intTypePromotion=1

Xây dựng và bảo vệ Chính quyền Nhân dân (9/1945 – 12/1946)_2

Chia sẻ: Trần Lê Kim Yến | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
105
lượt xem
14
download

Xây dựng và bảo vệ Chính quyền Nhân dân (9/1945 – 12/1946)_2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo bài viết 'xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân (9/1945 – 12/1946)_2', tài liệu phổ thông, ôn thi đh-cđ phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Xây dựng và bảo vệ Chính quyền Nhân dân (9/1945 – 12/1946)_2

  1. Xây dựng và bảo vệ Chính quyền Nhân dân (9/1945 – 12/1946) Để sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc giành được thắng lợi, nhiệm vụ trung tâm là củng cố chính quyền nhân dân. Trong hoàn cảnh vô cùng phức tạp, cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã thành công, bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tổng tuyển cử thắng lợi là một đòn mạnh đánh vào âm mưu chia rẽ, lật đổ, xâm lược của đế quốc và tay sai, xác định quyền làm chủ của nhân dân. Ngày 2-3- 1946, Quốc hội khoá I họp kỳ đầu tiên, trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh lập Chính phủ chính thức, thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cùng với việc xây dựng chính quyền nhân dân, Đảng phát động các phong trào tăng gia sản xuất chống đói, chống nạn mù chữ. Theo chủ trương của Đảng, Chính phủ cho mở lại các nhà máy do Nhật Bản bỏ lại, tiến hành khai thác các mỏ; cho tư nhân được góp vốn kinh doanh ở các xí nghiệp, khuyến khích giới công thương lập hợp tác xã và hội cổ phần, tham gia kiến thiết lại nước nhà. Chính sách lao động được ban hành trong đó có chế độ ngày làm 8 giờ. Chính phủ tổ chức khuyến nông, sửa chữa đê điều, tiến hành tịch thu ruộng đất của đế quốc và việt gian chia
  2. cho nông dân nghèo, chia lại ruộng đất công cho cả nam và nữ, giảm tô 25%, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác. Sản xuất nông nghiệp được khôi phục nhanh chóng. Về tài chính, Chính phủ lập ngân hàng quốc gia, phát hành giấy bạc, tổ chức tuần lễ vàng, lập ngân quỹ toàn quốc, ngân quỹ các xứ và các tỉnh. Các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, xây dựng đời sống mới đạt được những tiến bộ đáng kể. Một năm sau Cách mạng Tháng Tám đã có 2,5 triệu người biết chữ. Đảng rất quan tâm lãnh đạo việc xây dựng lực lượng vũ trang. Để trấn áp bọn phản cách mạng, Chính phủ ra sắc lệnh giải tán hai Đảng phản động (Đại Việt quốc gia xã hội Đảng và Đại Việt quốc dân Đảng) và sắc lệnh cho an trí những người nguy hiểm chống chế độ mới, sắc lệnh lập toà án quân sự trừng trị bọn phản động. Đảng chỉ đạo tích cực phát triển các đoàn thể cứu quốc và thống nhất những tổ chức ấy trong toàn quốc, sửa lại điều lệ các đoàn thể cứu quốc cho thích hợp với hoàn cảnh mới, tổ chức thêm những đoàn thể cứu quốc mới. Đông đảo các tầng lớp trí thức, kể cả một số quan lại trong chế độ cũ, các công thương gia cũng hăng hái tham gia sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đảng chủ trương kiên quyết khắc phục những khuyết điểm trong bộ máy nhà nước theo thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi uỷ ban nhân dân các cấp
  3. ngày 17-10-1945. Trong thư, Người chỉ rõ: "Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật". Người còn nhấn mạnh: nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Vì vậy chính quyền các cấp cần phải bỏ ngay cái thói cậy thế, kiêu ngạo, chia rẽ, hủ hoá.... 2. Thực hiện sách lược hoà hoãn, nhân nhượng với quân Tưởng Đánh giá âm mưu thủ đoạn hành động của các kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: quân Tưởng ra sức thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng song kẻ thù chính của nhân dân ta là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng. Muốn tập trung lực lượng chống thực dân Pháp, cần phải nhân nhượng hoà hoãn với quân Tưởng để có thời gian xây dựng lực lượng về mọi mặt và chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến toàn quốc có thể xảy ra. Ngày 11-11-1945, Đảng ta đã tuyên bố tự giải tán, nhưng sự thật là rút vào hoạt động bí mật để làm mất mục tiêu quấy rối của kẻ thù, dù là bí mật, Đảng vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân. Đảng đánh giá quân Tưởng tuy đông, nhưng có mâu thuẫn nội bộ và có
