ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT
PHẠM PHƯƠNG NGỌC
X¢Y DùNG PH¸P LUËT VÒ CHøNG KHO¸N HãA
C¸C KHO¶N Nî XÊU CñA NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT
PHẠM PHƯƠNG NGỌC
X¢Y DùNG PH¸P LUËT VÒ CHøNG KHO¸N HãA
C¸C KHO¶N Nî XÊU CñA NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Phương Ngọc
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục từ viết tắt Danh mục bảng, biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA
CÁC KHOẢN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ......... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của nợ xấu ........................................................ 8
1.1.1. Khái niệm nợ xấu .................................................................................. 8
1.1.2. Đặc điểm của nợ xấu ........................................................................... 11
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chứng khoán hóa các khoản
nợ xấu của ngân hàng thương mại .................................................. 13
1.2.1. Khái niệm chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng
thương mại ........................................................................................... 13
1.2.2. Đặc điểm của chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng
thương mại ........................................................................................... 15
1.2.3. Điều kiện thực hiện chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại .................................................................................. 18
1.2.4. Ý nghĩa, vai trò của chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại .................................................................................. 19
1.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt
động chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng
thương mại ......................................................................................... 23
Kết luận chương 1 .......................................................................................... 28
Chương 2: NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG
KHOÁN HÓA CÁC KHOẢN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ............... 29
2.1. Chủ thể tham gia hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ
xấu của ngân hàng thương mại ........................................................ 31
2.1.1. Tổ chức khởi tạo (The originator) ....................................................... 31
2.1.2. Tổ chức phát hành chứng khoán hóa (Securitisation Special Purpose
Entity-SSPE/ Securitisation Special Purpose Vehicle-SSPV) ................. 34
2.1.3. Bảo lãnh phát hành (the Underwriter) ................................................. 36
2.1.4. Cơ quan xếp hạng tín dụng (the Credit Rating Agencies) .................. 38
2.1.5. Tổ chức hỗ trợ thanh khoản (the Sponsor) .......................................... 39
2.1.6. Người phục vụ (the Servicer) .............................................................. 39
2.1.7. Người nhận ủy thác (the Trustee) ....................................................... 40
2.1.8. Tổ chức quản lý tài sản ....................................................................... 42
2.1.9. Nhà đầu tư (the Investors) ................................................................... 42
2.2. Đối tượng của chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại ................................................................................ 43
2.3. Trình tự, thủ tục thực hiện chứng khoán hóa các khoản nợ
xấu của ngân hàng thương mại ........................................................ 46
2.4. Vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt
động chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng
thương mại ......................................................................................... 50
2.5. Bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật Việt Nam về
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại..... 53
Kết luận chương 2 .......................................................................................... 59
Chương 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÂY
DỰNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA
CÁC KHOẢN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ........ 61
3.1. Các yếu tố tác động tới việc xây dựng pháp luật về chứng
khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở
Việt Nam ............................................................................................. 61
3.2. Đánh giá tình hình xử lý nợ xấu và định hướng xây dựng
pháp luật về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại ở Việt Nam ........................................................... 65
3.2.1. Đánh giá tình hình xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại ở
Việt Nam ............................................................................................. 65
3.2.2. Định hướng xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa các khoản
nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam .................................. 67
3.3. Một số nội dung chủ yếu của pháp luật về chứng khoán hóa
các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam ........... 71
3.3.1. Về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chứng
khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ................... 71
3.3.2. Về chủ thể tham gia hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của ngân
hàng thương mại .................................................................................. 73
3.3.3. Về trình tự, thủ tục chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng
thương mại ........................................................................................... 78
3.3.4. Về vi phạm và xử lý vi phạm trong hoạt động chứng khoán hóa
nợ xấu của ngân hàng thương mại ...................................................... 81
3.3.5. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư tham gia
hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại ......... 85
Kết luận chương 3 .......................................................................................... 87
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 91
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ABS Asset-backed Securitization
DATC Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp
MBS Mortage-backed Securitization
NHTM Ngân hàng thương mại
NPLs Non-performing loans
SPV Special Purpose Vehicle
TCTD Tổ chức tín dụng
VAMC Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang Số hiệu Tên bảng, biểu đồ, sơ đồ
Bảng 3.1 Tình hình xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín
dụng từ năm 2012-2018 66
Biểu đồ 1.1 Tình hình nợ xấu của các ngân hàng trong cuối năm
2018 và 6 tháng đầu năm 2019 26
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tóm tắt quy trình chứng khoán hóa 49
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề nợ xấu tăng cao đã gây khó khăn lớn
cho các ngân hàng thương mại cũng như hệ thống tài chính Việt Nam. Gia
tăng nợ xấu ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng,
tác động tiêu cực đến sự phục hồi của nền kinh tế. Nợ xấu là do nhiều nguyên
nhân khác nhau như: những hạn chế trong công tác quản trị, thẩm định, giám
sát sử dụng vốn vay của ngân hàng; chính sách tiền tệ không hợp lý; tác động
từ các cuộc khủng hoảng tài chính;… Để giải quyết vấn đề nợ xấu của các
ngân hàng thương mại, nhiều giải pháp thiết thực đã được triển khai thực
hiện. Trong các phương án được đưa ra, hai phương án xử lý nợ xấu được sử
dụng nhiều nhất là để các ngân hàng thương mại tự xử lý nợ xấu bằng các
phương pháp nghiệp vụ (thu hồi nợ, giảm/giãn nợ, chuyển cho công ty quản
lý tài sản thuộc ngân hàng đó…) hoặc bán nợ cho các công ty mua bán nợ.
Phần lớn tỷ lệ các khoản nợ xấu đã được giải quyết là do các ngân hàng
thương mại tự xử lý. Phần còn lại là do các công ty mua bán nợ (như VAMC,
DATC…) thực hiện các biện pháp phát mại, đấu giá, bán tài sản, bán khoản
nợ thông qua hình thức xử lý trực tiếp hoặc ủy quyền cho các tổ chức tín dụng
để thu hồi nợ. Thực tế, các khoản nợ xấu thu hồi được chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ
trong số nợ xấu được các công ty mua bán nợ xấu mua về. Giải pháp mua bán
nợ đang gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện dẫn đến hiệu quả của
hoạt động không cao.
Để cải thiện hoạt động xử lý nợ xấu thì các ngân hàng thương mại cần
một giải pháp hiệu quả hơn. Chứng khoán hóa nợ xấu được xem là một giải
pháp đầy tiềm năng. Chứng khoán hóa nợ xấu giúp giảm thiểu các khoản nợ
xấu; giải quyết được các khoản nợ của doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, giải
1
thể nhanh hơn; giảm bớt áp lực thu nợ; tiết kiệm được nguồn lực và vốn để
thực hiện các khoản cho vay mới; giúp chuyển giao và phân hóa rủi ro; tạo
thêm hàng hóa cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, giải pháp này cũng
đem lại rủi ro cho ngân hàng thương mại và nhà đầu tư do khó khăn liên quan
tới tài sản bảo đảm được đem ra chứng khoán hóa; rủi ro về thanh khoản; rủi
ro trong đánh giá, kiểm soát chất lượng khoản vay; rủi ro do các khoản nợ chỉ
đơn giản là chuyển từ ngân hàng sang các nhà đầu tư. Tại nhiều nước trên thế
giới, chứng khoán hóa nợ xấu không phải là công cụ tài chính mới mẻ mà nó
đã tương đối phát triển [27]. Ở Việt Nam, giải pháp này vẫn còn mới mẻ và
chưa phát triển do nhiều yếu tố tác động. Ngày 16/10/2017, Bộ Tài chính đã
ra Quyết định 2071/QĐ-BTC về việc ban hành Kế hoạch hành động triển khai
Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai
đoạn 2016-2020" và xác định rõ nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng khuôn khổ
pháp lý cho hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ, chuyển đổi các khoản
nợ xấu thành chứng khoán để giao dịch công khai, minh bạch vào thời điểm
thích hợp. Như vậy, chứng khoán hóa nợ xấu đang trong những bước đầu
nghiên cứu để hoàn thiện, tạo điều kiện phát triển. Đây sẽ là giải pháp giúp
phát triển thị trường mua bán nợ tập trung, tạo ra thanh khoản cao cho thị
trường, thu hút nhà đầu tư có tiềm lực tài chính mạnh tham gia; đồng thời giải
quyết được các khoản nợ của doanh nghiệp có nguy cơ giải thể, phá sản do
không thanh toán được nợ.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ xấu và góp phần xây dựng,
hoàn thiện pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại,
việc nghiên cứu đề tài “Xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa các khoản
nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam” là rất cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại là đề tài
2
mới, chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này. Một số bài
viết khoa học trên báo, tạp chí nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của
chứng khoán hóa nợ xấu như: “Chứng khoán hóa nợ xấu”- Theo Báo Sài gòn
đầu tư, bài đăng ngày 22/01/2018 đã chỉ ra được những ưu điểm của giải pháp
chứng khoán hóa nợ xấu và đặt ra yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý để hỗ
trợ quá trình chứng khoán hóa nợ xấu. Bài viết “Chứng khoán hóa nợ xấu,
nên chăng?”- Theo Báo Diễn đàn doanh nghiệp, bài đăng ngày 01/06/2017
nhận định chứng khoán hóa nợ xấu được áp dụng thành công ở nhiều quốc gia
nhưng ở Việt Nam thì vẫn còn nhiều khó khăn trong việc thực hiện chứng
khoán hóa nợ xấu. Việt Nam là đất nước đang phát triển, còn gặp nhiều khó
khăn trong việc xử lý nợ xấu do đó việc tìm hiểu, nghiên cứu để học hỏi kinh
nghiệm của các nước trên thế giới để áp dụng hiệu quả các biện pháp xử lý
luôn được các chuyên gia kinh tế, tài chính, các nhà nghiên cứu luật pháp, cơ
quan quản lý quan tâm. Ngân hàng Nhà nước có bài viết “Kinh nghiệm tái cơ
cấu ngân hàng và xử lý nợ xấu” đăng trên Cổng thông tin điện tử Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam ngày 20/06/2018 nghiên cứu tổng hợp về kinh nghiệm xử
lý nợ xấu và áp dụng giải pháp chứng khoán hóa nợ xấu của Hàn Quốc- một
trong những quốc gia rất thành công trong việc áp dụng giải pháp chứng
khoán hóa vào việc xử lý nợ xấu.
Ngoài ra, một số đề tài nghiên cứu khoa học về chứng khoán hóa nợ
xấu có sự nghiên cứu tổng quát. Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2013 “Tìm
hiểu về các sản phẩm chứng khoán hóa và khả năng áp dụng ở Việt Nam”
của Nguyễn Thị Thanh Hương – Trung tâm Nghiên cứu khoa học và đào tạo
chứng khoán đã tìm hiểu một cách có hệ thống về khái niệm, lịch sử phát triển
của thị trường chứng khoán hóa, cấu trúc các sản phẩm chứng khoán hóa phổ
biến trên thế giới; quy trình triển khai chứng khoán hóa và quy trình quản lý
rủi ro; tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về quá trình hình thành và phát triển các
3
sản phẩm chứng khoán hóa phổ biến trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2017 “Chứng khoán
hóa: Kinh nghiệm các nước và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, Ban phát
triển thị trường tài chính – Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Bộ Tài
chính đã phân tích các vấn đề cơ sở lý luận về chứng khoán hóa, phân tích
thực trạng ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp
luật và nâng cao hiệu quả chứng khoán hóa nợ xấu. Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Đại học quốc gia Hà Nội năm 2018 “Chứng khoán hóa nợ xấu ngân
hàng: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” của tác giả Trần Thị
Vân Anh đã nêu ra các luận cứ khoa học và thực tiễn về chứng khoán hóa
trong xử lý nợ xấu ngân hàng tại một số quốc gia trên thế giới như Trung
Quốc, Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; đồng thời, báo cáo
thực trạng về tình hình nợ xấu tại các Ngân hàng ở Việt Nam hiện nay và
những bất cập của các giải pháp được đưa ra trong giai đoạn 2011-2017, các
kiến nghị, giải pháp về chứng khoán hóa nợ xấu ngân hàng ở Việt Nam trong
thời gian sắp tới.
Một số bài viết nước ngoài phân tích về chứng khoán hóa nợ xấu như:
bài viết Securitization: Instruments and Implications (2009) của tác giả David
Marques Ibanez và Martin Scheicher phân tích cấu trúc và các loại hình của
thị trường chứng khoán hóa, từ đó cho thấy quá trình chứng khoán hóa hướng
tới các rủi ro tín dụng từ các chứng khoán được bảo đảm bởi khoản thế chấp
tới các chứng khoán có cấu trúc phức tạp hơn. Đề tài khoa học năm 2002
Securitization in Korea được thực hiện bởi tác giả Lee Hyon-Mee chỉ ra
chứng khoán hóa nợ xấu đã được các tổ chức tài chính Hàn Quốc ưa chuộng
như một công cụ tái cấu trúc bởi vì thông qua chứng khoán hóa các khoản nợ
xấu (securitization of non-performing loans-NPLs) do họ nắm giữ, họ có thể
xử lý nợ xấu một cách hiệu quả và đồng thời bảo đảm các khoản tiền cần thiết
4
cho giảm các khoản nợ của họ để tuân thủ quy định của Ngân hàng Thanh
toán quốc tế (Bank for International Settlements-BIS) về tỷ lệ vốn tự có và tỷ
lệ dự trữ bắt buộc.
Các bài viết, đề tài khoa học trên chủ yếu nghiên cứu chứng khoán hóa
nợ xấu dưới góc độ kinh tế. Trong khi đó, để phát triển tốt được chứng khoán
hóa các khoản nợ xấu thì hành lang pháp lý phải đầy đủ do vậy cần có những
nghiên cứu về pháp luật của Việt Nam về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
của ngân hàng thương mại và pháp luật của một số nước trên thế giới về vấn
đề này, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Bên cạnh đó, từ
những bài viết đã nghiên cứu về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của một
số nước trên thế giới, luận văn sẽ nghiên cứu cụ thể các quy định pháp luật
của một số nước thành công trong việc chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc để so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt
Nam và đưa ra được các giải pháp xây dựng pháp luật Việt Nam.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận
về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại và kinh
nghiệm chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại theo
pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó định hướng xây dựng pháp luật
về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Từ mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận các vấn đề liên quan đến nợ xấu và chứng
khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại.
- Phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
5
- Phân tích vấn đề chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng
thương mại theo pháp luật của một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa các
khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại.
- Đề xuất những định hướng và giải pháp khả thi nhằm xây dựng pháp
luật về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt
Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật hiện hành
điều chỉnh hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng
thương mại ở một số nước trên thế giới như Hàn Quốc, Mỹ và đánh giá thực
trạng xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn tập trung nghiên cứu một số
vấn đề lý luận về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương
mại, một số nội dung chủ yếu của pháp luật về chứng khoán hóa các khoản nợ
xấu của ngân hàng thương mại ở các nước như Hàn Quốc, Mỹ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên những chủ trương, đường lối của
Đảng và Nhà nước. Luận văn vận dụng hai phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử để tiếp cận những vấn đề thuộc nội dung của đề tài.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như
phương pháp so sánh luật, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp
thống kê.
- Phương pháp so sánh luật: so sánh các quy định của pháp luật Việt
Nam với pháp luật Mỹ và Hàn Quốc về hoạt động chứng khoán hóa các
khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích, tổng hợp các số liệu về
6
tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam qua các năm;
phân tích các quy định của pháp luật Mỹ và Hàn Quốc từ đó tổng hợp kinh
nghiệm trong việc xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu của ngân
hàng thương mại.
Luận văn cũng kế thừa, tham khảo một số tài liệu, các báo cáo liên
quan đến đề tài.
6. Tính mới và đóng góp của đề tài
Luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học sau đây:
Thứ nhất, luận văn làm rõ các khái niệm, đặc điểm của nợ xấu, khái niệm
chứng khoán hóa nợ xấu, đặc biệt là các đặc trưng của chứng khoán hóa nợ xấu,
điều kiện thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu từ đó thấy được ý nghĩa, vai trò của
chứng khoán hóa nợ xấu đối với việc xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại.
Thứ hai, luận văn làm rõ sự cần thiết phải luật hóa chứng khoán hóa
các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, luận văn nêu ra được những nội dung chủ yếu của pháp luật
một số nước trên thế giới về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại.
Thứ tư, luận văn đề xuất được một số định hướng, giải pháp để xây
dựng pháp luật về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương
mại như: pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu phải thể hiện được đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước; nghiên cứu, học hỏi từ các chuẩn mực
quốc tế để chuẩn hóa được các quy định; xây dựng văn bản pháp luật cụ thể
để điều chỉnh hoạt động chứng khoán hóa, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể tham gia chứng khoán hóa.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài Lời cam đoan, Mở đầu, Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Danh
mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu 3 chương như sau:
7
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
của ngân hàng thương mại.
Chương 2. Nội dung chủ yếu của pháp luật về chứng khoán hóa các
khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở một số nước trên thế giới.
Chương 3. Các yếu tố tác động và định hướng xây dựng pháp luật Việt
Nam về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA CÁC
KHOẢN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, đặc điểm của nợ xấu
1.1.1. Khái niệm nợ xấu
Trong tiếng Anh, nợ xấu thường được sử dụng với các thuật ngữ như
“non-performing loans”(NPLs), “bad debt”, “doubtful debt”. Các tiêu chuẩn
kế toán dùng thuật ngữ “non-accrual loans” hoặc “impaired loans” để nói về
nợ xấu. Các quốc gia, các tổ chức khác nhau trên thế giới có những quan điểm
khác nhau về nợ xấu trong đó có thể kể đến một số quan niệm sau:
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), "nợ xấu" là các khoản nợ dưới
chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi
vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản
hoặc đã tẩu tán tài sản [26].
Nhóm chuyên gia tư vấn của Liên Hợp Quốc (AEG) thống nhất quan
điểm: các khoản nợ được coi là nợ xấu là khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên
90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái
8
cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã
quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng
khoản vay sẽ được thực hiện đầy đủ”. Theo đó, nợ xấu sẽ được xác định dựa
vào hai yếu tố: quá hạn trên 90 ngày; và khả năng nghi ngờ trả nợ [33].
Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS) xác định trong các
hướng dẫn về quản lý rủi ro tín dụng: việc khoản nợ bị coi là không có khả
năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng
thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực
hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90
ngày. Theo nội dung hướng dẫn thì nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản
cho vay mà người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ trong tương lai hoặc
các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không
trả được nợ [30].
Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa: một khoản vay được coi là
nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản
lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì
hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng
có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể
hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào
danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp
vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và
gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế [45].
Theo Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB), nợ xấu là những khoản
cho vay không có khả năng thu hồi như: những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc
những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ; hoặc người
mắc nợ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; hoặc những
khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc
9
không thể tìm được người mắc nợ; hoặc những khoản nợ mà khách nợ chấm
dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài
sản còn lại không đủ để trả nợ [29, tr.9].
Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho
ngân hàng. Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ
món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh
hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn
cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được. Theo Euro
Central Bank, những khoản nợ này gồm có: những khoản nợ mà người mắc
nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền
bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng
giá trị còn lại không đủ trả toàn bộ nợ; những khoản nợ mà người mắc nợ khó
có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời
gian thỏa thuận; những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc
tài sản thế chấp ở ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến
người mắc nợ không thể trả nợ ngân hàng đầy đủ; những khoản nợ mà Tòa án
tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ.
Pháp luật Việt Nam đã sớm hình thành các quy định về nợ xấu. Quyết
định số 149/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các
NHTM không đưa ra khái niệm về nợ xấu nhưng có thể hiểu nợ xấu gồm các
khoản nợ tồn đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000 và không có khả
năng trả nợ. Quy định về nợ xấu tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân
loại tài sản có, mức trích, phương pháp lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài như sau: Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3,4,5. Cụ thể,
nợ thuộc nhóm 3 là nhóm nợ dưới tiêu chuẩn; nợ nhóm 4 là nhóm nợ nghi
ngờ; nợ nhóm 5 là nhóm nợ có khả năng mất vốn.
10
Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: nợ quá hạn từ 91 ngày đến
180 ngày; nợ gia hạn lần đầu; nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng
không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; nợ đang thu hồi
theo kết luận của thanh tra. Ngoài ra, các khoản nợ nhóm 3 thuộc một trong
các trường hợp sau: nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân
thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không
được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; nợ vi phạm các quy định của
pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối
với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;…
Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360
ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; nợ
phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày
mà vẫn chưa thu hồi được.
Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: nợ quá hạn trên 360
ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ
hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; nợ phải
thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà
vẫn chưa thu hồi được; nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân
hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản.
1.1.2. Đặc điểm của nợ xấu
Nợ xấu được nhận biết bởi các đặc điểm sau:
Thứ nhất, nợ xấu của NHTM phát sinh trong hoạt động cho vay của
NHTM. Các khoản vay này thường có giá trị lớn, được xác lập giữa hai chủ
11
thể là NHTM và các cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay vốn từ NHTM. Thông
thường, do giá trị của các khoản vay này lớn nên cần phải được đảm bảo bởi
tài sản là động sản hoặc bất động sản.
Thứ hai, nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn. Nghĩa là, nợ xấu là những
khoản nợ quá hạn trên 90 ngày và không có khả năng thanh toán.
Thứ ba, NHTM phải có bằng chứng xác thực về việc khoản nợ không
có khả năng thu hồi. Nói cách khác, có dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng con nợ
không có khả năng thanh toán các khoản nợ do kinh doanh thua lỗ, phá sản,
tẩu tán tài sản, chây ỳ, quá lịch trả nợ,…
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến nợ xấu trong đó nổi bật là
các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, sự bất ổn chính trị-kinh tế trên thế giới cũng như tác động
của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng trên thị trường tài chính tiền tệ và kinh tế
quốc tế tác động rất mạnh tới hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Trong khi đó, kinh tế trong nước cũng còn khó khăn và chất lượng kinh tế
cũng tăng trưởng chưa cao, nợ công tăng nhanh. Các doanh nghiệp của Việt
Nam hiện nay đang phụ thuộc rất lớn vào vốn vay ngân hàng, hiệu quả sản
xuất còn thấp nên khi có biến động từ bên trong và bên ngoài thì đều tác động
trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vay vốn, do đó gián
tiếp và trực tiếp đều gây ra nợ xấu.
Thứ hai, môi trường pháp lý còn nhiều bất cập cũng là nguyên nhân góp
phần gây ra nợ xấu. Hành lang pháp lý chi phối hoạt động của các ngân hàng
thương mại, các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có sự bất cập và chồng chéo
giữa các quy định pháp luật tạo ra khó khăn cho các NHTM trong việc xử lý nợ
xấu, tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, Chính phủ can thiệp vào thị trường tín dụng
như một sự giúp đỡ đối với các NHTM và doanh nghiệp làm tăng khả năng giải
quyết nợ xấu của NHTM. Các ngân hàng sẽ có xu hướng cho các doanh nghiệp
12
nhà nước vay vì hầu như chính phủ sẽ bảo lãnh các rủi ro.
Thứ ba, thị trường vốn còn chưa phát triển tương xứng do đó hệ thống
ngân hàng vẫn là kênh tài trợ chủ yếu cho đầu tư và phát triển. Chính vì vậy,
rủi ro của hệ thống tài chính cũng là rủi ro của hệ thống ngân hàng. Đồng thời
do mô hình tăng trưởng trong nhiều năm vẫn phụ thuộc vào đầu tư theo chiều
rộng và sử dụng vốn vay nên nợ xấu của nền kinh tế chủ yếu là nợ xấu của hệ
thống ngân hàng.
Thứ tư, quy trình tín dụng của một số tổ chức chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở để
cán bộ ngân hàng và khách hàng lợi dụng. Ở một số TCTD, năng lực quản trị
rủi ro còn hạn chế. Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa tốt, tính tuân thủ
các quy chế chưa cao, các chuẩn mực đạo đức đối với cán bộ tín dụng ngân
hàng chưa được quan tâm, cho nên dẫn đến những rủi ro trong việc cho vay.
Thứ năm, công tác thanh tra giám sát của NHNN còn hạn chế và chưa
hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu phát triển của hệ thống các TCTD trong tình
hình mới. Năng lực trình độ của một bộ phận cán bộ thanh tra ngân hàng còn
bất cập, còn một số ít trường hợp cán bộ thanh tra giám sát của ngân hàng còn
để xảy ra vi phạm pháp luật.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chứng khoán hóa các khoản
nợ xấu của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng
thương mại
Chứng khoán hóa được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Uỷ ban chứng khoán Mỹ định nghĩa như sau:
Chứng khoán hóa là việc tạo ra các chứng khoán dựa trên các luồng
tiền cố định hoặc mang tính chất tuần hoàn của một tập hợp tách
biệt các khoản phải thu hoặc các tài sản tài chính. Các chứng khoán
này tùy theo cấu trúc thời hạn của chúng sẽ được chuyển đổi thành
tiền trong một khoảng thời gian xác định kèm theo những quyền
13
hưởng lợi khác và quyền đối với những tài sản được sử dụng nhằm
đảm bảo việc trả nợ hoặc phân phối định kỳ các khoản thu được cho
người sở hữu chứng khoán [57].
