
TIỂU LUẬN:
Xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Lời nói đầu
Nước ta tồn tại lâu dài nền kinh tế tự cung tự cấp khép kín chỉ quan hệ với các nước XHCN
trong những năm đầu của thập niên 80. Nền kinh tế đó đã lộ rõ, những yếu kém, trì trệ phát
sinh nhiều tiêu cực. Trong khi thế giới đang đón nhận những tiến bộ to lớn của lực lượng sản
xuất thì bối cảnh của Việt Nam là một cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nhà nước tiến hành
phân phối mọi sản phẩm quốc dân thông qua các cửa hàng mậu dịch, chế độ tem phiếu lâu dài
không còn phù hợp mà chỉ làm phiền phức cho người dân. Bên cạnh đó cơ chế xin- cho, cấp-
phát làm cho mọi nguồn lực trong xã hội không có điều kiện để phát triển. Với cơ chế kinh tế
lỗi thời đó, với việc bao cấp tràn lan, quản lí kinh tế kém hiệu quả thì sản xuất không đủ sản
phẩm để tiêu dùng, dẫn đến không thể tích luỹ mở rộng sản xuất và đưa đến thâm hụt ngân
sách là điều không tránh khỏi.
Tại Đại hội Đảng VI (1986) đã mở đường cho công cuộc đổi mới đất nước dần xoá bỏ cơ
chế bao cấp, chỉ huy và thừa nhận yếu tố thị trường của nền kinh tế. Đại hội VII và Đại hội
VIII tiếp tục nhấn mạnh thêm đổi mới cơ chế kinh tế là một tất yếu. Đại hội IX đã đưa ra con
đường phát trieern của đất nước ta đó là tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN và khẳng định
nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trườn định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 20 năm công
cuộc đổi mới, đất nứoc đã “thay da đổi thịt”, phát triển khá ổn định càng chứng tỏ sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng. Cho nên bản thân tôi cảm thấy việc nghiên cứu “Xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”
I.Cơ sở lí luận của kinh tế thị trường định hướng XHCN.
1/Thế nào là kinh tế thị trường.

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hôi đã và đang trải qua 2 hình thức sản xuất vật chất,
đó là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá. Kinh tế tự nhiên là nền kinh tế sơ khai, sản phẩm
sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu trực tiếp của sản xuất. Bước tiến của nhân loại đó là nền
kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tê – xã hội, mà trong đó sản phẩm
sản xuất ra là để trao đổi,để bán, tức là để thoả mãn nhu cầu người mua, nhu cầu xã hội.
Kinh tế thị trường(KTTT) là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá trong đó toàn bộ yếu
tố “đầu vào”và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường,do thị trường quyết định.
2/Đặc trưng của kinh tế thị trường.
Một nền KTTT nói chung có 4 đặc điểm. Một là, các chủ thể có tính độc lập, có quyền tự chủ
trong sản xuất kinh doanh. Hai là , giá cả do thị trường quyết định, hệ thống thị trường được
phát triển đầy đủ và có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong
các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Ba là, nền kinh tế vận động theo quy luật vốn có của
KTTT như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Sự tác động của các quy
luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trường. Bốn là, nếu là nền kinh tế thị
trường hiện đại thì còn có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế
hoạch hoá, các chính sách kinh tế.
3/ Tính tất yếu của việc phát triển KTTT ở Việt Nam.
Trước đổi mới nền kinh tế nước ta là nền kinh tế phát triển ở mức thấp, cơ cấu kinh tế đơn
giản, quản lý kinh tế theo kiểu tập trung quan liêu bao cấp. Nó làm thui chột mọi nguồn lực
trong xã hội đưa đến một nền kinh tế trì trệ, lạc hậu, bảo thủ,cuộc sống nhân dân khó khăn
thiếu thốn. Nền kinh tế ngày càng bộc lộ rõ nhược điểm: Hạn chế sự cạnh tranh , thị trường gần
như đóng băng , quan hệ hàng hoá xơ cứng, tất cả đều do nhà nước phân phối theo cách “san
bằng” cơ chế quản lý theo kiểu mệnh lệnh xin - cho, tăng trưởng sản xuất chậm, không ổn

định. Hậu quả là khủng hoảng kinh tế xã hội sâu sắc, giá cả hàng hoá tăng nhanh. Trước thực
trạng đó, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, đầu tiên là đổi mới về kinh tế, đổi
mới cơ chế quản lý, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu sang cơ chế hạch toán
kinh doanh XHCN.
Ngày xưa chúng ta cho rằng KTTT là đặc trưng của CNTB, nhưng ngày nay chúng ta đã
nhận thức lại. Nếu như trước đây Đảng ta chỉ ra con đường đi lên của đất nước ta là sự phát
triển quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN. Từ đó chúng ta hiểu đó là bỏ qua tất cả những gì
mà loài người đã đạt được dưới chế độ TBCN. Bây giờ ở Đại hội VII, VIII, IX, đặc biệt là Đại
hội IX đã khẳng định con đường đi lên của đất nước ta là bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua
việc xác lập vị trí thống trị về quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng vẫn tiếp
thu, kế thừa những thành tựu mà loài người đã đạt được dưới chế độ TBCN. Chính vì vậy mà
Đảng ta đã nhận ra lối đi đúng đắn cho nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tự cấp tự
túc sang nền KTTT định hướng XHCN.
KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN.
Hơn nữa, trong nền kinh tế nước ta, tồn tại nhiều hình thức sở hữu, đó là sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể,sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp. Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập, lợi ích
riêng nên quan hệ kinh tế giưa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hóa-tiền tệ. Thành
phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,
nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định,có quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh, có lợi ích riêng. Mặt khác, các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ khoa học-
công nghệ, về trình độ tổ chức quản lý, nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác
nhau.Quan hệ hàng hóa-tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong

điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càng sâu sắc, vì mỗi nước là một
quốc gia riêng biệt, là người chủ sở hữu đối với các hàng hóa đem ra trao đổi trên thị trường
thế giới. Sự trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. Như vậy,có thể thấy KTTT nước ta tồn tại theo
nguyên tắc khách quan chứ không thể theo ý muốn chủ quan mà xóa bỏ nó được.
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế đối với nước ta, một nhiệm vụ
kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu nước ta thành nên kinh tế hiện đại, hội nhập vào
sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất,
khai thác có hiệu quả tiềm năng của đât nước vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Thực tiễn những năm đổi mới đã chứng minh rằng, viêc chuyển sang KTTT nhiều thành
phần là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, chúng ta đã
bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước và thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ nước ngoài,
giải phóng được năng lực sản xuất, góp phần quyết định vào việc tăng trưởng kinh tế với nhịp
độ khá ổn định trong thời gian qua.
Do những điều kiện và trình độ phát triển riêng nên nên KTTT Việt Nam ngoài 4 đặc điểm
chung của một nền KTTT còn mang những đăc điểm đăc thù riêng phản ánh bản chất
XHCN.Thứ nhất,về mục tiêu phát triển thị trường.Sự phân biệt nền KTTT của nước ta so với
nền KTTT khác, phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế-xã hội mà Nhà nước và nhân
dân ta đã lựa chọn làm định hướng chi phối sự phát triển nền kinh tế. Mục tiêu hàng đầu của
phát triển KTTT ở nước ta là giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong nước và
ngoài nước để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dưng cơ sở vật chất kỹ thuật của
CNXH, nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội, cải thiên từng bước đời sống nhân dân. Ở nước ta,
thực hiên tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng, lấy sản xuất gắn liền với cải
thiện đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến

