu niên, nhi đồng, trong xây dựng nếp sống văn hóa, giáo dục
truyền thống đạo đức, giữ gìn thuần phong mỹ tục, phong chống tệ nạn xã hội, mê tín,
dị đoan…
Ngoài ra, cán bộ đoàn cấp cơ sở còn là đội ngũ cán bộ dự bị cho Đảng, chính
quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.
1.1.2. Vai trò của cán bộ đoàn cơ sở
Từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam về vai trò cán bộ, công tác cán bộ trong sự nghiệp cách mạng nói
chung đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có vai trò rất quan trọng, thể hiện trên các mặt sau:
14
Một là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải đảm nhận nhiệm vụ của người cán bộ
đoàn chuyên trách.
Cán bộ đoàn cấp cơ sở là cấp thứ tư trong hệ thống tổ chức của Đoàn thanh
niên; ở cấp này không được thành lập cơ quan chuyên trách để giúp việc cho Ban
Thường vụ, Ban Chấp hành đoàn cơ sở. Cán bộ đoàn cấp cơ sở là người cụ thể hoá các
chủ trương chính sách của cấp trên, tham mưu cho cấp uỷ lãnh đạo công tác thanh niên,
đồng thời là người trực tiếp đưa chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của các cấp
bộ Đoàn đến với chi đoàn - là tổ chức tế bào của Đoàn, để tổ chức tuyên truyền và vận
động đoàn viên thanh niên thực hiện, đồng thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đoàn
viên thanh niên phản ánh với tổ chức Đoàn, với cấp uỷ Đảng.
Ngoài ra, cán bộ đoàn cấp cơ sở còn là cánh tay nối dài, lực lượng quan trong
phối hợp với chính quyền cơ sở trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa bàn cơ
sở; đi đầu trong các hoạt động xã hội. Mặt khác, xét trên góc độ cán bộ thì họ còn là
lực lượng kế cận cho các chức danh trong hệ thống chính trị cơ sở.
Hai là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng trực tiếp tổ chức, giáo dục, rèn
luyện đoàn viên, thanh thiếu nhi ở cơ sở.
Vị trí, vai trò này của cán bộ đoàn cơ sở xuất phát bởi chính vai trò của tổ chức
đoàn cơ sở. Đoàn cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hệ thống đoàn thanh
niên, bởi vì đây là một trong những nhân tố quan trọng hình thành nên nền tảng của tổ
chức đoàn, là nơi trực tiếp tổ chức giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng và phát huy vai trò
xung kích cách mạng của đoàn viên thanh niên, là cầu nối giữa tổ chức đoàn với thanh
niên. Mọi chủ trương của đoàn cơ bản đều được tổ chức triển khai ở cơ sở, chất lượng
của tổ chức cũng như chủ trương của các cấp bộ đoàn phần lớn được kiểm nghiệm và
phản ánh qua hiệu quả hoạt động của tổ chức đoàn cơ sở. Ngoài ra, đoàn xã còn là hạt
nhân lãnh đạo và là thành viên tập thể của Hội Liên hiệp thanh niên cơ sở, Đoàn định
15
hướng về chính trị, tư tưởng cho hoạt động của Hội. Đối với Đội thiếu niên tiền phong
Hồ Chí Minh, Đoàn quyết định phương hướng, nhiệm vụ công tác Đội và phong trào
thiếu nhi. Đoàn là lực lượng chủ yếu, nòng cốt trong việc đẩy mạnh công tác xã hội
hoá sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng.
Ba là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng nòng cốt tổ chức các phong trào
hành động cách mạng trong thanh niên, là lực lượng quan trọng trong quá trình đẩy
nhanh CNH-HĐH hiện nay.
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là phải tổ chức
phong trào thanh niên ở cơ sở nhằm tham gia tích cực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn và bên ngoài; tham gia giải quyết vấn đề ruộng đất đối
với nông dân, tiêu thụ sản phẩm, phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu,
công tác khuyến nông, đầu tư khoa học kỹ thuật mới trong nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp; vấn đề vay vốn phát triển ngành nghề, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc
làm; phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, thực hiện dân chủ hoá, hợp tác hoá nông
nghiệp, nông thôn,...
Bốn là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng quyết định năng lực tổ chức
đoàn cơ sở.
Một đoàn cơ sở thực sự vững mạnh chỉ khi tập hợp, đoàn kết được đoàn viên,
thanh niên vào tổ chức để tham gia tích cực các phong trào của đoàn phát động, hay
nói cách khác, tổ chức đoàn đó phải thực sự có năng lực. Muốn thực hiện được nội
dung này đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đủ năng lực, phẩm chất, trí tuệ đưa
đoàn viên, thanh niên vào các hoạt động, cũng chính thông qua các hoạt động đó đoàn
viên thanh niên lại là người trở lại để xây dựng củng cố tổ chức đoàn cơ sở.
Với vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở như vậy, để đáp
16
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, thì vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ
cán bộ đoàn cơ sở là nhiệm vụ cấp bách của các cấp bộ đoàn ở tỉnh Nghệ An, nhằm
đáp ứng nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài cho sự nghiệp cách mạng của Đảng.
1.1.3. Đặc điểm của cán bộ đoàn cơ sở
Thứ nhất, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh
tế - xã hội; địa lý tự nhiên và đặc điểm truyền thống cách mạng, lịch sử, văn hoá của
quê hương.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đa dạng về đối tượng, gắn liền với địa bàn
dân cư, nên thành phần cũng phong phú, có dân tộc ít người, có tôn giáo, đang đi học,
buôn bán nhỏ, lao động sản xuất, nhưng đại đa số đều xuất thân từ nông thôn.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở không ổn định, thường xuyên có sự thuyên
chuyển vào các dịp đại hội đoàn và đây cũng là nguồn cán bộ cho Đảng, chính quyền
và các đoàn thể nên nhiều khi được điều động đột xuất đi nhận nhiệm vụ mới.
1.1.4. Phân loại cán bộ đoàn cơ sở
Cán bộ đoàn cấp cơ sở được hình thành thông qua bầu cử theo quy định của
Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Theo quy định của Điều lệ Đoàn, số lượng uỷ viên
ban chấp hành đoàn cấp xã từ 5 - 15 đồng chí. Để điều hành hoạt động giữa hai kỳ hội
nghị ban chấp hành, ban chấp hành đoàn xã bầu ra các đồng chí uỷ viên ban thường vụ
trong số các uỷ viên ban chấp hành.
1.2. NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ
1.2.1. Khái niệm năng lực lãnh đạo:
Theo cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực được chia
làm hai vế: Năng là lối làm việc, lực là sức mạnh. Năng lực được hiểu là sức mạnh có
thể làm nổi việc.
17
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục ấn hành thì năng lực
được hiểu là “Khả năng làm việc tốt”
Theo đại từ điển Tiếng Việt của NXB Văn hóa thông tin: Hiểu theo hai nghĩa:
1. Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì. Ví dụ: năng
lực tư duy của con người.
2. Năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc. Ví dụ: Có năng lực
chuyên môn, năng lực tổ chức.
Tóm lại: Năng lực là khả năng của con người để thực hiện tốt công việc hay làm
việc có hiệu quả cao.
Theo nhà Tâm lý học người Nga Cơvaliốp: Năng lực là một tập hợp hoặc tổng
hợp những thuộc tính cá nhân con người đáp ứng những nhu cầu của hoạt động và bảo
đảm cho hoạt động có kết quả cao.
Như vậy, nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả hoạt động nào
đó. Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẽ mà là một tổ hợp các
thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động. Các thuộc thuộc tính ấy có quan
hệ tác động lẫn nhau, thống nhất với nhau trong một chỉnh thể.
Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng lực tiềm ẩn, những năng lực đó được
bộc lộ ra hay không tùy thuộc vào những điều kiện chủ quan hay khách quan. Đối với
những người có tài năng đặc biệt và thiên tài, năng lực của họ được phát triển và bộc lộ
mạnh mẽ khiến họ đạt đến đỉnh cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Năng lực vừa mang tính bẩm sinh có sẳn vừa là kết quả của quá trình học tập,
rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người. Theo Hồ Chí Minh Năng lực con người
không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập
mà có. Vì thế, năng lực không chỉ là tư chất bẩm sinh thuần tuý vốn có của con người,
18
mà là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu
dưỡng, học tập thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói riêng dù ở cấp
nào cũng phải có năng lực nhất định.Trong đó, năng lực tư duy lý luận và năng lực tổ
chức thực tiễn là hai nhân tố quan trọng nhất. Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với
nhau, không tách rời nhau, cái này hỗ trợ cái kia phát triển. Không có năng lực tư duy
lý luận thì không có khả năng khái quát, sáng tạo và vận dụng đúng đắn linh hoạt các
qui luật khách quan. Ngược lại không có năng lực thực tiễn thì sa vào bệnh giáo điều,
chủ quan duy ý chí, quan liêu, mệnh lệnh xa rời thực tiễn, thoát ly cuộc sống đầy sôi
động đang cuộn chảy.
Cấp cơ sở là cấp trực tiếp, cấp cuối cùng triển khai, tổ chức, vận động nhân dân
thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đòi hỏi đội
ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị phải có năng lực toàn diện, nhất định
trên nhiều lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Ngoài ra cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cơ sở còn phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán và khả năng làm việc
với con người.
Từ những phân tích như trên có thể hiểu, năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ
sở là tổng hợp khả năng lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động của hệ thống chính trị
cơ sở với chất lượng và hiệu quả cao.
1.2.2. Yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa:
Năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở gắn chặt với kết quả hoạt động của cả
một tổ chức đoàn cấp cơ sở. Năng lực của tổ chức cấp cơ sở nói chung và tỉnh Nghệ
An nói riêng gắn trực tiếp với năng lực cá nhân của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở.
Trên thực tế khó có thể thừa nhận tổ chức đoàn cơ sở có hiệu quả trong hoạt động của
19
mình khi đội ngũ cán bộ đoàn không có năng lực hoặc năng lực thấp và ngược lại, cũng
không thể chấp nhận được một hiện trạng đội ngũ cán bộ đoàn có uy tín thực sự khi tổ
chức Đoàn không có năng lực.
Năng lực được người cán bộ đoàn cơ sở hình thành trong quá trình hoạt động,
giao tiếp và chịu sự chi phối của các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Trên cơ
sở xác định các mục tiêu hoạt động cũng như những nhu cầu đẩy mạnh CNH-HĐH đất
nước, người cán bộ đoàn cơ sở tiến hành giải quyết được một cách có hiệu quả các vấn
đề thuộc về thẩm quyền của mình thì năng lực của họ được xác lập. Để người cán bộ
đoàn tạo lập năng lực trước hết cần phải có quyền lực, có những ưu thế do chức vụ
được giao, được bổ nhiệm hay bầu cử hợp pháp mang lại. Người cán bộ đoàn phải có
vị thế, chức danh, chức vụ, quyền hạn nhất định. Đây là yêu cầu cần thiết để tạo nên
năng lực, nó khẳng định uy quyền của người cán bộ đoàn cơ sở cũng như vai trò của họ
trước tập thể. Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, chức vụ bao giờ cũng gắn
với quyền hạn, trách nhiệm; quyền lợi gắn với nghĩa vụ. Những yếu tố này thể hiện
mối quan hệ giữa các điều kiện khách quan và chủ quan tạo nên năng lực người cán bộ
đoàn cơ sở.
Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như: cơ chế quản lý xã hội, sự tác
động công tác tổ chức các bộ, môi trường xã hội, nhóm và tập thể, các chuẩn mực xã
hội, các hoạt động giao tiếp của người cán bộ đoàn cơ sở. Nét đặc trưng của người cán
bộ đoàn cơ sở đó là sự hiểu biết và sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của thanh niên và xã
hội. Các yếu tố về trình độ nhận thức, tâm trạng, thái độ lòng tin của tập thể, của xã hội
đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc xây dựng năng lực của người cán bộ
đoàn cơ sở. Bên cạnh đó còn có các yếu tố khác như: thể chế chính trị xã hội, pháp
luật, bộ máy nhà nước... Trong đó bộ máy tổ chức đoàn có vai trò to lớn, tác động trực
tiếp đến sự hình thành năng lực người cán bộ đoàn cơ sở.
Ngoài các điều kiện khách quan nêu trên, một yếu tố không kém phần quan
20
trọng góp phần hình thành, củng cố và nâng cao năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở
đó là đặc điểm về tuổi tác, thâm niên công tác, trình độ học vấn, nhận thức và niềm tin
của thanh niên.
Bên cạnh đó, yếu tố nhân cách của người cán bộ đoàn cơ sở cũng giữ một vị trí
hết sức quan trọng. Trong tổ chức đoàn, người cán bộ đoàn phải là thủ lĩnh, là tấm
gương sáng cho đoàn viên thanh niên noi theo. Yếu tố này yêu cầu rất cao ở bản thân
cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở nói riêng. Người cán bộ đoàn cơ sở
phải có nhân cách đầy đủ, tích cực, mẫu mực và hoàn thiện. Nhân cách của họ phải có
những đặc trưng phù hợp với yêu cầu của hoạt động đoàn. Cụ thể, họ phải có năng lực
tổ chức thực tế và năng lực triển khai các Nghị quyết vào cuôc sống, phải được đặt ra
như là một yêu cầu bắt buộc, bởi kết quả hoạt động phụ thuộc vào năng lực tổ chức của
cán bộ đoàn. Năng lực này, biểu hiện rất phong phú trong hoạt động thực tiễn như khả
năng quyết đoán và sáng tạo, phân tích nhanh chóng, chính xác tình hình xảy ra để
quyết định kịp thời. Người cán bộ đoàn nếu không có óc quyết đoán và sáng tạo thì
sớm muộn cũng đưa tổ chức mình đi đến tan rã, Ngược lại khi có óc quyết đoán chính
xác, nhạy bén sẽ làm công việc có hiệu quả và năng lực của mình tăng lên gấp bội.
Khả năng chuyên môn là yếu tố cơ bản tạo nên năng lực của cán bộ đoàn Khả năng
chuyên môn của người cán bộ đoàn thể hiện qua các hoạt động thực tiễn, nó phải vượt trội
so với khả năng của các thành viên trong tập thể và những người cộng sự. Khả năng
chuyên môn này được hiểu và tổng hợp cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Người cán bộ đoàn
phải có tầm nhìn, có kiến thức chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn. Trình độ
chuyên môn của người cán bộ đoàn sẽ có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với cán bộ đoàn
viên, thanh niên.
Phong cách sống và làm việc của cán bộ đoàn cơ sở cũng là yếu tố quan trọng
hình thành nên năng lực. Phong cách sống và làm việc có liên quan trực tiếp đến năng
lực của người cán bộ đoàn cơ sở, đây là hệ thống các phương pháp được cán bộ đoàn
21
sử dụng để tác động những người dưới quyền, lựa chọn phương pháp làm việc khoa
học và quản lý đúng là rất quan trọng đối với cán bộ đoàn nó ảnh hưởng ngay đến năng
lực của họ.
Người cán bộ đoàn có năng lực thì phải có được sự tín nhiệm và phục tùng,
thậm chí đến mức tự nguyện của tập thể, của cấp dưới và các cộng sự; có được sự đánh
giá cao của cấp trên, sự khâm phục của bạn bè, đồng nghiệp, đây là những yếu tố giúp
họ có được phạm vi ảnh hưởng rộng rãi.
Như vậy, năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là sự kết hợp giữa các điều
kiện khách quan và chủ quan của người cán bộ đoàn, trong đó cần phải nhấn mạnh
những yếu tố hợp thành quan trọng nhất là có đủ quyền và thực hiện quyền được giao
phó, có nhân cách mẫu mực, hoàn thiện để được thừa nhận và tín nhiệm, có phẩm chất,
năng lực đáp ứng yêu cầu được giao. Trong những yếu tố này, cán bộ đoàn phải đặc
biệt chú ý tự bồi dưỡng và rèn luyện phẩm chất, năng lực sao cho tương xứng với chức
vụ và thực hiện được quyền hạn, trách nhiệm được giao phó.
1.2.3. Tiêu chí đo lường năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở:
Năng lực thực chất của người cán bộ đoàn cơ sở được biểu hiện ở năng lực thực
sự của họ trong việc tiếp nhận thông tin mới, cung cấp và xử lý thông tin. Những thông
tin có liên quan đến hoạt động của tổ chức đoàn phải được cung cấp đầy đủ, xử lý đề ra
được những quyết định đúng đắn, kịp thời, có chất lượng. Thái độ và hiệu quả tiếp
nhận, xử lý thông tin là dấu hiệu đáng tin cậy để xác định người cán bộ đoàn có năng
lực thực chất hay không.
Sự nhận xét đúng mực, chân thành và thiện chí của đoàn viên trong khi tổ chức
lấy phiếu điều tra tín nhiệm hoặc trong bình bầu thi đua khen thưởng cũng thể hiện
năng lực thực chất của người cán bộ đoàn cơ sở. Phương pháp thăm dò, điều tra qua
phiếu tín nhiệm cán bộ đoàn hiện nay đang được sử dụng rộng rãi, đây là việc cần thiết
22
để xác định đúng năng lực thực chất. Tuy nhiên không được dùng phương pháp này để
hạ thấp năng lực của người khác nhằm nâng cao uy tín của mình. Năng lực thực chất
của người cán bộ đoàn cơ sở được thể hiện ở sự đánh giá cao của cấp trên, sự khâm
phục và ủng hộ của bạn bè, đồng nghiệp, sự tín nhiệm của thanh niên.
Ngoài những biểu hiện như đã đề cập trên, năng lực thực chất của cán bộ đoàn
còn biểu hiện ở việc họ vẫn có năng lực khi chuyển công tác khác hoặc không còn giữ
chức vụ trong hệ thống cơ quan đoàn. Hình ảnh của họ vẫn sống trong lòng mọi người
với sự cảm phục, tin yêu và trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ kế tục, cho các
đoàn viên thanh niên noi theo.
Trong hoạt động của người cán bộ đoàn cơ sở, bên cạnh những biểu hiện của
năng lực thực chất, chúng ta cũng thấy có những biểu hiện của năng lực không thực
chất, đó là năng lực giả tạo được xây dựng bằng nhiều thủ đoạn. Biểu hiện của năng
lực giả tạo đó là thích phô trương thành tích quá khứ, tự coi mình công thần; có biểu
hiện chủ quan, phiến diện, ít chịu khó học tập, không chịu đổi mới, xem thường quần
chúng, xem thường cán bộ trẻ.
