LUẬN VĂN:
y dựng tiêu chuẩn cho các
loại hình tổ chức bán lẻ
LỜI NÓI ĐẦU
Bán lẻ hàng hóa hoạt động kinh tế quan trọng, cầu nối giữa sản xuất tiêu
dùng, kênh phân phối hàng hóa từ các nhà sản xuất đến người mua khắp mọi nơi
trên thế giới. thế, hoạt động kinh doanh này vai trò rất rất quan trọng đời sống
kinh tế của các quốc gia. Các Nhà nước cũng chính vì thế rất cần phải quản lý hoạt động
này do đó cần đặt ra hệ thống các tiêu chuẩn quản lý cho lĩnh vực bán lẻ.
Trước đây, hoạt động bán lẻ hàng hóa Việt Nam được tiến hành tphát, chủ
yếu do các tổ chức nhân thực hiện. Tuy nhiên từ 1997, trên thị trường Việt Nam đã
bắt đầu xuất hiện các nhãn hiệu hàng tiêu dùng của các tập đoàn đa quốc gia. Ngay lập
tức, các công ty này đã xây dựng thương hiệu hệ thống phân phối nhằm chiếm lĩnh
thị phần. Từ đó, cung cách buôn bán phân phối hàng hoá truyền thống đã nhiều
thay đổi bởi sự xuất hiện một mạng lưới các nhà phân phối nhỏ được hình thành khắp
64 tỉnh, thành trong cả nước. Cũng trong giai đoạn này, thị trường trong nước bắt đầu có
hàng loạt các trung tâm bán lẻ của các công ty Việt Nam xuất hiện cạnh tranh cùng
những siêu thị của các tập đoàn phân phối nước ngoài. Tuy nhiên chúng ta hiện chưa
hoàn chỉnh hệ thống các tiêu chuẩn để quản lý hoạt động kinh doanh quan trọng này.
Hiện tại, với lộ trình gia nhập WTO. Việt Nam cam kết phải mở cửa cho các tổ
chức bán lẻ tham gia thị trương trong nước. Trước thách thức này, chúng ta cũng
trách nhiệm phải xây dựng hệ thống các quy định bán lẻ phù hợp với các tiêu chuẩn
quốc tế. Với các doanh nghiệp trong nước, để đương đầu với tương lai sắp diễn ra này,
họ đang gấp rút nâng cao khả năng cạnh tranh và vì thế cũng cần nhà nước ban hành các
quy định về tiêu chuẩn làm cơ sở cho những thay đổi.
Với cơ sở thực tiễn trên, tôi xin đưa ra đề tài “Xây dựng tiêu chuẩn cho các loại
hình tổ chức bán lẻ”. Qua đề tài này tôi muốn bày tỏ một số quan điểm của bản thân về
vấn đề bán lẻ hàng hóa trong nền kinh tế Việt Nam kiến nghị một số giải pháp quản
lý nhằm thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động này.
Chương 1
Những lý luận chung và tính thực tiễn của đề tài
.1. Những khái niệmbản
.1.1. Hoạt động bán lẻ hàng hoá và thị trường bán lẻ
Thương mại ng hoá hiện nay chủ yếu được thực hiện theo hai phương thức là
giữa các doanh nghiệp với nhau giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng. Trường hợp
thứ hai chính là hoạt động kinh doanh bán lẻ hàng hóa.
Bán lẻ hàng hoá hoạt động bán trực tiếp hàng hoá cho nời tiêu dùng, từng
cái, từng ít một. Hàng hoá thông qua bán lẻ sđi tiêu dùng. Hoạt động bán lẻ được
thực hiện thông qua các chợ, các cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, đại siêu thị
bán lẻ
Thị trường bán lẻ hàng hoá là thị trường với sự tham gia của ba nhân tố: thứ nhất
các tổ chức kinh doanh n lẻ, vai trò thu mua ng hóa từ người sản xuất, phân
phối bán ng hoá đến tay người tiêu dùng; thứ hai người tiêu dung, đây đối
tượng hướng đến của các tổ chức bán lẻ trên, họ mua hàng hoá về để sử dụng nhằm thoả
mãn các nhu cầu bản thân; thứ ba nhà nước, nhân tố vai trò giám sát, quản và
điều tiết hoạt động của thị trường này, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thông qua
việc ban hành các luật, các quy định, các tiêu chuẩn thông qua các quan quản
thị trường.
.1.2. Vai trò của ngành kinh doanh bán lẻ trong nền kinh tế
Do bán lẻ là hoạt động bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dung nên đây là một
ngành vị trí đặc biệt quan trọng trong cấu nền kinh tế. Vai trò của bán lẻ trung
gian giữa nhà sản xuất, phân phối và khách hàng, do đó hoạt động này ảnh hưởng
quan trọng tới cả phía sản xuất và tiêu dùng. Bán lẻ giúp các nhà sản xuất bán sản phẩm
nời mua nhiều lựa chọn n khi mua hàng, đồng thời còn kênh trung gian
giữa người mua và người bán, nga qua đó nhà sản xuất thể nhận được các phản
hồi về sản phẩm để nắm được thói quen, thị hiếu, xu hướng tiêu dùng nhằm tiến hành
cải tiến, nâng cấp, lựa chọn và cho ra đời các sản phẩm tốt nhất; ngược lại phía người
mua cũng được cung cấp thông tin về hàng hoá, nhà sản xuất hay được hưởng những
dịch vụ hậu mãi, bảo hành…
.1.3. Các t chức bán lẻ hàng hoá
Các đơn vtham gia trong thị trường bán lẻ rất đa dạng. Đó thể các đơn vị
rất nhỏ như các sạp kinh doanh chợ, các cửa hàng tạp hoá tư nhân, các cửa hàng
kinh doanh, cũng thể quy lớn rất lớn như các siêu thị, trung m thương
mại hay các đại siêu thị bán lẻ. Vì vậy sở hữu các đợn vi kinh doanh này có thể là các cá
nhân hay là các doanh nghiệp.
