intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Xúc tiến thực hiện quyền, nhân phẩm và phúc lợi xã hội cho phụ nữ làm nghề mại dâm- Một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về mại dâm tại Việt Nam

Chia sẻ: Bautroibinhyen17 Bautroibinhyen17 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
35
lượt xem
6
download

Xúc tiến thực hiện quyền, nhân phẩm và phúc lợi xã hội cho phụ nữ làm nghề mại dâm- Một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về mại dâm tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ của dự án “Thúc đẩy quyền và hòa nhập xã hội cho nhóm người thiệt thòi ở Việt Nam: Xây dựng năng lực thể chế và nâng cao nhận thức cộng đồng” do tổ chức Oxfam tài trợ. Nghiên cứu nhằm những trải nghiệm về kỳ thị và phân biệt đối xử mà người mại dâm đã gặp phải cũng như những nguyên nhân dẫn đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử đó.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Xúc tiến thực hiện quyền, nhân phẩm và phúc lợi xã hội cho phụ nữ làm nghề mại dâm- Một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về mại dâm tại Việt Nam

K y u công trình khoa h c 2015 - Ph n II<br /> <br /> XÚC TIẾN THỰC HIỆN QUYỀN, NHÂN PHẨM VÀ PHÚC LỢI<br /> XÃ HỘI CHO PHỤ NỮ LÀM NGHỀ MẠI DÂM. MỘT CÁCH TIẾP<br /> CẬN MỚI TRONG NGHIÊN CỨU VỀ MẠI DÂM TẠI VIỆT NAM.<br /> Ths. Vũ Thị Thanh Nhàn<br /> Bộ môn Công tác xã hội, Đại học Thăng Long<br /> Email: nhanisds@gmail.com<br /> Tóm tắt: Bài viết “Xúc tiến Quyền, nhân phẩm và phúc lợi xã hội cho người mại dâm.<br /> Một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về mại dâm tại Việt Nam được thực hiện trong khuôn<br /> khổ của dự án “Thúc đẩy quyền và hòa nhập xã hội cho nhóm người thiệt thòi ở Việt Nam:<br /> Xây dựng năng lực thể chế và nâng cao nhận thức cộng đồng” do tổ chức Oxfam tài trợ. Mục<br /> đích của dự án nhằm thúc đẩy bảo vệ quyền, nhân phẩm và phúc lợi của bốn nhóm thiệt thòi<br /> này và tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể hòa nhập với xã hội. Nghiên cứu về phân tích tình<br /> hình nhóm mại dâm ở Việt Nam dựa trên cách tiếp cận quyền và nhu cầu được thực hiện tại<br /> Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc nghiên cứu được thực hiện<br /> nhằm mô tả bức tranh chân thật và sống động nhất về những khó khăn và thách thức mà<br /> Người mại dâm đã và đang gặp phải trong bối cảnh Việt Nam hiện tại, cụ thể là thực trạng<br /> đời sống kinh tế-xã hội của nhóm mại dâm, đặc biệt các vấn đề liên quan đến quyền đã được<br /> quy định trong các chính sách pháp luật được thực thi tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng tìm<br /> hiểu những nguyên nhân mang tính cấu trúc (vĩ mô - trung mô - vi mô) ảnh hưởng đến cuộc<br /> sống của người mại dâm tại Việt Nam. Ngoài ra nghiên cứu cũng muốn biết những trải<br /> nghiệm về kỳ thị và phân biệt đối xử mà người mại dâm đã gặp phải cũng như những nguyên<br /> nhân dẫn đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử đó. Một vấn đề nữa mà nhóm nghiên cứu quan tâm<br /> đó là tìm hiểu những nhu cầu thực sự của người mại dâm Việt Nam trong việc cải thiện các<br /> điều kiện làm việc hiện nay của họ và khi họ tái hoà nhập cộng đồng. Người mại dâm ở Việt<br /> Nam cần những điều kiện gì từ phía xã hội để có thể xây dựng và thực hiện một chương trình<br /> bền vững hỗ trợ họ thực hiện các quyền của mình.<br /> Từ khóa: Quyền và các tiếp cận dựa trên quyền của người mại dâm, nhu cầu của<br /> người mại dâm và sự kỳ thị đối với người mại dâm.<br /> 1. Mở đầu<br /> Sau hơn 20 năm, kể từ sau quá trình Đổi Mới, chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều nỗ<br /> lực trong việc thúc đẩy một nền kinh tế phát trỉển toàn diện và vững mạnh. Mặc dù tăng<br /> trưởng kinh tế tại Việt Nam trong những năm qua đang ở mức cao12 tuy nhiên chúng ta cũng<br /> gặp phải nhiều thách thức trong việc tăng trưởng kinh tế trong các nhóm xã hội khác nhau.