Bên cạnh đó, một loại biểu hiện năng lực không thực chất khá phổ biến hiện nay
cần chú ý tránh là chủ nghĩa hình thức. Những người này tạo năng lực không bằng thực
chất, mà chỉ bằng sự phô trương hình thức bề ngoài, thường phóng đại thành tích, che
dấu khuyết điểm. Cũng có những người cán bộ đoàn thường hay để ý, soi mói, chấp
vặt, nhỏ nhen, thù vặt, khuyếch đại những việc nhỏ để đe dọa cấp dưới mà không chú ý
đến những vấn đề lớn, chiến lược quan trọng. Cũng có những người tạo năng lực bằng
cách mua chuộc cấp dưới, bao che cho nhau, bảo vệ lẫn nhau trong việc làm sai trái để
vun vén cá nhân, lợi dung danh nghĩa tập thể, đối với cấp trên thì xun xoe, nịnh hót.
Năng lực không thực chất dù biểu hiện dưới hình thức nào cũng đều có hại cho
công việc và bản thân người cán bộ đoàn. Do đó, người cán bộ đoàn cần tỉnh táo để có
23
yếu tố cần thiết ban đầu của quá trình gây dựng củng cố và nâng cao năng lực tránh
năng lực giả hoặc thiếu năng lực.
1.2.4. Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở:
- Thứ nhất, về tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở.
Tiêu chuẩn là điều quy định làm căn cứ để đánh giá, phân loại và xác định năng
lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở là những quy định
đối với cán bộ về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hoá, chuyên
môn, ngoại ngữ, năng lực trí tuệ; khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng; lề lối làm
việc, tác phong công tác và sức khoẻ. Các yếu tố đó quan hệ mật thiết với nhau tạo nên
phẩm chất, năng lực người cán bộ đoàn cơ sở, mối yếu tố đều có vai trò riêng, song
chúng gắn bó chặt chẽ, là tiền đề của nhau, hợp lực tạo ra năng lực công tác, hoàn
thành các chức trách nhiệm vụ trên thực tế.
Việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung và cán bộ
đoàn cơ sở nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ đoàn cơ sở. Bởi lẽ, tiêu chuẩn cán bộ là cơ sở và tiền đề để làm căn cứ xem xét,
đánh giá, lựa chọn, bố trí, sắp xếp, giới thiệu ứng cử; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,
sắp xếp cán bộ và đồng thời giải quyết chế độ chính sách cán bộ đoàn. Tiêu chuẩn cũng
là cơ sở để từng cán bộ đoàn phấn đấu, tự rèn luyện để hoàn thiện mình.
- Thứ hai, cơ chế đánh giá cán bộ đoàn cơ sở.
Đánh giá cán bộ là khâu đầu rất quan trọng và khó, rất nhạy cảm trong công tác
cán bộ, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.
Nếu đánh giá đúng sẽ xác định chính xác năng lực của cán bộ, đây là căn cứ cho việc
bố trí đúng cán bộ và cán bộ sẽ phát huy được ưu điểm và thế mạnh của mình còn
ngược lại nếu đánh giá sai sẽ bố trí sai, gây mất đoàn kết, bản thân cán bộ ngộ nhận
dẫn đến chủ quan, tự cao tự đại, gây mất năng lực của bản thân cán bộ và tổ chức.
24
- Thứ ba, quy hoạch, tuyển chọn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.
Quy hoạch, tuyển chọn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến
năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Thông qua quy hoạch, tuyển chọn, đòi hỏi đội ngũ
cán bộ phải thường xuyên không ngừng nâng cao năng lực. Trên cơ sở đánh giá đúng
cán bộ sẽ xây dựng được quy hoạch cán bộ đúng, chọn được những người có năng lực
để bổ nhiệm, đề bạt.
Quy hoạch cán bộ là nội dung trọng yếu trong nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ đoàn cơ sở, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có kế hoạch, đáp
ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Trong đặc thù công tác đoàn cơ sở thường xuyên
có sự biến động, thì quy hoạch cán bộ đoàn càng trở nên có ý nghĩa, đặc biệt là quy
hoạch cán bộ đoàn chủ chốt, đây cũng là khâu quan trọng để loại bỏ những cán bộ
thiếu năng lực.
- Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở.
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở là việc làm thường xuyên để nâng
cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn, bởi lẽ cán bộ đoàn phần lớn là trẻ tuổi, nhiều đồng
chí trưởng thành trong thực tiễn hoạt động phong trào, mới chỉ có năng khiếu, nhiệt
tình mà chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức có hệ thống đáp ứng tiêu chuẩn. Do
vậy, cần phải tập trung vào việc nâng cao trình độ về lý luận chính trị, nghiệp vụ công
tác thanh vận và công tác chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, các tiến bộ khoa học kỹ
thuật... Đây là yếu tố quan trọng để hình thành nên năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn
cơ sở.
- Thứ năm, quản lý, bố trí, sử dụng cán bộ đoàn cơ sở.
Quản lý cán bộ: là hoạt động chủ động, thường xuyên có mục đích của cơ quan
quản lý cán bộ, cấp có thẩm quyền quyết định tác động có định hướng vào đội ngũ cán
bộ và từng cán bộ nhằm bồi dưỡng, rèn luyện, phát huy khả năng, năng lực của đội ngũ
25
và từng cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Do vậy, việc quản lý tốt cán
bộ đoàn cơ sở là để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn, chấn chỉnh kịp thời khi cán
bộ có các biểu hiện sai lệch đồng thời đảm bảo đánh giá đúng cán bộ làm căn cứ bố trí
sử dụng cán bộ.
Nội dung quản lý cán bộ đoàn cơ sở gồm tuyển chọn, bố trí, phân công nhiệm
vụ, tổ chức thực hiện việc quản lý; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nhận xét,
đánh giá cán bộ; khen thưởng, kỷ luật cán bộ; thực hiện chế độ, chính sách cán bộ; giải
quyết khiếu nại tố cáo về cán bộ. Quản lý cán bộ đoàn cấp cơ sở thông qua các biện
pháp như quản lý hồ sơ (để nắm được lý lịch, quá trình công tác, năng lực công tác,
phẩm chất, đạo đức,...); quản lý nhân sự (thông qua công tác, sinh hoạt tập thể, thông
qua việc chấp hành Điều lệ Đoàn, quy chế hoạt động, thông qua ý kiến nhận xét của
tập thể ban thường vụ đoàn cơ sở, đoàn viên thanh niên,...).
26
Chương 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN BỘ
ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC
HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì: Nghệ An núi
cao, sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn
cả ở Nam Châu. Người thì thuần hòa mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý, của lạ...,
được khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậc danh hiền..., thực là nơi hiểm yếu như
thành đồng, ao nóng của nước và là then khóa của các triều đại. Địa danh Nghệ An
xuất hiện từ thời nhà Lý, năm Thiên Thành thứ ba (1030) khi Lý Thái Tông đổi Hoan
Châu thành Châu Nghệ An. Năm 1101, Lý Nhân Tông nâng Châu Nghệ An thành Phủ
Nghệ An. Năm 1225, Nhà Trần đổi Phủ Nghệ An thành Trấn Nghệ An. Năm 1469,
Vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nước. Đơn vị cấp phủ, huyện gọi là Thừa tuyên.
Châu Diễn và Châu Hoan được hợp lại thành Thừa tuyên Nghệ An (bao gồm cả đất
Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay).
Đến thời Nhà Nguyễn, đơn vị là Trấn bị bãi bỏ; cả nước được chia là 29 tỉnh,
trực thuộc Triều đình. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), Nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức
Thọ và Hà Hoa, thành lập một tỉnh mới là Hà Tĩnh. Từ năm 1831 đến nay, về căn bản,
địa giới tỉnh Nghệ An không thay đổi. Song về cấp dưới tỉnh, sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, các đơn vị hành chính là cấp phủ được đổi thành , còn cấp tổng (cấp
trung gian giữa huyện và xã) bị bãi bỏ.
Sau khi nước nhà được thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1991, tỉnh Nghệ An
và tỉnh Hà Tĩnh được hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Từ tháng 9-1991, Nghệ An lại
được tách ra thành một tỉnh như trước. Hiện nay, Nghệ An có Thành phố Vinh (thành
27
phố loại I), Thị xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hòa và 17 huyện: Kỳ Sơn, Con Cuông, Tương
Dương, Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Đô Lương,
Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh
Lưu.
Nghệ An là một miền đất rộng ở phía Bắc Trung Bộ, nằm trong tọa độ từ 18 033’08” đến 19059’52” vĩ độ Bắc, và từ 103052’30” đến 105048’20” kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển
Đông, phía Tây giáp các tỉnh Hủa phăn, Xiêng Khoảng, Pô ly khăm xay thuộc nước
Cộng hóa dân chủ Nhân dân Lào, với đường biên giới dài 419,5 km.
Diện tích tự nhiên của Nghệ An có 16.409,68 km2, đứng đầu cả nước. Nằm trong
vùng kiến tạo đặc biệt có từ tuổi địa chất già đến rất trẻ, địa hình Nghệ An rất đa dạng; núi,
đồi, trung du chiếm phần lớn đất đai toàn tỉnh. Trong lòng đất chứa nhiều khoáng sản như
vàng, thiếc, chì, kẽm, măng gan..., và nhiều khoáng sản phi kim loại như đá hoa, các loại đất sét làm gạch ngói...; đặc biệt, đá vôi có trữ lượng rất lớn (khoảng 250 triệu m3), phân
bổ nhiều nơi trong tỉnh.
Với nhiều vùng tiểu khí hậu, nhiều loại đất đai khác nhau, Nghệ An có điều kiện
phát triển nền kinh tế đa dạng. Đất đai trồng trọt phong phú, vùng đất đỏ ba dan Phủ Quỳ
rất thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê. Vùng đồi núi
thấp có nhiều khả năng phát triển các loại cây: chè, mía, quế, cây ăn quả. Vùng đất phù
sa ven sông, ven biển, tuy độ màu mỡ không cao nhưng là vùng thâm canh cây lương
thực và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, vừng... Tuy nhiên do địa hình dốc,
lượng mưa lớn nên hàng năm, khoảng một phần tư diện tích canh tác bị bào mòn, rửa
trôi khá mạnh, gây khó khăn cho việc phát triển nông nghiệp, giao thông vận tải,...
Rừng Nghệ An có hầu hết các loại thực vật, động vật của vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới. Hệ thực vật rừng phong phú về chủng loại; trong đó, rừng lá rộng nhiệt đới là
28
phổ biến nhất. Trữ lượng gỗ rất lớn với nhiều loại gỗ quý như Powmu, lát hoa, sa mộc,
sến, lim, táu, gụ, săng lẻ, chò chỉ, dổi, vàng tâm,.. cùng các loại khác như Song mây,
tre nứa, luồng mét,...
Biển Nghệ An dài 82km với 6 cửa lạach: Lạch Cờn, Lạch Quèn, Lạch Vạn, Cửa
Lò, Cửa Hội. Biển đáy rộng, tương đối bằng phẳng. Độ mặn trung bình từ 3,4 đến
3,5%. Nhờ độ mặn như vậy mà nghề làm muối có sản lượng cao trong mùa nắng. Biển
có các loại hải sản quý như cá chim, cá thu, cá nhám, tôm, mực, cua, ốc,... Ven các cửa
lạch có nhiều bãi lầy, đầm phá, có thể khai thác làm các đầm nuôi tôm cua. Nghệ An
có khu nghỉ mát Cửa Lò hấp dẫn với những bãi tắm bằng phẳng và đẹp, ngày càng thu
hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
Con sông lớn nhất Nghệ An là sông Lam, bắt nguồn từ Thượng Lào, chảy về
theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, dài 523 km (trong địa bàn tỉnh Nghệ An có 375km).
Hệ thống sông Lam có tới 151 nhánh lớn nhỏ. Các phụ lưu chính có sông Nậm Mộ,
sông Con, Sông Giăng, sông La,... Sông Lam bồi đắp phù sa màu mỡ cho bãi ven sông,
nhưng về mùa mưa thường hung dữ, gây lũ lụt lớn, Ngoài sông tự nhiên còn có hệ
thống kênh đào nối các sông với nhau, lớn nhất là Kênh Nhà Lê. Núi Nghệ An sừng
sững ở miền tây, thấp dần về phía Đông tạo thành thế nghiêng Đông – tây, cao nhất là
đỉnh Puxailaileng với độ cao 2.711m, cao nhất dãy Trường Sơn. Dãy Puxailaileng dốc
đứng trên một giải dài 200km, tạo thành biên giới tự nhiên giữa hai nước Việt – Lào và
thấp dần về phía Nam.
Khí hậu Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau có gió mùa Đông Bắc gây mưa phùn rét buốt. Từ cuối tháng 4 đến tháng 10 có gió Tây – Nam rất nóng, làm cho nhiệt độ có thể lên tới 400C. Từ tháng 7 đến tháng
10 thường có bão, mưa lơn, gây lụt úng. Có thể nói, khí hậu Nghệ An khắc nghiệt hơn
nhiều vùng khác trong nước ta, với gió Tây – Nam, hạn hán gay gắt, giông bão, lũ lụt
trầm trọng và thường xẩy ra vào giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây trồng, nhất là
29
lúa mùa, gây ảnh hưởng tới năng suất cây trồng, vật nuôi và cả đến sinh hoạt của con
người.
Theo kết luận của giới sử học qua di chỉ Thẩm Ồm (Quỳ Châu), trên đất Nghệ
An đã có người vượn cư trú cách ngày nay khoảng 20 vạn năm. Ngoài di chỉ Thẩm Ồm
thuộc sơ kỳ đá cũ, giới khảo cổ đã phát hiện ra các di chỉ thời cuối đồ đá cũ thuộc Văn
hóa Sơn Vi; các di chỉ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Quỳnh Văn, Văn hóa Bàu Tró, Văn
hóa Tiền Đông Sơn, Văn hóa Đông Sơn. Nghệ An là một trong những trung tâm Văn
hóa Đông Sơn.
Cư dân Nghệ An ngày càng đông đúc, đến nay đã có trên 3,1 triệu người. Đông
nhất là dân tộc Kinh, phần lớn cư trú ở đồng bằng. Dân tộc Thái có số dân cao nhất
trong các dân tộc thiểu số ở Nghệ An với nhóm Tày Thanh, Tày Mường, Tày Khang,...
cư trú tại các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tương Dương, Con Cuông, Kỳ
Sơn. Dân tộc Mông phần lớn cư trú trên các triền núi cao thuộc huyện Kỳ Sơn. Dân tộc
Khơ mú sinh sống ở Kỳ Sơn, Tương Dương. Dân tộc Ơ Đu sống dọc sông Nậm Nơn
(Cửa Rào, Tương Dương). Dân tộc Thổ chủ yếu cư trú ở huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ,
Quỳ Hợp. Các sắc tộc thiểu số ở Nghệ An đã gắn bó lịa cùng nhau và đoàn kết với
người Kinh thành một cộng đồng ổn định, chung lưng đất cật xây dựng quê hương và
thực hiện nghĩa vụ đối với Tổ quốc.
Nghệ An có số lượng giáo dân Công giáo khá đông (khoảng 9% tổng số dân
trong tỉnh). Còn tín đồ Phật giáo thì không nhiều, sống phân tán ở các chùa chiền.
Đồng bào giáo – lương có truyền thống đoàn kết đấu tranh bảo vệ và xây dựng quê
hương, đất nước.
Nghệ An có kho tàng văn học dân gian rất phong phú, đa dạng. Thơ, ca dao, tục
ngữ, câu đối, câu đố rất hàm súc, giàu hình tượng. Các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh trầm
lắng, mênh mang, đậm đà chất trữ tình. Dân tộc Kinh có làn điệu hát dặm, hát ví
30
(phường vải, đò đưa,..). Ngoài ra còn có hát bội (tuồng), ca trù. Dân tộc Thái có thể
loại trường ca rất hấp dẫn (Lái Lông Mương, Lái Nộc Yêng, Trường ca Khủn Tinh...).
Dân tộc Thổ có đàn Thổ với cấu tạo âm hưởng trầm bổng, du dương tựa đàn bầu. Nghệ
An có nhiều công trình kiến trúc cổ với kỹ thuật chạm khắc rất tinh vi như Đền Cờn,
Đền Bạch Mã, Đền Chiêu Trưng, Đình Hoành Sơn, Đình Trung Cần,,...
Truyền thống hiếu học của Nghệ An đã hun đúc nên nhiều nhà khoa bảng nổi
danh như Trạng nguyên Bạch Liêu, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Thám hoa Nguyễn
Văn Giao, Thám hoa Phan Thúc Trực,..., nhà cách tân uyên bác Nguyễn Trường Tộ,
“Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương;.. Các thầy đồ Nghệ - tầng lớp trí thức bình dân
đông đảo đã từng đặt chân đến nhiều vùng đất trong cả nước để dạy chữ “thánh hiền”
và dạy đạo làm người. Ngoài ra, còn có nhiều thầy thuốc giỏi, hành nghề với phương
châm “Nam dược trị Nam nhân” và lấy y đức trị bệnh cứu người làm lẽ sống.
Nhân dân Nghệ An có truyền thống yêu nước và cách mạng oanh liệt, vẻ vang.
Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà trưng năm 40 cho đến cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (Lý Nam
Đế) năm 543, trong 5 thế kỷ đó, dân vùng đất này luôn sẵn sàng hưởng ứng. Đến thế
kỷ thứ VIII, dân Hoan Diễn (bao gồm Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) đã vùng dậy
khởi nghĩa chống ách cai trị tàn bạo của nhà Đường. Cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc
Loan lãnh đạo, ông đã cùng nghĩa quân từ Thành Vạn An và căn cứ Sa Nam (Nam
Đàn) tấn công ra Bắc, đánh chiếm phủ thành Tống Bình (Hà Nội), giải phóng cả nước
rồi tự xưng là Mai Hắc Đế (năm 722). Đây là vị Đế thứ hai sau Lý Nam Đế. Thành
Vạn An trở thành Quốc đô trong thời điểm ấy.
Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII, đất Nghệ An
có danh tướng Hoàng Tá Thốn, người có công chặn giặc vùng ven biển và có tài lặn lâu
dưới nước để đục thủng thuyền giặc. Năm 1285, tướng giặc Toa Đô phải bỏ vùng này để
rút quân ra Thanh Hóa, vì vấp phải cuộc chặn đánh quyết liệt của dân xứ Nghệ. Nghệ An
đã từng là “đất đứng chân” của Nhà Lê Sơ để chống giặc Minh, giải phóng đất nước (vào
31
thế kỷ XV). Đặc biệt khi người anh hùng áo vải Quang Trung dừng chân tại Nghệ An
(quê tổ của Người) để tuyển quân vào cuối năm 1788, hàng vạn trai tráng xứ Nghệ đã
sẵn sàng gia nhập nghĩa quân chỉ trong vòng mấy ngày, góp phần đáng kể vào cuộc đại
thắng giặc Thanh tại Ngọc Hồi, Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu (1789).
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Nghệ An đã thể hiện quyết tâm
“đánh cả Triều lẫn Tây”, tức là đánh cả bọn cướp nước lẫn bọn bán nước đầu hàng
giặc. Tại Thanh Chương, Nam Đàn, từ năm 1874 đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của Trần
Tấn và Đặng Như Mai. Sau khi phái chủ chiến Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi
lánh về vùng rừng núi Nghệ Tĩnh, ra Chiếu Cần Vương, tại vùng Bắc Nghệ An liền dấy
lên cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng từ Hương Khê phát triển ra, nhân dân Nghệ An
đã sôi nổi hưởng ứng trên 10 năm (1885 – 1896). Đến đầu thế kỷ XX, Nghệ An là nơi
khởi phát phong trào Đông Du với người đứng đầu là nhà chí sỹ yêu nước lừng danh
Phan Bội Châu – nhân vật tiêu biểu nhất của phong trào yêu nước Việt Nam trong thập
kỷ đầu thế kỷ XX. Đến tháng 6/1911, Nguyễn Tất Thành, người con ưu tú của quê
hương Nghệ An đã lên tàu thủy sang phương Tây tìm đường cứu nước. Trước và sau
đó, hàng trăm thanh niên xứ Nghệ lần lượt xuất dương qua Trại Cày do Đặng Thúc
Hứa thành lập tại Xiêm. Trong số ấy có những thanh niên ưu tú được cử sang Trung
Quốc và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện vào những năm 1924 - 1927. Đó là
những hạt nhân nòng cốt cho Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
Trong tiến trình lịch sử, con người xứ Nghệ mang đầy đủ tính chất chung của
dân tộc Việt Nam; song, bản sắc riêng của địa phương cũng được hình thành ngày càng
đậm nét. Đó là do điều kiện thiên nhiên nơi đây khắc nghiệt hơn nhiều nơi khác với
bão lớn, lụt to, gió tây – Nam nóng bỏng, hạn hán dai dẳng, con người phải thường
xuyên vật lộn với thiên tai. Mặt khác, vùng đất này từng là “phên dậu”, “đất đứng
chân” của các triều đại, nơi thường xảy ra chiến sự; con người phải luôn luôn lo chống
chọi với giặc giã. Những nhân tố đó đã hun đúc nên con người xứ Nghệ với những đặc
32
tính như:
Rất cương trực, khảng khái, giàu đức hi sinh: thẳng thắn, thật thà, bộc trực, trung
thực, không nịnh bợ; ghét thói xu nịnh, lèo lái, dối trá; trọng đạo lý, sẵn sàng xả thân vì
nghĩa lớn; có khí phách, trọng danh dự, không chịu khuất phục; sẵn lòng giúp đỡ người
một cách hào hiệp, vô tư, không tính thiệt hơn.
Rất mực cần kiệm, giản dị: Tiết kiệm, căn cơ, khắc khổ trong sinh hoạt; ghét lối
sống xa hoa.
Rất hiếu học: Học để làm người, để lập thân và để kiếm sống; sự học đã trở
thành một nếp sống xã hội; nghèo đến mấy cũng học, học đến mức “khổ học”.
Giàu nghị lực, ý chí mạnh, quyết tâm cao: Dũng cảm chấp nhận những thách
thức quyết liệt, gan góc, kiên trì, nhẫn nại, bền bỉ phấn đấu để vượt lên khuôn khổ bình
thường.
Những đặc điểm về địa lý, văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội nói trên có ảnh
hưởng không nhỏ đến việc hình thành năng lực người cán bộ đoàn cơ sở trước yêu cầu
đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước hiện nay.
2.2. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH NGHỆ AN
2.2.1. Số lượng
Đoàn viên, thanh niên Nghệ An trong độ tuổi (Từ 16 - 30 tuổi) hiện có gần 1
triệu người, chiếm khoảng 27% dân số và 47% lực lượng lao động của tỉnh. Cơ cấu
thành phần thanh niên đa dạng và có nét đặc thù: thanh niên trên địa bàn dân cư chiếm
trên 70%; thanh niên học sinh, sinh viên chiếm gần 25%; thanh niên CNVC và lực
lượng vũ trang chiếm 5%; trong đó thanh niên dân tộc ít người chiếm 15 %; thanh niên
tôn giáo chiếm 9,5%; nữ thanh niên chiếm 50,3 %. Tỷ lệ tập hợp thanh niên trong tổ
33
chức đạt khoảng 67,5%.
Hiện nay, tổng số xã, phường, thị trấn của tỉnh Nghệ An là 480 đơn vị. Theo đó
có 480 tổ chức đoàn cấp xã, với tổng số 5.404 đồng chí ủy viên Ban Chấp hành được
đại hội đoàn xã bầu. Đơn vị cơ cấu nhiều ủy viên ban chấp hành nhất là 15 đồng chí,
đơn vị ít nhất là 5 đồng chí; theo Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn nếu ban chấp hành
có dưới 9 ủy viên thì có bí thư và một phó bí thư; có từ 9 ủy viên trở lên thì bầu ban
thường vụ gồm bí thư, phó bí thư và các ủy viên ban thường vụ (tổng số ủy viên
thường vụ không quá 1/3 số ủy viên ban chấp hành), trường hợp thật cần thiết thì có
thể bầu 2 phó bí thư nếu được sự đồng ý của cấp ủy đảng và đoàn cấp trên trực tiếp.
Căn cứ vào số lượng ủy viên ban chấp hành của đoàn cấp xã, nên số lượng chủ yếu ủy
viên ban thường vụ đoàn xã ở tỉnh Nghệ An là 3 đồng chí, chỉ có một số ít xã, phường
là có 4 hoặc 5 đồng chí. Tổng số ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó bí thư đoàn cấp xã
tỉnh Nghệ An hiện nay là 1741 đồng chí, như vậy cơ bản cán bộ đoàn cấp xã ở tỉnh
Nghệ An có đủ số lượng theo quy định để thực hiện nhiệm vụ.
2.2.2. Chất lượng
Trong những năm qua, đặc biệt kể từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban
Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa VIII) về công tác cán bộ Đoàn trong thời kỳ mới,
cùng với sự phát triển toàn diện của công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, công
tác cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An có nhiều chuyển biến tích cực. Đội ngũ cán
bộ đoàn thường xuyên được kiện toàn, đủ về số lượng và nâng cao một bước về chất
lượng. Nhìn chung cán bộ đoàn cơ sở có năng lực, thể hiện qua việc đội ngũ cán bộ
đoàn cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với
thanh niên; có kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, năng động
sáng tạo trong công tác; có khả năng đề xuất, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chương
trình công tác của Đoàn, nhiệt tình, tâm huyết với phong trào; số cán bộ đoàn được bổ
sung cho đội ngũ cán bộ của Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội ngày một
34
nhiều. Những nổi trội đó được thể hiện trên các mặt sau:
* Năng lực về chính trị
Có thể khẳng định cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An có bản lĩnh chính trị
vững vàng, luôn có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết và Điều lệ Đoàn; có tinh thần đoàn kết, phối hợp
trong công tác, năng động hơn trong cơ chế thị trường, không ngại khó, ngại khổ.
Trong những năm qua, chưa có hiện tượng cán bộ đoàn cơ sở nói và làm trái cương
lĩnh chính trị của Đảng, không dao động trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các
thế lực thù địch. Đặc biệt các cán bộ đoàn ở vùng sâu, vùng xa, vùng giáo, vùng biển là
đối tượng của các phần tử xấu lôi kéo, nhưng với phẩm chất chính trị của mình, đội
ngũ cán bộ đoàn cơ sở đã luôn tích cực phấn đấu, tăng cường tuyên truyền vận động
đoàn viên, thanh thiếu nhi đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính trị, tệ nạn xã
hôi,... Một lòng tin Đảng, tin vào sự nghiệp đổi mới quê hương đất nước, vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; vì tương lai tươi sáng của
tuổi trẻ.
* Năng lực về phẩm chất đạo đức, lối sống
Để đánh giá phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ đoàn cơ sở, qua phân tích
tổng hợp hồ sơ lưu trữ, báo cáo và số liệu thống kê hàng năm, đồng thời tiến hành lấy ý
kiến của 44 đồng chí lãnh đạo, 46 cán bộ đoàn và 75 đoàn viên thanh niên trong một số
xã, phường, thị trấn của các đơn vị: Thành phố Vinh, Nghi Lộc, Thanh Chương, Quỳnh
Lưu, Quỳ Hợp, Con Cuông. Kết quả thu được (phụ lục 2)
Thông qua số liệu phân tích và đánh giá 11 tiêu chí, mỗi tiêu chí được đánh giá
ở 4 mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu. Đa số những người được hỏi ý kiến đều nhận xét
các tiêu chí đánh giá phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ đoàn ở mức độ cao.
Kết quả thu được này cho thấy đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An có lối sống
35
lành mạnh, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản và tình yêu thương đồng chí, gần
gũi đoàn viên, thanh niên, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết hi sinh lợi ích cá nhân cho
phong trào, không chạy theo chức vụ và địa vị; tiên phong gương mẫu trong xây dựng
nếp sống văn hóa, đặc biệt là cưới hỏi, sinh nhật trong thanh niên,...
* Năng lực về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị
Nhìn chung, cán bộ đoàn cơ sở đã đảm bảo được các yêu cầu về tiêu chuẩn, có
trình độ học vấn, chính trị và chuyên môn khá cao.
Trình độ học vấn, chuyên môn, chính trị:
Cán bộ đoàn cơ sở phần lớn tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn về các
lĩnh vực như nông nghiệp, hành chính, thú y, sư phạm, kinh tế, luật.
* Năng lực và phong cách công tác:
Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An đa số có năng lực công tác tốt, hầu hết
đều kinh qua thực tiễn, trưởng thành từ phong trào quần chúng, đã từng làm công tác
đội, công tác đoàn trong trường học, xét về thời gian hoạt động công tác đoàn là khá
nhiều, nên có điều kiện tích lũy kinh nghiệm, kiến thức cần thiết; có năng lực trong
công tác tham mưu với cấp ủy, chỉ đạo, hướng dẫn các chi đoàn và đoàn viên, thanh
niên triển khai thực hiện chủ trương, kế hoạch; có kỹ năng thiết kế và tổ chức hoạt
động; có khả năng phối hợp tốt với các ngành, đoàn thể xã hội hóa công tác thanh niên;
khả năng lôi cuốn, vận động thanh niên là tốt; phong cách làm việc có kế hoạch, nhanh
nhẹn, sáng tạo phù hợp với tâm lý, nhu cầu ngày càng đa dạng của thanh niên; việc ứng
xử các tình huống phát sinh trong đời sống hàng ngày cũng như những hoạt động lớn
tập trung của thanh niên nhìn chung là tốt. Ngoài kỹ năng về công tác đoàn thông
thường, cán bộ đoàn cơ sở còn thường xuyên tự nâng cao năng lực, tham dự các lớp tập
huấn về khuyến nông, khuyến ngư, công nghệ sau thu hoạch, chuyển giao kỹ thuật mới
trong nuôi trồng thủy sản, vay vốn xóa đói giảm nghèo, giới thiệu việc làm, phòng
36
chống tệ nạn xã hội, nên về năng lực thực hành của cán bộ đoàn ngày một cao, đáp ứng
được yêu cầu trong cơ chế thị trường và các phong trào của đoàn phát động. Họ đã đáp
ứng được nhiệm vụ vừa là người tuyên truyền viên, vừa là người trực tiếp tổ chức tập
hợp, giáo dục thanh niên vào các phong trào của đoàn phát động, để triển khai các chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, điển hình là
phong trào thi đua làm giàu, xây dựng quê hương, phong trào phấn đấu trở thành người
đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào thanh niên tình nguyện vì cuộc sống
cộng đồng... Đây chính là điểm mới trong năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở được
hình thành khá rõ nét trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ, từng bước đáp ứng
được yêu cầu trong tình hình hiện nay.
Năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An trong những năm qua có
chuyển biến tích cực đảm bảo yêu cầu công tác mà thực tiễn đang đặt ra. Mặt tiến bộ rõ
nhất trình độ văn hóa, chuyên môn, chính trị của cán bộ đoàn được nâng lên một bước
so với chỉ tiêu của Tỉnh đoàn đặt ra đều đạt và vượt. Số đông có đạo đức, tác phong
công tác tốt, có kỹ năng nghiệp vụ và tâm huyết với phong trào, không ngừng đưa công
tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi chuyển biến từ cơ sở, góp phần tích cực vào
phong trào chung của cả tỉnh.
2.2.3. Cơ cấu
Về cơ cấu đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở Nghệ An nhìn chung là khá hợp lý giữa
nam, nữ, dân tộc thiểu số, tôn giáo, tỷ lệ đảng viên, độ tuổi (tính đến đối tượng bí thư
đoàn cơ sở – số liệu tính đến hết năm 2012: nguồn: Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn
Nghệ An)
+ Về số lượng: 480
Trong đó: Nữ: 69 đồng chí = 14,4%
- Dân tộc thiểu số:
37
+ Dân tộc Thái: 70 đồng chí = 14,6%
+ Dân tộc Thổ: 10 đồng chí = 2,09%
+ Dân tộc H’Mông: 7 đồng chí = 1,46%
+ Dân tộc Khơ Mú: 8 đồng chí = 1,67%
+ Dân tộc Thanh: 2 đồng chí = 0,41%
- Tôn giáo: 2 đồng chí
Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ
An
T Độ tuổi
vụ 5 40
Bí thư 0 0 1 1 9 5 11 0 0 1 0 3 2 1 0 0
Phó BT 0 3 10 4 11 7 9 1 0 0 2 4 1 2 0 0
UVBT 17 17 29 11 15 36 28 30 16 3 4 1 0 0 1 0 0 V
Nguồn: Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn Nghệ An năm 2012
+ Về trình độ:
* Chuyên môn: Đại học, Cao đẳng: 257 đồng chí (53,5%); trung cấp: 210 đồng
chí (43,8%); sơ cấp: 13 đồng chí (2,7%).
* Lý luận chính trị: Cao cấp: 0 đồng chí (0%); trung cấp: 248 đồng chí
38
(51,9%); sơ cấp và chưa có trình độ: 232 đồng chí = 40,9%
Bảng 2.2: Thống kê về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ
cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An
Số lượng Trình độ chuyên môn Trình độ chính trị
TT Chức vụ Nam Nữ SC TC CĐ SC TC CN, CC ĐH
Bí thư 411 69 13 210 20 237 232 248 0
Phó BT 355 139 0 98 204 192 0 178 0
UVBTV 523 245 351 230 83 104 691 77 0
Nguồn: Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn Nghệ An năm 2012
2.3. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ
SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
2.3.1. Điểm mạnh và nguyên nhân
Sau khi có Quyết định số 631-QĐ/TU ngày 20/11/2007 của Ban Thường vụ
Tỉnh ủy Nghệ An về phân cấp quản lý cán bộ, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn đã xây dựng
và thực hiện quy trình tuyển chọn, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, phân công cán
bộ theo phân cấp quản lý cán bộ và hướng dẫn các cấp bộ đoàn thực hiện qua đó nhằm
xây dựng và nâng cao năng lựcc của người cán bộ đoàn cơ sở. Trên cơ sở phát huy vai
trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cán bộ đoàn cấp cơ sở bước đầu đã tham
39
mưu cho cấp ủy, phối hợp với chính quyền, các tổ chức đoàn thể nâng cao chất lượng
và năng lực đội ngũ cán bộ đoàn. Từng bước tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, việc đánh
giá, sử dụng cán bộ tốt hơn và dân chủ hơn trước, đã đào tạo bồi dưỡng một thế hệ cán
bộ đoàn có trình độ lý luận, đạo đức, tác phong công tác cơ bản đáp ứng được yêu cầu
nhiệm vụ. Đặc biệt đoàn cấp xã trên cơ sở hướng dẫn của đoàn cấp trên, đã cụ thể hóa
và xây dựng được tiêu chuẩn cán bộ phù hợp, lấy đó làm căn cứ đánh giá cán bộ, và
cũng thông qua tiêu chuẩn cán bộ từng bước nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ.
Có thể đánh giá những ưu điểm của việc xây dựng, củng cố và nâng cao năng
lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An trên các mặt sau:
(1). Tính tiên phong, gương mẫu và khả năng quy tụ, tập hợp thanh niên của đội
ngũ cán bộ đoàn cơ sở.
Phần lớn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có năng lực thông qua việc họ luôn nhận
thức được vai trò tiên phong, gương mẫu của mình. Thể hiện qua việc họ là những
người đi đầu trong công tác quy tụ, đoàn kết và lãnh đạo phong trào thanh niên, điển
hình là các phong trào như xây dựng nông thôn mới, phủ xanh đất trống đồi trọc, tuyên
truyền xây dựng đời sống văn hóa mới trên địa bàn dân cư của thanh niên nông thôn
hay hoạt động mùa hè tình nguyện của các tổ chức đoàn ở đô thị. Nhìn chung bằng sự
tiên phong gương mẫu, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, với vai trò là hạt nhân của
phong trào thanh niên đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đã không ngừng củng cố và nâng cao
năng lực của mình, đây là nhân tố quan trọng để đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH trên
địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay.
(2). Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị; năng lực triển khai công việc trong
thực tế; năng lực tổng kết thực tiễn của cán bộ đoàn cơ sở, khả năng tự học tập, tự tu
dưỡng rèn luyện để nâng cao phẩm chất, năng lực; khả năng tập hợp, thu hút thanh
niên.
40
Hầu hết đoàn cơ sở đều nhận thức được tầm quan trọng và đã rất chú ý đến công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cán bộ đoàn cơ sở những năm gần đây được đào tạo, bồi
dưỡng toàn diện cả về lý luận chính trị, quan điểm đường lối của Đảng, trình độ quản
lý Nhà nước, quản lý kinh tế và chuyên môn nghiệp vụ ngày một tăng lên điều này đã
góp phần không nhỏ vào việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Việc
lựa chọn cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng đều xuất phát từ tổ chức, từ yêu cầu nhiệm vụ, từ
quy hoạch cán bộ và đổi mới mà lựa chọn cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng cũng là nhằm
từng bước trẻ hóa, trí thức hóa đội ngũ cán bộ, đồng thời đảm bảo tính liên tục, tính kế
thừa trong đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Việc lựa chọn cán bộ được thực hiện theo
nguyên tắc tập thể, dân chủ, từ đó nhận định các mặt mạnh, yếu của từng cán bộ để cử
đi đào tạo, bồi dưỡng. Hầu hết các cán bộ được lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng đều có khả
năng phát triển tốt, đảm bảo năng lực trước thanh niên và cộng đồng, trước cơ quan cấp
trên.
Đội ngũ cán bộ đoàn đã không ngừng học tập nâng cao trình độ. Cán bộ đoàn cơ
sở đã được cấp ủy các cấp quan tâm và có chủ trương giao cho trung tâm chính trị, Ban
Tuyên giáo, Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn mở các lớp tập huấn giáo dục chính trị
tư tưởng, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ đoàn cơ sở đoàn cấp xã, cấp huyện
tập huấn cho cán bộ đoàn cấp xã và chi đoàn. Đặc biệt, để nâng cao trình độ, các cán
bộ đoàn cấp xã đã chủ động đăng ký, dự tuyển tham gia các chương trình học nâng cao
trình độ như học tại chức, từ xa tất cả các ngành học mà địa phương, đơn vị đang cần
để phục vụ công tác.
(3). Phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở
Phần lớn đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở có phong cách làm việc dân chủ, đúng
“chất” thanh niên. Với phong cách làm việc dân chủ, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có khả
năng thu hút, tập hợp được phong trào thanh niên, tạo ra động lực để thanh niên phát
huy hết khả năng của mình, cống hiến cao nhất cho hoạt động đoàn, khơi gợi được
41
tiềm năng, lợi thế của mỗi cán bộ và của địa phương vào mục đích chung. Phong cách
làm việc dân chủ, khoa học là nhân tố quan trọng tạo nên năng lực của người cán bộ
đoàn cơ sở, chính họ là nhân tố để quy tụ thanh niên và đi đầu trong các phong trào của
địa phương, cơ sở trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời gian vừa qua.
(4). Khả năng đưa ra những quyết định đúng, phù hợp và được đoàn viên thanh
niên cũng như xã hội ủng hộ.
Cán bộ Đoàn cơ sở có khả năng quy tụ, phát huy được phong trào; nhờ tri tri
thức, khả năng biến kiến thức thành hiện thực trong phong trào nên phần lớn các quyết
định của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đưa ra có được sự ủng hộ của đông đảo thanh niên,
của cấp ủy đảng, chính quyền và tổ chức đoàn cấp trên.
Nguyên nhân dẫn đến những ưu điểm trên có thể đánh giá như sau:
+ Đại bộ phận đoàn cấp trên, cấp ủy cơ sở nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò,
năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn đối với phong trào thanh niên nên đã tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo việc triển khai các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ, đồng thời ra
một số nghị quyết chuyên đề về công tác thanh niên nhằm chăm lo xây dựng đội ngũ
cán bộ đoàn trên tất cả các mặt về tiêu chuẩn, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử
dụng; tăng cường kiểm tra, đôn đốc hệ thống chính trị quan tâm đến công tác thanh
niên, vì vậy đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ đoàn cơ sở.
+ Chính quyền, mặt trận, đoàn thể đã tăng cường phối hợp với tổ chức đoàn
trong triển khai công tác thanh niên, từng bước cụ thể hóa được Nghị quyết của Đảng
về công tác cán bộ thành các chương trình về giáo dục, văn hóa, giải quyết việc làm và
các chính sách kinh tế - xã hội khác vào chương trình phát triển thanh niên, tạo môi
trường thuận lợi cho đội ngũ cán bộ đoàn rèn luyện, học tập nâng cao trình độ về mọi
mặt đáp ứng yêu cầu mới.
42
+ Tổ chức đoàn cấp cơ sở đã tích cực tham mưu với cấp ủy Đảng về công tác
cán bộ, không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, rèn luyện bản lĩnh chính trị, kỹ
năng nghiệp vụ công tác; chủ động làm tốt công tác quy hoạch, đánh giá, tiêu chuẩn
hóa đội ngũ cán bộ bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo trong triển khai chủ
trương của đoàn cấp trên; giúp đỡ, tôn vinh nhau để cùng nâng cao năng lực đội ngũ và
trưởng thành.
2.3.2. Điểm yếu và nguyên nhân
- Việc đánh giá cán bộ đoàn một số nơi thực hiện chưa đúng quy trình, còn qua
loa, sơ sài, chung chung cho nên vẫn còn hiện tượng năng lực được tạo ra thiếu thực
chất. Kết quả đánh giá cán bộ chưa được đưa vào hồ sơ lưu trữ làm căn cứ để nhận xét,
đánh giá cán bộ cho cả một quá trình, nên nhiều khi chưa làm cơ sở cho đề bạt cán bộ
có chất lượng. Còn hiện tượng đánh giá cán bộ chưa dân chủ, chế độ tự phê bình và
phê bình chưa được phát huy trong tập thể ban thường vụ, ban chấp hành đoàn, mà còn
dựa vào nhận xét của cá nhân đồng chí lãnh đạo chủ chốt, dẫn đến còn đánh giá cảm
tính... đây là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng thiếu năng lực của một số
cán bộ đoàn cơ sở; hoặc có năng lực nhưng thiếu tính thực chất.
- Năng lực của một số cán bộ đoàn cơ sở còn nhiều bất cập, do nguồn cán bộ
để bổ sung cho đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở hiện nay thiếu những cán bộ được đào tạo
bài bản, đủ tiêu chuẩn về năng lực trình đọ chuyên môn, nghiệp vụ nên việc bổ nhiệm
hết sức khó khăn, chưa chọn được những người có năng lực thực sự đảm nhận các
chức danh của tổ chức đoàn cơ sở. Một số đơn vị chưa tuân thủ quy trình trong đánh
giá cán bộ, lấy phiếu tín nhiệm trong đoàn viên thanh niên, còn chủ quan, hời hợt dẫn
đến trong công tác tuyển chọn cán bộ thông qua bầu cử chưa đảm bảo dúng định
hướng, nhiệm kỳ đại hội đoàn cấp xã 2005-2010 có 81 đồng chí không đúng định
hướng, trong đó 54 đồng chí bầu không đúng cơ cấu ban chấp hành, 14 đồng chí bầu
không đúng định hướng ban thường vụ và có 13 đồng chí không đúng định hướng bí
43
thư và phó bí thư, điều này phản ánh năng lực của một số tổ chức đoàn cơ sở chưa thực
sự cao, nhiều trường hợp vẫn mang tính hình thức, thiếu thực chất.
- Một số cấp ủy và tổ chức đoàn các cấp chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan
trọng của công tác cán bộ đoàn, còn buông lỏng và coi nhẹ việc nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ đoàn cơ sở, chưa quan tâm đến quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán
bộ. Quan điểm và phương pháp đánh giá cán bộ chậm đổi mới; nhiều nghị quyết, chủ
trương về công tác cán bộ thiếu các biện pháp đồng bộ, thiết thực để triển khai; việc sơ
tổng kết đúc rút kinh nghiệm và phê phán những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ
chưa được thực hiện tốt.
- Chính quyền, mặt trận và các đoàn thể còn xem công tác cán bộ là của cấp ủy,
chưa thật sự chú ý đến vị trí, vai trò của cán bộ đoàn, do vậy chưa chủ động có các
chương trình đầu tư thỏa đáng để nâng cao chất lượng cán bộ như tạo điều kiện cho cán
bộ học tập nâng cao trình độ, giải quyết chế độ chính sách đối với cán bộ đoàn.
Nguyên nhân của những hạn chế có thể khái quát như sau:
- Tổ chức đoàn cấp cơ sở chưa làm tốt quy trình về công tác cán bộ, còn thiếu
đầu tư nghiên cứu, trăn trở đề ra các chương trình hành động nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ đoàn; năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện về công tác cán bộ còn hạn
chế. Một số cán bộ đoàn chưa thực sự tu dưỡng rèn luyện, học tập nâng cao trình độ,
còn biểu hiện né tránh đùn đẩy việc khó, ít tiếp thu ý kiến của đoàn viên thanh niên và
chưa lắng nghe dư luận xã hội. Đây là nguyên nhân chính của những hạn chế trong
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ đoàn cơ sở còn thụ động, thiếu kế hoạch,
phụ thuộc vào phân bố chỉ tiêu của cấp trên. Mới chỉ có một số cán bộ được cử đi học
lớp nghiệp vụ công tác thanh thiếu nhi tập trung một tháng còn ít, trong khi đó nội
dung tập huấn còn đơn điệu, mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ công tác đoàn
44
(công tác đoàn vụ), triển khai các nghị quyết, chương trình mới mà chưa mở rộng đến
các nội dung cần thiết hơn như phương pháp xây dựng và duy trì các mô hình, tổ chức
các hoạt động, kỹ năng thiết kế hoạt động... nên chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
chưa được nâng lên nhiều.
- Đang còn tình trạng lựa chọn cán bộ đi đào tạo dàn trải, chất lượng hiệu quả
thấp, đào tạo chưa gắn với sử dụng và tiêu chuẩn chức danh; đang còn bị chi phối bởi
tư tưởng cục bộ địa phương theo kiểu “dòng họ gia tộc”, thậm chí có hiện tượng cử cán
bộ đi đào tạo, bồi dưỡng do ý kiến của một vài người có quyền, việc lấy ý kiến dân chủ
là hình thức nhằm hợp thức hóa quan điểm cá nhân. Đây là những nguyên nhân trực
tiếp dẫn đến tình trạng năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chưa cao.
- Năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chưa cao xuất phát từ việc trình độ
chuyên môn của họ chưa đáp ứng yêu cầu, số chưa qua đào tạo vẫn còn, nhiều nhất là ở
vùng sâu, vùng xa. Đây là điểm yếu của cán bộ đoàn cơ sở hiện nay, trong khi đó hoạt
động của người cán bộ đoàn lại cần kiến thức tổng hợp, ngoài các kỹ năng về công tác
thanh niên thông thường, người cán bộ đoàn còn phải biết kiến thức về khuyến nông,
khuyến ngư; chăm sóc sức khỏe cộng đồng, về hoạt động kinh tế,... thì mới đảm đương
được nhiệm vụ công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi hiện nay.
Một nguyên nhân khác đó là trình độ chính trị, đang còn 87 đồng chí cán bộ
đoàn chưa có trình độ trung cấp, sơ cấp về chính trị (trong đó có đến 86 đồng chí là Bí
thư), vì vậy khả năng nắm bắt và cụ thể hóa các chủ trương chính sách của Đảng sẽ hạn
chế, dẫn tới việc tuyên truyền về đường lối chính trị của Đảng tới thanh niên không
theo kịp diễn biến tình hình, thiếu chiều sâu, còn chung chung, nên khó đi vào cuộc
sống của thanh niên. Điểm đáng lưu ý là những hạn chế ở trên vẫn còn tồn tại khá lớn ở
trong đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chủ chốt, nếu không kịp thời có chính sách đào tạo,
bồi dưỡng thì trong tương lai đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở Nghệ An sẽ không đủ năng
lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, và như vậy với số cán bộ này cũng sẽ khó trưởng thành
45
ở những cương vị mới.
- Công tác quản lý cán bộ đoàn cấp cơ sở chưa được quan tâm đúng mức.
Nhìn chung hồ sơ sổ sách quản lý cán bộ ở cơ sở còn sơ lược, việc thực hiện tự phê
bình và phê bình còn yếu, nên chất lượng nội dung bổ sung hồ sơ cán bộ còn thấp,
Công tác đoàn vụ chưa được chú trọng, công tác lưu trữ hồ sơ sổ sách làm thiếu bài
bản, nên hầu như khi chuyển giao giữa các thế hệ đã làm thất thoát tài liệu, ảnh hưởng
đến đánh giá, quản lý cán bộ cả quá trình. Đặc biệt việc quản lý cán bộ được cử đi đào
tạo, bồi dưỡng thiếu chặt chẽ nên dẫn đến chất lượng của cán bộ còn thấp.
- Một số đơn vị bố trí cán bộ không phù hợp vị trí công tác và khả năng của
cán bộ hoặc có trường hợp cán bộ phải phụ trách quá nhiều mảng công việc nên hiệu
quả công việc chưa cao. Cũng có đơn vị khi bố trí nhân sự dàn đều cho các lĩnh vực
theo kiểu “dĩ hòa vi quý” để khỏi mất lòng nhau. Điểm đáng lưu ý là không ít nơi sau
khi cán bộ được đi đào tạo, bồi dưỡng trở về địa phương không được sử dụng, nên vào
dịp bầu cử hội đồng nhân dân, đại hội Đảng, đại hội Đoàn hầu như cán bộ đoàn cơ sở
đều “bám trụ” ở địa phương để được bố trí vào cơ cấu trong bộ máy, làm cho chất
lượng cán bộ không được nâng lên kịp thời.
- Chưa có chính sách thỏa đáng về đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đối với
đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở, mà chủ yếu còn khai thác mặt mạnh của cán bộ như nhiệt
tình công tác, tinh thần tình nguyện trước những khó khăn của cộng đồng. Chính sách
đãi ngộ về vật chất với cán bộ đoàn cơ sở còn rất hạn hẹp, còn nhiều cán bộ đoàn chưa
có phụ cấp, dù họ thường xuyên phải công tác thêm ngoài giờ hành chính; phương tiện,
cơ sở vật chất phục vụ công tác còn thiếu thốn; vẫn còn cơ chế “xin cho” trong giải
quyết kinh phí hoạt động và chế độ đối với cán bộ. Việc ban hành, sửa đổi chính sách
cán bộ đoàn còn nhiều bất hợp lý, chưa thật sự khuyến khích người có tài năng, người
làm việc có hiệu quả. Chế độ đãi ngộ thu hút nhân tài chưa đủ sức hấp dẫn đối với cán
bộ trẻ, giỏi về công tác tại xã.
46
- Do vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, xuất phát điểm của các xã ở Nghệ An nhìn
chung là thấp, nhất là vùng biển, dân tộc, miền núi và vùng giáo đang gặp nhiều khó
khăn, nguồn tuyển chọn cán bộ đoàn hạn hẹp, chất lượng hạn chế. Thanh niên thường
xuyên phải rời quê đi làm ăn xa, kéo theo đó làm đội ngũ cán bộ đoàn thường xuyên
biến động, mất ổn định nên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ không kịp để kiện toàn, dẫn đến
quy trình cán bộ không đảm bảo và ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực ngũ cán bộ
đoàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.
- Mặt trái của cơ chế thị trường tác động đến nhiều mặt đời sống chính trị xã
hội, một số vấn đề bức xúc đang đặt ra cho thahh niên nói chung chưa thể giải quyết
được như việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, nên nhiều đoàn viên thanh niên có khả năng
không muốn trở thành cán bộ đoàn, mà chỉ làm những công việc có thu nhập cao. Hơn
nữa với chính sách cán bộ hiện nay, đã làm những cán bộ đoàn cơ sở đang công tác
chưa thực sự yên tâm công tác và gắn bó với tổ chức.
- Nghệ An đang nỗ lực tập trung cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn, bước đầu triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới. Đây là quá trình
đầy khó khăn, nhiều vấn đề mới đặt ra, môi trường kinh tế xã hội phức tạp, do vậy trong
công tác cán bộ không thể tránh khỏi lúng túng, bất cập. Cấp ủy cấp cơ sở chưa dự báo
trước được những tình huống mới, đoàn cấp trên chưa hiểu đầy đủ về cơ sở, chưa giúp
được cơ sở những giải pháp hữu hiệu và các yêu cầu nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
đoàn cấp cơ sở.
47
Chương 3
GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN
BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH - HĐH ĐẤT
NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN CỦA TỈNH NGHỆ AN
Hiện nay, sự tăng trưởng kinh tế, sự nâng cao mức thu nhập chung của xã hội sẽ
mở ra những điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi để Nhà nước và toàn dân ta
quan tâm nhiều hơn tới thanh niên. Tỷ lệ ngân sách Nhà nước dành cho thanh niên sẽ
lớn hơn, việc đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị cho công tác chăm sóc, giáo dục,
bồi dưỡng thanh niên sẽ được nâng cao, môi trường lao động, học tập sinh hoạt, vui
chơi giải trí cho thanh niên sẽ được triển khai, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho các hoạt
động tự giác và chủ động của thanh niên trong đời sống hàng ngày. Trong bối cảnh
trên, chúng ta có thể dự báo được những điều cơ bản sau đây về tình hình thanh niên.
- Nhu cầu về vật chất và tinh thần của thanh niên sẽ phong phú, đa dạng và cao
hơn, khác hơn với thế hệ cha anh. Đó là lẽ thường tình và tự nhiên của phát triển chứ
không phải theo kiểu "Tri túc tân thường lạc, vô cầu phẩm tự cao". Người lãnh đạo,
quản lý phải giáo dục, làm gương cho thanh niên Việt Nam mới làm chủ đất nước, làm
chủ khoa học kỹ thuật hiện đại, làm chủ nhu cầu bản thân.