Hoạt động bán lẻ nhau cũng diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau. Ngoài các
cách thức truyền thống, hoạt động kinh doanh bán lẻ hiện nay thể không cần đến cửa
hàng, cũng như không cần qnhiều nhân viên như bán hàng qua mạng, qua catalogue,
hay các hoạt động bán hàng đa cấp
Tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu về các doanh
nghiệp bán lẻ lớn kinh doanh theo lối truyên thống qua các chuỗi cửa hàng, các siêu thị,
trung tâm thương mại, bởi đây là các tổ chức có quy mô, hoạt động chuyên nghiệp trong
lĩnh vực này cũng chính thế sự phát triển của họ ảnh hưởng nhiều đến thị trường
nói chung, đồng thời những chính sách quản của Nhà nước cũng chủ yếu được xây
dựng nhằm quản lý các doanh nghiệp này.
.1.4. Tiêu chun bán lẻ
Tiêu chuẩn các chỉ tiêu bắt buộc phải thực hiện. tiêu chuẩn do Nhà nước
đặt ra các điều kiện bắt buộc, tính cưỡng chế thi hành. Tiêu chuẩn cho các tổ chức
bán lẻ là các tiêu chuẩn do nhà nước đặt ra cho các tổ chức này nhằm quản lý hoạt động
bán lẻ trên lãnh thổ Việt Nam.
Các tiêu chuẩn bán lẻ được quy định quản toàn bộ các tổ chức kinh doanh bán
lẻ trên lãnh thổ Việt Nam, tuy nhiên mỗi loại hình kinh doanh lại những quy định
khác nhau, quy định dành cho các hộ kinh doanh các chợ các hàng tạp hóa sẽ khác với
các tiêu chuẩn dành cho kinh doanh các siêu thị... Các tổ chức sẽ chịu tác động nhiều
nhất của các tiêu chuẩn này các doanh nghiệp, nhất các doanh nghiệp lớn bởi Nhà
nước cần xác định trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp này vai trò to lớn,
khả năng ảnh hưởng mạnh tới thị trường tiêu dùng trong nước.
.2. Tính tất yếu của việc xây dựng tiêu chuẩn cho các loại hình tổ chức n lẻ
hàng hoá của Việt Nam
.2.1. Kinh doanh bán lẻ trong thời điểm hiện nay
Kỷ nguyên chúng đang sống hiện nay được các nhà kinh tế nhận định kỷ
nguyên của "toàn cầu hoá", thời điểm hầu như tất cả các Quốc gia đều đang thực
hiện mở cừa, thừa nhận sự tác động qua lại, đồng thời liên tục giữa c nền kinh tế.
thế nghiên cứu hoạt động bán lẻ trong thời điểm này chính viêc xem xét, đánh giá
hoạt động bán lẻ trong thời kỳ "toàn cầu hoá".
Hoạt động bán lẻ trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế
Toàn cầu hóa, theo nghĩa rộng, các hoạt động ợt biên giới quốc gia, với quy
và thể hiện mang ý nghĩa toàn thế giới. Toàn cầu hoá được phản ánh trên tất cả các
khía cạnh của đời sống nhân loại: kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa...
Với ý nghĩa một nội dung trong sgắn kết với các khía cạnh khác nhau của
toàn cần hoá, toàn cầu hóa kinh tế thể hiện sự liên kết quốc tế ngày càng sâu sắc các quá
trình sản xuất, kinh doanh các loại hình thị trường giữa các nền kinh tế. Quá trình
toàn cầu hoá không chỉ diễn ra thông qua thương mại hàng hoá và dịch vụ truyền thống,
còn bao gồm cả những giao dịch khác qua biên giới quốc gia như các luồng đầu tư,
tài chính, công nghệ, thông tin (kể cả ý tưởng về phát triển, công nghệ quản lý),
nhân công (chuyên gia, lao động chưa tay nghề). Toàn cầu hoá n được thúc
đẩy trên cơ sở các quan hệ song phương và đa phương, các tổ chức quốc tế và khu vực.
Toàn cầu hoá nền kinh tế không phải một xu thế mới xuất hiện gần đây mà đã
được nhen nhóm vào thế kỷ 16 và phát triển khá mạnh vào cuối thế kỷ 19 cho đến trước
chiến tranh thế giới thứ nhất. Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hoá trong một số thập kỷ
qua, nhất từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế ktrước cho đến hiện nay đã trở nên
hết sức sâu sắc những biến đổi mạnh mẽ chất, mang nhiều đặc trưng nhân tố
mới.
Nhân tố quan trọng đầu tiên dã tạo ra sự gia tăng mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa
nền kinh tế vừa qua tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ. Tiến bộ về công nghệ
thông tin, tin học vận tải cùng việc giá cả hạ nhanh chóng đã rút ngắn khoảng cách
địa giữa các nước, đã đẩy nhanh sự lan toả công nghệ quá trình gắn kết, chuyên
môn hoá kinh tế giữa các quốc gia. Một nhân tố nữa sự thay đổi duy về phát triển
cùng những cải cách kinh tế định hướng thị trường, tự do hoá và mở cửa thương mại,
đầu tài chính tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, không thể không tính đến