Theo pháp luật của Singapore:
Chứng khoán hóa về cơ bản là một tiến trình. Trong đó tài sản hay
các khoản lợi đối với tài sản được bán hoặc chuyển cho Tổ chức
trung gian chuyên trách (SPV) mà các SPV này sẽ huy động vốn
bằng cách phát hành chứng khoán được đảm bảo chủ yếu bằng các
tài sản đó [55].
Theo định nghĩa của các nước thuộc khối OECD đưa ra năm 1995:
Chứng khoán hóa là việc phát hành các chứng khoán có tính khả
mại được đảm bảo không phải bằng khả năng thanh toán của chủ
thể phát hành, mà bằng các nguồn thu dự kiến có được từ các tài
sản đặc biệt.
Tóm lại, có thể hiểu chứng khoán hóa là một quá trình tạo ra một công
cụ tài chính có thể đưa ra thị trường bởi việc sáp nhập hoặc nhóm các tài sản
tài chính thành một nhóm dưới dạng các loại trái phiếu hoặc cổ phiếu khác
nhau và các chứng khoán này có thể được bảo đảm bằng những tài sản thế
chấp hoặc một định chế tài chính uy tín hoặc cơ quan nào đó của Chính phủ
và đưa ra giao dịch trên thị trường.
Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại là quá
trình tập hợp và đóng gói các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại bởi
một tổ chức trung gian chuyên trách (SPV) sau khi được các tổ chức định
mức tín nhiệm xác định giá trị thì được sử dụng làm bảo đảm để phát hành
chứng khoán. Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến
những trung gian tài chính cho vay thế chấp để những trung gian này cho
người đem thế chấp tài sản vay tiền.
Về bản chất, bất kỳ tài sản nào cũng có thể được
14
khoán hóa. Tuy nhiên, chứng khoán hóa thường được áp dụng đối với các
khoản vay và các tài sản khác tạo ra các khoản phải thu như các khoản nợ tiêu
dùng hoặc nợ thương mại. Các khoản nợ có thể bao gồm nhóm nợ theo hợp
đồng như các khoản vay hệ thống, nghĩa vụ nợ thẻ tín dụng,…
1.2.2. Đặc điểm của chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại
Chứng khoán hóa có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, về đối tượng của chứng khoán hóa là các khoản nợ xấu mà
cụ thể là các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại. Nói cách khác, đó là
các khoản nợ không có khả năng thanh toán, khoản nợ quá hạn mà không có
khả năng chi trả. Các khoản nợ này được bảo đảm bởi các tài sản thế chấp
hoặc một định chế tài chính uy tín.
Thứ hai, các khoản nợ xấu hay các khoản vay thường được chứng
khoán hóa bao gồm: các khoản thế chấp nhà ở; các khoản vay tiêu dùng; các
khoản vay thương mại. Các khoản vay này khác nhau về mức độ và tính xác
minh rủi ro tín dụng của các khoản vay. Ban đầu, phần lớn tài sản được chứng
khoán hóa thông thường là khoản vay thế chấp, đến thời điểm khủng hoảng
tín dụng đã xuất hiện thêm nhiều hơn hình thức chứng khoán hóa tinh vi. Các
khoản vay thế chấp có rủi ro tín dụng thấp và dễ dàng xác minh rủi ro tín
dụng do phần lớn các khoản thế chấp được bảo đảm. Các khoản vay tiêu dùng
thường chịu tổn thất tín dụng từ trung bình đến cao. Tính xác minh rủi ro tín
dụng của các khoản vay tín dụng cũng tương đối cao do khoản vay tiêu dùng là
các sản phẩm cho vay đồng nhất và được tiêu chuẩn hóa. Các ngân hàng
thường chứng khoán hóa tất cả các khoản vay tiêu dùng của họ đáp ứng các
tiêu chí cụ thể, điều này giúp giảm thiểu đáng kể các vấn đề với các ngân hàng
đang chuyển một số khoản vay để giữ lại so với chứng khoán hóa. Trong khi
đó, các khoản vay thương mại có rủi ro tín dụng tương đối cao và khó xác minh
15
rủi ro tín dụng hơn bởi đây là loại khoản vay lớn, ít tiêu chuẩn và không đồng
nhất. Việc xác minh rủi ro tín dụng cho khoản vay này tương đối thấp [58].
Thứ ba, các chủ thể tham gia chứng khoán hóa gồm: người khởi tạo
(the Originator), tổ chức trung gian chuyên trách chứng khoán hóa (hoặc “tổ
chức phát hành chứng khoán hóa”- The Securitisation Special Purpose
Entity), Bảo lãnh phát hành (the Underwriter), Cơ quan xếp hạng tín dụng
(the Credit Rating Agencies), Nhà đầu tư (the Investors), người làm dịch vụ
(the Servicer), người nhận ủy thác (the Trustee), Tổ chức quản lý tài sản, Tổ
chức hỗ trợ thanh khoản (the Sponsor) [40].
Thứ tư, chứng khoán hóa là quá trình tái cấu trúc một thực thể thống
nhất bằng việc tập hợp các tài sản thành các nhóm theo dòng tiền mà tập hợp
tài sản này tạo ra. Các tập hợp tài sản này phải tương đối đồng nhất và được
phép chuyển nhượng, tạo ra được những dòng tiền ở những thời điểm nhất
định trong tương lai; đồng thời, các tài sản này phải tương đối lớn, bao gồm
nhiều tài sản trong đó có rủi ro của một hoặc một số ít tài sản không làm ảnh
hưởng đến giá trị của tập hợp tài sản đó; quyền tiếp nhận các dòng tiền tạo ra
từ tập hợp các tài sản trên không phụ thuộc vào sự tồn tại hay phá sản của chủ
sở hữu tài sản ban đầu. Các nhóm tài sản này sẽ được bán trên thị trường với
mệnh giá nhất định dưới các dạng chứng khoán. Các chứng khoán được phát
hành có thể được đảm bảo bằng một tài sản thực (tài sản thế chấp) hoặc không
được bảo đảm (các khoản phải thu).
Thứ năm, có nhiều loại sản phẩm chứng khoán hóa khác nhau được tạo
ra trong đó hai sản phẩm chính đó là ABS và MBS. ABS (Asset-backed
securitization) là chứng khoán (trái phiếu) được phát hành trên cơ sở có sự
đảm bảo bằng một tài sản hoặc một dòng tiền nào đó từ nhóm tài sản gốc của
người phát hành (ví dụ: tiền lãi từ tài khoản thẻ tín dụng...). Chứng khoán này
được bán cho các nhà đầu tư nơi tiền gốc và tiền lãi phụ thuộc vào dòng tiền
16
được tạo ra bởi nhóm tài sản tài chính cơ bản. ABS thường có các kết cấu
khấu hao, sao cho tiền gốc được trả lại dần dần theo thời gian và ngày đáo hạn
của chứng khoán thường không được xác định. MBS (mortage-backed
securitization) là chứng khoán (trái phiếu) được phát hành dựa trên cơ sở một
hoặc một nhóm tài sản thế chấp (bất động sản). Người phát hành chứng khoán
thanh toán cho nhà đầu tư bằng dòng tiền phát sinh từ những khoản thế chấp
được dùng để bảo đảm cho chứng khoán. Khi đáo hạn, trái phiếu này sẽ có giá
trị bằng 0, nghĩa là khi số tiền gốc được hoàn trả dần thì tiền lãi và giá trị của
trái phiếu này cũng sẽ giảm dần [51].
Nhìn chung, bản chất của chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng
thương mại là chuyển rủi ro từ ngân hàng thương mại sang phía các nhà đầu
tư thông qua việc nhà đầu tư mua chứng khoán được tạo lập bởi chứng khoán
hóa nợ xấu. Ngân hàng thương mại sẽ thu được tiền từ việc bán các khoản nợ
cho tổ chức trung gian chuyên trách thực hiện chứng khoán hóa các khoản nợ
xấu.
Chứng khoán hóa nợ xấu và chuyển khoản nợ thành vốn góp có sự
khác biệt rõ rệt. Phương pháp chuyển nợ thành vốn cổ phần, thường được sử
dụng tại các nước thực hiện đồng thời chương trình tái cơ cấu khu vực ngân
hàng và khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước.
Chuyển nợ thành vốn góp là việc ngân hàng thay vì thu hồi tiền nợ đã cho
doanh nghiệp vay, họ sẽ lấy khoản nợ phải thu đó để mua chính cổ phần của
doanh nghiệp hoặc một số nhà đầu tư quan tâm mua lại chính khoản nợ đó từ
ngân hàng với giá tương đương hoặc theo thỏa thuận. Qua đó, ngân hàng sẽ
trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, đầu tư thêm vốn để tái cơ cấu lại toàn
bộ hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức nhân sự đến hoạt động kinh doanh
và định hướng phát triển doanh nghiệp. Phương pháp chuyển nợ thành vốn
góp cũng giúp giảm thiểu nợ xấu của ngân hàng thương mại, tăng nguồn vốn
17
do vốn vay chuyển thành khoản đầu tư của ngân hàng. Bản chất của hoạt
động chuyển nợ thành vốn góp là ngân hàng đầu tư vào doanh nghiệp và trở
thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, tham gia vào tái cơ cấu hoạt động của
doanh nghiệp. Đối tượng áp dụng thường là đối với khoản nợ của các doanh
nghiệp gặp khó khăn tạm thời trong hoạt động kinh doanh, có khả năng phục
hồi nếu được bổ sung nguồn vốn. Trong khi đó, các nhà đầu tư của chứng
khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại chỉ đóng vai trò là chủ nợ mới
của khoản nợ mà không tham gia vào hoạt động kinh doanh, tái cơ cấu của
doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại sau khi bán các khoản nợ cho tổ chức
trung gian chuyên trách sẽ chuyển khoản nợ ra khỏi bảng cân đối kế toán. Đối
tượng được áp dụng chứng khoán hóa nợ xấu không chỉ là các doanh nghiệp
nói chung cũng như doanh nghiệp nhà nước nói riêng mà còn có thể là các cá
nhân. Như vậy, chứng khoán hóa nợ xấu và chuyển nợ thành vốn góp có sự
khác biệt rõ rệt về bản chất, đối tượng áp dụng.
1.2.3. Điều kiện thực hiện chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của
ngân hàng thương mại
Trong thực tế, thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu khá phức tạp đòi hỏi
đáp ứng các điều kiện khắt khe.
Trước hết, cần có một lượng lớn sản phẩm để duy trì “bộ máy” chứng
khoán hóa. Nói cách khác, các khoản nợ xấu phải đủ lớn để có thể thực hiện
và đảm bảo hoạt động chứng khoán hóa. Ví dụ điển hình chứng khoán hóa ở
Mỹ, khi Mỹ là nền kinh tế lớn, có lượng lớn người vay và người cho vay. Tín
dụng tiêu dùng và tài chính nhà ở chính là lượng sản phẩm lớn để phát triển
thị trường chứng khoán hóa.
Bên cạnh đó, các trung gian tài chính (cơ quan phát hành, bảo lãnh phát
hành, tổ chức xếp hạng tín dụng,...) phải thực sự có uy tín, có năng lực để cấu
trúc và mô hình hóa các sản phẩm đầu tư. Điều này đòi hỏi các trung gian tài
18
chính phải có kỹ thuật, năng lực chuyên môn về chứng khoán hóa. Quá trình
chứng khoán hóa không được tách rời quá trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng.
Điều kiện tiếp theo để chứng khoán hóa nợ xấu là thị trường vốn. Một
thị trường vốn phát triển sẽ bù đắp cho hoạt động thiếu hiệu quả của nguồn
vốn trong ngành ngân hàng.
Ngoài ra, thiết lập hành lang pháp lý đầy đủ, kịp thời là điều kiện rất
quan trọng, đảm bảo cho việc chứng khoán hóa nợ xấu được thực thi nghiêm
túc, nhanh chóng, công khai, minh bạch, hiệu quả, giảm thiểu tối đa các
tranh chấp, xung đột lợi ích và những tác động bất lợi từ khủng hoảng tín
dụng. Hệ thống pháp lý rõ ràng sẽ khuyến khích sự tham gia của các tổ chức
và cá nhân, tạo ra sự chủ động thúc đẩy phát triển hoạt động chứng khoán
hóa. Việc ban hành kịp thời các quy định tạo cơ sở pháp lý rõ ràng về cơ chế
phối hợp, sử dụng nguồn lực và quyền hạn của các cơ quan chức năng và tổ
chức tài chính. Các ngân hàng có thể kịp thời lựa chọn các biện pháp xử lý
nợ xấu phù hợp nhằm nhanh chóng xử lý dứt điểm nợ xấu, không gây ảnh
hưởng đến hệ thống tín dụng, cải thiện và phục hồi hệ thống tài chính, ngân
hàng với chi phí thấp nhất [32].
1.2.4. Ý nghĩa, vai trò của chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của
ngân hàng thương mại
Đối với các ngân hàng, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu có vai trò
quan trọng trong việc giảm thiểu các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại
đồng thời giúp ngân hàng thu hồi được khoản tiền từ nợ xấu và hạn chế rủi ro
mất vốn do nợ xấu đem lại. Chứng khoán hóa vừa là công cụ xử lý nợ xấu
hiệu quả vừa giúp các ngân hàng đa dạng hóa nguồn tài chính của họ, giảm
các chi phí tài chính. Quá trình chứng khoán hóa có thể biến tài sản kém
thanh khoản thành tài sản thanh khoản; giải phóng vốn cho các chủ tài sản
ban đầu; cung cấp thu nhập cho các nhà đầu tư; đặc biệt, cho phép các nhà
19
đầu tư nhỏ tham gia [46]. CKH được coi là giải pháp giải quyết được vấn đề
phụ thuộc vào vốn huy động của các NHTM, giảm được áp lực cạnh tranh
trong những giai đoạn có vấn đề về thanh khoản, tạo điều kiện cho các
NHTM thực hiện thành công quản trị rủi ro của mình thông việc tái cấu trúc
danh mục tài sản trong hoạt động tín dụng [5].
Chứng khoán hóa đã góp phần thay đổi mô hình kinh doanh của các
ngân hàng. Trong khi nguồn gốc của các khoản vay vẫn chủ yếu là tại trong
nước, chứng khoán hóa có thể tạo ra quỹ cho vay toàn cầu có thể giao dịch và
có sẵn cho các nhà đầu tư. Do đó, các ngân hàng có thể duy trì hoạt động và
có khả năng tăng trưởng. Sự phát triển của chứng khoán hóa có thể bị thay thế
trong bối cảnh rộng lớn hơn của việc thể chế hóa tiết kiệm. Cụ thể, có một sự
thay đổi tương đối trong các mô hình tiết kiệm, trong đó sự tăng trưởng trong
các sản phẩm thị trường như quỹ thị trường tiền tệ và quỹ tương hỗ đã tăng
dần [13]. Về phía ngân hàng cũng đã có sự tăng trưởng đáng kể trong thị
trường vốn do nhu cầu cho vay thường vượt xa tiền gửi có sẵn và các ngân
hàng sử dụng chứng khoán hóa làm phương tiện hỗ trợ. Chứng khoán hóa gia
tăng quy trình phi trung gian bằng cách chuyển nhiều tài sản hơn vào thị
trường vốn. Quá trình diễn ra song song với gia tăng nhu cầu bắt nguồn từ sự
tăng trưởng của các nhà đầu tư là tổ chức phi ngân hàng như quỹ tương hỗ,
tập đoàn bảo hiểm, lương hưu và quỹ tối cao.
Chứng khoán hóa và các công cụ thị trường rủi ro tín dụng làm giảm
bớt rủi ro của nhiều nhà đầu tư như rủi ro tín dụng có thể được chuyển đổi
dễ dàng hơn và có tiềm năng mở rộng chuyển đổi qua hệ thống tài chính.
Quá trình thực hiện chứng khoán hóa chính là quá trình chuyển giao rủi ro,
nghĩa là rủi ro ban đầu của chủ thể cho vay này sẽ được chuyển cho các chủ
thể khác tham gia trong quá trình chứng khoán hóa. Nhờ đó, chứng khoán
hóa giúp giảm thiểu rủi ro các khoản nợ, nâng cao chất lượng tín dụng. Nếu
20
tổng rủi ro vẫn còn trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán hóa cho phép các
ngân hàng nắm giữ ít rủi ro hơn do sự đa dạng hóa và có khả năng giao dịch
hơn. Sự chuyển giao của rủi ro tín dụng có thể cung cấp việc sử dụng vốn
ngân hàng hiệu quả hơn và giảm chi phí huy động vốn cho vay trung gian
kéo theo đó chi phí tín dụng thấp hơn. Hơn nữa, việc thị trường định giá
cung cấp thông tin giá trị cho các ngân hàng cũng như các nhà đầu tư và cơ
quan công quyền [22].
Chứng khoán hóa theo các điều kiện thông thường làm tăng tính thanh
khoản trong thị trường tín dụng. Nó mang lại nhiều công cụ giao dịch, phòng
ngừa cũng như cải thiện danh mục và cung cấp đầu tư trong các loại tín dụng
khác nhau từ đó hoàn thiện thị trường tín dụng. Đồng thời, do các vấn đề
giữa những người quản lý quỹ và những nhà đầu tư cuối cùng, chuyển rủi ro
tín dụng có thể cũng tạo ra các ưu đãi cho các ngân hàng để chấp nhận rủi ro
quá mức [13].
Chứng khoán hóa tác động đến tín dụng và cơ chế chuyển giao của
chính sách tiền tệ. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, chứng khoán hóa mang lại
những thay đổi mạnh mẽ trong các thị trường chứng khoán do đó thay đổi thị
trường cho vay. Một trong những kết quả được dự đoán của chứng khoán hóa
là sự gia tăng tổng thể trong tổng cung của các khoản vay. Các ngân hàng có
thể tiếp cận nguồn vốn bổ sung bằng cách chứng khoán hóa một phần tài sản.
Sau đó, có thể được sử dụng để cấp các khoản vay bổ sung. Bên cạnh đó, việc
loại bỏ hoàn toàn các khoản vay từ bảng cân đối kế toán của các ngân hàng
thường có thể có được sự hỗ trợ vốn theo quy định, cũng có thể được sử dụng
để mở rộng nguồn cung cho vay. Chứng khoán hóa cũng làm thay đổi chức
năng giám sát được thực hiện bởi ngân hàng. Cụ thể bởi các công cụ chuyển
dịch từ bảng cân đối kế toán của ngân hàng tới các thị trường có thể ít ưu đãi
hơn cho các trung gian tài chính để sàng lọc khách hàng vay. Về lâu dài, sự
21
thay đổi trong các ưu đãi được dự kiến sẽ dẫn đến tỷ lệ vỡ nợ cao hơn đối với
các khoản vay ngân hàng. Những sự thay đổi trong vai trò của các ngân hàng
cũng được dự đoán có một cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ thông qua kênh
được gọi là kênh tín dụng của chính sách tiền tệ và đặc biệt hơn là trên kênh
cho vay của ngân hàng hoặc kênh tín dụng hẹp. Đơn giản, kênh tín dụng tập
trung vào cách những sự không hoàn hảo về tài chính trong thị trường tín
dụng (như sự bất đối xứng thông tin giữa người cho vay và người vay) sẽ
ảnh hưởng tới cung cấp và các điều kiện tín dụng. Liên quan tới kênh mở
rộng tín dụng, tăng trưởng thanh khoản và định giá liên tục hơn các sản
phẩm của thị trường tín dụng, cũng như sự chuyển đổi song song sang chuẩn
mực kế toán giá trị hợp lý được cung cấp bởi các công cụ chuyển rủi ro tín
dụng, có thể đã nhấn mạnh sự nhạy cảm với những thay đổi trong chính sách
tiền tệ đối với phí bảo hiểm tài chính bên ngoài mà người vay phải đối mặt
khi cố gắng tăng tài chính [50].
Chứng khoán hóa cũng tạo thêm nhiều loại chứng khoán mới cho thị
trường chứng khoán. Các nhà đầu tư có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư, có
nhiều lựa chọn hơn trong việc đầu tư chứng khoán. Đồng thời, tính thanh
khoản cho thị trường tài chính cũng được nâng cao, giúp các chủ thể phát
hành các khoản nợ có cơ hội huy động những nguồn vốn mới [13].
Thông qua việc làm cho các ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn
vốn thị trường, chứng khoán hóa có thể thắt chặt kết nối giữa ngân hàng và thị
trường tài chính. Kết quả là, những ưu đãi của ngân hàng và khả năng cho vay
được dự đoán sẽ phụ thuộc vào điều kiện thị trường tài chính ở mức độ lớn
hơn so với trước đây khi các ngân hàng được hỗ trợ rất nhiều thông qua tiền
gửi ngân hàng [50]. Điều này chủ yếu là do tiền gửi có xu hướng có mức tăng
trưởng ổn định hơn và ít phụ thuộc vào điều kiện thị trường tài chính hơn các
22
công cụ có thể giao dịch. Tóm lại, chứng khoán hóa có thể có một tác động
đáng kể đến khả năng cấp tín dụng của ngành ngân hàng.
Ngoài ra, chứng khoán hóa có tác động đến việc chấp nhận rủi ro. Các
hoạt động chứng khoán hóa có khả năng ảnh hưởng tới các ưu đãi của ngân
hàng đối với rủi ro mang lại. Sự tác động của hoạt động chứng khoán hóa
trong rủi ro ngân hàng mang lại nhiều mặt. Một mặt, cơ chế chứng khoán hóa
và chuyển giao rủi ro tín dụng cho phép các ngân hàng chuyển rủi ro ra ngoài
bảng cân đối kế toán cũng như để đạt được danh mục đầu tư và tài trợ đa dạng
hóa dễ dàng hơn. Mặt khác, chứng khoán hóa cũng có thể khiến các ngân
hàng chấp nhận rủi ro bổ sung cho dù bằng cách sử dụng nguồn vốn có được
từ chứng khoán hóa để cấp tín dụng rủi ro hơn hay đơn giản bằng cách mua
rủi ro tín dụng dễ dàng hơn trên thị trường.
Tóm lại, chứng khoán hóa có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với việc
xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại. Do đó, cần tạo điều kiện để thúc đẩy
sự phát triển của chứng khoán hóa trên thị trường chứng khoán.
1.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại
Chứng khoán hóa là một phần nền tảng phát triển ngành tài chính tại
các nước trên thế giới. Từ những ý nghĩa của chứng khoán hóa đã phân tích ở
trên, việc áp dụng chứng khoán hóa vào giải quyết nợ xấu là cần thiết và cần
phải nhanh chóng được áp dụng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích của
chứng khoán hóa, vẫn còn tồn tại nhiều nhược điểm. Cụ thể, các nhà đầu tư
đảm nhận vai trò chủ nợ sẽ phải chịu nhiều rủi ro do thiếu hiểu biết về các sản
phẩm nợ hoặc các tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu thiếu minh bạch; thanh
toán nợ sớm gây thiệt hại tới lợi nhuận của nhà đầu tư [46].
Chứng khoán hóa cung cấp cho các chủ nợ một cơ chế giảm rủi ro
23
thông qua việc nhiều nhà đầu tư cùng sở hữu một nghĩa vụ [46]. Nói cách
khác, chứng khoán được tạo ra bởi hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu được
mua bởi nhiều nhà đầu tư khác nhau. Tuy nhiên, điều đó không có lợi nếu
người nắm giữ khoản vay phá sản và số ít có thể nhận ra thông qua việc bán
tài sản của họ. Các đợt phát hành chứng khoán cũng có thể mang lại rủi ro ở
các mức độ khác nhau. Thực tế, các nhà đầu tư thường không hiểu các sản
phẩm nợ cơ bản mà họ mua nên họ dễ gặp rủi ro. Bên cạnh đó, các tài sản cơ
bản được nhóm lại để bảo đảm cho chứng khoán thường thiếu minh bạch do
không có sự kiểm soát chặt chẽ từ các quy định pháp luật.
Một vấn đề cũng không được quy định rõ ràng là việc người vay có thể
thanh toán nợ sớm dẫn đến rủi ro đối với các nhà đầu tư. Trong trường hợp
các khoản thế chấp nhà, nếu lãi suất giảm, họ có thể tái cấp vốn nợ. Trả nợ
sớm sẽ giảm lợi nhuận các nhà đầu tư nhận được từ lợi ích từ các chứng
khoán mà họ đã mua [49].
Thực tế cho thấy rằng, không thể thực hiện chứng khoán hóa khi chưa
có một hệ thống pháp lý đầy đủ, rõ ràng, cụ thể. Việc thiết lập hành lang pháp
lý đầy đủ, rõ ràng sẽ đảm bảo cho các biện pháp xử lý nợ xấu mà cụ thể là
chứng khoán hóa nợ xấu được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả, công khai,
minh bạch, giảm thiểu tối đã các tranh chấp, xung đột lợi ích và những tác
động bất lợi từ khủng hoảng tín dụng. Bên cạnh đó, điều chỉnh bằng pháp luật
đối với chứng khoán hóa sẽ giúp giảm thiểu rủi ro đối với các với bên tham
gia vào hoạt động chứng khoán hóa, hạn chế được các bất lợi trong quá trình
chứng khoán hóa. Đồng thời, các tổ chức tín dụng cũng sẽ có lựa chọn và
thực thi các biện pháp xử lý nợ xấu được hiệu quả, ngăn chặn được nợ xấu,
không gây ảnh hưởng tới hệ thống tài chính.
Ở Việt Nam, theo Báo cáo tóm tắt hoạt động ngân hàng năm 2019,
24
phương hướng, nhiệm vụ năm 2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính
đến tháng 12/2019, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống các tổ chức tín
dụng ở mức 1,89%; tổng nợ xấu ở mức 4,59%, giảm mạnh so với mức
10,08% cuối năm 2016, mức 7,36% cuối năm 2017 và mức 5,85% cuối năm
2018. Trong 6 tháng đầu năm 2019, tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh nhưng vẫn duy trì
ở mức dưới 2%. Từ thống kê số liệu báo cáo tài chính quý II/2019 của 17
ngân hàng đang niêm yết trên sàn cho thấy tính đến ngày 30/6/2019, tổng nợ
xấu ở mức gần 81,3 nghìn tỷ đồng, tăng 9% so với đầu năm. Sự gia tăng nợ
xấu của các ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2019 so với năm 2018 được thể
hiện tại Hình 1. Từ năm 2016- 2018, Ngân hàng Nhà nước tập trung vào việc
xây dựng, triển khai phương án cơ cấu các TCTD; sửa đổi, bổ sung và hoàn
thiện khung pháp lý, cơ chế, chính sách tiền tệ và xử lý nợ xấu. Giai đoạn
2019- 2020, Ngân hàng Nhà nước triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp;
củng cố, chấn chỉnh và cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu để đạt được
mục tiêu đến năm 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu và nợ đã thực hiện các biện pháp
phân loại nợ xuống dưới 3% [11, tr.22]. Để thực hiện mục tiêu này, việc sớm
có các quy định pháp luật cụ thể để điều chỉnh hoạt động chứng khoán hóa nợ
25
xấu của ngân hàng thương mại là rất cần thiết.
Biểu đồ 1.1. Tình hình nợ xấu của các ngân hàng trong cuối năm 2018
(Nguồn: Nợ xấu đang có dấu hiệu tăng trở lại, Hoàng Hà, Tạp chí tài chính,
bài đăng 12/8/2019)
Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có quy định về chứng khoán hóa nợ
và 6 tháng đầu năm 2019
xấu tại một số văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các quy định này vẫn
nằm rải rác ở các văn bản khác nhau, chưa có văn bản quy phạm pháp luật
quy định cụ thể, thống nhất hướng dẫn hoạt động chứng khoán hóa các khoản
nợ xấu của ngân hàng thương mại. Pháp luật về chứng khoán hóa các khoản
nợ xấu của ngân hàng thương mại cần có các nội dung như sau: phạm vi điều
chỉnh và đối tượng áp dụng; các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia
hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại;
trình tự, thủ tục thực hiện quá trình chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của
ngân hàng thương mại; vi phạm và xử lý vi phạm, tranh chấp trong hoạt động
26
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại; quy định về
bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư tham gia hoạt động chứng khoán hóa của
27
ngân hàng thương mại.
Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn đã phân tích cụ thể những vấn đề lý luận cơ bản
về chứng khoán hóa nói chung cũng như chứng khoán hóa nợ xấu của ngân
hàng thương mại nói riêng. Theo đó, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của
ngân hàng thương mại có thể hiểu là một quá trình cơ cấu lại các khoản nợ xấu
được một tổ chức trung gian chuyên trách (SPV) tập hợp và đóng gói, sau khi
được các tổ chức định mức tín nhiệm xác định giá trị thì được sử dụng làm đảm
bảo để phát hành các trái phiếu qua kênh của tổ chức bảo lãnh phát hành. Tiền
thu được từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến những trung
gian tài chính để bù vào các khoản cho vay thế chấp trước đó [3].
Luận văn cũng phân tích các điều kiện để thực hiện chứng khoán hóa
nợ xấu cụ thể: “bộ máy” chứng khoán cần phải có lượng lớn sản phẩm hoạt
động, nghĩa là các khoản nợ xấu phải lớn để có thể duy trì, đảm bảo hoạt động
của chứng khoán. Bên cạnh đó, để hoạt động chứng khoán hóa diễn ra suôn sẻ
thì cũng cần phải có sự tham gia hiệu quả của các chủ thể như tổ chức chuyên
trách (SPV), tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán, tổ chức định mức tín
nhiệm,… Các tổ chức này phải có năng lực và có uy tín để tạo ra được các
“sản phẩm” chứng khoán hóa thu hút các nhà đầu tư. Ngoài ra, một khuôn
khổ pháp lý đầy đủ, thống nhất sẽ có ý nghĩa dẫn dắt sự phát triển của thị
trường chứng khoán hóa, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân,
đảm bảo hoạt động chứng khoán hóa diễn ra công khai, minh bạch, hiệu quả.
Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại có ý
nghĩa quan trọng không chỉ với các ngân hàng thương mại mà còn với cả hệ
thống tín dụng. Chứng khoán hóa nợ xấu giúp giảm thiểu nợ xấu đồng thời
giúp các ngân hàng thu hồi được các khoản tiền từ nợ xấu, hạn chế được các
rủi ro về vốn do nợ xấu đem lại. Các sản phẩm chứng khoán của hoạt động
chứng khoán hóa nợ xấu cũng giúp làm đa dạng thêm các sản phẩm chứng
khoán trên thị trường chứng khoán. Qua đó, các nhà đầu tư có thể đa dạng hóa
28
danh mục đầu tư và có thêm nhiều lựa chọn hơn trong đầu tư chứng khoán.
Chương 2
NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA
CÁC KHOẢN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Chứng khoán hóa là phương thức xử lý nợ xấu hiệu quả tại nhiều quốc
gia phát triển trên thế giới như Mỹ, Châu Âu và một số quốc gia ở Châu Á.
Với những ưu thế của mình, chứng khoán hóa đã giúp giải quyết nhanh
chóng, kịp thời các khoản nợ xấu trong thời gian dài gây khó khăn cho các
ngân hàng thương mại và hệ thống tài chính. Công cụ chứng khoán hoá như
động lực thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển nhanh và hiệu quả trong
suốt các thập kỷ qua. Tuy nhiên, công cụ này cũng tồn tại những hạn chế
nhất định mà thực tiễn một số nước đã gặp phải đặc biệt là cuộc khủng
hoảng thị trường bất động sản tại Mỹ đã cho thấy những tồn tại hạn chế của
chứng khoán hoá. Những hạn chế trong việc áp dụng chứng khoán hóa tại
các nước lớn chính là bài học kinh nghiệm quý báu đối với quá trình phát
triển và ứng dụng công cụ này đối với việc xử lý nợ xấu của các ngân hàng
thương mại ở Việt Nam.
Năm 1970, chứng khoán hóa xuất hiện lần đầu tại Mỹ và đã trải qua 50
năm hình thành, phát triển để trở thành thành phần chính của thị trường vốn
vay ở Mỹ. Mặc dù, cuộc khủng hoảng bất động sản ở Mỹ năm 2007 đã gây
ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của chứng khoán hóa, chứng khoán
hóa vẫn đóng vai trò quan trọng trong thị trường tín dụng. Nền tảng của
chứng khoán hóa hiện đại bắt nguồn từ những phát triển trong thị trường thế
chấp nhà ở vào những năm 1970. Sản phẩm chứng khoán hóa đầu tiên là
chứng khoán được bảo đảm bởi thế chấp bất động sản với lãi suất cố định vào
29
năm 1970 [13, tr.17]. Từ năm 1980, chứng khoán hóa phát triển mạnh mẽ ở
Hoa Kỳ như là một phương tiện chuyển rủi ro từ lĩnh vực ngân hàng bán lẻ
sang thị trường vốn phát triển cao. Quá trình chứng khoán hóa mở rộng và
phát triển đối với các khoản nợ khác như: khoản vay thương mại; cho vay tiêu
dùng; các khoản phải thu của thẻ tín dụng. Năm 1987, sự phát triển của chứng
khoán hóa bắt đầu lan sang các nước Anh, Pháp, Đức, Italia,… Tuy nhiên,
hoạt động chứng khoán hóa bên ngoài nước Mỹ có phần chậm hơn do sự khác
biệt giữa thị trường tài chính Mỹ và ở các nước khác. Ngành ngân hàng trong
các thị trường tài chính ở các nước có thể không bị chia nhỏ và không hiệu
quả như ở Mỹ; việc kinh doanh của ngân hàng có thể vẫn theo phương thức
kinh doanh truyền thống về các hoạt động nhận tiền gửi và cho vay. Các ngân
hàng đã không nhận ra ưu điểm của việc bán khoản vay trong danh mục đầu
tư vay thế chấp của họ và không có nhu cầu cấp thiết để họ làm như vậy [41].
Bên cạnh đó, các chính sách và ưu đãi của chính phủ các nước có thể khác
nhau và nhiều quy định pháp lý gây trở ngại cho việc phát triển chứng khoán
hóa. Ở châu Á, các nước có nền kinh tế phát triển cũng đã áp dụng nhiều hơn
chứng khoán hóa như Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Hồng Kông…Trong
đó, Hàn Quốc có thể coi là nước thực hiện chứng khoán hóa thành công nhất.
Nợ xấu trong trung tâm của cuộc khủng hoảng tài chính đã nhấn chìm kinh tế
Hàn Quốc trong suốt những năm 1997-1998. Chính phủ Hàn Quốc đã tái xây
dựng nhanh chóng và quyết liệt trong tình hình cấp độ của nợ xấu trong hệ
thống tài chính tăng cao. Chứng khoán hóa được giới thiệu lần đầu ở Hàn
Quốc để đối phó với tỷ lệ nợ xấu cao trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính
năm 1997 [48]. Đến những năm 2000 – 2001, thị trường đã đạt được mức
phát triển ổn định và chứng khoán hóa nhanh chóng trở thành một công cụ hỗ
trợ cho các công ty huy động nguồn tài chính cần thiết để vượt qua khó khăn
của giai đoạn hậu khủng hoảng. Biện pháp chứng khoán hóa nợ xấu thông qua
30
phát hành chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản cũng được triển khai rất
thành công, từ đó thúc đẩy thị trường vốn phát triển mạnh mẽ và đa dạng hơn,
không chỉ dừng lại ở chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản có vấn đề, mà
còn có cả các tài sản lành mạnh.
Trong chương này sẽ nêu ra những nội dung chủ yếu của pháp luật về
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Mỹ và Hàn
Quốc. Việc lựa chọn hai quốc gia này để nghiên cứu do Mỹ là nước thực hiện
chứng khoán hóa đầu tiên và Hàn Quốc là nước áp dụng chứng khoán hóa
thành công trong việc xử lý nợ xấu. Từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm
cho việc xây dựng pháp luật Việt Nam về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
của ngân hàng thương mại.
Thị trường chứng khoán hóa ở Hàn Quốc thực hiện dựa trên cơ sở 2
đạo luật chính là Đạo luật chứng khoán hóa được bảo đảm bằng tài sản
1997 được sửa đổi năm 2010 (Asset-Backed Securitization Act 1997-ABS
Act) và Đạo luật về Công ty tài chính Nhà ở Hàn Quốc 2003 được sửa đổi
năm 2018 (Korea Housing Finance Corporation Act of 2003). Trong khi
đó, chứng khoán hóa ở Mỹ được điều chỉnh chủ yếu bởi Đạo luật chứng
khoán 1933 (Securities Act of 1933), Đạo luật giao dịch chứng khoán
1934 (Securities Exchange Act of 1934), Đạo luật công ty đầu tư 1940
(Investment Company Act of 1940).
2.1. Chủ thể tham gia hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ
xấu của ngân hàng thương mại
Các chủ thể tham gia thực hiện hoạt động chứng khoán hóa bao gồm:
2.1.1. Tổ chức khởi tạo (The originator)
Các tổ chức khởi tạo thường là tổ chức tín dụng (ví dụ ngân hàng
hoặc công ty bảo hiểm), các doanh nghiệp hoặc các tổ chức của Chính phủ
thực hiện nghiệp vụ cho vay đối với cá nhân; các hộ gia đình; các doanh
31
nghiệp [13, tr.21]. Các tổ chức này bắt đầu các giao dịch chứng khoán hóa
bằng cách gộp các tài sản tạo thu nhập và bán chúng cho một pháp nhân
chứng khoán hóa đặc biệt (SPV), hoặc bằng cách mua các khoản vay dễ rủi ro
của một bên khác cho tài khoản của chính mình và sau đó bảo đảm chúng,
được gọi là người khởi tạo. Tổ chức khởi tạo có thể là công ty mẹ của tổ chức
phát hành, thiết lập tổ chức phát hành cho các mục đích giao dịch. Tổ chức
phát hành mua các khoản vay từ nhiều tổ chức khởi tạo, chẳng hạn như AMC
của các ngân hàng thương mại.
Theo Khoản 2 Điều 2 Đạo luật ABS của Hàn Quốc, tổ chức khởi tạo
gồm các chủ thể sau: Ngân hàng phát triển Hàn Quốc; Ngân hàng xuất nhập
khẩu Hàn Quốc; Ngân hàng công nghiệp Hàn Quốc; các ngân hàng được
thành lập theo sự phê chuẩn của Đạo luật Ngân hàng; các ngân hàng tín dụng
dài hạn; thương nhân đầu tư, môi giới đầu tư, thực thể kinh doanh đầu tư tập
thể, ngân hàng thương mại theo Đạo luật kinh doanh thị trường vốn và đầu tư
tài chính (Capital Market and Financial Inversment Business Act); Công ty
quản lý tài sản Hàn Quốc; Công ty bất động sản Hàn Quốc; người quản lý và
quản trị quỹ nhà ở quốc gia; Công ty nhà ở quốc gia Hàn Quốc; các tập đoàn
tín dụng tốt (bao gồm các tập đoàn nước ngoài và các công ty con của Hàn
Quốc do các tập đoàn nước ngoài thành lập) có tài sản và Ủy ban dịch vụ tài
chính nhận thấy cần phải chứng khoán hóa theo các tiêu chuẩn được quy định
trước bởi ủy ban dịch vụ tài chính; công ty đầu tư tái cấu trúc doanh nghiệp;
những chủ thể khác.
Tổ chức khởi tạo không được quy định cụ thể trong Đạo luật chứng
khoán 1933. Tuy nhiên, tại mục 15G Đạo luật giao dịch chứng khoán hóa
1934, tổ chức khởi tạo được định nghĩa là người mà thông qua việc gia hạn
tín dụng hay nói cách khác, tạo ra một tài sản tài chính đảm bảo cho chứng
khoán được bảo đảm bằng tài sản; và bán một tài sản trực tiếp hoặc gián tiếp
32
cho một công ty chứng khoán.
Có thể thấy, pháp luật Hàn Quốc không đưa ra định nghĩa cụ thể mà liệt
kê các tổ chức khởi tạo theo đạo luật ABS. Trong khi đó, người khởi tạo được
định nghĩa khái quát theo pháp luật Hoa Kỳ. Như vậy, chỉ các tổ chức khởi
tạo được liệt kê theo pháp luật Hàn Quốc mới có khả năng để hoạt động
chứng khoán hóa theo đạo luật ABS. Các tổ chức này có đủ các điều kiện như
là các tổ chức chính phủ và các tổ chức tài chính và là doanh nghiệp uy tín
quốc tế (bao gồm các doanh nghiệp nước ngoài hoặc công ty con của tập đoàn
nước ngoài) và nếu họ có xếp hạng tín dụng cao và Ủy ban giám sát tài chính
yêu cầu chứng khoán hóa các tài sản của họ phải được thực hiện theo tiêu
chuẩn được xác định trước bởi Ủy ban giám sát tài chính. Các tập đoàn cần có
được sự công nhận của FSC về sự cần thiết phải chứng khoán hóa các tài sản
do tập đoàn đó nắm giữ theo các tiêu chuẩn do FSC quy định [49]. Theo đạo
luật số 15855 và đạo luật số 4341 của Hàn Quốc thì các tổ chức này sẽ có cấu
trúc như một công ty có dấu hiệu mất khả năng thanh toán theo đạo luật thúc
đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp hoặc một tổ chức tài chính mất khả năng thanh
toán theo đạo luật cải thiện cấu trúc của ngành tài chính.
Các tổ chức khởi tạo sẽ thực hiện chứng khoán hóa khi có các khoản nợ
bị mất khả năng thanh toán. Tổ chức được coi là mất khả năng thanh toán nếu
đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Tổng tất cả các tài sản của tổ chức ít hơn tổng nợ phải trả;
- Tổ chức tạm ngừng thanh toán các khoản nợ hoặc không thể trả các
khoản nợ nói chung;
- Có đơn yêu cầu mất khả năng thanh toán được nộp bởi, hoặc liên
quan đến chủ tài sản ban đầu theo luật phá sản và khôi phục nợ [48].
Trong chứng khoán hóa, tổ chức khởi tạo đóng vai trò quan trọng, là cơ
sở để thực hiện chứng khoán hóa. Khi tổ chức khởi tạo có các khoản nợ bị
33
mất khả năng thanh toán, gây ảnh hưởng lớn tới hoạt động tín dụng và hệ
thống tài chính thì sẽ xuất hiện nhu cầu chứng khoán hóa. Nhờ đó, quá trình
chứng khoán hóa bắt đầu được thực hiện.
2.1.2. Tổ chức phát hành chứng khoán hóa (Securitisation Special
Purpose Entity-SSPE/ Securitisation Special Purpose Vehicle-SSPV)
SPE/SPV/SPC là một thực thể pháp lý (một công ty hợp danh hữu hạn,
một công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty ủy thác), được thành lập để thực
hiện các mục tiêu cụ thể, việc tạo ra các chứng khoán và bán chúng trên thị
trường chứng khoán (do SSPE là bên phát hành). SSPE không có nhân sự,
không có vị trí thực tế và không có mục đích bổ sung. Tổ chức này sau khi
mua lại các khoản phải thu; các khoản nợ từ bên khởi tạo sẽ phát hành chứng
khoán dựa trên cơ sở các tài sản đã mua. SPE/SPV thường không có bất kỳ
chức năng nào khác ngoài chức năng phát hành chứng khoán và sở hữu tài sản
làm cơ sở cho các chứng khoán này, điều này làm giảm các ưu đãi cho một
bên khác đặt SPE vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Tổ chức phát hành chứng khoán hóa được quy định theo đạo luật ABS
Hàn Quốc là một công ty được thành lập để thực hiện kinh doanh chứng
khoán hóa được bảo đảm bằng tài sản. Công ty này sẽ ở dạng công ty trách
nhiệm hữu hạn (yuhan-hoesa), không thể thành lập chi nhánh ngoài trụ sở
chính và không được thuê nhân viên. Đạo luật ABS quy định vốn tối thiểu
của một công ty SPE là 100 KRW. Các công ty này có thể quyết định quyền
biểu quyết, cổ tức và tài sản còn lại theo nhiều cách khác nhau trong các điều
khoản hợp nhất của họ, không phân biệt tỷ lệ góp vốn. SPE thường được sở
hữu bởi các cá nhân (tổng ít nhất 99.5%) và nhà sáng lập (hầu hết ít hơn
0.5%) [48]. Công ty có mục đích đặc biệt sẽ đăng ký một kế hoạch ABS và
chỉ có thể hoạt động kinh doanh theo kế hoạch ABS đã được đăng ký. SPV
điển hình ở Hàn Quốc là Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO). Đạo
34
luật ABS đã quy định cụ thể các công việc kinh doanh theo kế hoạch chứng
khoán hóa được bảo đảm bằng tài sản gồm: chuyển nhượng các tài sản chứng
khoán hóa, hoặc ủy thác cho một tổ chức kinh doanh ủy thác; quản trị, quản lý
và xử lý các tài sản chứng khoán hóa; phát hành và mua lại chứng khoán được
bảo đảm bằng tài sản; đầu tư quỹ thặng dư và các hoạt động kinh doanh khác.
Bên cạnh đó, các công ty này cũng không được phép mở văn phòng khác
ngoài trụ sở chính và không được thuê nhân viên. Những quy định này đã hạn
chế rất lớn hoạt động của SPV. Tuy nhiên, mục đích thành lập SPV là để thực
hiện việc chứng khoán hóa các khoản nợ, góp phần xử lý nợ xấu. Do đó, việc
hạn chế hoạt động của SPV là để tập trung vào các hoạt động chính và thực
hiện mục đích đặc biệt.
Theo đạo luật ABS Hàn Quốc, một SPE sẽ được thành lập ở Hàn Quốc
và được hưởng những lợi ích như: được phép chuyển nhượng các khoản thế
chấp mà không phải đăng ký trong sổ đăng ký; được khấu trừ thuế thu nhập
theo quy định tại Điều 51-2 của Luật thuế doanh nghiệp. Các khoản đóng góp
sẽ được khấu trừ từ thu nhập chịu thuế của công ty. Đối với SPE được thành
lập ngoài Hàn Quốc, các công ty này vẫn chịu những hạn chế về hoạt động
kinh doanh như các SPE trong nước. Nếu như một SPC nước ngoài được cho
phép thành lập một chi nhánh ở Hàn Quốc thì vẫn là một thực thể bị động và
không được cho phép tham gia bất kỳ hoạt động kinh doanh khác ngoài
những gì đã được liệt kê cụ thể trong đạo luật ABS. Vì mục đích lợi nhuận
thuế, SPC nước ngoài thường thành lập ở Đảo Cayman [48].
Tại Mỹ, Hiệp hội thế chấp quốc gia liên bang- Fannie Mae (Federal
National Mortage Association-FNMA) và Tổng công ty thế chấp cho vay mua
nhà liên bang- Freddie Mac (Federal Home Loan Mortage Corporation-
FHLMC) là hai tổ chức tài chính lớn nhất thực hiện vai trò là tổ chức trung
gian chuyên trách (SPV) thực hiện nghiệp vụ chứng khoán hoá. Fannie Mae
35
và Freddie Mac có nhiệm vụ mua các khoản nợ cho vay thế chấp nhà ở; bất
động sản của các NHTM, sau đó thực hiện chứng khoán hoá các khoản nợ
này thành trái phiếu và phát hành trên cơ sở các khoản tín dụng thế chấp, có
bảo đảm bằng nhà ở; bất động sản. Chứng khoán nợ được bán cho nhà đầu tư
thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Các trái phiếu đó được bảo
lãnh bởi duy nhất Fannie Mae và Freddie Mac và nghĩa vụ không trực tiếp của
chính phủ Hoa Kỳ. Các sản phẩm của FNMA và FHLMC đều mang lại rủi ro
tín dụng. Tuy nhiên, qúa trình này không chỉ đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn
cho các ngân hàng thương mại và cho thị trường tài chính và nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn trong toàn bộ nền kinh tế [14]. Cuộc khủng hoảng tín dụng đã ảnh
hưởng nghiêm trọng tới Fannie Mae và Freddie Mac và các NHTM có liên
quan cũng như toàn bộ hệ thống tài chính Mỹ và nền kinh tế Mỹ. Năm 2008,
Fannie Mae và Freddie Mac có dấu hiệu bị thua lỗ. Họ bị chính phủ tịch thu
các tài sản và vẫn còn hoạt động chứng khoán hóa cho đến nay.
Các SPV được thành lập ở Mỹ có thể được sở hữu bởi người khởi tạo
chứng khoán hóa hoặc một SPV đơn độc với vốn chủ sở hữu của SPV
(thường là số tiền danh nghĩa) được sở hữu bởi một thực thể hoặc tổ chức
từ thiện không liên quan đến người khởi tạo và chủ sở hữu của vốn chủ sở
hữu đó có ít hoặc không liên quan đến kinh tế trong chứng khoán hóa [43].
Việc thành lập SPV ở Mỹ hay ở nước ngoài tùy thuộc vào bản chất của
giao dịch và thuế liên quan, luật chứng khoán và sự cân nhắc của nhà đầu
tư. Trong khi SPV nước ngoài có thể cho phép các loại nhà đầu tư nước
ngoài nắm giữ chứng khoán của SPV rộng hơn so với SPV của Hoa Kỳ.
SPV với các nhà đầu tư không phải là người Mỹ có thể bị hạn chế hơn
trong các hoạt động mà họ có thể tham gia so với SPV chỉ có các nhà đầu
tư Hoa Kỳ do thuế liên bang Hoa Kỳ.
2.1.3. Bảo lãnh phát hành (the Underwriter)
36
Bảo lãnh phát hành (thường là một hoặc một nhóm các ngân hàng đầu
tư) đóng vai trò trung gian giữa nhà phát hành (SSPE) và nhà đầu tư trong đợt
chào bán. Tổ chức này sẽ cam kết mua toàn bộ chứng khoán phát hành ra theo
giá đã xác định trước. Bên bảo lãnh phát hành phân tích yêu cầu của nhà đầu
tư, phối hợp với cơ quan xếp hạng tín dụng – cung cấp hướng dẫn về cấu trúc
giao dịch một cách hiệu quả và tiết kiệm chi phí, trong đó bao gồm việc tạo ra
một hoặc nhiều lớp hoặc 'tranches' được bán cho các nhà đầu tư ở thị trường
công cộng và tư nhân [51].
Đạo luật chứng khoán 1933 của Hoa Kỳ quy định thuật ngữ ''bảo lãnh''
là bất kỳ người nào đã mua từ nhà phát hành với quan điểm, hoặc cung cấp
hoặc bán cho tổ chức phát hành liên quan đến việc phân phối bất kỳ chứng
khoán nào, hoặc tham gia hoặc có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất
kỳ đảm nhận, hoặc tham gia hoặc có sự tham gia của bảo lãnh trực tiếp hoặc
gián tiếp của bất kỳ cam kết nào; nhưng điều khoản đó sẽ không bao gồm một
người có lãi được giới hạn trong một khoản hoa hồng từ một nhà bảo lãnh
hoặc đại lý không vượt quá các nhà phân phối thông thường, hoặc hoa hồng
của người bán. Bên cạnh đó, Luật công ty đầu tư 1940 của Hoa Kỳ cũng quy
định khi việc phân phối chứng khoán của bất kỳ người nào là bảo lãnh phát
hành được hoàn thành, người đó sẽ không còn là người bảo lãnh phát hành
đối với chứng khoán đó hoặc tổ chức phát hành đó.
Các nhà bảo lãnh chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản thực hiện vai
trò của người sắp xếp truyền thống đại diện cho tổ chức phát hành (ở đây,
SPV hoặc ủy thác). Công việc chính của bảo lãnh phát hành là phân tích nhu
cầu của nhà đầu tư và thiết kế cấu trúc của các đợt chứng khoán dựa trên tài
sản thế chấp hiện và điều kiện thị trường. Những người bảo lãnh trái phiếu
được hỗ trợ bằng tài sản sẽ mua với giá chiết khấu một lượng nhất định của
ưu đãi trước khi bán lại cho các nhà đầu tư. Ngoài việc tiếp thị và bán các
37
chứng khoán này, các nhà bảo lãnh còn cung cấp hỗ trợ thanh khoản trong thị
trường giao dịch thứ cấp. Bởi vì giao dịch chứng khoán được hỗ trợ bằng tài
sản tại các thị trường không cần kê khai, các nhà bảo lãnh sẵn sàng tham gia
với tư cách là đại lý môi giới bằng cách duy trì hàng tồn kho và tạo ra một thị
trường giúp tăng cường quá trình phát hành [51].
2.1.4. Cơ quan xếp hạng tín dụng (the Credit Rating Agencies)
Cơ quan xếp hạng tín dụng cung cấp xếp hạng tín dụng các chứng
khoán dựa trên đánh giá rủi ro tín dụng của họ: đánh giá rủi ro tín dụng thấp
thì xếp hạng sẽ cao và ngược lại. Các nhà đầu tư sẽ mua chứng khoán dựa
theo mức độ đánh giá do các cơ quan xếp hạng tín nhiệm đưa ra. Nếu chứng
khoán nhận được xếp hạng tốt hơn có thể thu hút các nhà đầu tư dễ dàng hơn
so với chứng khoán được xếp hạng kém hơn và do đó, chịu lãi suất thấp hơn.
Cơ quan xếp hạng tín dụng được quy định tại Luật giao dịch chứng
khoán 1934 của Hoa Kỳ là nghĩa là bất kỳ người nào tham gia vào việc kinh
doanh phát hành xếp hạng tín dụng trên Internet hoặc thông qua người khác
có thể truy cập dễ dàng có nghĩa là miễn phí hoặc phí hợp lý, nhưng không
bao gồm công ty báo cáo tín dụng thương mại; sử dụng mô hình định lượng
hoặc định tính hoặc cả hai để xác định xếp hạng tín dụng; và nhận phí từ nhà
phát hành, nhà đầu tư hoặc người tham gia thị trường khác hoặc kết hợp
giữa họ. Các cơ quan xếp hạng đã đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng
trưởng nhanh chóng của tài chính có cấu trúc ở Hoa Kỳ [51]. Các cơ quan
xếp hạng cung cấp dịch vụ chứng nhận cho các nhà đầu tư, những người cần
thực hiện một cuộc điều tra chuyên sâu về các tài sản cơ bản và đánh giá cấu
trúc của chứng khoán. Xếp hạng là cần thiết bởi vì nhiều nhà đầu tư tổ chức
lớn và các công ty tài chính được quy định bắt buộc phải nắm giữ hầu hết
các tài sản cấp đầu tư.
Ở hầu hết các quốc gia, có 03 cơ quan xếp hạng quốc tế đang cung cấp
38
dịch vụ xếp hạng các khoản nợ được chứng khoán hóa đó là Moody’s,
Standard & Poor’s và Fitch. Các công ty này cùng nhau chi phối hoạt động
xếp hạng chứng khoán hóa trên toàn cầu. Chứng khoán hóa nợ xấu là quá
trình phức tạp do đó đòi hỏi yêu cầu về chuyên môn và kỹ năng cao đối với
các cơ quan xếp hạng tín dụng. Điều này khó được đáp ứng bởi các các cơ
quan xếp hạng tín dụng địa phương.
2.1.5. Tổ chức hỗ trợ thanh khoản (the Sponsor)
Tổ chức hỗ trợ thanh khoản là một tổ chức tài chính (thường là một
ngân hàng thương mại) có nhiệm vụ thực hiện cam kết ứng tiền cho tổ chức
phát hành để thanh toán cho người đầu tư trong trường hợp các khoản thanh
toán, các khoản phải thu từ tổ chức có nghĩa vụ thanh toán chưa kịp được
thanh toán [13, tr.22].
2.1.6. Người phục vụ (the Servicer)
Người phục vụ thực hiện một số nhiệm vụ hành chính thay mặt SSPE,
là bên chịu trách nhiệm xử lý các khoản thanh toán và tương tác với người
vay như gửi báo cáo thanh toán qua thư, thu tiền thanh toán và giám sát các
khoản nợ để thu tiền thanh toán trên các tài sản mà SSPE có được. Bên cạnh
đó, người phục vụ thực hiện các biện pháp thu nợ được quy định trong các
thỏa thuận, đôi khi sẽ thực hiện thanh lý tài sản thế chấp trong trường hợp vỡ
nợ. Vai trò này cũng có thể được thực hiện bởi người khởi tạo nếu người khởi
tạo đồng thời là nhà phát hành [51].
Trong quá trình chứng khoán hóa, người phục vụ được ủy thác một số
công việc đó là: 1) thu thập các khoản thanh toán được tạo từ các tài sản cơ
bản, 2) chuyển các khoản thanh toán đến các tài khoản do người ủy thác quản
lý và 3) quản lý tiền gửi và đầu tư của dòng doanh thu thay cho người được
ủy thác. Các công việc chuyên biệt này yêu cầu người phục vụ giữ lại tất cả
các thông tin cụ thể về khoản vay hoặc chứng khoán để thu thập và chuyển
39
hướng dòng tiền cũng như theo dõi hiệu suất. Các công việc này dễ thực hiện
hơn đối với một thực thể liên quan đến người cho vay của thế chấp chứng
khoán bảo đảm bằng tài sản.
Theo đạo luật ABS Hàn Quốc, người phục vụ phải đáp ứng một trong
các điều kiện sau: một nhà khởi tạo; công ty thông tin tín dụng có giấy phép
được thành lập theo Đạo luật liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ thông tin
tín dụng; những người khác chuyên kinh doanh quản lý tài sản đáp ứng các
yêu cầu được quy định bởi Nghị định của Chính phủ về Đạo luật ABS. ABS
SPC hoặc một SPC nước ngoài phải bổ nhiệm một người làm dịch vụ với tư
cách là người phục vụ của họ (Dịch vụ phục vụ trực tuyến) và giao phó việc
dịch vụ tài sản chứng khoán hóa. Trong trường hợp người phục vụ bị mất khả
năng thanh toán, để bảo vệ lợi ích của những cổ đông của ABS thì đạo luật
ABS yêu cầu người làm dịch vụ quản lý các tài sản chứng khoán hóa được
giao riêng biệt với các tài sản của họ. Khi đó, do các tài sản chứng khoán hóa
được quản lý riêng biệt bởi người làm dịch vụ không liên quan đến các tài sản
của người làm dịch vụ, phương thức chứng khoán hóa có thể yêu cầu bởi
người làm dịch vụ hoặc chấp nhận chứng khoán hóa như các tài sản chứng
khoán hóa. Điều tương tự sẽ được áp dụng khi bắt đầu các thủ tục theo Luật
hòa giải hoặc các thủ tục tổ chức lại theo Luật tổ chức lại doanh nghiệp [50].
2.1.7. Người nhận ủy thác (the Trustee)
Người nhận ủy thác được hiểu là người đảm bảo tiền được chuyển từ
người phục vụ sang SSPE/SPV và các nhà đầu tư được thanh toán theo mức
độ ưu tiên theo hợp đồng. Người nhận ủy thác là một công ty độc lập có trách
nhiệm ủy thác quản lý SPV/ ủy thác và đại diện cho quyền của các nhà đầu tư.
Vai trò chính của người ủy thác là phân tán các khoản thanh toán cho các nhà
đầu tư và giám sát an ninh thay mặt cho các nhà đầu tư bằng cách thu thập
thông tin từ người phục vụ và tổ chức phát hành trong khi xác nhận hiệu suất
40
của tài sản thế chấp cơ bản. Các giao dịch của SPV mua các khoản vay thường
được xử lý bởi một người được ủy thác [51]. Người ủy thác đảm bảo rằng các
giao dịch được quản lý theo các tài liệu liên quan và, theo cách có hiệu quả về
chi phí, đảm nhiệm việc cung cấp chứng khoán, tuân thủ các vấn đề liên quan
đến hiệu suất, xử lý tiền mặt và xử lý thông tin cho người bán. Người ủy thác
phải làm việc chặt chẽ với nhà phát hành và người phục vụ để bảo vệ lợi ích
của các nhà đầu tư. Điều quan trọng là một người được ủy thác phải là một
thực thể độc lập với mục đích duy nhất là đại diện cho nhà đầu tư và do đó
loại bỏ bất kỳ vấn đề xung đột nào. Với tính chất hành chính của doanh
nghiệp ủy thác, dịch vụ này phù hợp nhất với các ngân hàng giám sát lớn với
cơ sở hạ tầng văn phòng hỗ trợ tốn kém để xử lý thông tin. Các biện pháp tập
trung thị trường cao (HHI là hơn 80% đối với hầu hết các loại sản phẩm) cho
thấy rằng một số ngân hàng chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh ủy
thác chứng khoán hóa.
Ở Hàn Quốc, theo đạo luật ABS, một công ty ủy thác được đăng ký
theo Luật thị trường vốn và dịch vụ đầu tư tài chính có thể hoạt động như một
người nhận ủy thác để nắm giữ các tài sản chứng khoán hóa và phát hành
chứng khoán ABS như chứng chỉ có lợi. Ủy thác được thành lập bởi một công
ty ủy thác được cấp phép cũng có thể là một phương tiện chứng khoán hóa.
Một ủy thác không có đặc điểm pháp lý riêng biệt và người được ủy thác
(thường là một ngân hàng hoặc một công ty chứng khoán) thay mặt theo hợp
đồng cho những người thụ hưởng ủy thác dưới tên riêng của mình. Đối với
việc sử dụng ủy thác như một phương thức chứng khoán hóa, chỉ một công ty
ủy thác được cấp phép theo đạo luật ủy thác kinh doanh của Hàn Quốc bao
gồm các ngân hàng được tham gia ủy thác kinh doanh) là chấp nhận để hoạt
động như một bên nhận ủy thác. Một công ty ủy thác nước ngoài không đủ
điều kiện như một phương thức chứng khoán hóa, trừ khi nắm giữ giấy phép
41
kinh doanh ủy thác theo Luật ủy thác kinh doanh của Hàn Quốc [50].
2.1.8. Tổ chức quản lý tài sản
Tổ chức quản lý tài sản là tổ chức thực hiện quản lý các tài sản được
chứng khoán hóa; thu tiền từ tổ chức có nghĩa vụ thanh toán rồi chuyển cho tổ
chức phát hành [13, tr.21].
Tổ chức quản lý tài sản theo Đạo luật ABS Hàn Quốc là một công ty có
mục đích đặc biệt (không bao gồm các thực thể kinh doanh ủy thác) sẽ giao
phó việc quản lý tài sản chứng khoán hóa cho người khởi tạo hoặc một công
ty thông tin tín dụng có giấy phép kinh doanh hoặc những người khác chuyên
kinh doanh quản lý tài sản đáp ứng các yêu cầu theo Nghị định của Tổng
thống bằng cách tham gia vào một thỏa thuận dịch vụ.
2.1.9. Nhà đầu tư (the Investors)
Nhà đầu tư được hiểu đơn giản là các tổ chức, cá nhân mua chứng
khoán được bảo đảm bằng tài sản do tổ chức trung gian chuyên trách thực
hiện hoạt động chứng khoán hóa phát hành. So với các loại chứng khoán khác
thì tổ chức, cá nhân đầu tư vào chứng khoán hóa chịu nhiều rủi ro hơn. Các
chứng khoán khác nhau có thể mang đến rủi ro ở các mức độ khác nhau và
mang lại cho các nhà đầu tư lợi nhuận khác nhau. Do đó, các nhà đầu tư cần
phải hiểu các sản phẩm nợ cơ bản mà họ mua.
Một nhà đầu tư được coi là có uy tín theo Đạo luật chứng khoán hóa Hoa
Kỳ 1933 là một ngân hàng tư nhân hoặc ủy thác; một công ty bảo hiểm; một
công ty đầu tư được đăng ký theo Đạo luật công ty đầu tư 1940 (Investment
Company Act of 1940) hoặc một công ty phát triển kinh doanh theo quy định
của Đạo luật; một công ty đầu tư kinh doanh nhỏ được cấp phép bởi Cục Quản
lý hoạt động kinh doanh nhỏ (Small Business Administration); hoặc bất kỳ
người nào, trên cơ sở các yếu tố như mức độ tinh vi tài chính, giá trị ròng, kiến
thức và kinh nghiệm trong các vấn đề tài chính hoặc số lượng tài sản thuộc
42
quyền quản lý đều được coi là nhà đầu tư được công nhận theo quy định.
Như vậy, một giao dịch chứng khoán hóa có nhiều chủ thể tham gia và
mỗi chủ thể đóng một vai trò nhất định nhằm đảm bảo việc chứng khoán hóa
được thực hiện đúng quy định, đảm bảo mục tiêu của chứng khoán hóa và lợi
ích của các bên.
2.2. Đối tượng của chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại
Theo lý thuyết, bất kỳ tài sản tài chính nào cũng có thể được chứng
khoán hóa. Thực tế thì, chứng khoán hóa thường tập trung vào các khoản vay
và các tài sản khác tạo ra các khoản phải thu như các khoản nợ tiêu dùng hoặc
nợ thương mại khác nhau. Các khoản nợ xấu này có thể bao gồm nhóm nợ
theo hợp đồng như các khoản vay hệ thống, nghĩa vụ nợ thẻ tín dụng.
Các tài sản chứng khoán hóa được định nghĩa trong đạo luật ABS Hàn
Quốc là “các quyền đòi nợ, bất động sản và các quyền tài sản khác được
chứng khoán hóa”. Trong khi đó, Luật giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ 1934
quy định các tài sản được chứng khoán hóa gồm khoản thế chấp nhà ở, thế
chấp thương mại, cho vay thương mại, cho vay tự động và bất kỳ loại tài sản
nào khác mà cơ quan ngân hàng Liên bang và Ủy ban cho là phù hợp. Đối với
mỗi loại tài sản này sẽ được quy định các tiêu chuẩn bảo lãnh được thiết lập
bởi các cơ quan ngân hàng Liên bang với các điều khoản, điều kiện và đặc
điểm của khoản vay từ đó thấy được rủi ro tín dụng của từng loại khoản vay.
Nhìn chung, các tài sản được chứng khoán hóa có thể chia thành ba
nhóm tài sản chủ yếu. Các nhóm này khác nhau về mức độ và tính xác minh
rủi ro tín dụng của các khoản vay.
Thứ nhất, các khoản vay được thế chấp bằng bất động sản và khoản vay
này đã trở thành nợ xấu. Chứng khoán hóa dựa trên thế chấp bất động sản
được hình thành từ chuyển đổi các khoản vay có tài sản thế chấp, khi đó công
43
ty phát hành, chủ nợ thứ nhất, sẽ chuyển giao toàn bộ giấy tờ thế chấp cho
nhà đầu tư mua chứng khoán này. Loại chứng khoán này tuy có độ an toàn
cao hơn, vì có tài sản đảm bảo khoản vay, nhưng lãi suất lại thấp hơn so với
chứng khoán tài sản tài chính. Những trái phiếu gắn liền với tài sản thế
chấp thì có đủ điều kiện để xem đó là một thương vụ bán tài sản. Người bán
không còn chịu rủi ro thua lỗ từ số tài sản sau khi đã chuyển đổi và không
phải chịu trách nhiệm với người mua vì người vay bị vỡ nợ hay có sự thay đổi
giá thị trường về tài sản đó [29]. Ở Hoa Kỳ, loại khoản vay này có rủi ro tín
dụng thấp nhất và dễ xác minh rủi ro tín dụng do phần lớn các khoản thế chấp
(thế chấp chính phủ, thế chấp chuẩn) tuân thủ quy định thế chấp; được đảm
bảo chống vỡ nợ bởi chính phủ Hoa Kỳ, Fannie Mae hoặc Freddie Mac; liên
quan đến những người vay tín dụng không có kinh nghiệm (thế chấp tiêu
chuẩn); và / hoặc đáp ứng các tiêu chí được tiêu chuẩn hóa nhằm đảm bảo rủi
ro tín dụng thấp (tuân thủ thế chấp) [58].
Thứ hai, các khoản cho vay tiêu dùng được hình thành từ việc
chuyển đổi các khoản phải thu như từ thẻ tín dụng, từ cho vay mua ô tô,
vay để xây nhà, để tiêu dùng cho gia đình... Ngân hàng hay những tổ chức
cho vay sẽ chuyển những khoản phải thu này thành trái phiếu, bán cho các
nhà đầu tư để thu về nhanh chóng các khoản nợ đó. Các nhà đầu tư sẽ trở
thành chủ nợ mới và có quyền đòi cả gốc và lãi khi giấy nợ đã đến hạn. Các
khoản phải thu được chứng khoán hóa ở Hàn Quốc gồm các khoản vay phải
thu và các tài khoản phải thu. Trong đó, các khoản vay phải thu gồm khoản
vay vốn xã hội, các khoản vay PF, chứng khoán được bảo đảm bởi thế chấp,
các khoản vay doanh nghiệp hoặc cá nhân, khoản nợ xấu. Các tài khoản phải
thu gồm: các khoản phải thu từ thẻ tín dụng tương lai của các công ty thẻ tín
dụng; các khoản phải thu từ khách hàng tương lai của các hãng hàng không
và/ hoặc bán hàng hóa; các khoản phải thu cho thuê của các công ty; các
44
khoản phải thu bán hàng của các công ty vận chuyển; các khoản phải thu bán
điện thoại di động của các nhà mạng điện thoại di động; các khoản phải thu
hành khách và hàng hóa; các khoản phải thu thẻ tín dụng của các công ty thẻ
tín dụng thường được chứng khoán hóa bởi người khởi tạo liên quan [48].
Mức độ rủi ro của loại chứng khoán này cao hơn khoản vay có thể chấp vì có
thể sẽ không đòi được nợ. Tuy nhiên, mức độ rủi ro vẫn ở mức trung bình do
các khoản vay tiêu dùng khá đồng nhất, tiêu chuẩn hóa cao, dễ xác minh rủi
ro tín dụng. Các ngân hàng thương mại thường cung cấp phân tích thống kê
về các khoản nợ, khoản vay tín dụng được chứng khoán hóa trong các bản cáo
bạch về chứng khoán hóa khoản vay tiêu dùng. Các ngân hàng thường chứng
khoán hóa tất cả các khoản vay tiêu dùng của họ đáp ứng các tiêu chí cụ thể,
điều này giúp giảm thiểu đáng kể các vấn đề với các ngân hàng đang chuyển
một số khoản vay để giữ lại so với chứng khoán hóa [58].
Thứ ba, các khoản vay thương mại đã thành khoản nợ xấu. Khoản vay
thương mại là sự thỏa thuận hỗ trợ dựa trên nợ giữa doanh nghiệp và tổ chức
tài chính như ngân hàng. Nó thường được sử dụng để tài trợ cho các hoạt
động chi phí vốn lớn và/hoặc trang trải chi phí hoạt động mà công ty có thể
không đủ khả năng chi trả. Chi phí trả trước đắt đỏ và rào cản pháp lý thường
ngăn cản các doanh nghiệp nhỏ tiếp cận trực tiếp với thị trường trái phiếu và
vốn cổ phần. Các doanh nghiệp nhỏ hơn phải dựa vào các sản phẩm cho vay
khác, chẳng hạn như dòng tín dụng, khoản vay không có bảo đảm hoặc khoản
vay có kỳ hạn [60]. Đây là nguồn vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp, một số
ngân hàng cung cấp các khoản vay đáo hạn có thể kéo dài. Nhờ đó, doanh
nghiệp có được nguồn vốn cần thiết để duy trì hoạt động và có khả năng hoàn
trả khoản vay trong thời hạn. Các khoản vay có thể được chuyển sang giai
đoạn cho vay bổ sung hoặc gia hạn. Thông thường, các doanh nghiệp sẽ tìm
kiếm khoản vay tái tạo khi doanh nghiệp cần thêm vốn cần thiết để tăng
45
cường hoạt động kinh doanh với một số khách hàng lớn mà vẫn có thể cung
cấp hàng hóa cho các khách hàng bổ sung. Các khoản vay thương mại có mức
độ rủi ro tín dụng cao nhất do có khoản cho vay lớn nhất và ít tiêu chuẩn nhất.
Tính xác minh mức độ rủi ro của khoản vay này khá thấp.
2.3. Trình tự, thủ tục thực hiện chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
của ngân hàng thương mại
Quy trình chứng khoán hóa nợ xấu khá phức tạp, trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau. Các nước khác nhau sẽ thực hiện chứng khoán hóa theo các
phương thức khác nhau phụ thuộc hệ thống tài chính và quy định của nước
đó. Tuy nhiên, các quy trình chứng khoán hóa đều trải qua 3 giai đoạn sau:
Thứ nhất, hình thành các khoản vay và dẫn đến nợ xấu của tổ chức tín
dụng, nói cách khác là hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng được xác
lập nhưng nghĩa vụ trả nợ không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
dẫn đến nợ xấu.
Thứ hai, các tổ chức tín dụng bán các khoản nợ xấu cho SPV.
Thứ ba, SPV nhóm các khoản nợ xấu thành trái phiếu và phát hành ra
công chúng [13].
Cụ thể, chứng khoán hóa được thực hiện thông qua các bước sau (Hình
2. Sơ đồ tóm tắt quy trình chứng khoán hóa):
Bước 1: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay tiền. Khách hàng sẽ
chuyển giao các chứng từ, tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay cho tổ chức
tín dụng; Khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ dẫn đến nợ xấu.
Bước 2: Tổ chức tín dụng nhóm các khoản nợ xấu đủ tiêu chuẩn, có
cùng thời hạn và lãi suất sau đó chuyển nhượng cho SPV. Theo pháp luật Hoa
Kỳ, nếu khoản vay là khoản vay thế chấp bất động sản thì phải được một
trong các cơ quan sau bảo đảm: Cơ quan nhà ở Liên bang (FHA); Hội cựu
chiến binh (VA); Cơ quan tài trợ nhà đất nông nghiệp [13, tr.33]. Các khoản
46
vay bao gồm các khoản vay có thế chấp, các khoản phải thu như vay tiêu
dùng. Người khởi tạo chuyển tài sản (bằng cách bán hoặc góp vốn) vào một
SPV trung gian (thường là một công ty con của người khởi tạo). Việc chuyển
các khoản phải thu thường được ghi nhận là sự chuyển nhượng tuyệt đối tất
cả các quyền, quyền sở hữu và lợi ích trong các khoản phải thu để đổi lấy giá
mua đã thỏa thuận [43]. Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Thương mại
(Uniform Commercial Code –UCC) áp dụng cho các tiểu bang, mỗi người
mua các khoản phải thu trong chuỗi sở hữu (SPV trung gian và SPV phát
hành) phải tuân thủ quy định tại Điều 9. SPV sẽ phải nộp báo cáo tài chính
phù hợp trong phạm vi quyền hạn gồm: bằng chứng của việc bán tài sản; nâng
cao nhiệm vụ trên bằng các yêu cầu cạnh tranh của bên thứ ba; nếu việc bán
tài sản thực sự được mô tả lại dưới dạng cho vay, cung cấp cho bên nhận SPV
trạng thái dự phòng là chủ nợ được bảo đảm (nhằm cải thiện tình trạng chủ nợ
không có bảo đảm).
Để các khoản phải thu có thể chuyển đến SPV thì theo UCC, việc
chuyển nhượng các khoản phải thu phải bao gồm các lợi ích: trao cho bên
được bảo đảm quyền đối với tất cả số tiền thu được từ khoản phải thu đó; có
sự gắn bó của lợi ích bảo đảm trong nghĩa vụ hỗ trợ cho khoản phải thu (bao
gồm các quyền rút thư tín dụng và các quyền bảo đảm của khoản phải thu).
Ngoài ra, việc kèm theo lợi ích chứng khoán đối với quyền thanh toán hoặc
hiệu suất được bảo đảm bằng lợi ích chứng khoán (hoặc quyền thế chấp khác
đối với tài sản cá nhân hoặc tài sản thực) là cần thiết.
Bước 3: Các tổ chức xếp hạng tín dụng sẽ thực hiện đánh giá định mức
tín nhiệm các khoản nợ dựa trên tính rủi ro, dòng tiền của các khoản nợ. Sau
đó, SPV sẽ phát hành chứng khoán cho tổ chức bảo lãnh phát hành. Để chứng
khoán đạt được xếp hạng tốt thì cần thực hiện 3 phương thức:
Thứ nhất, tăng cường tín dụng. Tăng cường tín dụng nhằm mục đích
47
giảm rủi ro cho các nhà đầu tư khi mà dòng tiền từ tài sản bảo đảm bị gián
đoạn. Điều này có thể thực hiện được thông qua: trong giao dịch thông qua
phát hành, sử dụng tài sản thế chấp có giá trị cao hơn giá trị của chứng khoán
đã phát hành, sử dụng trái phiếu được bảo hiểm; hoặc tạo ra một khoản dự trữ
tiền mặt, sử dụng chênh lệch vượt mức để hấp thụ các khoản lỗ tiềm năng;
hoặc được cung cấp bởi bên thứ ba thông qua bảo lãnh đặc biệt từ bên thứ ba,
thư tín dụng từ ngân hàng cam kết hoàn trả các khoản lỗ tín dụng lên đến một
lượng được xác định trước, bảo lãnh tài chính từ các công ty bảo hiểm cam
kết thực hiện thanh toán gốc và lãi đúng hạn, nếu không thỏa mãn từ dòng
tiền của nhóm cho vay [40].
Thứ hai, tài trợ cấp dưới là một kỹ thuật được sử dụng để phân phối rủi
ro của tài sản thế chấp giữa các 'tranches' (Đợt phát hành) khác nhau phù hợp
với hồ sơ rủi ro nhà đầu tư khác nhau và nhu cầu liên quan.
Thứ ba, đảm bảo rằng khả năng phá sản trong tương lai của người
khởi tạo sẽ không ảnh hưởng đến khả năng các nhà đầu tư chứng khoán do
SPV phát hành được thanh toán từ các tài sản tài chính. Nguy cơ phá sản
này dựa trên hai yếu tố: việc chuyển tài sản sang SPV được cấu trúc như
một 'bán hàng thực sự' và SPV sẽ được thiết lập một cách hợp pháp theo
cách chỉ có thể tham gia vào các giao dịch chứng khoán hóa, do đó ngăn
chặn SPV tham gia vào các giao dịch khác và phát sinh nợ cho các chủ nợ
khác, những người có thể buộc nó phá sản không tự nguyện nếu yêu cầu
của họ không được thanh toán [58].
Bước 4: Tổ chức bảo lãnh phát hành bán chứng khoán này cho các nhà
đầu tư. Tiền thu được sẽ trả cho SPV.
Bước 5: SPV dùng tiền thu được để trả các khoản phải thu, các khoản
nợ được chứng khoán hóa đã mua. Các tài sản bảo đảm cho khoản vay do tổ
chức quản lý tài sản của bên khởi tạo nắm giữ.
Bước 6: Bên có nghĩa vụ thanh toán thực hiện việc trả nợ (bao gồm cả
48
gốc và lãi) của các khoản nợ.
Bước 7: Tiền gốc và lãi nhận được sẽ dùng để thanh toán cho các nhà
đầu tư đã mua chứng khoán.
(Nguồn: Phát triển thị trường chứng khoán hóa: Nghiên cứu trường hợp
Trung Quốc, Trần Thị Vân Anh, Tạp chí Ngân hàng số 05/2019)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tóm tắt quy trình chứng khoán hóa
Theo đạo luật ABS Hàn Quốc, bước đầu tiên của quá trình chứng
khoán hóa là việc SPC đăng ký kế hoạch chứng khoán hóa. Kế hoạch chứng
khoán hóa của SPV hoặc một công ty nước ngoài hoặc một tổ chức kinh
doanh ủy thác chuyên kinh doanh chứng khoán hóa được đảm bảo bằng tài
sản phải được đăng ký với Ủy ban giám sát tài chính Hàn Quốc (Financial
Securitization Commision-FSC). Kế hoạch này phải bao gồm phạm vi chứng
khoán hóa, các loại chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản, phương thức
quản lý tài sản chứng khoán hóa,…[48]. Theo đạo luật ABS, chỉ một kế
hoạch chứng khoán hóa được đăng ký trên một phương thức chứng khoán
hóa. Điều này đòi hỏi các SPV phải có kế hoạch cụ thể, rõ ràng, hoàn thiện và
đảm bảo được kế hoạch có thể thực hiện mà vẫn đảm bảo được quyền lợi của
các chủ thể. Kế hoạch chứng khoán hóa được bảo đảm bằng tài sản bao gồm
các nội dung sau:
- Các vấn đề liên quan đến tên của một công ty có mục đích đặc biệt,
49
các địa điểm, văn phòng của công ty;
- Các vấn đề liên quan đến người khởi tạo;
- Thời hạn của kế hoạch chứng khoán hóa được bảo đảm bằng tài sản;
- Các vấn đề liên quan đến các tài sản chứng khoán hóa có liên quan
như loại tài sản, tổng số tiền và định giá;
- Các vấn đề liên quan đến các chứng khoán được hỗ trợ bằng tài sản
như các loại, tổng số tiền và các điều khoản và điều kiện phát hành;
- Các vấn đề liên quan đến quản trị, vận hành và định đoạt tài sản
chứng khoán hóa;
- Các vấn đề liên quan đến người quản lý;
- Các vấn đề khác theo quy định của Nghị định Chính phủ [54].
Trong một số trường hợp, FSC có thể từ chối việc đăng ký kế hoạch
chứng khoán hóa nếu: hồ sơ đăng ký có chứa thông tin sai lệch hoặc thiếu
thông tin cần thiết; kế hoạch chứng khoán hóa được bảo đảm bằng tài sản có
các vấn đề trái với Đạo luật và quy định dưới luật; hoặc khi có sự vi phạm
Đạo luật và quy định dưới luật liên quan đến việc thành lập một công ty có
mục đích đặc biệt. Khi từ chối đăng ký kế hoạch chứng khoán hóa, FSC phải
thông báo kịp thời cho SPV bằng văn bản nêu ra các lý do chi tiết cho việc từ
chối đăng ký hoặc yêu cầu thay đổi trong vòng 15 ngày kể từ ngày nộp đơn
đăng ký. Nếu FSC không có ý kiến trong vòng 15 ngày gì thì kế hoạch chứng
khoán hóa sẽ được coi là đăng ký hợp lệ kể từ ngày đầu tiên đăng ký [48].
2.4. Vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại
Hoạt động chứng khoán hóa được thực hiện bởi nhiều chủ thể, thông
qua các quy trình phức tạp. Do đó, không thể tránh khỏi việc vi phạm các quy
định pháp luật như các hoạt động kinh doanh không công bằng hoặc thao
túng, giao dịch nội gián và gian lận chứng khoán, vi phạm về nghĩa vụ và
50
công bố thông tin. Pháp luật Hàn Quốc quy định cụ thể về các hình phạt đối
với vi phạm pháp luật tại Đạo luật ABS còn pháp luật Hoa Kỳ điều chỉnh bởi
cả luật liên bang và tiểu bang được thiết kế để bảo vệ các nhà đầu tư.
Theo điều 39 tại đạo luật ABS Hàn Quốc, nếu việc đăng ký chuyển
nhượng các tài sản chứng khoán hóa mà sai đơn đăng ký hoặc hợp đồng theo
quy định; chuẩn bị sai hoặc không cung cấp công khai các tài liệu đăng ký
hoặc vi phạm cung cấp và sử dụng thông tin về nghĩa vụ sẽ bị phạt không quá
20 triệu won. Đối với các trường hợp: vi phạm quy định về quản lý tài sản
chứng khoán hóa đã không quản lý các tài sản chứng khoán được ủy thác tách
biệt với tài sản của mình dưới dạng tập hợp; vi phạm trong việc kinh doanh đã
vay tiền hoặc đầu tư tiền thặng dư khác với kế hoạch chứng khoán hóa được
bảo đảm bằng tài sản; hoặc không tuân thủ lệnh cải tiến kinh doanh sẽ bị phạt
tù không quá một năm hoặc không quá mười triệu won. Nếu đại diện của một
cơ quan tài phán, hoặc một đại lý, một nhân viên hoặc bất kỳ người làm việc
nào khác của pháp nhân hoặc một cá nhân có hành vi vi phạm thuộc các
trường hợp nêu trên liên quan đến các vấn đề của cá nhân hoặc pháp nhân, thì
không chỉ người đó sẽ bị trừng phạt, những người có thẩm quyền hoặc cá
nhân sẽ bị phạt tiền theo cùng một Điều: với điều kiện, điều này sẽ không áp
dụng trong trường hợp người có thẩm quyền hoặc cá nhân không bỏ qua việc
đưa ra một lý lẽ hợp lý hoặc giám sát các vấn đề liên quan để ngăn chặn hành
vi vi phạm. Bên cạnh đó, điều 42 của đạo luật ABS cũng quy định hình phạt
đối với hành vi thiếu trách nhiệm là không vượt quá năm triệu won nếu không
chuẩn bị hoặc duy trì các tài liệu về quản lý tài sản chứng khoán hóa, hoặc là
sử dụng thương mại của công ty có mục đích đặc biệt. Theo Bộ luật dân sự
Hàn Quốc, nếu một người nhận chuyển giao hoặc người nhận chuyển nhượng
đã hành động một cách thiện chí, sự chuyển giao hoặc chuyển nhượng khoản
phải thu sẽ có hiệu lực, nhưng người nhận chuyển giao hoặc người nhận
51
chuyển nhượng sẽ chỉ có trách nhiệm cho vi phạm của hợp đồng đặc biệt. Vì
vậy, nếu người khởi tạo chuyển giao hoặc chuyển nhượng các khoản phải
thu trong hợp đồng nhưng người nhận chuyển giao hoặc người nhận
chuyển nhượng một cách thiện chí, sự chuyển giao hoặc chuyển nhượng có
hiệu lực đối với con nợ. Tuy nhiên trong thực tế, ABS SPC trong giao dịch
ABS sẽ tiến hành thẩm định các tài sản cơ bản và các hợp đồng có liên
quan. Vì vậy, sẽ không dễ cho ABS SPC để thành công trong bảo vệ sự
thiện chí. SPC ABS phải thận trọng để có được sự đồng ý của con nợ nếu
bất kỳ sự hạn chế với chuyển giao các khoản phải thu được tìm ra trong
suốt quá trình tiến hành thẩm định [45].
Trong khi đó, Đạo luật Chứng khoán Hoa Kỳ quy định tại điều 24: bất
kỳ ai cố tình vi phạm bất kỳ điều khoản nào của luật này, hoặc các quy tắc và
quy định do Ủy ban ban hành theo thẩm quyền, hoặc bất kỳ ai cố tình, trong
một tuyên bố đăng ký nộp theo luật này, đưa ra bất kỳ tuyên bố sai sự thật nào
về sự thật vật chất hoặc bỏ qua việc nêu bất kỳ sự thật quan trọng cần phải
nêu trong đó hoặc cần thiết để làm cho các tuyên bố trong đó không gây hiểu
lầm, khi bị kết án sẽ bị phạt không quá 10.000 đô la hoặc bị phạt tù không
quá năm năm, hoặc cả hai. Mức phạt đối với các hành vi vi phạm tương tự
được quy định tại Điều 32 của Đạo luật giao dịch chứng khoán 1934 là
không nhiều hơn 5.000.000 đô la, hoặc bị giam không quá 20 năm hoặc cả
hai, ngoại trừ khi người đó không phải là người bình thường, mức phạt
không vượt quá 25.000.000 đô la; nhưng không ai phải chịu hình phạt tù vì
vi phạm bất kỳ quy tắc hoặc quy định nào nếu anh ta chứng minh rằng anh ta
không có kiến thức về quy tắc hoặc quy định đó. Trong trường hợp bất kỳ
cán bộ, giám đốc, nhân viên hoặc đại lý của một công ty phát hành, hoặc cổ
đông thay mặt cho công ty phát hành đó cố tình vi phạm các điều cấm của
Đạo luật giao dịch chứng khoán sẽ bị phạt không quá 100.000 đô là hoặc
52
không bị phạt tù hơn 5 năm, hoặc cả hai. Bất kỳ cán bộ, giám đốc, nhân viên
hoặc đại lý của một công ty phát hành, hoặc cổ đông thay mặt cho công ty
phát hành đó vi phạm điều cấm của luật sẽ bị phạt dân sự hơn 10.000 đô la
theo quyết định do Ủy ban đưa ra.
2.5. Bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật Việt Nam về
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại
Chứng khoán hóa là công cụ xử lý nợ xấu hiệu quả, động lực thúc đẩy
thị trường tài chính phát triển nhanh và hiệu quả trong thời gian qua. Tại Hoa
Kỳ, Công ty Ủy thác xử lý nợ xấu (RTC) đã được thành lập như một cơ quan
liên bang tạm thời nhằm xử lý nợ xấu của S&L và thanh lý S&L (Hiệp Hội
Tiết Kiệm Và Cho Vay. Công ty này đã chứng khoán hóa tài sản của các S&L
ngoài việc bán hay xử lý bằng các phương thức khác các khoản nợ xấu của
các S&L. Cụ thể, các giao dịch chứng khoán hóa của công ty được bảo đảm
bởi các khoản nợ xấu được gọi là “Seri N” và công ty đã sử dụng sáu giao
dịch Seri N từ các chuỗi của năm 1992. Trong 6 giao dịch Seri N, công ty ủy
thác xử lý nợ xấu đã định giá lại 1,3 tỷ Đô la Mỹ của hơn 2.600 khoản vay có
giá trị sổ sách 2,8 tỷ Đô la Mỹ và chuyển các khoản vay đó cho SPV. Tổng
cộng 970 triệu Đô la Mỹ trái phiếu được bảo đảm bằng các tài sản đó đã được
phát hành cho 6 giao dịch Seri N. Kết quả là có khoảng 1,5 tỷ Đô la Mỹ nợ đã
được thu hồi qua các giao dịch Seri N. Hơn 10% tổng tài sản của RTC đã
được bán qua các chương trình chứng khoán hóa của RTC. Việc chứng khoán
hóa của Công ty ủy thác xử lý nợ xấu cho phép thị trường CMBS (Chứng
Khoán Được Đảm Bảo Bởi Các Khoản Thế Chấp Thương Mại) ở Hoa Kỳ
phát triển và giá trị CMBS phát hành tại Hoa Kỳ bởi các đơn vị không thuộc
chính phủ đã tăng từ 204 triệu Đô la Mỹ năm 1980 lên đến 624,7 tỷ Đô la Mỹ
tính đến cuối năm 2013 [17]. Một ví dụ khác, trong cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ Châu Á năm 1998, Luật Phát Hành Chứng Khoán Được Bảo
53
Đảm Bởi Tài Sản của Hàn Quốc đã được ban hành. Công Ty Quản Lý Tài
Sản Hàn Quốc (KAMCO)- một tổ chức mua nợ xấu, đã thực hiện chứng
khoán hóa nợ xấu như một công cụ giải quyết nợ xấu. Theo Tài liệu nghiên
cứu của IMF về vai trò của KAMCO trong xử lý nợ xấu tại Đại Hàn Dân
Quốc, từ tháng 11 năm 1997 đến tháng 12 năm 2012, KAMCO đã xử lý nợ
xấu có giá trị sổ sách là 64,6 nghìn tỷ Won. Trong đó, giá trị phát hành chứng
khoán được đảm bảo bởi tài sản (ABS) bằng phương thức chứng khoán hóa
nợ xấu là 8 nghìn tỷ Won. Nghĩa là, 12% tổng nợ xấu đã được xử lý bởi
KAMCO bằng phương thức chứng khoán hóa. Việc chứng khoán hóa của
KAMCO đã làm cho thị trường ABS tại Hàn Quốc phát triển, và giá trị phát
hành ABS, từ 6,8 nghìn tỷ Won năm 1998, đã tăng lên đến 49 nghìn tỷ Won
năm 2000, và 51 nghìn tỷ Won năm 2001. Giá trị phát hành ABS vào năm
2012 là 48 nghìn tỷ Won.
Hai ví dụ điển hình tại Mỹ và Hàn Quốc đã cho thấy hiệu quả của việc
áp dụng chứng khoán hóa trong xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, qua việc thực hiện
chứng khoán hóa nợ xấu tại hai nước Hàn Quốc và Mỹ, chứng khoán hóa
cũng đã bộc lộ một số điểm hạn chế. Những điểm hạn chế này cũng đã gây ra
tác động lớn tới hệ thống tài chính ở Mỹ và Hàn Quốc. Đó là khi cuộc khủng
hoảng thị trường bất động sản xảy ra ở Mỹ, các ngân hàng thương mại đã phải
chịu nặng nề như mất khả năng thanh khoản phải sáp nhập, hợp nhất hoặc
đóng cửa; hoặc được Chính phủ mua lại. Mặc dù, chứng khoán hóa được bảo
đảm bởi tài sản là bất động sản giúp tăng khả năng cho vay của các công ty tài
chính. Tuy nhiên, khi xảy ra khủng hoảng bất động sản sẽ ảnh hưởng tới cả
thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản. Rủi ro đối với hệ thống tài
chính là rất lớn. Chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Hoa
Kỳ mang lại nhiều bài học đối với các nước định hướng áp dụng chứng khoán
hóa như một công cụ xử lý nợ xấu. Hàn Quốc là một trong những nước đã áp
54
dụng chứng khoán hóa nợ xấu thành công ở Châu Á. Do đó, từ việc áp dụng
chứng khoán hóa vào xử lý nợ xấu ở Mỹ và Hàn Quốc có thể rút ra một số bài
học kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, việc áp dụng chứng khoán hóa của Mỹ vào Việt Nam cần
phải xem xét, phân tích hệ thống tài chính, thực trạng nền kinh tế, sự phù hợp
của khuôn khổ pháp lý. Các nền kinh tế giữa các nước có sự khác biệt về cấu
trúc, quy mô hoạt động. Nếu áp dụng một cách máy móc cấu trúc của nước
này vào nước khác có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực tới hệ thống tài chính.
Việc phân tích các nguyên tắc cơ bản của thị trường nội địa về tài sản tài
chính và sản phẩm đầu tư cũng cần thiết phải được thực hiện trước khi áp
dụng chứng khoán hóa. Bên cạnh đó, chứng khoán hóa là quá trình phức tạp,
có nhiều cấu trúc khác nhau. Ngoài việc lựa chọn cấu trúc phù hợp với nền
kinh tế thì cũng cần phải lựa chọn cấu trúc có thể áp dụng một cách hiệu quả,
tránh các sản phẩm quá phức tạp. Đặc biệt, sự phù hợp của khuôn khổ pháp lý
và các quy định, nguyên tắc cơ bản đối với các sản phẩm tài chính được tạo ra
trong các hệ thống tài chính khác nhau là yếu tố quan trọng để chứng khoán
hóa nợ xấu được thành công. Trường hợp của Hàn Quốc, Chính phủ đã ban
hành nhiều đạo luật, quy định để tạo hành lang pháp lý vững chắc tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển chứng khoán hóa. Qua đó đã đạt được những
thành công đáng kể. Malaysia có hệ thống pháp lý kế thừa từ hệ thống pháp lý
của nước Anh nên tương thích với cấu trúc chứng khoán hóa truyền thống được
phát triển ở Hoa Kỳ [41]. Đồng thời, cấu trúc chứng khoán hóa của Hoa Kỳ
cũng phù hợp với các nguyên tắc của Ngân hàng Islamic về việc nhấn mạnh
chia sẻ lợi nhuận được hỗ trợ bởi các tài sản thực tế. Ngược lại, Philippines
không có được sự phù hợp như Malaysia do có sự phức tạp trong hệ thống
pháp luật khi mà Bộ luật dân sự Tây Ban Nha được phủ lên bởi luật pháp Hoa
Kỳ. Mặc dù, Philippines đã cố gắng sửa đổi luật pháp để phù hợp với cấu trúc
55
chứng khoán hóa nhưng họ không đạt được kết quả như mong muốn [41].
Thứ hai, pháp luật cần có sự thống nhất, đồng bộ giữa các quy định của
pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu với pháp luật về thuế, bất động sản, thị
trường chứng khoán, luật phá sản,…Các lĩnh vực này có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau, do đó pháp luật cần có quy định cụ thể, rõ ràng, đồng bộ. Pháp luật
Mỹ và Hàn Quốc luôn có sự liên kết giữa các đạo luật, cụ thể đối với hoạt
động chứng khoán hóa nợ xấu, Đạo luật chứng khoán năm 1993 và Đạo luật
công ty đầu tư có các quy định về hoạt động chứng khoán hóa để đảm bảo các
công ty đầu tư tham gia chứng khoán tuân thủ đúng quy định về hoạt động
chứng khoán và hoạt động đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán. Pháp luật Hàn
Quốc cũng thống nhất, đồng bộ trong quy định về hoạt động chứng khoán hóa
các khoản nợ xấu thông qua Đạo luật chứng khoán hóa được bảo đảm bằng tài
sản và Luật thuế.
Thứ ba, các ngân hàng thương mại thường có các quy chế, nguyên tắc
tín dụng riêng. Các quy chế này sẽ đảm bảo cho hoạt động của các ngân hàng
thương mại được thực hiện theo một khuôn khổ nhằm đảm bảo hiệu quả của
hoạt động tín dụng và lợi ích của các bên. Tuy nhiên, trong một số trường
hợp, các NHTM có nguy cơ bỏ qua hoặc vi phạm các nguyên tắc để đạt được
lợi ích trước mắt mà không xem xét đến hiệu quả. Trong một khoảng thời
gian dài, thị trường bất động sản ở Mỹ tăng trưởng liên tục. Các ngân hàng
thương mại ở Mỹ tin tưởng rằng sự tăng trưởng này còn tiếp diễn nên đã cho
vay tín dụng bất động sản ồ ạt. Khi khủng hoảng tín dụng bất động sản xảy ra
đã khiến các ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tài chính, công ty
chứng khoán bị mất khả năng thanh khoản, thua lỗ, phát sinh nợ xấu gây ảnh
hưởng tiêu cực tới thị trường tài chính. Việc tuân thủ các quy định, nguyên
tắc là rất quan trọng, nhằm hạn chế tối đa rủi ro trong thị trường tín dụng. Các
ngân hàng thương mại cần nghiêm túc tuân theo các nguyên tắc điều kiện như
56
đặc điểm, chất lượng của tài sản được chứng khoán hóa, thời hạn, lãi suất cho
vay, đảm bảo tài chính của chứng khoán hóa, công khai, minh bạch thông tin
trên thị trường chứng khoán.
Thứ tư, tăng cường hệ thống các định chế tài chính trong đó có các
ngân hàng thương mại, tổ chức xếp hạng tín dụng, tổ chức trung gian chuyên
trách thông qua việc ban hành kịp thời các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt
động của các định chế tài chính tham gia vào hoạt động chứng khoán hóa nợ
xấu của ngân hàng thương mại. Có thể thấy, tại Mỹ và Hàn Quốc có các tổ
chức trung gian chuyên trách hoạt động rất hiệu quả như Fannie Mae, Kamco.
Các cơ quan này đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện quá trình chứng
khoán hóa nợ xấu. Quy trình chứng khoán hóa có diễn ra theo đúng trình tự,
đảm bảo chất lượng hay không phụ thuộc vào sự phối hợp của các định chế
tài chính. Do vậy, việc sớm ban hành các quy định điều chỉnh hoạt động
chứng khoán hóa nợ xấu của các định chế tài chính sẽ giúp thiết lập hệ thống
định chế tài chính đồng bộ, chuyên trách để chứng khoán hóa được hiệu quả
hơn. Hàn Quốc đã ban hành Đạo luật về cải tổ chức năng và nhiệm vụ của
Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) nhằm tạo hành lang pháp lý đầy
đủ, hỗ trợ, khuyến khích công ty chuyên trách thực hiện hoạt động chứng
khoán hóa nợ xấu nhằm xử lý nợ xấu của các ngân hàng. Việc ban hành quy
định cụ thể điều chỉnh về tổ chức trung gian chuyên trách đã tạo cơ sở pháp lý
rõ ràng về cơ chế phối hợp, sử dụng nguồn lực và quyền hạn của các cơ quan
chức năng và tổ chức tài chính, nhất là các ngân hàng yếu kém trong việc lựa
chọn và thực thi các biện pháp cơ cấu lại và xử lý nợ xấu phù hợp nhằm đạt
được mục tiêu đặt ra là nhanh chóng xử lý dứt điểm những vấn đề yếu kém,
không gây ảnh hưởng xấu lan truyền trong hệ thống, cải thiện và phục hồi
hoạt động của hệ thống tài chính, ngân hàng với chi phí thấp nhất.
Thực tế, khi áp dụng chứng khoán hóa vào xử lý nợ xấu của ngân hàng
57
thương mại, các nước luôn cố gắng để tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ. Tuy
nhiên, hành lang pháp lý đầy đủ chưa thể đảm bảo hoạt động chứng khoán
hóa có thể thực hiện hiệu quả. Tại Hoa Kỳ, chứng khoán hóa được điều chỉnh
bởi hệ thống pháp luật cụ thể từ quy trình hoạt động; quy định cơ cấu tổ chức,
hoạt động, nghĩa vụ của các tổ chức trung gian chuyên trách, tổ chức đánh giá
tín nhiệm, bảo lãnh phát hành; các chế tài xử lý vi phạm pháp luật. Khi xảy ra
khủng hoảng thị trường bất động sản, hệ thống tài chính của nước này vẫn bị
ảnh hưởng nặng nề. Trong khi đó, Hàn Quốc có đạo luật riêng biệt điều chỉnh
cụ thể một trong các phương thức chứng khoán hóa nợ xấu. Ngoài ra, còn có
các quy định chặt chẽ về tổ chức trung gian chuyên trách (KAMCO). Nhờ đó,
Hàn Quốc đã thực hiện rất thành công chứng khoán nợ xấu. Đây là kinh
nghiệm mà Việt Nam và các nước khác nên học hỏi để xây dựng hành lang
pháp lý phù hợp. Việc ban hành khuôn khổ pháp lý sẽ tạo điều kiện, định
hướng để chứng khoán hóa phát triển. Xây dựng một đạo luật riêng biệt để
điều chỉnh chứng khoán hóa nên được cân nhắc ở Việt Nam. Đồng thời, đạo
luật này nên có sự liên kết chặt chẽ với các quy định pháp luật khác để tạo sự
đồng bộ trong hệ thống pháp luật [2]. Đạo luật ABS của Hàn Quốc có sự liên
kết chặt chẽ với các luật khác như Bộ luật Dân sự Hàn Quốc, Luật về Thuế,
Luật Nhà ở. Sự liên kết này sẽ giúp hướng dẫn, giải quyết những vấn đề phát
sinh trong quá trình chứng khoán hóa, giảm thiểu các rủi ro và tạo động lực
phát triển cho chứng khoán hóa.
Trong quá trình chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mai,
ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trọng việc chỉ đạo, kiểm tra,
giám sát các ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động chứng khoán hóa nợ
xấu. Bên cạnh đó, ngân hàng Nhà nước tạo cơ chế và hỗ trợ chính sách cho
các ngân hàng thương mại thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu. Đồng thời,
ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm xây dựng một khuôn khổ pháp lý đủ
58
mạnh để có thể điều tiết toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc chứng
khoán hóa nợ xấu. Do đó, các kinh nghiệm xây dựng pháp luật về chứng
khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại của Hàn Quốc và Mỹ
cần được ngân hàng Nhà nước xem xét, nghiên cứu để ban hành văn bản quy
phạm pháp luật cụ thể điều chỉnh hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của
ngân hàng thương mại.
Kết luận chương 2
Chương 2 của luận văn đã làm rõ các nội dung chủ yếu của pháp luật
về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Hoa Kỳ
và Hàn Quốc. Đối tượng chính của chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của
ngân hàng thương mại là các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại gồm
các khoản vay được thế chấp bằng bất động sản; các khoản phải thu (khoản
vay tiêu dùng); các khoản vay thương mại. Các chủ thể tham gia chứng khoán
hóa gồm: tổ chức khởi tạo, tổ chức phát hành chứng khoán, cơ quan xếp hạng
tín dụng, nhà đầu tư,… Mỗi giao dịch chứng khoán hóa có nhiều chủ thể tham
gia và mỗi chủ thể đóng một vai trò nhất định nhằm đảm bảo hoạt động chứng
khoán hóa được thực hiện đúng quy định. Các tổ chức, cá nhân đầu tư vào
hoạt động chứng khoán hóa thường dễ gặp rủi ro hơn so với đầu tư vào chứng
khoán thông thường do họ không hiểu rõ về các sản phẩm chứng khoán hóa
59
mà họ mua và các tài sản bảo đảm của chứng khoán thường thiếu minh bạch.
Quá trình chứng khoán hóa thường được thực hiện thông qua 3 giai đoạn cụ
thể: hình thành các khoản vay của tổ chức tín dụng; các tổ chức tín dụng bán
các khoản nợ xấu cho SPV; SPV nhóm các khoản nợ thành trái phiếu và phát
hành ra công chúng.
Luận văn cũng đã nêu ra các quy định cụ thể trong văn bản pháp luật
điều chỉnh chứng khoán hóa của Hoa Kỳ và Hàn Quốc như Đạo luật ABS,
Đạo luật chứng khoán năm 1993, Đạo luật giao dịch chứng khoán năm 1934.
Các quy định này điều chỉnh cụ thể về việc thành lập, hoạt động, nghĩa vụ của
các chủ thể tham gia chứng khoán hóa. Bên cạnh đó, các hình thức và mức
phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán hóa cũng được quy
định rõ ràng, cụ thể.
Từ những phân tích về pháp luật về chứng khoán hóa của Hoa Kỳ, Hàn
Quốc, luận văn đưa ra được một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và
định hướng để phát triển chứng khoán hóa nợ xấu tại Việt Nam trong thời
gian tới như sau: xem xét tình hình nền kinh tế để áp dụng chứng khoán hóa
linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế; tăng cường các định chế tài chính
trong đó có các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian
chuyên trách; xây dựng khuôn khổ pháp lý thống nhất; đào tạo nguồn nhân
lực có chuyên môn, kỹ thuật chứng khoán hóa, ứng dụng công nghệ thông tin
60
để đẩy mạnh hoạt động chứng khoán hóa.
Chương 3
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỨNG KHOÁN HÓA CÁC
KHOẢN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Sự hạn chế của hệ thống pháp luật đã khiến cho chứng khoán hóa khó
có cơ sở để thực hiện, đồng thời các ngân hàng thương mại không lựa chọn
được phương pháp xử lý nợ xấu hiệu quả hơn. Hai phương án xử lý nợ xấu
được sử dụng nhiều nhất hiện nay là các NHTM tự xử lý nợ xấu bằng các
phương pháp nghiệp vụ (thu hồi nợ, giảm/giãn nợ, chuyển cho công ty quản
lý tài sản thuộc ngân hàng đó…) và bán nợ cho VAMC. Tuy nhiên, hai giải
pháp này chưa đạt được hiệu quả cao. Một số tổ chức tín dụng đã áp dụng
chứng khoán hóa vào giải quyết nợ xấu như trường hợp của Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội. Ngân hàng đã phối hợp với DATC
(Debt and Asset Trading Corporation-Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán
nợ Việt Nam) chuyển hóa khoản nợ xấu, nợ quá hạn của Công ty cổ phần
Thủy sản Bình An thành cổ phần. Nhờ vậy, công ty này đã được tái cấu trúc,
được quản trị, điều hành bởi Ngân hàng SHB và DATC. Ngân hàng đang là
chủ nợ thành cổ đông lớn, cổ đông nắm đa số cổ phần nếu nhận thấy sau tái
cấu trúc doanh nghiệp có khả năng tồn tại và phát triển [35]. Chứng khoán
hóa nợ xấu là công cụ mới trong thị trường chứng khoán nợ xấu ở Việt Nam
nên cần phải có các văn bản hướng dẫn từ các cơ quan quản lý Nhà nước. Nếu
hệ thống pháp luật Việt Nam sớm có khuôn khổ pháp lý hoàn thiện thì sẽ thúc
đẩy hoạt động chứng khoán hóa phát triển, giải quyết kịp thời tình hình nợ
xấu của các ngân hàng thương mại.
3.1. Các yếu tố tác động tới việc xây dựng pháp luật về chứng khoán
hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
61
Ở Việt Nam, chưa có các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể
về hoạt động chứng khoán hóa. Mặc dù, trong các nghị quyết về xử lý nợ xấu
đã đề ra nhu cầu áp dụng chứng khoán hóa và yêu cầu cần phải có hành lang
pháp lý để tạo điều kiện phát triển chứng khoán hóa. Việc xây dựng các văn
bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh chứng khoán hóa vẫn chỉ ở giai đoạn
nghiên cứu, xem xét. Các yếu tố tác động tới việc xây dựng pháp luật về
chứng khoán hóa cần được xem xét cụ thể.
Trước hết, sự phát triển của thị trường tài chính (trong đó có thị trường
chứng khoán), thị trường bất động sản có tác động đáng kể tới việc xây dựng
pháp luật. Pháp luật về chứng khoán hóa không chỉ bị tác động bởi thị trường
chứng khoán mà còn chịu tác động bởi thị trường bất động sản. Do, đối tượng
chứng khoán hóa chủ yếu là khoản nợ xấu được bảo đảm bằng bất động sản.
Khoản nợ xấu này phù hợp để tạo ra các sản phẩm tài chính chứng khoán hóa.
Các khoản vay nhà ở thường có tỷ lệ rủi ro thấp và dễ nhận ra nguy cơ vỡ nợ.
Việc đăng ký chuyển quyền sở hữu và có sự hỗ trợ của trung gian tài chính để
mua nhà, tạo hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất chưa được hiệu quả. Chính
vì thế, người đi vay thường gặp khó khăn trong việc bảo đảm khoản vay bởi
bất động sản. Hơn nữa, việc đánh giá rủi ro tín dụng, nói cách khác là việc ghi
nhận thu nhập của người đi vay còn gặp nhiều khó khăn. Các ngân hàng đôi
khi sẽ vẫn cho vay, tuy nhiên rủi ro mất khả năng thanh toán là khá lớn. Tại
Việt Nam, khoản vay lớn thường được bảo đảm bởi sổ đỏ - chứng từ ghi nhận
quyền sở hữu bất động sản. Chứng từ này sẽ được dùng làm tài sản thế chấp
cho khoản vay để có thể mua nhiều bất động sản hơn. Tuy nhiên, đối với
những người đi vay chưa có tài sản là bất động sản thì sẽ khó khăn hơn trong
việc đi vay. Trong một số trường hợp, người đi vay chưa sở hữu nhà ở và khó
khăn về mặt tài chính có thể được cung cấp (cho mượn) chứng từ ghi nhận
quyền sở hữu bất động sản từ các mối quan hệ như người thân, bạn bè. Điều
62
này mang lại nhiều rủi ro cho không chỉ người đi vay mà với cả người cung
cấp chứng từ. Một khía cạnh khác cần được xem xét là các nhà đầu tư phát
triển bất động sản vay vốn ngân hàng để phát triển nhà ở. Đây là những khoản
vay lớn được bảo đảm bởi bất động sản để nhà đầu tư tiến hành các dự án xây
dựng bất động sản của mình. Việc có thanh toán được khoản vay hay không
phụ thuộc nhiều vào vấn đề nhà đầu tư có bán được dự án không. Một thỏa
thuận hợp đồng 3 bên giữa ngân hàng, người đầu tư và người mua tiềm năng
được thiết lập cùng với việc giải ngân của các quỹ khi dự án được hoàn thành.
Loại hình cho vay này cũng đã ít đi do thị trường bất động sản có nhiều biến
động về giá và nhu cầu mua nhà ở của người dân trở nên bão hòa. Những hạn
chế về pháp lý trong cho vay mua nhà tạo ra rào cản khiến cho hoạt động
chứng khoán hóa vẫn khó có thể áp dụng đối với các khoản vay được bảo
đảm bằng bất động sản.
Trong thị trường tài chính còn có nhiều loại tài sản tài chính khác có
thể được chứng khoán hóa như các khoản phải thu thẻ tín dụng, các khoản
vay tự động. Tại Mỹ và Hàn Quốc, cho vay tiêu dùng (ví dụ: thẻ tín dụng ghi
nợ) khá phổ biến và là sản phẩm của chứng khoán hóa. Đối với Việt Nam, thẻ
tín dụng được sử dụng chủ yếu cho các giao dịch quốc tế và lượng người sử
dụng loại giao dịch này không nhiều. Phần lớn người dân vẫn sử dụng tiền
mặt cho các thanh toán và khoản vay cho tiêu dùng được giao dịch trực tiếp
bằng tiền mặt. Để có thẻ tín dụng, người vay cần phải cung cấp chứng từ ghi
nhận thu nhập hàng tháng, tài sản thế chấp bằng tiền mặt với ngân hàng. Cho
vay tiêu dùng ở Việt Nam vẫn đang trong quá trình phát triển. Trong thời gian
tới, cho vay tiêu dùng có thể trở thành tài sản tài chính là sản phẩm chủ yếu
cho chứng khoán hóa. Ngoài ra, các tài sản của doanh nghiệp nhà nước và hạ
tầng kỹ thuật (ví dụ: đường cao tốc thu phí) cũng có thể xem xét trở thành sản
phẩm chứng khoán hóa. Các dự án hạ tầng kỹ thuật như đường cao tốc ở Việt
63
Nam thường được thực hiện dựa trên vốn vay nước ngoài thông qua Chính
phủ, ít có sự tham gia của tư nhân. Do đó, ít có khả năng được chứng khoán
hóa khi xảy ra nợ xấu. Việc xây dựng pháp luật chứng khoán hóa cần phải có
quy định rõ ràng đối với từng loại tài sản.
Một yếu tố khác tác động đến việc xây dựng pháp luật về chứng khoán
hóa là thị trường vốn. Chứng khoán hóa cần có thị trường vốn phát triển đủ
tốt để đảm bảo cho các rủi ro được tạo ra bởi các sản phẩm chứng khoán hóa.
Thị trường vốn ở Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Các giao dịch cổ phiếu chủ
yếu là các doanh nghiệp sở hữu bởi Nhà nước hoặc một phần bởi Nhà nước.
Tính thanh khoản và mức độ công bố thông tin còn rất thấp. Mặt khác, chứng
khoán hóa được coi như một phương thức tái cơ cấu, cung cấp tính thanh
khoản cho thị trường vốn nhưng lại không thể thực hiện vai trò của mình.
Ngoài ra, chính sách tài chính của Nhà nước cũng tác động đến pháp
luật chứng khoán hóa. Chứng khoán hóa là nhu cầu tất yếu của các ngân hàng
thương mại để xử lý vấn đề nợ xấu. Khi Chính phủ ban hành các chính sách
về hỗ trợ, phát triển hoạt động chứng khoán hóa, khuôn khổ pháp lý sẽ có cơ
sở, định hướng để thiết lập các quy định cụ thể. Từ đó, các ngân hàng nhà
nước cũng như các chủ thể có liên quan sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện
chứng khoán hóa nợ xấu. Các chính sách sẽ đóng vai trò dẫn dắt, định hướng
không chỉ ở giai đoạn khởi đầu mà cả trong những giai đoạn tiếp sau đó. Hơn
nữa, các hoạt động của ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán đều
phải tuân theo các thông lệ quốc tế (như tiêu chuẩn Basel II, Basell IV). Các
thông lệ quốc tế cũng là cơ sở để xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa nợ
xấu, nhằm nâng cao tính tiêu chuẩn hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế. Hoạt
động chứng khoán hóa nợ xấu không chỉ hướng tới thu hút các nhà đầu tư
trong nước mà cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia. Các quy định phù hợp
với thông lệ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia
64
vào thị trường chứng khoán hóa được thuận lợi hơn.
Bên cạnh đó, yếu tố chính trị, văn hóa cũng tác động đến việc xây dựng
pháp luật về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại.
Yếu tố chính trị thể hiện việc mọi quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng
đối với chiến lược xây dựng pháp luật nói chung và xây dựng pháp luật về
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại phải được đề
ra kịp thời, phù hợp yêu cầu khách quan, đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn quản lý
của Nhà nước. Việc xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa các khoản nợ
xấu của ngân hàng thương mại phải phù hợp với chủ trương, chính sách của
Nhà nước về vấn đề chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại. Yếu
tố văn hóa cũng tác động tới việc xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa các
khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại.
3.2. Đánh giá tình hình xử lý nợ xấu và định hướng xây dựng pháp
luật về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở
Việt Nam
3.2.1. Đánh giá tình hình xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương
mại ở Việt Nam
Trong giai đoạn 2007-2015, tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam đã có nhiều
chuyển biến xấu ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, tại thời điểm 31/05/2012, nợ xấu của
hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47%. Thậm chí, tới thời điểm tháng
5/2015, tỷ lệ nợ xấu đạt tới 17,21% gấp đôi so với tại thời điểm 30/9/2012
tương đương 465.000 tỷ đồng cho vay không có khả năng thu hồi [7]. Để sớm
chấm dứt tình trạng gia tăng mạnh mẽ nợ xấu, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định 843/2013/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 về phê duyệt Đề án “Xử
lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án “Thành lập Công ty Quản lý Tài
sản của các TCTD Việt Nam (VAMC)”. Sau hơn 3 năm thực hiện, tình hình
65
nợ xấu đã được cải thiện đáng kể khi tính đến cuối tháng 2/2017, tỷ lệ nợ xấu
nội bảng do NHNN công bố giảm còn 2,56% [7]. Tuy nhiên, cần có những
chính sách mạnh mẽ hơn để có thể giải quyết dứt điểm nợ xấu. Năm 2017,
nhiều văn bản quy phạm pháp luật về xử lý nợ xấu đã được ban hành như:
Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của
các TCTD; Chỉ thị số 06/CT-NHNN ngày 20/7/2017 về việc thực hiện Nghị
quyết số 42 thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD; Thông tư số 09/2017/TT-
NHNN ngày 14/8/2017 về mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC để hướng
dẫn Điều 6 Nghị quyết 42; Quyết định 1058/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn liền với xử lý nợ
xấu giai đoạn 2016-2020”. Các quy định này sau khi có hiệu lực thi hành đã
góp phần giải quyết đáng kể nợ xấu còn tồn đọng. Quá trình cơ cấu lại và xử
lý nợ xấu của hệ thống các TCTD đã có được những chuyển biến tích cực và
thành công đáng kể (Bảng 1). Số liệu từ tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước
cho thấy nợ xấu giảm mạnh qua từng năm từ 2012-2018.
Bảng 3.1. Tình hình xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng
66
từ năm 2012-2018
Theo thống kê được công bố công khai trên các báo cáo tài chính quý
I/2019 của các ngân hàng thương mại cho thấy, tổng số nợ xấu nội bảng của
22 ngân hàng đến hết tháng 3/2019 là hơn 84.200 tỷ đồng, tăng hơn 4.600 tỷ
đồng so với thời điểm đầu năm. Tổng số nợ xấu đã tăng 5,9% so với thời
điểm hết năm 2018. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay của 22
ngân hàng chỉ đạt 3,46%. Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay của những ngân
hàng này tăng từ mức 1,62% lên 1,66% [1]. Trong quý I/2019, một số ngân
hàng thương mại có sự gia tăng nợ xấu như: Ngân hàng TMCP Công Thương
Việt Nam (VietinBank) tăng tới 2.272 tỷ đồng, lên mức 15.963 tỷ đồng; Ngân
hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng (VPBank) có nợ xấu tăng mạnh với 610
tỷ đồng, lên mức 8.376 tỷ đồng. Cuối tháng 3/2019, nợ xấu nội bảng tại Ngân
hàng TMCP Phương Đông (OCB) là 1.721 tỷ đồng, tăng 33,6% so với đầu
năm; tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) là 1.175 tỷ đồng, tăng 36,5%.
Tuy nhiên, một số ngân hàng lớn như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV); Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) có tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ. Sở dĩ có sự
khác biệt về sự tăng/giảm tỷ lệ nợ xấu giữa các ngân hàng là do việc quyết liệt
trong triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu. Các NHTM này đã chủ
động, linh hoạt xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về
thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD), quyết liệt trong bán tài
sản đảm bảo tiền vay đã thu giữ, kiểm soát chặt chẽ hạn chế tới mức thấp nhất
phát sinh các khoản nợ xấu mới [1]. Như vậy, việc xử lý nợ xấu của các ngân
hàng thương mại ở Việt Nam vẫn chưa đồng bộ, các giải pháp vẫn chưa đạt
được hiệu quả cao mà đòi hỏi phải thực hiện đồng thời nhiều giải pháp. Đây
là vấn đề mà không phải ngân hàng nào cũng có đủ năng lực và tiềm lực tài
chính để thực hiện. Do vậy, vẫn cần có những giải pháp mạnh mẽ hơn để xử
lý triệt để nợ xấu của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
67
3.2.2. Định hướng xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa các
khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra cam kết quốc tế chính thức
về phát triển thị trường chứng khoán hóa khi ký kết Kế hoạch hành động Hà
Nội. Việt Nam cùng với các nước trong khu vực Đông Nam Á đã đưa ra các
phương án hợp tác về phát triển thị trường vốn trong đó có cam kết về thúc
đẩy phát triển thị trường chứng khoán hóa [3]. Ngày 16/7/2017, Bộ Tài chính
ban hành Quyết định 2071/QĐ-BTC về triển khai Đề án “Cơ cấu lại hệ thống
TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”, nghiên cứu, xây dựng
khuôn khổ pháp lý cho hoạt động CKH các khoản nợ. Ngoài ra, Nghị quyết
42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín
dụng cũng đã đề cập đến vấn đề xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa nợ
xấu. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nào
về chứng khoán hóa nợ xấu. Việc xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa các
khoản nợ xấu cần phải có những định hướng cụ thể như sau:
Thứ nhất, pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu phải thể hiện được đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
Nghị quyết 42 của Chính phủ về thí điểm xử lý nợ xấu là cơ sở để thiết lập các
quy định về chứng khoán hóa. Bên cạnh đó, Chỉ thị 32/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội
về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã nêu cụ thể các nhiệm vụ,
giải pháp để xử lý nợ xấu và phát huy vai trò của Công ty Quản lý tài sản của
tổ chức tín dụng Việt Nam trong xử lý nợ xấu. Nghị quyết 01/NQ-CP của
Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019 đã nêu ra các mục tiêu
về xử lý nợ xấu để từ đó xây dựng các quy định đảm bảo hoàn thành các
mục tiêu đã đặt ra. Ngoài ra, Luật Chứng khoán 2019, Luật các tổ chức tín
68
dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành là căn cứ để ban hành Thông tư
điều chỉnh hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu. Trên cơ sở đó, cần xây
dựng được những quy định cụ thể, phù hợp với tình hình kinh tế, đặc biệt
cần tránh tình trạng quy định chồng chéo, mâu thuẫn. Hệ thống pháp luật
Việt Nam còn có nhiều quy định chồng chéo gây khó khăn khi áp dụng. Do
đó, khi xây dựng các quy định pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu, cần
nghiên cứu các văn bản pháp luật, quy định có liên quan để đảm bảo tính
đồng bộ, không mâu thuẫn giữa các quy định.
Thứ hai, pháp luật về chứng khoán hóa phải tương thích với các chuẩn
mực quốc tế về chứng khoán hóa nợ xấu [32]. Chứng khoán hóa nợ xấu có thể
còn xa lạ ở Việt Nam nhưng lại khá phổ biến trên thế giới. Chứng khoán hóa
nợ xấu là phương thức xử lý nợ mang lại hiệu quả cao do đó ngày càng
được phát triển. Sự phù hợp giữa pháp luật trong nước với thông lệ quốc tế
sẽ giúp chuẩn hóa hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu. Nhờ đó, chứng
khoán hóa nợ xấu có thể thu hút được các nhà đầu tư trong nước và nước
ngoài, tạo thêm nguồn vốn cho các ngân hàng thương mại. Trước hết, cần
phải nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ các nguyên tắc, chuẩn mực quốc
tế, đồng thời phải xem xét tình hình thực tế ở Việt Nam để vận dụng thông
lệ quốc tế được linh hoạt.
Thứ ba, xây dựng và ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh cụ thể về
hoạt động chứng khoán hóa trong đó có chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
của ngân hàng thương mại. Hàn Quốc có đạo luật riêng biệt để điều chỉnh
hoạt động chứng khoán hóa, trong khi Hoa Kỳ điều chỉnh bởi các quy định
của bang và tiểu bang. Xây dựng được đạo luật cụ thể điều chỉnh chứng
khoán hóa ở Việt Nam đòi hỏi phải có chính sách, định hướng của Nhà nước.
Trước hết, các quy định nên được xây dựng dưới dạng Thông tư để có thể
điều chỉnh cụ thể được các vấn đề liên quan đến chứng khoán hóa.
Thứ tư, cần có sự liên kết giữa các quy định về chứng khoán hóa nợ
69
xấu với quy định về các vấn đề có liên quan. Trong đó, các quy định của Luật
chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng, Luật thuế và các văn bản hướng dẫn
cần, các văn bản quy định về xử lý nợ xấu được coi là cơ sở để quy định hoạt
động chứng khoán hóa của các ngân hàng thương mại. Chứng khoán hóa nợ
xấu đem lại lợi ích lớn cho không chỉ các ngân hàng thương mại mà còn của
các nhà đầu tư và cơ quan trung gian chuyên trách (tổ chức phát hành). Khoản
lợi ích này là khoản thu nhập có được từ việc kinh doanh chứng khoán (cụ thể
là kinh doanh các loại chứng khoán được hình thành nợ xấu). Do đó, cần phải
áp một mức thuế cụ thể đối loại thu nhập này. Trong hoạt động chứng khoán
hóa, không chỉ có các nhà đầu tư trong nước tham gia mà còn có sự tham gia
của nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đóng góp nguồn
ngoại tệ lớn cho giao dịch chứng khoán hóa. Bên cạnh đó, đối với các trái
phiếu phát hành ra nước ngoài cũng cần phải xem xét vấn đề khấu từ thuế.
Ngoài ra, cần phải quy định cơ chế ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro hệ thống.
Chứng khoán hóa nợ xấu liên quan tới các thị trường ngân hàng, thị trường
bất động sản,… Khi một thị trường gặp khủng hoảng sẽ kéo theo các thị
trường còn lại bị ảnh hưởng (trường hợp khủng hoảng tài chính năm 2008 tại
Hoa Kỳ) dẫn đến sụp đổ hệ thống tài chính. Bên cạnh việc đồng bộ các quy
định pháp luật thì cần phải có các quy định hạn chế rủi ro hệ thống, ngăn ngừa
rủi ro, đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành trong
việc giám sát, khắc phục rủi ro.