- Về cơ cấu dân số thanh niên: Với việc thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch
gia đình, mức độ của tăng dân số ở nước ta có chiều hướng giảm dần và trong cơ cấu
dân số chung, số nhân khẩu thanh niên sẽ giảm dần. Tuy nhiên, trong những năm trước
mắt, tỷ lệ dân số thanh niên trong cơ cấu vẫn khá cao trong những năm đầu thế kỷ
XXI, thanh niên chiếm tỷ lệ cao trong lao động xã hội.
Trong cơ cấu của nhóm nhân khẩu thanh niên, tỷ lệ những người không có việc
48
làm sẽ giảm dần, tỷ lệ nhóm công nhân kỹ thuật, công nhân có tay nghề cao sẽ tăng lên
cùng với đà phát triển của quá trình CNH-HĐH. Thanh niên giữa các khu vực, vùng
miền, giữa các đối tượng tiếp tục có sự phân hóa, chênh lệch về thu nhập, mức sống, về
trình độ học vấn, về cơ hội và điều kiện phát triển cũng như hưởng thụ văn hóa, vui
chơi, giải trí... Sự chênh lệch ấy sẽ dần dần được khắc phục bởi các chính sách kinh tế -
xã hội của Đảng và Nhà nước.
- Sự phát triển thể chất và sức khỏe của thanh niên được nâng lên một bước:
Trong bối cảnh kinh tế tiếp tục phát triển, điều kiện chăm sóc sức khỏe và chế độ dinh
dưỡng được cải thiện, thanh niên nước ta chắc chắn sẽ phát triển vượt hơn về thể chất
và sức vóc.
Tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình CNH, HĐH, một số bệnh
như: tim mạch, thần kinh, nhiễm độc về môi trường và thực phẩm, hoặc một số bệnh
xã hội cũng sẽ xuất hiện và phát triển. Bởi vậy, chúng ta cần có chính sách và chương
trình hoạt động cụ thể để ngắn chặn kịp thời những loại bệnh tật này. Khả năng về trí
tuệ và chuyên môn của thanh niên không ngừng phát triển. Được quan tâm tốt hơn về
điều kiện giáo dục và đời sống văn hóa, tinh thần, trình độ văn hóa của thanh niên sẽ
được nâng cao hơn. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mới của khoa học kỹ thuật, sư
xuất hiện của những ngành nghề đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, làm cho thanh niên
phải sống trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ về chất lượng học tập, lao động. Điều
đó buộc họ phải có những nỗ lực lớn trong học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên
môn và về mọi mặt. Nó cải tạo môi trường khách quan để thanh niên không ngừng phát
triển năng lực tư duy và sáng tạo. Trong bối cảnh này, khả năng trí tuệ và chuyên môn
của thanh niên sẽ có những bước phát triển đáng kể, giúp họ năng động và tự chủ hơn
trong lao động, làm giàu cho Tổ quốc, quê hương và bản thân mình.
Xã hội ngày càng tạo điều kiện để các nhân tài trẻ xuất hiện và đến lượt mình
những nhân tài trẻ tuổi lại đóng góp tích cực vào sự phát triển và sự tiến bộ của xã hội.
49
Tính tích cực xã hội của thanh niên được phát huy: Những thành tựu của công
cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước mà thanh niên là lực lượng tham gai
nòng cốt đã khiến cho chính thanh niên ngày càng nhận thức được rõ hơn về tương lai
và tiền đồ của đất nước, của dân tộc Việt Nam và của bản thân. Nhận thức chính trị của
thanh niên được tăng cường sẽ giúp họ tiếp tục duy trì tinh thần chủ động và tích cực
trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng mà các thế hệ
trước mang lại. Thanh niên tiếp tục là lực lượng chủ yếu trên mặt trận bảo vệ an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, tình nguyện ở những nơi khó khăn gian khổ. Đa số
thanh niên Việt Nam sẽ là chủ tương lai của Tổ quốc Việt Nam XHCN, thanh niên Việt
Nam nhất định sẽ trở về với cội nguồn dân tộc. "Con hơn cha là nhà có phúc", "Trò
hơn thầy là nước phúc dày", do đó thanh niên Việt Nam nhất định đưa Tổ quốc Việt
Nam độc lập, dân chủ và giàu mạnh sánh vai với các cường quốc năm châu. Đó là xu
thế lịch sử không thể đảo ngược dù có biến động và thách thức đến mức nào.
Tuy nhiên, sẽ có một bộ phận thanh niên bị cuốn hút bởi sự cám dỗ của đồng
tiền và những đòi hỏi về vật chất, ít quan tâm đến quyền lợi chung của tập thể, sa vào
các tệ nạn xã hội. Số thanh niên vi phạm pháp luật, nghiện ma túy, tham gia vào các tệ
nạn cờ bạc mại dâm... nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ còn tăng lên.
Có năng lực và thực chất là yêu cầu tiêu chuẩn hàng đầu để cán bộ đoàn cơ sở
tỉnh Nghệ An có thể hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, để tổ chức Đoàn xứng
đáng với vai trò và vị trí lực lượng xung kích, chủ đạo trong quá trình CNH, HĐH đất
nước. Yêu cầu mới về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đòi hỏi ngày càng cao về
mọi mặt. Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải có tầm nhìn sâu rộng, biết kế thừa truyền
thống anh hùng của dân tộc Việt Nam, thật sự xứng đáng là con cháu Hồ Chí Minh,
biết giữ vững và thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, biết dẫn dắt và
duy trì sự tin cậy, lòng trung thành và sự tôn trọng người khác, biết huy động họ làm
việc sáng tạo để đạt được kết quả ngày càng cao hơn.
50
Những yêu cầu mới về năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An
trong tình hình mới không nằm ngoài những yêu cầu của người lãnh đạo, quản lý nói
chung nhưng cần chú ý đặc biệt đến những điểm sau đây:
- Trước hết đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải trung thành với mục tiêu và con
đường đã lựa chọn là độc lập dân tộc và CNXH ở Việt Nam, dựa trên nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lenin và tư tưởng
Hồ Chí Minh.
- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải có khả năng thu thập và xử lý thông tin phục
vụ tốt cho công tác của mình. Nhưng phải hiểu rằng, thông tin chưa phải là kiến thức,
kiến thức là thông tin đã được xử lý, được chắt lọc, được liên hệ với các thông tin khác
để cho nó có ích và phù hợp với thực tiễn hơn. như vậy, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở
phải biến thông tin thành kiến thức và áp dụng nó vào thực tiễn công việc của mình để
ra quyết định đúng đắn, kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhằm thực hiện mục
tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.
- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải luôn biết rằng dù khoa học công nghệ có vai
trò rất quan trọng trong cuộc sống, song con người mới với trình độ khoa học tiến bộ
và công nghệ hiện đại vẫn là mối quan tâm hàng đầu. Phải biết huy động tốt, tối ưu mọi
nguồn lực, mà trước hết là người lãnh đạo, quản lý cần chú ý hơn nữa đến lực lượng
thanh niên, nâng cao nghệ thuật giao tiếp với đoàn viên thanh niên và cấp dưới, biết
cách tốt nhất để động viên họ làm việc, hoạt động, biết khuyến khích tài năng, sự sáng
tạo ở họ. Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải nhạy cảm với cái mới, sẵn sàng tiếp nhận cái
mới, những ý tưởng sáng tạo, từ đó tạo mọi điều kiện để hiện thực hóa những sáng kiến
có giá trị. Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải biết kiên trì thuyết phục, vận động và tổ
chức mọi người tham gia thực hiện tốt các ý tưởng mới, đúng mục tiêu và con đường
đã lựa chọn.
51
- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải dân chủ hơn song lại phải quyết đoán kịp thời
hơn, nhất là phải quyết định trong khi còn nhiều ý kiến khác nhau và những thời điểm
khó khăn. Đôi khi phải chấp nhận mạo hiểm; tức là phải quyết định dứt khoát và tổ
chức hành động có hiệu quả trong điều kiện không có thời gian bàn bạc nhiều. Thực
chất ở đây là phải quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, biết mở
rộng dân chủ, tranh thủ ý kiến của nhiều người nhưng phải quyết đoán kịp thời với tinh
thần trách nhiệm cao. Dám quyết định và tự chịu trách nhiệm, cũng là yêu cầu cao và
quan trọng nhất đối với năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở hiện nay.
- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải có niềm tin vào quần chúng lao động trẻ tuổi,
vào nhân dân và cần thiết phải có được những cộng sự tin cậy, chân thực, tài năng.
Muốn thế, họ phải giữ được chuẩn mực cao về mọi mặt, phải có tính trung thực và tính
liêm khiết ngay cả khi không có ai giám sát. Bên cạnh đó người lãnh đạo, quản lý phải
có tính khiêm nhường, luôn thừa nhận và tôn trọng những đóng góp của người khác,
không khoe khoang thành tích của riêng cá nhân mình.
- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải có hiểu biết rộng, có kiến thức và kinh nghiệm
sống phong phú, biết vận dụng chúng một cách tổng hợp và thích hợp vào từng lĩnh
vực công việc. Phải có tư duy chiến lược tốt, biết kết hợp yêu cầu trước mắt và lâu dài,
phải có phản ứng nhanh, nhạy cũng như phải làm việc vất vả và thích ứng được với
cường độ lao động cao, vì vậy cần có sức khỏe tốt.
Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, trong các năm tới, toàn Đảng
phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng "Phải
tăng cường công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống
chủ nghĩa cá nhân, nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
... không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức
lãnh đạo, quản lý... Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ
hội, thực dụng, tệ tham nhũng, quan liêu...
52
Tập trung chăm lo xây dựng tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở phù hợp với đặc
điểm vùng miền, thành phần dân tộc, giới tính, trên cơ sở đó xây dựng một cơ cấu đồng
bộ, hợp lý hơn; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn, quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng, đánh giá, quản lý sử dụng, luân chuyển cán bộ; đảm bảo nguyên tắc tập
trung dân chủ và tính chủ động của tổ chức đoàn cơ sở trong giới thiệu và chuẩn bị
nhân sự. Nâng cao hiệu quả công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền về xây dựng
cơ chế chính sách đối với cán bộ đoàn và đầu tư về cơ sở vật chất cho phong trào thanh
thiếu nhi; kiện toàn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có năng lực, đáp ứng yêu cầu công tác
đoàn trong giai đoạn hiện nay. Xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực của đội ngũ
cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An cần quán triệt phương hướng sau:
+ Công tác cán bộ đoàn là bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của
Đảng. Xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực cán bộ đoàn thực chất là góp phần xây
dựng Đảng trước một bước, bởi vì, cán bộ đoàn là nguồn cung cấp cán bộ cho hệ thống
chính trị. Cán bộ đoàn là cán bộ của Đảng làm công tác thanh thiếu nhi.
+ Xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn nhằm đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong giai đoạn đẩy
mạnh CNH-HĐH đất nước là nhân tố quyết định sự vững mạnh của các tổ chức đoàn,
hội, đội; đồng thời, tích cực tham gia xây dựng Đảng và chính quyền trong thời kỳ
mới.
+ Thông qua hoạt động thực tiễn công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi
để phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đảm bảo về số lượng và
chất lượng, từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ đoàn các cấp, quan tâm cán bộ cơ sở, cán
bộ nữ, cán bộ người dân tộc, tôn giáo
+ Cán bộ đoàn là cán bộ làm công tác chính trị - xã hội, nhưng do tính đặc thù
của đối tượng, vì vậy ngoài những yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ cán bộ đoàn còn
53
phải có nhiệt tình, năng khiếu, kỹ năng nghiệp vụ và phương pháp công tác thanh thiếu
nhi.
+ Từng bước trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đủ về số
lượng, có cơ cấu hợp lý; tăng cường đầu tư cho công tác cán bộ nhằm tạo chuyển biến
mới trong công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, góp phần tạo nguồn cán bộ cho
đoàn cấp trên, cho Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân. Phấn đấu đến năm
2012 (cuối nhiệm kỳ Đại hội đoàn toàn tỉnh Nghệ An lần thứ XV) có 90% cán bộ đoàn
cơ sở nằm trong độ tuổi đoàn viên, 50 % bí thư đoàn xã, phường, thị trấn có trình độ
đại học, cao đẳng; 65% bí thư đoàn cơ sở nông thôn, miền núi có trình độ trung cấp;
100% cán bộ đoàn cơ sở đều được đào tạo bồi dưỡng về lý luận và nghiệp vụ thanh
vận.
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ
ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA –
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở và năng
lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở
Nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là yêu cầu cơ
bản hàng đầu không những của cán bộ, đoàn viên thanh niên mà còn là yêu cầu đối với
cán bộ Đảng, chính quyền và toàn xã hội. Đối với đoàn cấp cơ sở, nhận thức đúng vấn
đề trên là nền tảng cơ sở để hoạch định đúng về phương hướng, mục tiêu, chương trình
hành động nâng cao năng lực cán bộ đoàn. Đối với hệ thống chính trị và xã hội, nhận
thức đúng sẽ có thái độ đúng trong việc đặt ra những yêu cầu khách quan, sẽ xây dựng
được ý thức trách nhiệm và có chuẩn mực đánh giá xác đáng đối với những thành công
hay hạn chế của đội ngũ cán bộ đoàn. Quán triệt nhận thức đầy đủ về nâng cao năng
lực đội ngũ cán bộ đoàn là yêu cầu đặt ra đối với cả hệ thống chính trị và toàn xã hội,
54
nhưng trước hết là đối với đoàn cơ sở. Bởi vì, trong thực tiễn hoạt động, nhiều cán bộ
đoàn cơ sở mất đi tính tiên phong, qua đó làm giảm vai trò làm hạt nhân chính trị để
đoàn kết tập hợp thanh niên.
Cũng như các tổ chức chính trị - xã hội khác, cán bộ đoàn luôn luôn giữ vai
trò quyết định trực tiếp đến năng lực, hiệu quả thực thi chức năng của tổ chức đoàn. Để
có đội ngũ cán bộ có năng lực, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công tác đoàn
và phong trào thanh thiếu nhi, Đoàn thanh niên cần phải xác định công tác cán bộ là
điều kiện căn bản quyết định. Từ thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở của
tỉnh Nghệ An cho thấy rất cần thiết phải tuyên truyền để nâng cao và thống nhất nhận
thức trong cấp ủy cấp cơ sở, cán bộ, đảng viên, tổ chức đoàn các cấp và đoàn viên,
thanh niên về nội dung này. Nhìn chung đa số cấp ủy, đoàn cấp trên quan tâm đến nâng
cao chất lượng cán bộ đoàn cơ sở, bên cạnh đó ở một số cấp ủy địa phương thường
không chỉ đạo sát sao và ít quan tâm đến đội ngũ cán bộ đoàn, còn tư tưởng coi nhẹ cán
bộ đoàn còn trẻ tuổi, ít kinh nghiệm và hiểu biết, chưa thật sự tin tưởng họ là “thủ lĩnh”
của thanh niên. Mặt khác, cấp ủy là người có quyền quyết định trong công tác tổ chức
cán bộ, nên tổ chức đoàn thường rơi vào thế bị động trong xây dựng đội ngũ cán bộ
đoàn hoặc là trông chờ, ỷ lại dẫn đến chưa chú trọng về nội dung nâng cao chất lượng
cán bộ, do vậy không chủ động trong xây dựng đúng quy trình các khâu về công tác
cán bộ, làm cho việc bố trí cán bộ tùy tiện, thiếu tính khoa học và chưa có tham mưu,
đề xuất kịp thời với cấp ủy trong quản lý, sử dụng cũng như chế độ chính sách đối với
cán bộ đoàn, làm cho đội ngũ cán bộ ở những đơn vị đó vừa thiếu, vừa không đủ năng
lực giải quyết những đòi hỏi mới của công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi.
Trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị
trí, vai trò của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở nhằm thống nhất nhận thức thực hiện đồng
thời hai yêu cầu: Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở và góp phần hình thành
được hệ thống cán bộ một cách hợp lý, khoa học. Muốn vậy, cần tập trung tuyên truyền
55
các quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn theo hướng đa dạng hóa trên tờ tin,
sách báo, tạp chí, truyền thanh của xã nhằm góp phần mở rộng thông tin, nâng cao hiệu
quả trong công tác tuyên truyền về công tác đoàn cũng như tiêu chuẩn của đội ngũ cán
bộ đoàn, làm cho cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể và quần chúng nhân dân hiểu biết
sâu sắc hơn về tính chất, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.
Phương pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ cán
bộ đoàn cơ sở thuyết phục nhất vẫn là phải kết hợp công tác giáo dục cơ bản (qua
chương trình đào tạo huấn luyện ở các trường Chính trị, trường đoàn), hoặc qua những
hoạt động sinh động như thi cán bộ đoàn giỏi, tập huấn, công khai dân chủ tiêu chuẩn
cán bộ và công tác quy hoạch; mở những cuộc đối thoại trực tiếp giữa các thế hệ cán
bộ, giữa cấp ủy với thanh niên. Tăng cường những chuyên mục nêu gương cán bộ đoàn
tốt, việc tốt và xây dựng quy chế mỗi cán bộ đoàn, đoàn viên đều là một tuyên truyền
viên tích cực,... để từ đây lấy các phong trào này mà giáo dục cán bộ, tạo dư luận xã
hội rộng rãi ủng hộ cái hay, cái tốt, cái đẹp, phản đối cái dở, cái xấu trong nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở.
3.2.2. Không ngừng rèn luyện và nâng cao bản lĩnh, phẩm chất chính trị,
lập trường và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chấp
hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải luôn có lập trường chính trị vững vàng, kiên
quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, thấm nhuần và vận dụng đúng đắn các
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào lĩnh vực công tác được
giao. Luôn chấp hành tốt Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nói và làm
theo Nghị quyết của Đảng, nghiêm túc chấp hành các chế độ chính sách của Đảng và
Nhà nước, các quy định của tổ chức Đoàn. Tổ chức, thuyết phục và giáo dục mọi người
trong phạm vi mình phụ trách và ngoài xã hội cùng thực hiện và chấp hành tốt đường
lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xây dựng và triển khai thực hiện
56
tốt quy chế dân chủ cơ sở trong tổ chức Đoàn, theo phương châm: "Thanh niên biết,
thanh niên bàn, thanh niên làm, thanh niên kiểm tra".
Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, học
tập, rèn luyện nâng cao lập trường chính trị, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trước hết cần
phải nắm vững đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các
đường lối, chính sách có liên quan đến tuổi trẻ để từ đó chủ động, sáng tạo trong công
tác. Trên cơ sở đó có nhiều ý kiến đóng góp vào các quyết định của tập thể, tổ chức
thực hiện có hiệu quả tốt nhất nhiệm vụ của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở cần nắm bắt thông tin, xử lý thông tin kịp thời, nhất
là nắm vững nhu cầu của tuổi trẻ và xã hội để dự báo chính xác tình hình, nhận định rõ
và đúng mục tiêu, ra các quyết định rõ và đúng mục tiêu, ra các quyết định sao cho phù
hợp vào thực tế ở từng điều kiện cụ thể, tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả cao
nhất.
Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở cần phải có năng lực xây dựng, tổ chức và điều hành
bộ máy, phải căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ chung để vạch ra kế hoạch chi tiết, cụ thể
cho hàng tháng, hàng quý, 6 tháng, cả năm và dự báo kế hoạch dài hạn trong nhiệm kỳ.
Phải có kế hoạch tổ chức thực hiện chu đáo, sát sao và thường xuyên kiểm tra quá trình
thực hiện. Thường xuyên học tập kinh nghiệm, tổ chức sơ, tổng kết, phát huy các thế
mạnh, các thành tích, kịp thời sửa chữa những lệch lạc.
Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải biết xây dựng khối đoàn kết nội bộ, trên dưới
một lòng, đồng tâm hợp lực, như Bác Hồ đã dạy: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
thành công, thành công, đại thành công". Người lãnh đạo, quản lý của các đơn vị có vai
trò quyết định trong việc tạo ra bầu không khí tâm lý lành mạnh, lạc quan, thường
xuyên quan tâm đến cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, sinh hoạt của người dưới
quyền. Biết sử dụng và bố trí cán bộ, bố trí con người đúng năng lực và sở trường, phát
57
huy được tính sáng tạo và chủ động của mọi người để họ làm việc có năng suất và hiệu
quả cao.
Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở cần phải tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất
đạo đức, nêu gương sáng trong sinh hoạt, lối sống, cụ thể:
- Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải là người cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô
tư, hết lòng vì sự nghiệp chung và say mê vì công việc.
- Có ý thức tổ chức, kỷ luật chấp hành nghiêm túc pháp luật và các quy định của
Đảng, Nhà nước, của tổ chức Đoàn, làm gương cho mọi người noi theo.
- Là người có tác phong đúng mực, sâu sát, cụ thể, thiết thực và hòa đồng, thông
cảm và hiểu cấp dưới, có thái độ cộng tác chân thành.
- Biết khơi dậy và phát huy tài năng của cán bộ, phong trào thanh niên, biết
đánh giá đúng con người, biết xử lý tốt các mối quan hệ trong và ngoài tổ chức, quan
hệ đúng mức với cấp trên và người dưới quyền.
- Có lối sống trong sáng, giản dị, không cục bộ và vun vén cá nhân, luôn có ý
thức tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
- Xây dựng gia đình văn hóa mới và tuyên truyền vận động gia đình gương mẫu
trong sinh hoạt và công tác.
3.2.3. Xây dựng tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phù hợp với yêu cầu
đặc điểm.
Tiêu chuẩn là cái khung để đánh giá cán bộ, là cơ sở để cán bộ có hướng phấn
đấu rèn luyện, tự hoàn thiện mình qua đó nâng cao năng lực. Muốn làm tốt công tác
cán bộ đoàn thì tiêu chuẩn đối với cán bộ đoàn phải đảm bảo cụ thể, chính xác, có tính
khả thi, có hướng phát triển. Có được tiêu chuẩn sẽ loại trừ được những yếu tố khách
quan trong quá trình lựa chọn tuyển dụng cán bộ, đặc biệt là những chức danh chủ
58
chốt. Trong tiêu chuẩn của cán bộ đoàn cấp cơ sở, ngoài yêu cầu về phẩm chất chính
trị, đạo đức cần quan tâm đến năng lực tập hợp, tổ chức các hoạt động cho thanh niên,
vì đây là đặc thù riêng của cán bộ đoàn. Ngoài ra còn từng vùng, miền, thành phần dân
tộc, tôn giáo mà định ra tiêu chuẩn về trình độ văn hóa và chuyên môn cụ thể, nhưng
phải đảm bảo cán bộ đoàn phải là đại biểu có trình độ học vấn, văn hóa, chuyên môn
cao so với mặt bằng của thanh niên ở cơ sở.
Việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở phải dựa trên các đặc trưng riêng
có của cán bộ đoàn, có như vậy mới phù hợp với thực tiễn, có khả năng triển khai thực
hiện. Các đặc trưng cơ bản của cán bộ đoàn là:
Thứ nhất, cán bộ đoàn phải là người nhiệt tình công tác xã hội, chăm lo lợi ích
chính đáng cho đoàn viên, thanh thiếu nhi.
Thứ hai, cán bộ đoàn là những người trẻ tuổi, năng động, sáng tạo, lời nói đi đôi
với việc làm.
Thứ ba, người cán bộ đoàn phải có hiểu biết sâu sắc về đối tượng quần chúng
thanh thiếu nhi. Đặc biệt ở nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo,
cán bộ đoàn phải có kiến thức về phong tục tập quán, về giáo lý.
Thứ tư, phải có kỹ năng công tác thanh thiếu nhi, nghiệp vụ xây dựng Đoàn,
Hội, Đội.
Thứ năm, phải có năng lực tranh thủ sự ủng hộ, tạo lập và mở rộng các mối
quan hệ để phát huy sức mạnh tổng hợp cửa toàn xã hội chăm lo cho công tác thanh
niên.
Thứ sáu, phải nắm vững quan điểm đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, chương trình công tác của đoàn cấp trên; nhạy cảm về chính trị, ủng hộ cái mới,
tích cực, tiến bộ.
59
Có thể nêu ra tiêu chuẩn của cán bộ đoàn cơ sở theo quy định tại Quyết định số
289 – QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy chế cán bộ Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh như sau:
+ Về tiêu chuẩn chung.
Tiêu chuẩn cán bộ đoàn được cụ thể hóa theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần
thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) là:
- Có tinh thần yêu nước, trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân,
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực,
không cơ hội; nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có khả năng tổ chức tập hợp, gắn bó mật
thiết và được sự tín nhiệm của đoàn viên, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và nhân dân.
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; trình độ học vấn, chuyên môn, ngoại ngữ, tin
học phù hợp với yêu cầu của vị trí công tác được giao; trường thành từ phong trào
đoàn, hội, đội hoặc tham gia hoạt động phong trào thanh thiếu nhi hoặc đã được đào
tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức công tác thanh vận.
- Có sức khỏe tốt, ngoại hình phù hợp với công tác thanh vận; tuổi cán bộ đoàn
được quy định theo cương vị được giao và có thể hơn từ 1 đến 2 tuổi để phù hợp với
yêu cầu công tác cụ thể.
+ Tiêu chuẩn cụ thể:
- Trình độ chuyên môn: từ trung cấp trở lên.
- Trình độ lý luận chính trị: sơ cấp.
60
- Giữ chức vụ không quá 35 tuổi.
Đối với vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, đối tượng chính sách, trình độ
văn hóa nói chung từ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên, đã được bồi dưỡng chương
trình lý luận chính trị sơ cấp. Giữ chức vụ không quá 37 tuổi.
3.2.4. Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn
cơ sở.
Gây dựng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trước hết phải chú
trọng đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đội ngũ, bố trí cán bộ hợp
lý; đó là chìa khóa cho việc gây dựng và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý vì mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém như Bác
Hồ đã dạy.
Trước hết, phải có quy hoạch cán bộ, thực sự quan tâm về điều kiện công tác
quy hoạch cán bộ trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền.
Cần tổng kết, đánh giá việc thực hiện quy hoạch cán bộ của tổ chức Đoàn. Có sự phối
hợp giữa các cấp, để có nhận xét cụ thể về mức độ phấn đấu, trưởng thành của cán bộ
trong diện quy hoạch, khi họ đang có xu hướng đi lên.
Quy hoạch cán bộ đoàn là một quá trình phát hiện tạo nguồn để đào tạo, bồi
dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ mới và tình hình đội
ngũ cán bộ, tổ chức đoàn cơ sở tiến hành rà soát và xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ
theo các tiêu chuẩn quy định. Quy hoạch cán bộ phải gắn với quy hoạch chung của đội
ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị và các khâu trong công tác cán bộ. Quy hoạch đó
phải sát với thực tiễn, trên cơ sở nắm chắc đội ngũ cán bộ hiện có và nguồn cán bộ, dự
báo được yêu cầu sắp đến, đề ra được các biện pháp tích cực, khả thi, hiệu quả. Cần
xác định quy hoạch cán bộ là khâu trọng yếu của công tác cán bộ đoàn. Quy hoạch cán
bộ đoàn sẽ tạo ra sự chủ động về công tác cán bộ, tránh hiện tượng chắp vá, tùy tiện
61
thường gặp hiện nay.
Công tác quy hoạch cán bộ đoàn cơ sở nếu làm tốt sẽ góp phần quan trọng tạo
nên đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực, từ đó nâng cao chất lượng công tác đoàn và
phong trào thanh thiếu nhi của từng xã, tạo nguồn cán bộ cho đoàn cấp trên và cấp ủy,
chính quyền, các đoàn thể nhân dân của xã.
Công tác quy hoạch cán bộ đoàn phải thực hiện đúng quan điểm của Đảng, của
đoàn; phải dựa trên các căn cứ đó là: gắn với công tác quy hoạch cán bộ của cơ quan
đơn vị địa phương, do cấp ủy đảng chủ trì, gắn với nhiệm vụ chính trị của đoàn cơ sở ở
mỗi địa phương, vùng miền; hệ thống tổ chức hiện có và dự báo mô hình tổ chức thời
gian tới; tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở; thực trạng đội ngũ cán bộ đoàn hiện có. Trong
quy hoạch cần mạnh dạn đưa cán bộ dự bị vào các vị trí kế cận để rèn luyện và khẳng
định năng lực của cán bộ; đồng thời coi trọng việc quy hoạch chức danh bí thư đoàn,
với chức vụ này, cần đảm bảo quy hoạch từ 2 đến 3 nguồn dự bị thay thế.
Nội dung quy hoạch được tiến hành theo quy định chung của Đảng, hàng năm rà
soát để điều chỉnh, bổ sung quy hoạch. Cụ thể gồm: lập kế hoạch quy hoạch, trong đó
xác định rõ tiêu chuẩn cán bộ ở từng chức danh, vị trí; điều tra khảo sát đánh giá thực
trạng cán bộ; dự báo nhu cầu cán bộ; nguồn cán bộ; các giải pháp thực hiện quy hoạch
cán bộ. Triển khai kế hoạch quy hoạch để có kết quả là danh sách cán bộ thuộc diện
quy hoạch theo từng giai đoạn. Kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện công tác quy hoạch
hàng năm.
Cấp ủy Đảng, ban thường vụ đoàn các cấp có trách nhiệm xây dựng, quản lý
quy hoạch chức danh cán bộ đoàn cấp mình. Cấp ủy Đảng và ban thường vụ đoàn cấp
huyện phối hợp với cấp ủy đảng cơ sở xây dựng quy hoạch chức danh cán bộ đoàn cấp
cơ sở.
Căn cứ vào mặt mạnh, yếu của cán bộ, căn cứ vào yêu cầu công việc mà tiến
62
hành đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho phù hợp. Cấp ủy, Bí thư Đoàn và cơ quan tổ chức
cán bộ phải trực tiếp và thường xuyên theo dõi, giúp đỡ, đánh giá mức độ trưởng thành
của cán bộ một cách sát đúng, thông báo kịp thời cho cán bộ đó biết những mặt tốt để
phát huy và đặc biệt là hạn chế để khắc phục. Việc quản lý, kiểm tra diện cán bộ quy
hoạch cũng dựa vào quần chúng và thanh niên. Nếu làm tốt khâu quản lý cán bộ quy
hoạch sẽ góp phần bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ và nâng cao chất lượng phấn đấu của
cán bộ, hạn chế việc "rơi vãi" cán bộ trong diện quy hoạch.
Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn các cấp trước đây do Trung
ương Đoàn và các tỉnh có hệ thống trường Đoàn, Đội chuyên trách việc đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ. Từ năm 1992, hệ thống này bị giải thể sáp nhập vào khoa dân vận của
các trường chính trị. Từ đây việc đào tạo, huấn luyện cán bộ vốn được Bác Hồ quan
niệm “là công việc của Đảng” lại trở thành việc làm vừa thiếu tính hệ thống vừa thiếu
tính chuyên nghiệp, tức là mạnh địa phương nào thì địa phương đó làm và nghĩ như thế
nào, làm như thế ấy. Hệ quả tất yếu của vấn đề này là tình trạng đội ngũ cán bộ đoàn
cơ sở rất đông, luân chuyển nhanh nhưng chủ yếu lại không được đào tạo, huấn luyện.
Thực trạng hiện nay đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An có khoảng 85 % được
qua lớp tập huấn dưới 7 ngày, 20% cán bộ được đào tạo lớp nghiệp vụ công tác thanh
thiếu nhi một tháng. Một vấn đề quan trọng để công tác đào tạo, bồi dưỡng có tính hệ
thống và chuyên nghiệp là phải gắn đào tạo, bồi dưỡng với việc tiêu chuẩn hóa đội ngũ
cán bộ đoàn – nhất là chức danh chủ chốt để cán bộ đoàn cơ sở nhận thức được rằng:
Muốn đảm nhận một vị trí nào đó trong hệ thống thì phải có trình độ nghiệp vụ tương
đương (tức là phải được đào tạo).
Căn cứ yêu cầu công tác, khả năng và kế hoạch quy hoạch cán bộ, ban thường
vụ đoàn cơ sở cần chủ động lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn của đơn vị
mình. trong đó cần xác định rõ những cán bộ cần được đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp vụ công tác đoàn, hội, đội; ngoại ngữ, tin học,
63
hoặc tiếng dân tộc thiểu số. Đề xuất với cấp ủy và đoàn cấp trên quan tâm tạo điều kiện
cho việc tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ. Trong điều kiện hiện nay của tỉnh Nghệ
An, Tỉnh đoàn cần tiếp tục đề xuất với Tỉnh ủy tạo điều kiện để phối hợp với Trường
Chính trị tỉnh tăng số lớp bồi dưỡng cán bộ đoàn cấp cơ sở; phối hợp với Học viện
Thanh thiếu niên Việt Nam mở các lớp đào tạo cán bộ đoàn tại tỉnh để bồi dưỡng kỹ
năng nghiệp vụ cho cán bộ đoàn cấp xã tập trung vào một số nội dung mà cán bộ còn
yếu như: những quan điểm, đường lối, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước,
những chủ trương công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, các kỹ năng nghiệp vụ
và phương pháp công tác chủ yếu đối với mỗi chức danh, kỹ năng thiết kế hoạt động;
kỹ năng tổ chức thực hiện, kỹ năng giao tiếp ứng xử; kỹ năng nghiệp vụ công tác đoàn.
Chỉ đạo Trung tâm hỗ trợ phát triển thanh niên tỉnh Nghệ An ngoài việc giúp
thanh niên học nghề, giải quyết việc làm, còn đảm nhận việc tập huấn, huấn luyện cán
bộ đoàn trong thời gian ngắn ngày, chủ yếu về kỹ năng hoạt động. Ngoài hình thức tập
huấn, các đoàn cơ sở cũng cần thiết thành lập các câu lạc bộ kỹ năng hay câu lạc bộ
cán bộ đoàn liên xã, phường. Các câu lạc bộ này vừa góp phần nâng cao chất lượng cán
bộ đoàn, vừa giao lưu học hỏi kinh nghiệm, tạo nên phong trào thi đua học tập giữa các
cán bộ đoàn.
Xây dựng các cơ chế chính sách khuyến khích động viên cán bộ đoàn cơ sở tự
học tập, tự nghiên cứu, tự đổi mới kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và công tác thanh vận. Mạnh dạn giao việc, đưa cán bộ đoàn vào hoạt động tổ chức
phong trào thanh niên, thông qua hoạt động thực tiễn mà bồi dưỡng, đào tạo.
Cán bộ đoàn cần chủ động đề xuất việc học tập nâng cao trình độ về chuyên
môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học của mình để cấp ủy đảng, tập thể lãnh đạo xem xét,
giải quyết, tạo điều kiện cho đi học và có kế hoạch bố trí, sắp xếp công tác.
Cần đổi mới nhận thức trong việc bố trí, sử dụng cán bộ Đoàn trong diện quy
64
hoạch, khi cần bổ sung cán bộ cho một vị trí, chức danh nào thì lựa chọn một cách tập
thể dân chủ, nên tham khảo sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên.
Có quan điểm rõ ràng, không phải bất cứ cán bộ nào trong diện quy hoạch cũng đều
được sử dụng, đề bạt, không phải người được quy hoạch nào cũng đều được sử dụng,
đề bạt, không phải người được quy hoạch trước thì bố trí trước. Việc bố trí, sử dụng
cán bộ, bổ nhiệm cán bộ vào các cương vị lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào tiêu
chuẩn, năng lực, hiệu quả công việc thực tế, năng lực và khả năng phát triển của cán
bộ.
Công tác tuyển chọn cán bộ luôn là vấn đề thường xuyên nhưng rất khó khăn
đối với các đoàn cơ sở. Lý do là cán bộ đoàn thì cần phải trẻ tuổi nhưng yêu cầu nhiệm
vụ lại đặt ra tiêu chuẩn cao đối với cán bộ đoàn. Trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất
và năng lực cán bộ đoàn, cấp ủy đảng, tập thể lãnh đạo bố trí, sử dụng phù hợp với
trình độ, năng lực, sở trường và chiều hướng phát triển của cán bộ.
Việc bố trí, sử dụng cán bộ đoàn cơ sở do ban thường vụ đoàn xã chủ động phân
công, đồng thời báo cáo cấp ủy cùng cấp. Đối với Bí thư, Phó bí thư đoàn xã, ban
thường vụ đoàn cơ sở báo cáo với cấp ủy đảng xem xét, quyết định.