<br /> Ngoài ra, việc các chính sách bảo trợ xã hội chưa tiếp cận đầy đủ đến các một số nhóm người<br /> thiệt thòi trong xã hội cũng có thể làm cho họ chưa có được các dịch vụ xã hội như mong<br /> muốn. Đó là những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội như những người sống chung<br /> với HIV, những người khuyết tật, người sử dụng ma tuý và người lao động tình dục. Nhiều<br /> bằng chứng từ các nghiên cứu cho thấy những nhóm người này không chỉ là những người<br /> nghèo nhất mà họ còn là những người bị cô lập và thiệt thòi do sự kỳ thị và phân biệt đối xử<br /> từ xã hội. (Lê Bạch Dương và cộng sự, 2005). Trong một số tài liệu, văn bản của chính phủ<br /> 12<br /> GDP năm 2007 đạt 8,5%; năm 2008: 6,23% 2009 là 5,32%, 2010 là 6,78%, 2011 là 5,89% năm<br /> 2012 là 5,03%, năm 2013 là 5,4%, năm 2014 là 5.98% (nguồn Tổng cục thống kê, 2015).<br /> <br /> Trư ng Đ i h c Thăng Long<br /> <br /> 285<br /> <br /> K y u công trình khoa h c 2015 - Ph n II<br /> <br /> đôi khi còn coi những người mại dâm là "tệ nạn xã hội" những người làm băng hoại trật tự xã<br /> hội và đạo đức (Nghị quyết 05/CP, 1993, quyết định 09/QĐ- PCAIDSMTMD, 2011).<br /> Mặc dù từ phía chính sách tại Việt Nam đã có sự thay đổi cách nhìn nhận đối với gái<br /> mại dâm, ví dụ trong Pháp lệnh mại dâm 2003 coi người mại dâm không phải là tội phạm mà<br /> là đối tượng được điều trị y tế và phục hồi chức năng, được hỗ trợ dạy nghề và chăm sóc sức<br /> khoẻ để có cơ hội tái hoà nhập cộng đồng tuy nhiên thực sự các chính sách chưa tác động một<br /> cách rộng rãi, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ học vấn của người lao động tình dục tại Việt Nam<br /> không cao và sự phối hợp giữa các ban ngành chưa được đồng bộ. Vì vậy nhóm người lao<br /> động tình dục vẫn bị coi là nhóm ngoài lề xã hội.<br /> Trong nhiều năm gần đây, đặc biệt từ khi có sự xuất hiện của HIV/AIDS nhóm mại<br /> dâm được quan tâm nhiều hơn do nhiều dự án can thiệp và dự phòng HIV cho rằng họ là<br /> trung gian truyền HIV/AIDs sang cộng đồng. Uỷ ban Quốc gia Phòng chống AIDS, Ma tuý,<br /> Mại dâm đã giải thích quá trình lan rộng của đại dịch HIV/AIDS tại Việt Nam là "Nhà nước<br /> đã kiểm soát các tệ nạn xã hội mại dâm và ma tuý ở mức độ nhất định; tuy nhiên những tệ<br /> nạn này vẫn đang lén lút phát triển. Đây là nguyên nhân chính và trực tiếp làm lây lan<br /> HIV/AIDS tại Việt Nam vào thời điểm hiện nay và cũng là nguyên nhân bùng nổ đại dịch tại<br /> khu vực khác".<br /> Việc cho rằng mại dâm là nguyên nhân bủng nổ HIV/AIDS khiến cho khá nhiều dự án<br /> can thiệp nhóm này đều cung cấp các dịch vụ giảm thiểu lây nhiễm HIV/AIDS (bao cao su,<br /> bơm kim tiêm) và cung cấp các kiến thức liên quan. Những kết quả của các dự án này đều<br /> được đánh giá là thành công, tuy nhiên bên cạnh đó việc cung cấp và tiếp cận đối với người<br /> này vẫn mang tính "từ thiện", trong đó các cá nhân nhóm đích được xem là "nạn nhân" và các<br /> mục tiêu can thiệp trong các dự án hướng nhiều đến việc đáp ứng nhu cầu của họ hơn là đưa<br /> ra các kế hoạch bền vững.(Lê Ngọc Bảo, 2005)<br /> Trong bối cảnh ở Việt Nam, mại dâm hoạt động trong các chính sách và thiết chế pháp<br /> luật luôn trong tình trạng cần phải xoá bỏ mại dâm. Mại dâm là bất hợp pháp và là "tệ nạn xã<br /> hội" vì vậy cần phải loại trừ. (pháp lệnh phòng chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11<br /> và NQ05/CP, 1993). Điều này cho thấy các chính sách các chương trình hầu như bỏ qua việc<br /> xem xét nguyên nhân: tại sao nhóm này tồn tại mặc dù có sự bài trừ kiên quyết của xã hội, Họ<br /> có các quyền gì? Những quyền đó của họ đã thực hiện đến đâu? Những nguyên nhân cơ bản<br /> nào khiến cho họ vẫn luôn là nhóm ngoài lề xã hội . Mặc dù nhiều dự án của các tổ chức phi<br /> chính phủ trong và ngoài nước đã đóng góp rất nhiều trong việc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu<br /> cầu của người lao động tình dục nhưng việc tiếp cận dựa trên quyền và tính tự chủ của họ thì<br /> mới ở mức rời rạc và không đồng bộ. Mặc dù pháp lệnh phòng chống mại dâm năm 2003 đều<br /> cho rằng cả người mua dâm và bán dâm cần phải được xử lý nghiêm tuy nhiên trong thực tế<br /> phụ nữ mại dâm là đối tượng bị trừng trị trong khi các vụ việc xử lý người mua dâm dường<br /> như chưa thực hiện triệt để.