Thứ năm, pháp luật chứng khoán hóa nợ xấu cần có quy định để bảo vệ
nhà đầu tư mua chứng khoán. Trong các chủ thể tham gia chứng khoán hóa
nợ xấu, nhà đầu tư là chủ thể chính và rất dễ phải chịu rủi ro, trong trường
hợp khắc nghiệt có thể phải chịu rủi ro quá mức. Nhà đầu tư không nhận thức
được rủi ro liên quan đến họ. Tỷ lệ lợi nhuận mà các nhà đầu tư kiếm được
dựa trên các khoản thanh toán gốc và lãi liên quan được thực hiện dựa trên
các khoản vay và nghĩa vụ cơ bản của các chủ nợ hoặc người vay. Nếu người
70
vay thanh toán sớm các khoản vay so với thời hạn đồng nghĩa với việc lợi
nhuận mà nhà đầu tư nhận được sẽ thấp, đôi khi họ có thể bị lỗ. Nếu nhà đầu
tư không được bảo vệ bởi pháp luật thì họ sẽ ít có khả năng tham gia vào thị
trường chứng khoán, nghĩa là hoạt động chứng khoán hóa sẽ không đạt được
hiệu quả. Do vậy, pháp luật cần có các quy định để bảo vệ quyền lợi của nhà
đầu tư, tạo điều kiện cho họ tham gia vào hoạt động chứng khoán hóa, đồng
thời thúc đẩy hoạt động chứng khoán hóa.
3.3. Một số nội dung chủ yếu của pháp luật về chứng khoán hóa các
khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
3.3.1. Về đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chứng
khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại
Trước hết, pháp luật về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại phải xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp
dụng. Pháp luật về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng
thương mại điều chỉnh trình tự, thủ tục của hoạt động chứng khoán hóa nợ
xấu; quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động chứng khoán hóa
nợ xấu; vi phạm và xử lý vi phạm, tranh chấp trong hoạt động chứng khoán
hóa nợ xấu; bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư tham gia chứng khoán hóa
nợ xấu. Đối tượng áp dụng là các ngân hàng thương mại, các tổ chức định
mức tín nhiệm, các tổ chức trung gian chuyên trách, các tổ chức, cá nhân
Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia hoạt động chứng khoán
hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại.
Các khoản nợ xấu được chứng khoán hóa bao gồm nhiều loại khác
nhau trong đó phổ biến nhất là các khoản nợ xấu được thế chấp bằng bất động
sản. Hàn Quốc thiết lập một đạo luật riêng biệt để điều chỉnh hoạt động chứng
khoán hóa liên quan tới khoản vay này. Tại Việt Nam, thị trường bất động sản
vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Trước hết, cần xây dựng quy định cụ thể về
71
nguồn gốc của tài sản. Trong nhiều trường hợp, người đi vay mượn giấy tờ
chứng nhận để đi vay tại ngân hàng thương mại. Khi người vay mất khả năng
thanh toán, ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm gặp khó khăn do tranh chấp giữa
người vay và người cho mượn tài sản. Quy định về các khoản nợ xấu cần phải
chặt chẽ hơn trong việc cho vay cũng như xác minh nguồn gốc, tính chất của
tài sản. Khi thực hiện chứng khoán hóa đối với các khoản nợ xấu được thế
chấp bằng tài sản, các giấy tờ sẽ được chuyển nhượng cho nhà đầu tư. Nếu
các giấy tờ không đảm bảo quyền sở hữu và tính sở hữu sẽ gây ra rủi ro lớn
cho nhà đầu tư. Tại Hoa Kỳ, pháp luật quy định chặt chẽ về cho vay thế chấp
bằng nhà ở, bất động sản do đó, loại chứng khoán được bảo đảm bằng bất
động sản có rủi ro tín dụng thấp nhất.
Quy trình chứng khoán hóa nợ xấu được bảo đảm bằng bất động sản
cần phải được quy định rõ ràng. Luật Chứng khoán có quy định về Quỹ Đầu
tư Bất động sản (REIF) gồm hai loại hình là: Quỹ đầu tư bất động sản và
Công tư đầu tư chứng khoán bất động sản. Theo quy định, quỹ này có thể
phát hành chứng khoán và phải được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khoán. Thực tế thì, REIF vẫn chưa được thành lập. Nếu REIF được thành lập
thì có thể tiến hành chứng khoán hóa các khoản vay bất động sản một cách
chuyên trách [14]. Như vậy, SPV có thể tập trung chứng khoán hóa các khoản
vay khác, tránh tình trạng quá tải, không thể xử lý hết nợ xấu. Khi vay vốn tại
các ngân hàng thương mại, người vay thường thế chấp khoản vay bằng quyền
sử dụng đất và việc thế chấp này phải được đăng ký (theo quy định tại Nghị
định 163/2006/NĐ-CP). Với sự phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin hiện
nay, hệ thống dữ liệu đất đai đã được hình thành theo quy định tại Thông tư
34/2014/TT-BTNMT và Quyết định 3196/QĐ-BTNMT năm 2019. Qua đó,
các chủ thể có thể tìm hiểu thông tin bất động sản qua đó tiết kiệm được thời
gian tìm kiếm thông tin.
72
Bên cạnh đó, các khoản phải thu là sản phẩm chứng khoán hóa tiềm
năng cần được phát triển trong tương lai. Hiện nay, các khoản phải thu (thẻ
ghi nợ) chưa phát triển ở Việt Nam, nhưng với xu hướng thanh toán không
dùng tiền mặt và cho vay tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới thì
Việt Nam phải sớm có các quy định về loại sản phẩm này để phát triển thị
trường tín dụng và hội nhập với quốc tế.
Như vậy, pháp luật về chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại được áp dụng đối với các ngân hàng thương mại có các
khoản nợ xấu, các tổ chức định mức tín nhiệm, các tổ chức trung gian
chuyên trách, các tổ chức, cá nhân Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước
ngoài tham gia hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương
mại. Ngoài ra, pháp luật cần quy định rõ trình tự, thủ tục thực hiện chứng
khoán hóa các khoản nợ xấu nói chung, trong đó có chứng khoán hóa các
khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại; quyền và lợi ích của các chủ thể
tham gia hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu; vi phạm và xử lý vi phạm,
tranh chấp trong hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu; bảo vệ quyền lợi của
các nhà đầu tư tham gia chứng khoán hóa nợ xấu.
3.3.2. Về chủ thể tham gia hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của
ngân hàng thương mại
Các chủ thể tham gia chứng khoán hóa nợ xấu đóng vai trò khác nhau,
do đó pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu cần xác định cụ thể quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể đó.
Tổ chức khởi tạo nắm giữ vai trò cơ sở để thực hiện chứng khoán hóa
nên cần phải quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của tổ chức khởi tạo. Các tổ
chức khởi tạo được điều chỉnh bởi pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu là
các ngân hàng thương mại. Tổ chức khởi tạo có quyền và nghĩa vụ sau đây:
cung cấp đầy đủ thông tin về khoản nợ xấu và các tài sản bảo đảm của khoản
73
nợ khi chuyển khoản nợ cho tổ chức trung gian chuyên trách; chuyển nhượng
tất cả các quyền, quyền sở hữu và lợi ích trong các khoản phải thu sau khi bán
cho SPV; tuân thủ các điều kiện về xác định khoản nợ xấu; chịu hoàn toàn
trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của các tài liệu, thông tin, dữ liệu
cung cấp và có trách nhiệm giải trình, báo cáo bổ sung các nội dung liên quan
tới việc định giá tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu; tuân thủ các quy định về
tạo lập chứng khoán từ các khoản nợ xấu.
Trong quy trình chứng khoán hóa, SPV đóng vai trò đặc biệt quan
trọng. Tại Hàn Quốc, Chính phủ ban hành một đạo luật riêng biệt để điều
chỉnh hoạt động của cơ quan trung gian chuyên trách đó là Đạo luật quản lý
hiệu quả tài sản nợ xấu của các tổ chức tài chính và thành lập Tổng công ty
quản lý tài sản Hàn Quốc (Act on Efficient Management of Non-performing
Assets of Financial Institutions and Establishment of Korea Asset Management
Corporation – the KAMCO Act). Đạo luật này quy định cụ thể về tổ chức,
hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức trung gian chuyên trách. Nhờ đó,
hoạt động của KAMCO nói riêng cũng như hoạt động chứng khoán luôn được
điều chỉnh bởi khuôn khổ pháp lý cụ thể [42]. Ngoài ra, Đạo luật ABS Hàn
Quốc cũng quy định về SPV. Việt Nam cần có quy định cụ thể về thành lập
SPV để thực hiện chứng khoán hóa một cách bài bản vì hiện tại chưa có cơ
quan trung gian chuyên trách nào tại Việt Nam tham gia hoạt động chứng
khoán hóa. Thực tế thì, AMC, VAMC và DATC có thể tham gia hoạt động
chứng khoán hóa với tư cách là SPV. Để tạo điều kiện cho các cơ quan này
tham gia chứng khoán hóa hiệu quả nhất thì trước hết phải hoàn thiện các quy
định về hoạt động của AMC, VAMC và DATC. Có hai phương thức có thể
lựa chọn để điều chỉnh hoạt động của SPV đó là xây dựng luật riêng biệt để
điều chỉnh SPV hoặc ban hành các quy định dưới hình thức thông tư, nghị
định. Với tình hình hiện tại ở Việt Nam thì nên có những quy định dưới dạng
74
thông tư để có thể kịp thời điều chỉnh, tạo điều kiện thực hiện hoạt động
chứng khoán hóa.
SPV cần được quy định về việc thành lập dưới hình thức một doanh
nghiệp. Để linh hoạt trong việc xử lý nợ xấu thì có thể thúc đẩy việc sử dụng
các công ty cổ phần và các công ty trách nhiệm hữu hạn như là SPV bằng một
đạo luật quy định cụ thể về hoạt động kinh doanh của SPV, các biện pháp
giảm thuế, miễn thuế, các trường hợp hạn chế kinh doanh,…[17]. Các SPV
phải đặc biệt độc lập với chủ nợ ban đầu (ngân hàng thương mại). Theo pháp
luật Mỹ, SPV có thể được thành lập dưới dạng Quỹ từ thiện, nghĩa là các luật
sư thành lập SPV với tư cách thành viên sáng lập và đăng ký mua toàn bộ cổ
phần của SPV. Các luật sự này chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của SPV cho
một người được ủy thác. Người được ủy thác sẽ tuyên bố sự tín thác đối với
các cổ phần của SPV và có nghĩa vụ thực thi quyền cổ đông liên quan đến
mục đích chứng khoán hóa. Người được ủy thác cũng phải hứa đóng góp tất
cả các tài sản còn lại của SPV cho quỹ từ thiện sau khi kết thúc quan hệ ủy
thác. Trong trường hợp này, SPV tồn tại mà không có một cổ đông thực tế
nào [17, tr.55]. Bên cạnh đó, cần có quy định về việc miễn/giảm thuế đối với
việc chuyển nhượng nợ xấu nhằm tạo lợi nhuận tối đa cho các nhà đầu tư.
Pháp luật về chứng khoán hóa nên có quy định rõ ràng về hoạt động kinh
doanh của SPV chỉ bao gồm mua và bán các quyền đòi nợ.
Đồng thời, quyền và nghĩa vụ của SPV cần được quy định cụ thể trong
văn bản quy phạm pháp luật. SPV phải đảm bảo sau khi mua các khoản nợ
xấu từ tổ chức khởi tạo sẽ tiến hành tạo ra các chứng khoán mới và phát hành
chứng khoán. SPV phải đăng ký kế hoạch kinh doanh chứng khoán hóa nợ
xấu của ngân hàng thương mại và chỉ được hoạt động theo kế hoạch kinh
doanh đã đăng ký. Thông tin về chứng khoán cũng cần được tổ chức phát
hành công bố công khai để các nhà đầu tư nắm được các thông tin về sản
75
phẩm mà họ muốn đầu tư. SPV có nghĩa vụ báo cáo tài chính và tuân thủ
kiểm toán độc lập về hoạt động kinh doanh.
Việc thành lập và vận hành các tổ chức xếp hạng tín dụng trong hoạt
động chứng khoán hóa đóng vai trò quan trọng giúp định giá tài sản đúng
đắn và để cung cấp kịp thời, chính xác các thông tin cho nhà đầu tư. Pháp
luật Việt Nam cũng đã có những quy định về tổ chức xếp hạng tín dụng tại
Thông tư 52/2018/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc
quy định xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Nghị
định 88/2014/NĐ-CP quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm. Tại các văn
bản này đã đưa ra quy định về vốn pháp định, yêu cầu về điều kiện đối với
người quản lý của tổ chức xếp hạng tín dụng,... Các tổ chức xếp hạng tín
nhiệm có quyền cung cấp dịch vụ xác định giá trị các khoản nợ được chứng
khoán hóa và được nhận chi phí từ việc cung cấp dịch vụ đó. Đồng thời, các
tổ chức định mức tín nhiệm chỉ được cung cấp các dịch vụ đã đăng ký trong
Giấy phép kinh doanh; việc xác định giá trị khoản nợ phải minh bạch, trung
thực, khách quan, tuân theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm về kết
quả đã thực hiện trước pháp luật và tổ chức được cung cấp dịch vụ theo hợp
đồng dịch vụ đã ký kết.
Chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại có thể mang lại
nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư hơn các loại chứng khoán khác. Do đó, cần
xây dựng một thực thể với vai trò hỗ trợ các nhà đầu tư tham gia mua chứng
khoán được tạo lập từ chứng khoán hóa nợ xấu. Hiện nay, Luật Chứng khoán
2019 quy định về Công ty quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành
từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vào
chứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu
tư không có quyền kiểm soát hằng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của
quỹ. Các nhà đầu tư có thể góp vốn vào Quỹ đầu tư chứng khoán để Quỹ thực
76
hiện việc mua chứng khoán được tạo lập từ các khoản nợ xấu. Điều này sẽ
giúp các nhà đầu tư nhỏ tránh được rủi ro do thiếu hiểu biết, kinh nghiệm
trong việc đầu tư chứng khoán hóa. Khi đó, Quỹ đầu tư chứng khoán sẽ có vai
trò là nhà đầu tư trong hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại. Pháp luật cần quy định cụ thể hoạt động, quyền lợi, trách
nhiệm của Quỹ đầu tư chứng khoán trong hoạt động đầu tư vào chứng khoán
hóa nợ xấu. Nhà đầu tư có quyền tham gia và thực hiện các giao dịch chứng
khoán, nghĩa là nhà đầu tư được mua các loại chứng khoán có trên thị trường
chứng khoán cụ thể là chứng khoán nợ xấu. Nhà đầu tư có quyền được cung
cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời. Giá trị của chứng khoán được tạo ra
bởi hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu phụ thuộc chủ yếu vào giá trị của tài
sản bảo đảm cho khoản nợ đó. Do vậy, nhà đầu tư cần được biết các thông tin
về ngân hàng thương mại sở hữu khoản nợ xấu, tổ chức phát hành, giá trị của
khoản nợ và tài sản bảo đảm để có thể giảm thiểu rủi ro khi mua chứng
khoán. Khi đã sở hữu chứng khoán, nhà đầu tư có quyền được hưởng các lợi
ích từ chứng khoán mà họ đang sở hữu như lợi nhuận. Đồng thời, nhà đầu tư
cũng có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ giá trị của chứng khoán.
Tóm lại, pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương
mại quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể gồm: tổ chức khởi
tạo; tổ chức trung gian chuyên trách; tổ chức định mức tín nhiệm; nhà đầu tư.
Tổ chức khởi tạo có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ thông tin về khoản nợ xấu và
các tài sản bảo đảm của khoản nợ khi chuyển khoản nợ cho tổ chức trung gian
chuyên trách; chuyển nhượng tất cả các quyền, quyền sở hữu và lợi ích trong
các khoản phải thu sau khi bán cho SPV;… Trong khi đó, SPV phải đăng ký
kế hoạch kinh doanh chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại và
chỉ được hoạt động theo kế hoạch kinh doanh đã đăng ký, phải công bố đầy
đủ thông tin liên quan đến tài sản bảo đảm của chứng khoán nợ xấu. Các tổ
77
chức định mức tín nhiệm thực hiện việc định giá các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại nên chủ thể này có quyền cung cấp các dịch vụ định giá
khoản nợ xấu và nhận chi phí từ các dịch vụ đó. Đồng thời, các tổ chức định
mức tín nhiệm phải chịu trách nhiệm đối với kết quả của việc định giá khoản
nợ xấu đã thực hiện. Các nhà đầu tư tham gia chứng khoán hóa nợ xấu của
ngân hàng thương mại là chủ thể yếu thế nhất trong 4 chủ thể nên cần quy
định các quyền của nhà đầu tư như: được cung cấp đầy đủ thông tin về khoản
nợ xấu, các tài sản bảo đảm; hưởng đầy đủ các lợi ích từ việc mua chứng
khoán nợ xấu. Các chủ thể có mối liên hệ gắn bó mật thiết với nhau nhằm
đảm bảo hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại được
thực hiện hiệu quả. Tổ chức trung gian chuyên trách và tổ chức định mức tín
nhiệm phối hợp với nhau để tạo ra các chứng khoán nợ xấu sau đó phát hành
tới các nhà đầu tư. Nhờ đó, các ngân hàng thương mại giải quyết được vấn đề
nợ xấu. Các chủ thể này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau và không thể thiếu bất
kỳ chủ thể nào trong quá trình chứng khoán hóa nợ xấu.
3.3.3. Về trình tự, thủ tục chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng
thương mại
Để hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại được
thực hiện đồng bộ, hiệu quả thì cần có các quy định về trình tự, thủ tục thực
hiện chứng khoán hóa. Các quy định này sẽ tạo ra khuôn khổ để chứng khoán
hóa nợ xấu được thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định, hạn chế tối đa các
rủi ro, vi phạm. Quy trình chứng khoán hóa được thực hiện qua 3 giai đoạn
gồm: Giai đoạn 1: Hình thành các khoản vay và dẫn đến nợ xấu của tổ chức
tín dụng; Giai đoạn 2: Các tổ chức tín dụng bán các khoản nợ xấu cho Tổ
chức trung gian chuyên trách; Giai đoạn 3: Tổ chức trung gian chuyên trách
nhóm các khoản nợ xấu thành trái phiếu và phát hành ra công chúng. Trước
hết, quá trình hình thành khoản vay phải quy định chặt chẽ các nguyên tắc,
78
quy chế về cho vay, lãi suất, tài sản bảo đảm, hạn mức, công bố thông tin.
Nếu ngay từ bước này, các ngân hàng thương mại tuân thủ quy chế, khi xảy ra
nợ xấu và phải áp dụng chứng khoán hóa sẽ giảm được rủi ro cho nhà đầu tư,
các ngân hàng cũng dễ dàng hơn trong việc xử lý nợ xấu. Bên cạnh đó, cần
quy định ngân hàng thương mại khi bán các khoản vay cho SPV sẽ đồng thời
chuyển giao nợ xấu cho SPV. Điều này nhằm chuyển nợ xấu khỏi bảng cân
đối kế toán của chủ nợ ban đầu (ngân hàng thương mại). Hơn nữa, thủ tục phá
sản cần tách biệt với hoạt động chứng khoán hóa. Trong trường hợp chủ sở
hữu ban đầu bị phá sản, thủ tục bị phá sản sẽ được thực hiện mà không ảnh
hưởng tới các khoản nợ xấu đã được chứng khoán hóa trước đó. Ngân hàng
thương mại và SPV độc lập về kinh tế, không có bất kỳ tác động kinh tế lẫn
nhau, do đó, việc phá sản của ngân hàng thương mại sẽ không ảnh hưởng tới
khoản vay được chứng khoán hóa. Chính phủ có thể cân nhắc sử dụng SPV
nước ngoài với tư cách là một định chế có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên,
cần phải quy định cụ thể mức đánh thuế đối với tổ chức này. Hoạt động
chứng khoán hóa có thể bị đánh thuế nhiều lần từ bước phát hành của tổ chức
và cổ tức trước khi lợi nhuận đến tay nhà đầu tư. Lợi nhuận mà nhà đầu tư
nhận được sẽ phải chịu hai lần thuế do đó sẽ bị giảm đáng kể. Các nhà đầu tư
sẽ không có hứng thú với việc mua chứng khoán này vì mục đích của họ chỉ
là lợi nhuận. Họ sẽ tìm đến những hướng đầu tư khác mang lại lợi nhuận cao
hơn. Do vậy, cần phải xây dựng các quy định miễn thuế, giảm thuế, tránh
đánh thuế hai lần để bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư.
Chứng khoán được hình thành từ hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu sẽ
được tổ chức phát hành chia thành nhiều đợt khác nhau. Nhờ đó, có thể thu
hút được nhiều nhà đầu tư tham gia hơn. Đối với Việt Nam, để có thể chia
được nhiều đợt phát hành và đạt được kết quả tốt nhất thì nên quy định số
lượng phát hành trong từng đợt. Khoảng thời gian phát hành giữa các đợt
79
cũng nên quy định với mức hợp lý. Hoạt động chứng khoán hóa ở Việt Nam
chưa phát triển nên cần phải quy định cụ thể để các chủ thể tham gia có được
định hướng rõ ràng. Bên cạnh đó, các tổ chức phát hành cũng có thể tách các
nguồn thanh toán thành các phần ưu tiên và các phần thứ yếu, phát hành
chứng khoán theo loại chứng khoán hoặc các đợt chứng khoán theo mức độ
rủi ro hoặc lợi nhuận khác nhau.
Pháp luật Việt Nam đang thiếu các quy định về việc phát hành chứng
khoán được hình thành bởi hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu, hay chứng
khoán được phát hành bởi SPV. Hiện nay, theo quy định tại Luật Chứng
khoán 2019, việc chào bán chứng khoán ra công chúng phải được đăng ký tại
Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Tổ chức chào bán chứng khoán phải cung cấp
được bản cáo bạch, quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương
án phát hành, phương án sử dụng vốn thu được và cam kết niêm yết hoặc
đăng ký giao dịch chứng khoán trên hệ thống giao dịch chứng khoán có tổ
chức;… Việc chào bán chứng khoán riêng lẻ cũng phải được đăng ký và phải
đảm bảo nghĩa vụ công bố thông tin. Hoạt động môi giới và bảo lãnh phát
hành chứng khoán cũng phải tuân theo các quy định của Luật Chứng khoán.
Tuy nhiên, các quy định này chưa phù hợp với hoạt động với chứng khoán
hóa. Việc phát hành chứng khoán bởi SPV không thỏa mãn các yêu cầu của
Luật Chứng khoán và các quy định khác về chứng khoán. Hơn nữa, chưa có
quy định pháp luật cụ thể nào về việc phát hành loại chứng khoán này. Do đó,
cần thiết phải có các quy định hướng dẫn quy trình phát hành chứng khoán,
yêu cầu đối với hồ sơ đăng ký chứng khoán, quản lý hoạt động báo cáo, công
bố thông tin. Ngoài ra, cần có quy định cụ thể về thị trường giao dịch đối với
chứng khoán được tạo lập bởi chứng khoán hóa nợ xấu. Về bản chất, chứng
khoán nợ xấu khác biệt so với các loại chứng khoán thông thường. Để đưa
chứng khoán nợ xấu vào giao dịch trên thị trường chứng khoán thông thường
80
thì chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện để có thể được niêm yết trên sàn
chứng khoán. Tuy nhiên, xét về các điều kiện cụ thể đối với chứng khoán
thông thường được niêm yết thì chứng khoán nợ xấu khó đáp ứng được các
điều kiện đó. Hơn nữa, nếu đưa chứng khoán hóa giao dịch trên thị trường phi
tập trung thì sẽ khó bán được. Bởi, đối với các nhà đầu tư Việt Nam thì chứng
khoán hóa nợ xấu vẫn còn mới mẻ, nhiều rủi ro, nhà đầu tư không có nhiều
thông tin về chứng khoán nên không dễ để các nhà đầu tư lựa chọn mua
chứng khoán hóa. Do vậy, pháp luật Việt Nam nên xem xét, học hỏi kinh
nghiệm từ các nước khác để thiết lập một Sở giao dịch chứng khoán có vốn,
chủ sở hữu, điều lệ, quyền và nghĩa vụ riêng cho chứng khoán hóa nợ xấu của
ngân hàng thương mại. Pháp luật quy định về điều kiện để chứng khoán hóa
được giao dịch như điều kiện về xếp hạng tín nhiệm, vốn, của tổ chức phát
hành, điều kiện đăng ký giao dịch,…
Tóm lại, pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu cần quy định trình tự
thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại trải qua 03 giai
đoạn và các hoạt động cụ thể phải thực hiện trong từng giai đoạn. Từ đó, các
chủ thể khi thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu có cơ sở pháp lý để tiến hành
hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.