Cấp ủy đảng phối hợp với ban thường vụ đoàn cơ sở để xem xét, bố trí, sắp xếp
công tác cho đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở khi hết tuổi tham gia công tác đoàn hoặc đã
hoàn thành nhiệm vụ công tác đoàn phù hợp với trình độ, năng lực và quy hoạch cán
bộ đã được phê duyệt.
Nguồn tuyển chọn cán bộ đoàn cơ sở ưu tiên các bí thư chi đoàn trực thuộc, có
đủ trình độ, kinh nghiệm, năng lực, phẩm chất theo quy định. Ngoài ra, nguồn tuyển
chọn còn từ các sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có khả
năng công tác thanh niên. Hiện nay, học viên tốt nghiệp Học viện Thanh thiếu niên
Việt Nam được cấp bằng trung cấp về chuyên môn và trung cấp về chính trị. Chính vì
65
vậy, những học viên này sau khi tốt nghiệp nên quy hoạch giữ vị trí chủ chốt đoàn cấp
cơ sở. Trong quá trình công tác nếu hoàn thiện trình độ theo tiêu chuẩn, có năng lực,
tâm huyết với phong trào thì tiến hành tuyển chọn, giao nhiệm vụ theo con đường bầu
cử. Đây sẽ là đội ngũ cán bộ đoàn có chất lượng cao.
Lựa chọn, bố trí đúng cán bộ theo quan điểm của Đảng ta là phải căn cứ vào yêu
cầu công tác và sự đánh giá đúng cán bộ, nghĩa là vì việc mà dùng người, chứ không
phải vì người mà đặt việc. Giao việc cho cán bộ phải theo khả năng, trình độ, đúng
năng lực sở trường, phù hợp với sức vươn lên của từng cán bộ, phải biết tùy tài mà
dùng người, chống tư tưởng cục bộ bè phái, gia đình trong công tác cán bộ. Trong việc
lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ cần chú ý đảm bảo đúng tiêu chuẩn, thực hiện trẻ hóa
cán bộ nhưng phải bảo đảm tính liên tục và phát triển. Đề bạt cán bộ đúng lúc, giao
việc đúng tầm, đừng để đến lúc cán bộ chững lại mới đề bạt, cần phải khuyến khích
cán bộ vươn lên. Trong việc sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường phê phán
những người có các chứng bệnh sau đây:
“Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn
người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính
trực.
Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình
không hợp với mình.
Vì những bệnh đó, kết quả là những người kia đã làm bậy, mình cũng cứ bao
dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người
chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù. Như thế, cố nhiên là hỏng cả công việc của
Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”.
Do vậy, việc bố trí đúng cán bộ đoàn cơ sở vào các vị trí phù hợp trình độ, khả
năng là cực kỳ quan trọng. Trong điều kiện các xã tỉnh Nghệ An đang thiếu cán bộ đủ
66
năng lực thì việc này càng trở nên cần thiết. Việc bố trí cán bộ phải căn cứ yêu cầu
nhiệm vụ, tiêu chuẩn cán bộ, chất lượng cán bộ. Mạnh dạn sử dụng cán bộ trẻ, có trình
độ, có triển vọng, đã được rèn luyện trong thực tiễn phong trào vào các vị trí chủ chốt.
Với cán bộ đoàn cơ sở chủ chốt tuổi từ 35 trở lên thì cần lập danh sách báo cáo
cấp ủy, Đoàn cấp trên để có hướng thuyên chuyển kịp thời. Làm tốt việc này sẽ giúp
đoàn cơ sở chủ động và bản thân cán bộ yên tâm công tác, đồng thời thể hiện trách
nhiệm của tổ chức Đảng, Đoàn với cán bộ đoàn. Thực tế một số đồng chí khi được
thuyên chuyển sang môi trường mới phù hợp hơn nên đã phát huy tốt khả năng của
mình, có bước phát triển trong công việc.
Xây dựng và hoàn thành quy chế, quy trình đề bạt cán bộ, nhằm làm cho công tác
cán bộ đi vào nề nếp, thực sự có tính khoa học, đảm bảo cho công tác cán bộ hoạt động
thống nhất theo nguyên tắc, chuẩn mực chung. Tránh tình trạng tùy tiện, áp đặt, duy ý
chí trong công tác cán bộ. Hệ thống quy trình, quy chế công tác cán bộ còn là cơ sở căn
cứ để cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ kiểm tra đánh giá và giám sát hoạt động của mình
theo quy định chung.
Đánh giá cán bộ nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách
mạng, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ đoàn đồng thời làm căn cứ tuyển chọn,
quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và
thực hiện các chính sách đối với cán bộ. Trên cơ sở đảm bảo tính khách quan, toàn
diện, nguyên tắc tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình trong đánh giá cán bộ phải
làm rõ những ưu khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu và phẩm chất chính trị, đạo đức lối
sống, năng lực, hiệu quả công tác, chiều hướng phát triển của cán bộ.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các nội dung liên quan đến việc nhận xét, đánh
giá cán bộ đoàn thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước
Thời gian đánh giá: Đánh giá cán bộ được tiến hành định kỳ hàng năm (vào
67
cuối năm), theo nhiệm kỳ công tác; trước khi tiến hành công tác quy hoạch, giới thiệu
ứng cử.
Nội dung đánh giá:
+ Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; số lượng, chất lượng, hiệu
quả công việc trong từng vị trí, từng thời gian công tác; khả năng đoàn kết, quy tụ, phát
huy cán bộ dưới quyền và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác; tinh
thần học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ lý luận chính trị, ý thức tổ chức
kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự phê bình và phê bình.
+ Về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống: việc chấp hành nghiêm chỉnh chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ Đoàn, chủ trương, nghị quyết của
Đoàn cấp trên; tinh thần đoàn kết nội bộ, ý thức xây dựng địa phương, cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư, chống lãng phí, tiêu cực, bè phái cục bộ. Mối quan hệ trong công
tác với các ngành, đồng nghiệp, cán bộ đoàn cấp trên, cấp dưới, với đoàn viên thanh
niên và ý thức bảo vệ quyền lợi chính đáng của cán bộ, đoàn viên, thanh niên.
+ Chiều hướng và khả năng phát triển: trên cơ sở trình độ, năng lực, kết quả
thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao và phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống để
đánh giá chiều hướng và khả năng phát triển của cán bộ theo các hướng: có khả năng
đảm nhận các chức vụ cao hơn; ổn định; cần bố trí lại hoặc tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng.
+ Khả năng quy tụ và ảnh hưởng trong thanh thiếu nhi, trong nhân dân.
+ Sức khỏe, sở trường.
+ Phân loại, bình chọn cán bộ dựa trên cơ sở nhận xét, đánh giá. Căn cứ vào kết
quả đánh giá cán bộ phân loại thành 4 mức:
- Hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được giao: Hoàn thành vượt mức
các yêu cầu, chỉ tiêu nhiệm vụ được giao về số lượng, chất lượng, thời gian; có đề xuất
68
sáng kiến đã được áp dụng trong thực tiễn công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi; gương mẫu về phẩm chất chính trị đạo
đức lối sống; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của cán bộ đoàn theo quy định.
- Hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao: đạt các yêu cầu, nhiệm vụ
được giao về số lượng, chất lượng, thời gian; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
lành mạnh; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của cán bộ đoàn theo quy định.
- Hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao: đạt yêu cầu, nhiệm vụ được giao
dưới mức hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ; có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối
sống lành mạnh.
- Chưa hoàn hành chức trách, nhiệm vụ được giao: chưa đạt các yêu cầu, nhiệm
vụ được giao về số lượng, chất lượng, thời gian; có thiếu sót về đạo đức, lối sống, có
sai phạm trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của
Đảng, Nhà nước và Điều lệ Đoàn.
3.2.5. Tăng cường quản lý cán bộ, thực hiện tốt chế độ chính sách đối với
cán bộ đoàn cơ sở.
Quản lý cán bộ là nhằm nắm chắc cả đội ngũ cán bộ, từng người cán bộ. Việc
tạo ra một đội ngũ cán bộ có cơ cấu hợp lý và đủ tiêu chuẩn như mong muốn đòi hỏi
phải cải tiến nhiều khâu trong công tác cán bộ và chừng nào đó còn tùy thuộc vào các
điều kiện khách quan khác, vào sự nỗ lực phấn đấu của bản thân mỗi cán bộ. Song
công tác quản lý cán bộ đóng góp phần quan trọng vào quá trình đó. Nếu được tiến
hành một cách thực sự nghiêm túc, khoa học thì công tác quản lý cán bộ sẽ phát hiện
và bồi dưỡng những cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực trưởng thành nhanh, đưa họ
sớm vào các cương vị chủ chốt. Trái lại, nếu công tác quản lý cán bộ làm giản đơn,
luộm thuộm, thiếu khách quan, thì sẽ đánh đồng người làm việc tốt với người làm việc
kém, để lọt tài năng, làm nhụt chí của người có tâm huyết.
69
Hơn nữa, với quan điểm quản lý cán bộ đoàn cơ sở là nhằm mục đích bồi
dưỡng, rèn luyện, phát huy khả năng của cả đội ngũ cán bộ, làm cho từng cán bộ đoàn
cũng như toàn thể đội ngũ không ngừng lớn mạnh. Nếu thấy cán bộ gặp khó khăn, mắc
khuyết điểm thì lãnh đạo cần tìm hiểu nguyên nhân, chân thành giúp đỡ. Nếu cán bộ có
khuyết điểm, vi phạm đã được nhắc nhở, giúp đỡ mà không tiến bộ thì cần báo cáo cấp
ủy xã, Đoàn cấp trên có hướng giải quyết tùy mức độ vi phạm. Do vậy, cần phải “Tăng
cường công tác quản lý cán bộ về số lượng và chất lượng, về tư tưởng, năng lực và nhu
cầu nguyện vọng, trên cơ sở đó có biện pháp giúp đỡ, bồi dưỡng và phát huy phù hợp”.
Có thể thấy hạn chế trong công tác quản lý cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An
thời gian qua bắt nguồn từ việc buông lỏng công tác quản lý cán bộ, nhất là về phía các
huyện, thành, thị đoàn chưa có sự quản lý tốt đối với đội ngũ ban thường vụ đoàn cơ
sở, còn “khoán” cho cấp ủy cơ sở; đoàn cơ sở thì chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan
trọng của công tác quản lý cán bộ. Trong khi đó, muốn đánh giá đúng cán bộ thì cần
phải làm tốt công tác quản lý cán bộ. Do vậy, các huyện, thành, thị đoàn cần khắc phục
tình trạng trên, phải thường xuyên phân công cán bộ chuyên phụ trách theo dõi, quản lý
đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở. Đặc biệt là các vị trí bí thư, phó bí thư đoàn cơ sở cần
có sơ yếu lý lịch được bổ sung hàng năm để quản lý về hồ sơ, hoàn cảnh gia đình, năng
lực, sở trưởng, tình trạng sức khỏe, tâm tư tình cảm, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực
trong thanh thiếu nhi...; với đội ngũ ủy viên ban thường vụ đoàn cơ sở cần quản lý qua
danh sách trích ngang. Kiên quyết không thỏa thuận đồng ý giới thiệu nhân sự kiện
toàn ban thường vụ, chủ chốt đoàn cơ sở khi không đáp ứng tiêu chuẩn quy định.
Theo định kỳ, ban thường vụ đoàn cơ sở cần duy trì nghiêm túc công tác tự phê
bình và phê bình để báo cáo với cấp ủy, đoàn cấp trên và bổ sung hồ sơ cán bộ. Như
vậy, việc quản lý cán bộ đoàn muốn làm tốt thì bên cạnh vai trò của tổ chức đoàn cần
phải có vai trò của cấp ủy, đoàn thể khác thông qua ý kiến nhận xét và sự tín nhiệm của
tập thể cấp ủy, của đoàn viên thanh niên và nhân dân nơi cư trú.
70
Một trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế nhiệt tình công tác của cán
bộ đoàn cơ sở nói chung, và làm hạn chế nguồn quy hoạch lâu dài đối với đội ngũ cán
bộ đoàn cơ sở nói riêng là bắt nguồn từ chế độ chính sách. Chế độ chính sách đãi ngộ
là khâu quan trọng, là động lực để thúc đẩy phát huy mọi tiềm năng, khả năng của cán
bộ, là lực thu hút cán bộ vào các tổ chức đoàn, hội, đội. Với công tác thanh niên luôn
cần đảm bảo hai mặt, phát huy thanh niên và chăm lo, bồi dưỡng thanh niên. Với cán
bộ đoàn cơ sở thì chính sách cán bộ rất quan trọng, nó đảm bảo xây dựng đội ngũ cán
bộ đoàn đông đủ, tinh nhuệ. Trong chính sách đối với cán bộ đoàn cơ sở của tỉnh Nghệ
An cần chú trọng hơn đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng xuất phát từ thực trạng trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận của đội ngũ cán bộ đoàn.
Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng, Tỉnh đoàn và các huyện, thành, thị đoàn cần
tích cực tham mưu, đề xuất để tăng nguồn kinh phí cho việc mở các lớp tập huấn, bồi
dưỡng cán bộ, trong đó cơ sự ưu tiên đối với cán bộ người dân tộc thiểu số, vùng khó
khăn, nơi có đông đoàn viên thanh niên theo đạo và cán bộ nữ.
Về chính sách đãi ngộ vật chất, tinh thần, một thực tế chung là cán bộ đoàn cơ
sở chỉ mới có đồng chí bí thư là thuộc diện cán bộ chuyên trách cấp xã, có lương hàng
tháng nhưng nhìn chung chưa đủ đáp ứng cuộc sống, còn các cán bộ khác chỉ hưởng
phụ cấp. Ở nhiều địa phương dân cư đông, tình hình kinh tế xã hội phức tạp, cán bộ
phải làm việc nhiều giờ trong ngày, hầu như không có thứ bảy. Với mức sinh hoạt đó
chưa tương xứng với sự cống hiến của đội ngũ cán bộ, giữa cán bộ làm tốt và không tốt
chưa có ranh giới rõ ràng, chưa có sự gắn bó chặt chẽ giữa nghĩa vụ, quyền lợi và trách
nhiệm. Vì vậy, cần phải cải tiến đổi mới chế độ đãi ngộ cán bộ để động viên những
người làm tốt có hiệu quả phải được hưởng các quyền lợi xứng đáng.
Biện pháp để giải quyết sự bất hợp lý đó là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
giao cho cán bộ đoàn đảm nhiệm thêm một số việc, thời gian làm việc tăng theo như
thời gian hành chính để xem làm cán bộ đoàn ở cơ sở cũng như là một nghề, và là nơi
71
hấp dẫn thu hút mọi đối tượng có năng lực vào làm việc ở đoàn cơ sở. Tiếp đến là cần
tăng cường công tác quản lý, không ngừng nâng cao số vốn ủy thác do đoàn quản lý
cho thanh niên vay vốn để phát triển sản xuất; đảm nhận các công trình thanh niên,
phối hợp với các ngành, doanh nghiệp thực hiện một số chương trình, dự án như làm
đường giao thông nông thôn, nạo vét kênh mương, xây dựng mô hình, tư vấn, giới
thiệu việc làm,... để tạo nguồn kinh phí hoạt động cho đoàn, có nguồn công tác phí bồi
dưỡng cho cán bộ.
3.2.6. Đổi mới về lề lối và phong cách làm việc.
Lề lối làm việc là những quy định về cách thức, nguyên tắc làm việc đã trở
thành thói quen. Lề lối và phong cách làm việc luôn giữ vai trò quyết định trực tiếp đến
tính hiệu quả trong hoạt động, bởi vì nếu có lề lối và phong cách làm việc tốt thì sẽ tạo
ra cách thức hoạt động tốt và theo đó phát huy được những năng lực chủ quan phù hợp
với điều kiện khách quan để đạt hiệu quả tối đa. Đối với đoàn cơ sở, việc đổi mới lề lối
và phong cách làm việc là một yêu cầu thực tiễn khách quan, khi tình hình nhiệm vụ
công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi đã có những thay đổi. Những năm gần đây
phong trào của đoàn phát động là “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ
quốc” phát triển với nhiều nội dung phong phú, thiết thực, tạo môi trường bồi dưỡng,
phát huy thanh niên xung kích tham gia phát triển kinh tế - xã hội, tình nguyện vì cuộc
sống cộng đồng, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội
và "4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp" đã mang lại hiệu quả thiết thực,
góp phần giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của thanh niên, huy động
được các nguồn lực xã hội để hỗ trợ thanh niên trong học tập, công tác và cuộc sống;
các chiến dịch như “Tháng thanh niên”, “Chiến dịch thanh niên học sinh, sinh viên tình
nguyện hè”,... phát động thanh niên xung phong tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng,
thi đua làm giàu; hơn nữa trong cơ chế thị trường và xu hướng đổi mới hệ thống chính
trị đã làm cho nhận thức chính trị cũng như đời sống xã hội của thanh niên hiện nay
72
cao hơn và dân chủ hơn; do vậy cũng cần phải đổi mới lề lối và phong cách làm việc
phù hợp với tình hình đặc hình đặc điểm.
Thực trạng hiện nay, không ít cán bộ đoàn cơ sở không bắt kịp được với nhu cầu
của thanh niên, hành chính hóa công tác đoàn, nặng về tuyên truyền một chiều, xơ
cứng; một số cán bộ đoàn trở thành “quan” đoàn, phong cách làm việc xa rời với quần
chúng, không hiểu được tâm tư nguyện vọng của đoàn viên, thanh niên; không ít nơi vi
phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không hoạch định được chương trình công tác, lề
lối làm việc không được đảm bảo, sinh hoạt tùy tiện làm giảm sức chiến đấu của tổ
chức. Vì vậy, cần phải đổi mới lề lối, phong cách làm việc của cán bộ đoàn để đội ngũ
này đáp ứng được vai trò định hướng chính trị, bảo trợ cho các nhóm lợi ích, sở thích
của thanh niên ra đời và hoạt động trong quỹ đạo xã hội công dân lành mạnh.
Để đổi mới lề lối và phong cách làm việc của ban thường vụ đoàn cơ sở cần
phải xây dựng được quy chế làm việc, quy định rõ chức trách, chế độ công tác, quyền
hạn của cá nhân, tập thể, nguyên tắc làm việc, lề lối chỉ đạo, trong đó tập trung vào các
vấn đề sau:
- Chế độ sinh hoạt một tháng một lần nhằm đánh giá công việc trong tháng
trước và xây dựng kế hoạch tháng tiếp theo; họp đột xuất khi cần để triển khai các nội
dung, chỉ thị của đoàn cấp trên hoặc của cấp ủy.