  4. nhiều khó khăn khác. Trong khi đất nước ta mới giành được chính quyền, nhân dân là người làm chủ và có sức mạnh đoàn kết, cùng với chính sách đối ngoại mềm dẻo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân Tưởng không thể không hợp tác với chính quyền ta. Tuy nhiên chúng vẫn tìm mọi cách gây rối, khiêu khích, đòi đưa tay chân là các đảng phái phản động vào chính quyền của ta. Trong quan hệ với quân Tưởng, Đảng nắm vững phương châm của Hội nghị toàn quốc Tân Trào là thêm bạn bớt thù, trên cơ sở phát huy thực lực của ta. Chính quyền ta hợp tác tích cực với quân Tưởng trong việc giải giáp quân Nhật và tự kiềm chế trước những hành động khiêu khích của quân Tưởng, tránh để xảy ra xung đột về quân sự. Mặc dù đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế, tài chính, nhân dân còn phải gánh chịu nạn đói, nhưng Chính phủ ta đã cung cấp lương thực, thực phẩm cho 20 vạn quân Tưởng. Về chính trị, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động mở rộng thành phần Chính phủ lâm thời thành Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 18 thành viên trong đó có đại biểu của hai Đảng Việt quốc, Việt cách. Ngày 2-3-1946, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chính thức thông qua Chính phủ liên hiệp và chấp nhận 70 ghế Quốc hội của Việt quốc, Việt cách không qua bầu cử, nâng tổng số đại biểu Quốc hội lên 403.
  5. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự mềm dẻo về sách lược, nhưng giữ vững nguyên tắc: nắm chắc vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững chính quyền cách mạng, giữ vững mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước, không để kẻ thù nắm quần chúng; trừng trị nghiêm khắc những tên đầu sỏ phản cách mạng. Sách lược đó đã làm thất bại âm mưu của quân Tưởng muốn tiêu diệt chính quyền nhân dân, đảm bảo cho nhân dân ta tập trung sức kháng chiến chống xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam. Chính quyền nhân dân không những được giữ vững mà còn được củng cố về mọi mặt. III. TẠM HOÀ HOÃN VỚI THỰC DÂN PHÁP, CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC (3-1946 - 12-1946) 1. Tạm hoà hoãn với Pháp, đẩy nhanh quân Tưởng về nước Đầu năm 1946, Chính phủ mới ở Pháp đứng trước tình hình kinh tế kiệt quệ và chính trị không ổn định, ngả sang phe hữu, nhận viện trợ của Mỹ. Ở Việt Nam, vấp phải cuộc chiến đấu ngoan cường của nhân dân ta, Chính phủ Pháp mưu tính kế hoạch mua bán quyền lợi với Anh, Mỹ và Tưởng để được thay chân Anh ở miền Nam và đưa quân ra miền Bắc Việt Nam.
  6. Ngày 28-2-1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết ở Trùng Khánh, Pháp nhân nhượng một số quyền lợi kinh tế cho chính quyền Tưởng trên đất Trung Hoa để Pháp được đưa quân ra miền Bắc Việt Nam, Tưởng nhân nhượng với Pháp để rút quân về nước đối phó với Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Trước sự thay đổi của thời cuộc, ngày 3-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Tình hình và chủ trương. Chỉ thị nhận định rằng, trước khi rút về nước, quân Tưởng sẽ tăng sức ép đòi cho bọn tay sai của chúng vào Chính phủ của ta nhằm ba mục đích: "a) Bắt nhân dân Việt Nam nhắm mắt nuốt chửng Hiệp ước Hoa - Pháp. b) Yêu sách Pháp thêm ít nhiều quyền lợi nữa. c) Ngăn ngừa cuộc đàm phán riêng giữa Việt Minh và Pháp ". Được sự ủng hộ của quân Tưởng, trong hai ngày 20, 21 tháng 2-1946, bọn Việt Nam quốc dân Đảng biểu tình ở Hà Nội với khẩu hiệu "Đánh đến cùng", "Không đàm phán với Pháp". Mưu đồ của chúng là nhằm đẩy ta chống lại Hiệp ước Hoa - Pháp, để cho cả ba lực lượng quân Tưởng, Pháp và bọn phản động người Việt có cớ tiến công lực lượng cách mạng, lúc đó quân Tưởng sẽ kiếm cớ ở lại Đông Dương. Thực dân Pháp muốn xúc
  7. tiến nhanh việc đàm phán với ta để đưa quân vào miền Bắc Việt Nam.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2