3.3.4. Về vi phạm và xử lý vi phạm trong hoạt động chứng khoán hóa
nợ xấu của ngân hàng thương mại
Hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu là quá trình phức tạp, mang lại lợi
nhuận cao cho các nhà đầu tư nên dễ xảy ra vi phạm pháp luật trong quá trình
thực hiện. Bên cạnh quy định hướng dẫn thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu
của ngân hàng thương mại thì cần có quy định về chế tài xử lý vi phạm pháp
luật. Pháp luật cần quy định cụ thể các hành vi vi phạm, chế tài xử lý và chủ
thể có trách nhiệm xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động chứng khoán hóa
nợ xấu của ngân hàng thương mại. Ngay từ hoạt động cho vay của ngân hàng
81
thương mại, các hành vi vi phạm đã có thể xuất hiện. Các giấy tờ đảm bảo
khoản vay có khả năng bị làm giả mà ngân hàng thương mại không thể kiểm
soát. Hoặc, việc khai báo thông tin sai sự thật, gây nhầm lẫn trong quá trình
đăng ký có thể xảy ra. Ngoài ra, quá trình chuyển nhượng quyền đòi nợ, các
tài sản chứng khoán hóa có thể bị làm sai lệch thông tin, không quản lý tài sản
theo đúng quy định pháp luật, hoặc cung cấp tài liệu không đầy đủ, vi phạm
nghĩa vụ,…Bên cạnh đó, phổ biến hơn là hành vi thao túng thị trường chứng
khoán, gian lận chứng khoán, giao dịch nội gián. Các hành vi này không chỉ
gây ảnh hưởng tới lợi ích của các nhà đầu tư, mục đích xử lý nợ xấu của ngân
hàng thương mại mà còn gây hậu quả tới hệ thống tín dụng. Theo quy định
pháp luật của Hàn Quốc và Hoa Kỳ, các hành vi này có thể áp dụng chế tài
phạt hành chính hoặc hình sự (nếu gây hậu quả nghiêm trọng). Trong một số
trường hợp có thể áp dụng cả hai chế tài hành chính và hình sự. Ở Việt Nam,
hoạt động chứng khoán hóa vẫn chưa phổ biến nên chưa xảy ra vi phạm. Tuy
nhiên, trong thời gian tới, khi hoạt động chứng khoán hóa được tập trung phát
triển hơn tất yếu sẽ xuất hiện các vi phạm. Do đó, pháp luật về chứng khoán
hóa phải thiết lập các chế tài hành chính cụ thể. Các mức phạt hành chính cần
được xây dựng dựa trên chủ thể của hành vi vi phạm, mức độ vi phạm của
hành vi và mức độ nghiêm trọng mà hành vi gây ra. Theo Luật Chứng khoán
2019, mức phạt tiền tối đa trong xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi
vi phạm trong hoạt động chứng khoán là 3 tỷ đồng. Đây là cơ sở để quy định
cụ thể về mức phạt hành chính đối với từng hành vi vi phạm trong hoạt động
chứng khoán hóa nợ xấu. Đồng thời, cần phải thiết lập các chế tài hình sự như
hình phạt tù. Nếu hành vi vi phạm gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích của
không chỉ nhà đầu tư mà còn của các chủ thể và hệ thống tài chính thì cần
phải áp dụng chế tài hình sự. Trong trường hợp cần thiết, có thể áp dụng cả
hai chế tài hành chính và hình sự để tăng tính răn đe, giáo dục.
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu có xảy ra
82
tranh chấp giữa các chủ thể về quyền và lợi ích thì việc giải quyết cần phải
được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào mức độ tranh
chấp để áp dụng các biện pháp giải quyết khác nhau như thương lượng, hòa
giải, trọng tài, tòa án. Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận với nhau để lựa
chọn các phương thức giải quyết. Khi thực hiện giao dịch, các bên có thể thỏa
thuận đề nghị cơ quan có thẩm quyền như Sở Giao dịch chứng khoán là bên
trung gian hòa giải khi có tranh chấp xảy ra. Trong trường hợp tranh chấp
không thể giải quyết bằng thương lượng, hòa giải, các bên tranh chấp yêu cầu
Trọng tài hoặc nộp đơn khởi kiện tới Tòa án để được giải quyết. Nếu chủ thể
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong hoạt động
chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại mà gây ra thiệt hại thì
phải bồi thường, thực hiện các trách nhiệm dân sự khác theo thỏa thuận dân
sự và quy định của pháp luật. Đối với trường hợp tranh chấp liên quan tới tài
sản bảo đảm, cần xem xét để áp dụng thủ rút gọn để giải quyết. Theo quy định
tại Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP (Nghị quyết 03) hướng dẫn áp dụng
một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài
sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân để triển khai thực hiện các
chính sách tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý
nợ xấu của các tổ chức tín dụng, các tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo
đảm, quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, thỏa thuận nghĩa vụ giao
tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, tranh chấp không có đương sự cư trú ở
nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài được áp dụng thủ tục rút gọn để
giải quyết. Như vậy, trong quá trình thực hiện chứng khoán hóa nợ xấu của
ngân hàng thương mại, nếu các bên xảy ra tranh chấp liên quan đến tài sản
bảo đảm và có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp theo thủ
tục rút gọn thì Tòa án có thể áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp
theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Báo cáo của Ngân hàng Agribank cho
83
biết, ngân hàng này có 11 hồ sơ xin áp dụng thủ tục rút gọn được Tòa án thụ
lý, song chưa hồ sơ nào được xử lý do Tòa kết luận chưa đủ điều kiện. Tương
tự, trong số 12 hồ sơ của BIDV đang được Tòa án xem xét xử lý, thì có 6 hồ sơ
đã được trả lời là sẽ chuyển sang xét xử theo thủ tục thông thường. Như vậy,
trình tự rút gọn theo Nghị quyết 42 hầu như chưa được tòa án áp dụng. Nguyên
nhân được đưa ra là do thủ tục pháp lý phức tạp, vướng mắc các rào cản của thị
trường mua bán nợ nên khó áp dụng thủ tục rút gọn. Công tác hướng dẫn tố
tụng, thi hành án còn chưa có được hướng dẫn cụ thể của Tòa án nhân dân tối
cao về việc áp dụng các thủ tục tố tụng rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên
quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án [7]. Do vậy cần sớm có các văn bản hướng
dẫn thủ tục rút gọn trong xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là các tài sản bảo đảm
liên quan đến hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu. Các quy định hướng dẫn quy
trình áp dụng thủ tục rút gọn, thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ về thuế, phí xử
lý tài sản bảo đảm,… cần sớm được ban hành.
Như vậy, các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động chứng khoán
hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại cần được cụ thể hóa tại các quy định
pháp luật như: hành vi làm giả giấy tờ; cung cấp tài liệu sai lệch; hành vi giao
dịch nội gián; hành vi thao túng thị trường chứng khoán;… Tùy thuộc vào
mức độ vi phạm để áp dụng các mức chế tài phù hợp như cung cấp tài liệu sai
lệch có thể bị xử phạt hành chính; nếu gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng
tới hệ thống tín dụng thì phải áp dụng hình phạt tù. Chủ tịch Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước, Chánh Thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành
chứng khoán có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng
khoán. Bên cạnh đó, thủ tục rút gọn sẽ được áp dụng đối với một số trường
hợp như phí xử lý tài sản bảo đảm,… Ngoài ra, khi tranh chấp giữa các chủ thể
phát sinh, các bên có thể thỏa thuận để áp dụng các biện pháp giải quyết gồm:
thương lượng, hòa giải, Trọng tài, Tòa án. Cơ quan Trọng tài Quốc tế Việt
84
Nam (VIAC) và Tòa án Kinh tế Việt Nam có trách nhiệm giải quyết tranh chấp
phát sinh trong chứng khoán hóa nợ xấu nếu các bên có đơn khởi kiện và có
thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài hoặc Tòa án.
3.3.5. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư tham gia
hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại
Luật Chứng khoán 2019 đã quy định một trong các nguyên tắc hoạt
động của chứng khoán và thị trường chứng khoán là bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của nhà đầu tư. Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa tại các điều
được quy định trong luật. Các nhà đầu tư là chủ thể dễ gặp rủi ro khi đầu tư
vào thị trường chứng khoán cụ thể là chứng khoán được hình thành từ hoạt
động chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại. Đa phần
các trường hợp rủi ro của nhà đầu tư là do thiếu thông tin về chứng khoán, tổ
chức phát hành, người khởi tạo. Đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài có nhu
cầu đầu tư vào thị trường chứng khoán ở Việt Nam thường không có được các
thông tin cần thiết, chính xác. Do đó, thị trường chứng khoán hóa có thể khó
thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài. Quy định về công bố thông tin sẽ tạo
điều kiện để các nhà đầu tư có cơ hội dễ dàng tiếp cận với thông tin về chứng
khoán được chứng khoán hóa và những nguy cơ, rủi ro mất vốn cho nhà đầu
tư. Các thông tin được công bố phải chính xác, trung thực, không gây hiểu
nhầm và có đầy đủ nội dung quan trọng ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định
của nhà đầu tư. Ở Việt Nam, đã có một số tổ chức xếp hạng tín dụng tư nhân
nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Các nhà đầu tư hoặc SPV có thể nhờ tới việc
xếp hạng tín dụng của các cơ quan xếp hạng tín dụng quốc tế như Moody,
Fitch. Tuy nhiên, chi phí để trả cho các cơ quan xếp hạng tín dụng quốc tế là
rất cao. Việc thành lập và vận hành các tổ chức xếp hạng tín dụng trong hoạt
động chứng khoán hóa đóng vai trò quan trọng giúp định giá tài sản đúng đắn
và để cung cấp kịp thời, chính xác các thông tin cho nhà đầu tư.
Như vậy, pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương
85
mại cần có quy định cụ thể về quyền được tiếp cận thông tin về chứng khoán
nợ xấu, các khoản nợ xấu, thông tin về tổ chức phát hành, tổ chức khởi tạo
đầy đủ, kịp thời, chính xác. Ngoài ra, quy định chặt chẽ về vấn đề đảm bảo
tính công khai, minh bạch hoá trên thị trường chứng khoán, đảm bảo quyền
bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin giữa nhà đầu tư trong nước với nhà
đầu tư nước ngoài. Quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
và nhà đầu tư trong nước. Các thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa, cắt
giảm để tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các nhà đầu
tư tham chứng khoán hóa nợ xấu. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư có quyền được
hưởng đầy đủ các lợi ích từ việc mua chứng khoán nợ xấu và có quyền lợi đối
86
với các tài sản bảo đảm.
Kết luận chương 3
Trước yêu cầu cấp thiết xử lý nhanh chóng các khoản nợ xấu của ngân
hàng thương mại và tái cơ cấu hệ thống tín dụng, tạo ra nguồn vốn lớn cho các
ngân hàng thương mại, Nhà nước cần phải kịp thời nghiên cứu, xem xét để ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể để điều chỉnh hoạt động chứng
khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại. Qua đó, có thể tạo điều kiện cho
chứng khoán hóa hoạt động và phát triển không chỉ trong nước mà cả ở nước
ngoài. Chính phủ cần phải thể chế hóa các chính sách, định hướng đã được nêu
ra tại các Nghị quyết để sớm đưa chứng khoán hóa vào thực hiện.
Trước hết, cần phải xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn
bản quy phạm pháp luật về chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương
mại. Phạm vi điều chỉnh của quy định là trình tự, thủ tục của hoạt động chứng
khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại; quyền và lợi ích của
các chủ thể tham gia hoạt động chứng khoán hóa; vi phạm và xử lý vi phạm,
tranh chấp trong hoạt động chứng khoán hóa; bảo vệ quyền lợi của các nhà
đầu tư chứng khoán hóa. Đối tượng điều chỉnh là các ngân hàng thương mại,
các tổ chức định mức tín nhiệm, các tổ chức trung gian chuyên trách, các tổ
chức, cá nhân Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia hoạt động
chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, luận văn cũng xác định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể tham gia chứng khoán hóa nợ xấu cần được quy định trong văn
bản quy phạm pháp luật như nghĩa vụ công bố thông tin của tổ chức khởi tạo,
tổ chức phát hành; quyền được cung cấp đầy đủ thông tin về khoản nợ, các tài
sản bảo đảm của khoản nợ của nhà đầu tư;… Pháp luật nên quy định rõ các
trình tự, thủ tục thực hiện quá trình chứng khoán hóa. Quá trình hình thành
khoản vay phải quy định chặt chẽ các nguyên tắc, quy chế về cho vay, lãi
87
suất, tài sản bảo đảm, hạn mức, công bố thông tin. Các quy định về việc phát
hành chứng khoán được hình thành bởi hoạt động chứng khoán hóa, hay
chứng khoán được phát hành bởi SPV cần được quy định đầy đủ, chi tiết.
Quá trình chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng thương mại cũng
không thể tránh khỏi việc xảy ra các vi phạm, tranh chấp. Để xử lý các vi
phạm cần có các chế tài hiệu quả, kịp thời như các mức phạt tiền đối với xử
phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tù đối với các trường hợp vi phạm
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc kết hợp cả 2 hình thức xử phạt. Bên cạnh đó,
các tranh chấp cũng nên được quy định các hình thức giải quyết phù hợp như
88
hòa giải, thương lượng, trọng tài, khởi kiện.
KẾT LUẬN
Thị trường tài chính Việt Nam đang ngày càng phát triển và hoàn thiện.
Các Ngân hàng thương mại đang tìm kiếm các giải pháp xử lý nợ xấu hiệu
quả hơn so với các giải pháp hiện có. Chứng khoán hóa nợ xấu là hướng đi
mà các Ngân hàng thương mại luôn mong muốn thực hiện. Đối với thị trường
tài chính, chứng khoán hóa giải quyết vấn đề về nguồn vốn cũng như tạo ra
nguồn cung về hàng hóa cho thị trường tài chính. Đối với các ngân hàng
thương mại, chứng khoán hóa là giải pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề nợ
xấu, nguồn vốn huy động của các NHTM, giảm áp lực cạnh tranh khi có vấn
đề về thanh khoản, tạo điều kiện tái cấu trúc danh mục tài sản trong hoạt động
tín dụng. Bên cạnh đó, chứng khoán hóa giúp giải quyết những khoản nợ của
doanh nghiệp có nguy cơ phá sản do không thanh toán được nợ. Đồng thời
khi khoản nợ được chuyển thành cổ phần sẽ thu hút các nhà đầu tư mua lại cổ
phần trở thành một trong các chủ sở hữu của doanh nghiệp, giúp tái cơ cấu,
quản lý doanh nghiệp, phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Với những ý nghĩa, vai trò to lớn mà chứng khoán hóa mang lại, luận
văn đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động chứng khoán hóa và
nghiên cứu kinh nghiệm chứng khoán hóa của hai nước thực hiện chứng
khoán hóa rất thành công là Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Từ đó, xác định rõ các chủ
thể quan trọng tham gia vào hoạt động chứng khoán của ngân hàng thương
mại và đặc điểm, vai trò của các chủ thể đó. Quy trình chứng khoán nợ xấu
trải qua nhiều bước phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp giữa các chủ thể để tạo sản
phẩm chứng khoán mới cho các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán. Qua
nghiên cứu pháp luật của Hoa Kỳ và Hàn Quốc, luận văn cũng đã rút ra được
những bài học kinh nghiệm về xây dựng khuôn khổ pháp lý, tăng cường hệ
thống định chế tài chính, nâng cao chuyên môn, năng lực của đội ngũ nhân sự
89
tham gia hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu.
Để điều chỉnh hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu của ngân hàng
thương mại thì cần sớm ban hành Thông tư hướng dẫn dựa trên cơ sở của
Luật Chứng khoán 2019, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà
nước, Luật Thuế, Nghị quyết 42/2017/QH14. Các văn bản quy phạm pháp
luật này là cơ sở để từ đó xây dựng được những quy định cụ thể, đảm bảo
tính đồng bộ, không mâu thuẫn giữa các quy định. Đồng thời, Thông tư
hướng dẫn hoạt động chứng khoán hóa nợ xấu sẽ tạo cơ hội cho chứng
khoán hóa nợ xấu phát triển, giải quyết được vấn đề nợ xấu của các ngân
hàng thương mại. Thông tư cần có những nội dung cơ bản của pháp luật về
chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của ngân hàng thương mại. Trước hết,
pháp luật quy định cụ thể về phạm vi và đối tượng điều chỉnh. Các chủ thể,
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phải được quy định rõ ràng để các chủ
thể tham gia đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp. Bên cạnh đó, để
hoạt động chứng khoán hóa được thực hiện thống nhất, hiệu quả thì trình
tự, thủ tục cần được quy định đầy đủ, phù hợp với điều kiện phát triển của
thị trường chứng khoán cũng như hệ thống tín dụng Việt Nam. Các hành vi
vi phạm, tranh chấp giữa các chủ thể được giải quyết bởi các chế tài phù
hợp với các quy định của pháp luật. Ngoài ra, quyền và lợi ích hợp pháp
của nhà đầu tư được bảo vệ bởi các quy định về công bố thông tin của tổ
chức phát hành, thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm uy tín trong
nước. Từ những đóng góp được trình bày trong luận văn, tác giả mong
muốn Nhà nước Việt Nam sẽ sớm xây dựng pháp luật về chứng khoán hóa
để tạo hành lang pháp lý thúc đẩy chứng khoán hóa phát triển nhằm giải
90
quyết kịp thời vấn đề nợ xấu của NHTM ở Việt Nam trong thời gian tới.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1.
Phạm Thị Kim Ánh (2019), “Xử lý nợ xấu và tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, kỳ 2, tháng 05.
2.
Trần Thị Vân Anh (2019), “Chứng khoán hóa xử lý nợ xấu ngân hàng: Nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc”, Tạp chí Tài chính, kỳ 1 tháng 10.
3.
Trần Thị Vân Anh (2019), “Phát triển thị trường chứng khoán hóa: Nghiên cứu trường hợp Trung Quốc”, Tạp chí Ngân hàng, (5).
4.
Ban phát triển thị trường tài chính – Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Bộ Tài chính (2017), Chứng khoán hóa: Kinh nghiệm các nước và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Đề tài NCKH cấp cơ sở.
5.
Báo Sài gòn đầu tư (2018), Chứng khoán hóa nợ xấu, bài đăng ngày 22/01/2018.
6.
Bộ Tài chính (2017), Quyết định 2071/QĐ-BTC về việc ban hành Kế hoạch hành động triển khai Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020", Hà Nội.
7.
Vũ Mai Chi, Trần Minh Quý (2018), “Tình hình xử lý nợ xấu tại Việt Nam qua các giai đoạn - các vấn đề cần quan tâm và khuyến nghị”, Tạp chí Ngân hàng, (21).
8.
Chính phủ (2016), Nghị quyết 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2017, Hà Nội.
9.
Chính phủ (2017), Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018, Hà Nội.
91
10. Chính phủ (2018), Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019, Hà Nội.
11. Nguyễn Lê Nguyên Dung (2019), “Thực trạng xử lý nợ xấu gắn với tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số đề xuất”, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân Hàng, (200 + 201), Tháng 1&2.
12. Nguyễn Thị Thanh Hương (2013), Tìm hiểu về các sản phẩm chứng khoán hóa và khả năng áp dụng ở Việt Nam, Đề tài khoa học, Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán.
13.
Phạm Kim Loan (2013), Ứng dụng kỹ thuật chứng khoán hóa để phát triển thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sỹ Kinh tế - Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh.
14. Phạm Kim Loan (2020), Chứng khoán hóa và những bài học kinh nghiệm thực tiễn từ khủng khoảng thị trường bất động sản của Mỹ, Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.
15. Lê Mỹ (2017), “Chứng khoán hóa nợ xấu, nên chăng?”, Báo Diễn đàn
doanh nghiệp, bài đăng ngày 01/06/2017.
16. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2017), Quyết định 1533/QĐ-NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng triển khai thực hiện Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020", Hà Nội.
17. Nishimura & Asahi LPC (2014), Báo cáo tổng hợp: Thu thập thông tin và khảo sát về nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp tại Việt Nam.
18. Nguyễn Mai Phương (2010), “Ứng dụng chứng khoán hóa trong huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
19. Quốc hội (2006), Luật Chứng khoán, Hà Nội.
20. Quốc hội (2010), Luật các tổ chức tín dụng, Hà Nội.
21. Quốc hội (2010), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng
khoán 2010, Hà Nội.
22. Quốc hội (2017), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ
92
chức tín dụng 2017, Hà Nội.
23. Quốc hội (2017), Nghị quyết 42/2017/QH14 về việc thí điểm xử lý nợ
xấu của các tổ chức tín dụng, Hà Nội.
24. Quốc hội (2019), Luật Chứng khoán, Hà Nội.
25. Đặng Đức Thành (2015), Giải quyết nợ xấu từ gốc: Nợ xấu ngân hàng,
Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
26. Đỗ Phú Thọ (2019), "Nợ xấu" không quá xấu, Báo Quân đội nhân dân,
Bài đăng Thứ ba, 12/11/2019 | 21:46 GMT+7.
27. Thời báo Ngân hàng (2015), Chứng khoán hóa nợ xấu: Công cụ xử lý
nợ xấu trong tương lai, bài đăng ngày 30/07/2015.
28. Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định 1058/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020", Hà Nội.
29. Cao Thị Thúy (2015), Pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại từ thực tiễn tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội.
30. Lê Thị Thu Thủy (2016), “Xử lý nợ xấu của Ngân hàng chính sách xã hội - Thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 32, (1), tr. 60-68.
31. Nguyễn Thị Thúy (2015), “Chứng khoán hóa nợ xấu- một công cụ xử lý
nợ xấu của ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng, (20), Tháng 10.
32. Văn phòng Ngân hàng Nhà nước (2018), “Kinh nghiệm tái cơ cấu ngân hàng và xử lý nợ xấu”, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bài đăng ngày 20/06/2018.
33. Đinh Thị Thanh Vân (2012), “So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt Nam và thông lệ quốc tế”, Tạp chí Ngân hàng, tr. 9-12.
93
34. Lê Thị Thùy Vân (2017), Xử lý nợ xấu ở Việt Nam: Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính – Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, bài đăng ngày 04/07/2017.
35.
“Chứng khoán hóa các khoản nợ: Cần gắn với tái cơ cấu doanh nghiệp”, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, cập nhật 07:44 17/04/2013. http://datc.vn/portal/Pages/2013-4-15/Chung-khoan-hoa-cac-khoan-no- Can-gan-voi-nhiem-vu.
36. Thuật ngữ Securitization, https://www.saga.vn/thuat-ngu/securitization-
chung-khoan-hoa~3316 truy cập ngày 02/03/2020.
II. Tài liệu tiếng Anh
37. AEG (2004), Non-performing loans, Advisory Expert Group (AEG)
Meeting.
38. Alicia Tuovila (2019), Bad Debt, Investopedia, updated 08/8/2019.
39. Andrew Davidson, Anthony Sanders, Lan-Ling Wolff, Anne Ching (2003), Securitization: Structuring and Investment Analysis, Book.
40. Angelos Delivorias (2015), Understanding securitizations, European
Parliamentary Research Service-10/2015.
41. Cally Jordan (2009), Prospects for Securitisation in Transition Economies: The Case of Vietnam, University of Melbourne Legal Studies Research Paper No. 446.
42. Dong He (2004), The Role of KAMCO in Resolving Nonperforming
Loans in the Republic of Korea, IMF Working Paper.
43. Eric K Moser and Julia E Fish, Milbank, Tweed, Hadley & McCloy LLP (2011), Structured lending and securitisation in the United States: overview, Thomson Reuters Practicallaw updated at 01/5/2011.
44. Hoai Linh Do, Thanh Xuan Ngo, Quoc Anh Phung (2020), The effect of non-performing loans on profitability of commercial banks: Case of Vietnam, Volume 6 Issue 3 pp. 373-386, 2020.
45. IMF (2004), IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators.
94
46. James Chen (2019), Securitization, Investopedia, updated 14/5/2019.
47.
James M Manz, Tom Schopflocher (2018), Global Securitization On Pace For $1 Trillion In 2018.
48.
Jin Hong Kwon, HK Helen Sohn and Yong Jae Chang, Lee & Ko (2019), Structured finance and securitisation in South Korea: overview.
49. Lee Hyon-Mee, Securitization in Korea, Đề tài khoa học năm 2002.
50. Martin Scheicher and David Marques-Ibanez (2009), Securitisation: Instruments and Implications, Handbook of banking, A. Berger, P. Molyneux and J. Wilson, eds., Oxford University Press.
51. Nicola Cetorelli and Stavros Peristiani (2012), The role of banks in asset securitizations, FRBNY Economic Policy Review- 07/201.
52. Sang Huyn Song, Law and policy of securities regulation in Korea, Đề
tài khoa học năm 1995.
53. Securities act of 1933 (US).
54. Securities And Exchange Act 1962 amended by 2010 (Republic of Korea).
55. Securities and Future act of 2001 (Singapore).
56. Securities exchange act of 1934 (US).
57. U.S Securities and Exchane Commission (2013), The Laws That
Govern the Securities Industry.
58. Weitzu Chen, Chi-Chun Liu and Stephen G. Ryan (2008), Characteristics of Securitizations that Determine Issuers’ Retention of the Risks of the Securitized Assets, The Accounting Review, Vol. 83, No. 5 (Sep., 2008), pp. 1181-1215.
59. What role did securitization play in the U.S. subprime mortgage crisis,
Investopedia, updated 30/6/2020.
95
60. Will Kenton (2020), Commercial Loan, Investopedia, updated at 17/3/2020.