- Trong từng nội dung công việc, ban thường vụ thảo luận tập thể, dân chủ, chủ
trì phiên họp tổng hợp ý kiến quyết định phương án thực hiện. Từng ủy viên ban
thường vụ có quyền và có trách nhiệm tham gia vào các quyết định của tập thể
- Trong quá trình hoạt động, từng cán bộ đoàn cơ sở đều được phân công và phải đảm
nhận phụ trách từng mặt công tác cụ thể, phải chịu trách nhiệm trước tập thể ban thường vụ về
mặt công tác, lĩnh vực được phân công phụ trách.
- Các vấn đề đưa ra bàn bạc tại hội nghị đều phải được chuẩn bị chu đáo và
73
thông báo trước cho từng ủy viên ban thường vụ để chủ động nghiên cứu, tham gia có
hiệu quả. Trong hội nghị cần tập trung thảo luận để làm rõ những vấn đề trọng tâm và
những ý kiến còn khác nhau.
3.2.7. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và tổ chức đoàn các cấp.
Trước yêu cầu đổi mới diễn ra trong bối cảnh đất nước đang đẩy nhanh CNH-
HĐH và hội nhập quốc tế, sẽ chứa đựng nhiều khả năng khó lường trước. Thời kỳ này
vừa có những thuận lợi, vừa có nhiều thử thách mới, đồng thời xuất phát từ vai trò đặc
biệt quan trọng của cán bộ và thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn cơ
sở, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và đoàn cấp trên để xây
dựng được đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở trung thành với lý tưởng của Đảng, có phẩm chất
đạo đức tốt, vững vàng, không dao động; đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước
những biến đổi khó khăn.
Sự thật lịch sử luôn chỉ ra rằng, nếu không đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán
bộ kế cận thì sẽ không kế tục được sự nghiệp cách mạng mà Đảng và dân tộc đã dày
công vun đắp. Song đứng trước cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân
làm chủ trong thực tế chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện nên việc nâng cao chất lượng cán
bộ đoàn còn gặp phải một số trở ngại. Để khắc phục những hạn chế này, trong thời
gian tới cần phải định hướng lãnh đạo và tạo các điều kiện cần thiết cho Đoàn cấp xã
nâng cao chất lượng cán bộ theo hướng sau:
- Giữ vững chế độ làm việc định kỳ giữa cấp ủy, đoàn cấp trên định hướng cho
đoàn cơ sở hoạt động, trọng tâm là công tác cán bộ. Coi trọng vai trò chủ động của
đoàn cơ sở trong đánh giá, quy hoạch, tuyển chọn cán bộ, đồng thời đáp ứng những
nhu cầu chính đáng trong chính sách cán bộ đối với cán bộ đoàn.
- Đặt đúng vị trí, vai trò của cán bộ đoàn cơ sở, coi việc nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ đoàn chính là xây dựng trước một bước đội ngũ cán bộ cho Đảng, chính
74
quyền, các đoàn thể và đoàn cấp trên. Vì vậy phải gắn giao việc cho cán bộ để rèn luyện
cống hiến và trưởng thành với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như cử đi học các lớp nâng cao
trình độ chính trị, đề bạt cán bộ,...
- Phân công ủy viên trong cấp ủy theo dõi đoàn thanh niên, thường xuyên dự
sinh hoạt đoàn để gắn quản lý đội ngũ cán bộ với chấn chỉnh những suy nghĩ lệch lạc
về cán bộ, đồng thời quán triệt các yêu cầu của Đảng trong nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ tới cán bộ đoàn. Đoàn cấp trên cần tăng cường công tác kiểm tra theo
chuyên đề, có thể tiến hành kiểm tra chéo các đơn vị. Hoạt động kiểm tra được triển
khai nghiêm túc sẽ giúp đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở nhận thức được khiếm khuyết, hạn
chế để có hướng khắc phục.
75
KẾT LUẬN
Năng lực của người đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có vai trò hết sức quan trọng đối
với chất lượng hiệu quả hoạt động của tổ chức đoàn. Năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn
cơ sở là các cá nhân, nhưng nó có tác động, ảnh hưởng lớn đối với tổ chức, nó có thể
làm nâng cao hoặc giảm sút năng lực của một tập thể, của một tổ chức và cả một hệ
thống chính trị.
Trong giai đoạn hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang tích cực đẩy mạnh sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát
triển, làm tiền đề để đến năm 2020 cơ bản đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Thực tiễn cho thấy, vai trò của tổ chức đoàn thanh niên càng trở nên
quan trọng, là hạt nhân đoàn kết, tập hợp, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên xung kích
đi đầu thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Vì vậy, hơn lúc
nào hết, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn có ý nghĩa quyết định.
Xác định được vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ đoàn, trong thời gian qua
các cấp bộ đoàn trong toàn tỉnh Nghệ An đã tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, mà trọng tâm là đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở để trực tiếp phục vụ cho yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Nhiều nội dung trong công tác cán bộ
không ngừng được đổi mới và đã đạt được kết quả bước đầu tương đối quan trọng
trong đánh giá, quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ đoàn cơ sở.
Chuyển biến này đã tác động tích cực vào việc xây dựng tổ chức đoàn xã vững mạnh,
tăng cường công tác đoàn kết tập hợp thanh niên thi đua làm giàu, xây dựng Đảng, xây
dựng quê hương.
Nội dung luận văn cũng đã khái quát được cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực
đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Luận văn cũng đã nêu lên, phân tích rõ thực trạng thanh
niên và công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới nhất là những năm gần đây: Thực
76
trạng năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở, con đường gây dựng và nâng cao năng lực
của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra những yêu cầu,
những giải pháp, kiến nghị nhằm củng cố và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ
sở ở tỉnh Nghệ An trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH.
Các giải pháp nêu trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, làm tốt giải pháp
này sẽ là tiền đề cho việc thực hiện giải pháp khác, vì vậy trong quá trình triển khai
không được xem nhẹ giải pháp nào.
Những nội dung, giải pháp nêu ra trong luận văn mới chỉ là những tìm tòi ban
đầu, rất cần được bổ sung, kiểm nghiệm trong thực tiễn. Sự quan tâm ủng hộ của cấp
ủy, các cấp bộ đoàn và cửa đội ngũ cán bộ đoàn, đoàn viên thanh niên sẽ là những nhân
tố quyết định việc thực hiện các giải pháp ở trên, và do đó quyết định tới việc xây
dựng, củng cố và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An.
77
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát
PHIẾU ĐÁNH GIÁ
Để giúp cho công tác nghiên cứu nâng cao chất lượng cán bộ đoàn có kết quả
tốt, xin đồng chí cho biết ý kiến tự đánh giá của mình về phẩm chất đạo đức, lối sống
và năng lực, phong cách công tác của cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An theo những
tiêu chí dưới đây, khi đánh giá đồng chí chú ý tới các mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu.
Cụ thể:
- Tốt: là hoàn thành đầy đủ, đạt hầu hết các nội dung của tiêu chí; nếu còn hạn
chế chỉ là một phần rất nhỏ (đạt trên 85% nội dung), xin đánh dấu (x) vào cột tốt (4).
- Khá: là hoàn thành phần lớn các nội dung của tiêu chí, song vẫn còn một số
hạn chế nhỏ (ở mức độ 65 – 84%), xin đánh dấu (x) vào cột khá (3).
- Trung bình: là hoàn thành được một số nội dung cơ bản, song vẫn còn một số hạn
chế nhất định (được 50 – 64%), đánh dấu (x) vào cột trung bình (2).
- Yếu: là chưa đạt được các nội dung cơ bản, còn một số yếu điểm (thực hiện
dưới 50% nội dung), xin đánh dấu (x) vào cột yếu (1).
Ý kiến đánh giá TT
Hệ thống tiêu chí phẩm chất đạo đức, lối sống 4 3 2 1
1 Bản lĩnh chính trị vững vàng
2 Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, của Đoàn
3 Chấp hành nội quy, quy chế của Đoàn, pháp luật của Nhà
nước
4 Nói đi đôi với làm
5 Tinh thần học tập nâng cao trình độ
6 Có trách nhiệm cao với công việc, nhiệt tình, sáng tạo
78
7 Đạo đức trong sáng, sống trung thực
8 Phấn đấu vì tập thể, mình vì mọi người
9 Sống chân tình, cởi mở, được mọi người tin yêu
10 Thẳng thắn trong đấu tranh tự phê bình và phê bình
11 Tích cực đấu tranh với tệ nạn xã hội
Hệ thống tiêu chí năng lực và phong cách công tác
1 Trình độ đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ đạt chuẩn theo
quy định
2 Nắm vững và cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của
Đảng, Đoàn, pháp luật của Nhà nước vào công việc
3 Kết quả công tác (số lượng công việc hoàn thành trong năm)
4 Hiểu và thực hiện đúng vai trò, chức trách nhiệm vụ được
phân công
5 Năng lực hoàn thành nhiệm vụ, đúc kết kinh nghiệm, phát
huy sáng kiến
6 Nhạy cảm, tinh tế trong ứng xử các mối quan hệ làm việc
7 Chủ động trong công việc, có khả năng tham mưu những
vấn đề lớn trong lĩnh vực công tác
8 Sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ khó khăn khi
được giao
9 Khả năng phối hợp trong công tác (phối hợp công tác với
các tổ chức liên quan và đồng nghiệp)
Xin chân thành cảm ơn.
79
Phụ lục 2: Kết quả đánh giá về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ
đoàn cơ sở
Ý kiến lãnh đạo Ý kiến cán bộ đoàn Ý kiến đoàn viên TT Hệ thống tiêu chí
phẩm chất đạo 4 3 2 1 TB 4 3 2 1 TB 4 3 2 1 TB
đức, lối sống
1 Bản lĩnh chính trị 25 18 1 3.54 24 22 3.52 35 36 4 3.41
vững vàng
20 24 3.45 22 22 2 3.43 37 31 7 3.4 2 Nắm vững đường
lối, chủ trương
của Đảng, của
Đoàn
30 14 3.68 29 16 1 3.6 50 24 1 3.62 3 Chấp hành nội
quy, quy chế của
Đoàn, pháp luật
của Nhà nước
4 Nói đi đôi với 21 22 1 3.45 25 21 3.54 45 30 3.6
làm
5 Tinh thần học tập 15 27 2 3.3 17 26 3 3.3 40 33 2 3.48
nâng cao trình độ
26 18 3.6 27 19 3.59 47 28 3.62 6 Có trách nhiệm
cao với công việc,
nhiệt tình, sáng
tạo
32 12 3.72 25 11 3.76 55 20 3.73 7 Đạo đức trong
sáng, sống trung
thực
8 Phấn đấu vì tập 31 13 3.7 30 16 3.65 51 24 3.68
80
thể, mình vì mọi
người
27 17 3.61 27 18 1 3.56 50 23 2 3.64 9 Sống chân tình,
cởi mở, được mọi
người tin yêu
18 21 4 1 3.27 20 22 4 3.34 35 49 1 3.85 1 Thẳng thắn trong
đấu tranh tự phê 0
bình và phê bình
32 12 3.72 33 13 3.72 65 10 3.86 1 Tích cực đấu
tranh với tệ nạn 1
xã hội
81
Phụ lục 3: Kết quả đánh giá về năng lực và phong cách công tác của cán bộ
đoàn cơ sở
Ý kiến lãnh đạo Ý kiến cán bộ đoàn Ý kiến đoàn viên T Hệ thống tiêu chí
T năng lực và phong 4 3 2 1 TB 4 3 2 1 TB 4 3 2 1 TB
cách công tác
19 25 3.43 16 18 5 7 2.93 25 34 8 8 3.01 1 Trình độ đào tạo về
chuyên môn,
nghiệp vụ đạt
chuẩn theo quy
định
21 20 3 3.4 21 21 4 3.37 32 43 3.42 2 Nắm vững và cụ
thể hóa các chủ
trương, chính sách
của Đảng, Đoàn,
pháp luật của Nhà
nước vào công việc
24 20 3.54 25 20 1 3.5 39 33 3 3.48 3 Kết quả công tác
(số lượng công
việc hoàn thành
trong năm)
25 19 3.56 26 19 1 3.52 40 35 3.53 4 Hiểu và thực hiện
đúng vai trò, chức
trách nhiệm vụ
được phân công
5 Năng lực hoàn 13 19 6 6 2.88 14 19 6 7 2.87 23 35 7 1 2.95
82
0 thành nhiệm vụ,
đúc kết kinh
nghiệm, phát huy
sáng kiến
23 21 3.52 25 21 3.54 38 35 2 3.48 6 Nhạy cảm, tinh tế
trong ứng xử các
mối quan hệ làm
việc
15 17 5 7 2.9 19 24 3 3.34 37 36 2 3.46 7 Chủ động trong
công việc, có khả
năng tham mưu
những vấn đề lớn
trong lĩnh vực công
tác
26 17 1 3.57 28 17 3.54 45 30 3.6 8 Sẵn sàng nhận và
hoàn thành mọi
nhiệm vụ khó khăn
khi được giao
19 21 3 1 3.23 19 23 4 3.32 31 42 2 3.36 9 Khả năng phối hợp
trong công tác
(phối hợp công tác
với các tổ chức liên
quan và đồng
nghiệp)
83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thọ Ánh (2006), Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị, Nhà
xuất bản Thanh niên; Hà Nội.
2. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An (1998), Lịch sử Đảng
bộ tỉnh Nghệ An, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An (2004), Báo cáo của Ban thường vụ Tỉnh uỷ
Nghệ An về tổng kết Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về "Công tác
thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá" và một số chủ
trương biện pháp để tiếp tục thực hiện Nghị quyết, tài liệu lưu hành nội bộ.
4. Ban Tổ chức Tỉnh đoàn Nghệ An (2009), Thống kê đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở giai
đoạn 2005-2009, tài liệu lưu hành nội bộ.
5. Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An (2007), Báo cáo tổng kết đại hội đoàn cơ sở xã
phường thị trấn, tài liệu lưu hành nội bộ.
6. Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An (2007), Dự thảo Báo cáo của Ban chấp hành
Tỉnh đoàn Nghệ An khoá XIV trình Đại hội đại biểu đoàn toàn tỉnh lần thứ XV, liệu
lưu hành nội bộ.
7. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003 của Chính Phủ về chế độ, chính sách đối
với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, http//www.chinhphu.vn.
8. Lê Văn Cầu (1999), "Đổi mới đội ngũ cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay"; luận án tiến sỹ, thực hiện tại Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1999.
9. An Đình Doanh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Công Tiệp (2009), Giới thiệu một số
kết quả nghiên cứu về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham gia phát triển tài năng trẻ
84
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
10. Nguyễn Bá Dương (chủ biên), Lê Văn Thái, Nguyễn Văn Nhận (2002), Tâm lí học
quản lí dành cho người lãnh đạo, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới. Nxb. Sự
thật, Hà Nội.
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khoá VIII), về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Nxb. Chính trị quốc gia.
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nhà xuất bản
chính trị Quốc gia; Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Quyết định số 289-QĐ/TW của Ban Bí thư
Trung ương Đảng ngày 08/02/2010 về “Ban hành quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh”.
15. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2007), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh lần thứ IX, Nhà xuất bản thanh niên, Hà Nội.
16. Dương Tự Đam (2000), Những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
xây dựng Đảng, xây dựng Đoàn. Nxb. Thanh niên.
17. Lãnh Thị Bích Hoà (2006), Uy tín người lãnh đạo, quản lí và việc nâng cao phẩm
chất đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, Tập chí
Tâm lí học, tr.37-40, Hà Nội.
18. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng (2007), Giáo trình
xây dựng Đảng (Chương trình cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
85
19. Lịch sử Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Nghệ
An, Nhà xuất bản thanh niên, Hà Nội, 2001.
20. Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 5. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội 1995.
21. Vương Quang Minh (2007), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh cấp xã ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay, luận văn cao cấp lý luận
chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
22. Vương Quang Minh (2005), "Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm
trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về công tác thanh niên ở Nghệ An", Tạp
chí Thanh niên, số 12-2005.
23. Hoàng Phê -chủ biên (2000), Viện ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất
bản Đà Nẵng.
24. Minh Tiến, Thanh Hà (2006), "Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng chính trị
cách mạng đối với cán bộ, công chức đảng viên, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới"; Nxb. Lao động Xã hội, năm 2006.
25. Văn Tùng (2001), Một số vấn đề về công tác thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, của tác giả , Nxb.Thanh niên, Hà Nội,
26. Tỉnh ủy Nghệ An (2007), Quyết định số 631- QĐ/TU ngày 20/11/2007 của Ban
Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An “về phân cấp quản lý cán bộ” .
27. Nguyễn Văn Thanh (2004), Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với việc tham gia phát triển
tài năng trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb. Thanh
niên, Hà Nội, năm 2004.
28. Đoàn Văn Thái (2004), Nhiệm vụ cơ bản của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
29. Đoàn Văn Thái (2008), "Đổi mới phương thức hoạt động và lề lối làm việc của Đoàn
86
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong tiến trình cải cách hành chính ở Việt Nam";
Nxb. Thanh niên, Hà Nội năm 2008.
30. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2003), Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
31. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban
chấp hành Trung ương Đoàn khoá VIII về công tác cán bộ đoàn trong thời kỳ mới,
Nxb. Thanh niên, Hà Nội
32. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban tổ chức (2004), Một số văn bản về công
tác cán bộ đoàn trong thời kỳ mới, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
33. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban tổ chức (2006), Hướng dẫn kỹ năng
nghiệp vụ công tác tổ chức của Đoàn, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
34. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban tổ chức (2006), Một số văn bản về nâng
cao chất lượng tổ chức cơ sở đoàn, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
35. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của Ban Tư
tưởng Văn hoá Trung ương Đoàn, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2008
36. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Sở nội vụ (2004), Đề án chế độ phụ cấp cho cán
bộ không chuyên trách ở cấp xã và ở xóm, khối, bản. tài liệu lưu hành nội bộ.