<br /> Một điều khá hiển nhiên nhưng ít xuất hiện trong các nghiên cứu về mại dâm đó là sự<br /> kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến nhóm người này. Đặc biệt đối với chị em mại dâm có<br /> HIV, họ còn bị kỳ thị "kép", bị gạt ra ngoài lề xã hội (Khuất Thu Hồng và cộng sự, 2004)<br /> Trong lịch sử nhân loại, mại dâm chưa bao giờ được coi là hợp đạo đức ngay cả ở<br /> những nước mà mại dâm được coi là hợp pháp. Sự căm ghét đối với mại dâm có tính<br /> toàn cầu và trải qua nhiều thế hệ. Định kiến chống lại người hành nghề mại dâm gần như<br /> Trư ng Đ i h c Thăng Long<br /> <br /> 286<br /> <br /> K y u công trình khoa h c 2015 - Ph n II<br /> <br /> là phổ quát trên toàn thế giới. Đặc biệt, những người mua dâm, một mặt coi phụ nữ bán<br /> dâm như một món hàng để thỏa mãn nhu cầu, mặt khác lại coi họ là những thứ nhơ bẩn,<br /> mất đạo đức. Bằng cách đó, những người phụ nữ mại dâm vừa là nạn nhân nhưng đồng<br /> thời cũng là công cụ kiếm tiền của những chủ chứa và các dịch vụ ăn theo mại dâm. Hậu<br /> quả là các nhà hoạch định chính sách và các nhà làm luật thường tập trung vào cá nhân<br /> những người hành nghề mại dâm và chú trọng vào hành vi “lệch chuẩn” hay “đáng bị<br /> phê phán về mặt đạo đức” của họ mà quên đi những kẻ là tác giả chính của vấn nạn mại<br /> dâm hiện nay.<br /> Liên quan đến việc lý giải mại dâm, nhìn từ góc độ giới, Lê Thị Quí cho rằng mại dâm<br /> gây hậu quả tai hại cho người phụ nữ nhiều hơn là cho chính xã hội. Nhìn từ góc độ này tác<br /> giả cho rằng "mại dâm và đa thê, hai hiện tượng một bản chất". Mại dâm được xác lập, củng<br /> cố tính thống trị của đàn ông trong vai trò người mua và khẳng định tính phụ thuộc của đàn bà<br /> trong vai trò người bán (Lê Thị Quí, 2002).<br /> Ông Bruce Campbell (Trưởng đại diện Quĩ dân số Liên Hợp quốc tại Việt Nam) trong<br /> bài phát biểu của mình tại Hội nghị tổng kết chương trình phòng chống mại dâm 2006 -2010<br /> đã nhấn mạnh rằng: “Khi nói tới mại dâm, chúng ta không chỉ nhìn nhận tới vấn đền phòng<br /> chống sự lây lan của HIV trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao này mà cần nhìn nhận dưới<br /> góc độ quyền con người. Đó là quyền được học hành, quyền được hưởng các dịch vụ y tế, và<br /> quyền có thu nhập.”<br /> Như vậy, về mặt luật pháp, người mại dâm hoàn toàn có quyền được hưởng các<br /> quyền liên quan đến các dịch vụ xã hội. Tuy nhiên, mặc dù đã có quy định về các quyền cơ<br /> bản nhưng người bán dâm vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều rào cản để có thể tiếp cận<br /> được với các dịch vụ thiết yếu cho đời sống của họ. Một số rào cản có liên quan tới chi phí,<br /> sự tiện lợi hoặc kiến thức. Tuy nhiên phần lớn các rào cản này là do sự kỳ thị, phân biệt đối<br /> xử của xã hội và sự sợ hãi lo sợ bị bắt giữ của những người mại dâm gây ra. Bài viết này<br /> được thực hiện trong nghiên cứu mô tả về những khó khăn và thách thức mà người mại dâm<br /> (NMD) đã và đang gặp phải trong bối cảnh việc thực hiện quyền của họ còn rất nhiều hạn<br /> chế.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> Bài viết “Xúc tiến thực hiện quyền, nhân phẩm và phúc lợi xã hội cho người mại dâm.<br /> Một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về mại dâm tại Việt Nam” được thực hiện trong<br /> khuôn khổ của dự án “Thúc đẩy quyền và hòa nhập xã hội cho nhóm người thiệt thòi ở Việt<br /> Nam: Xây dựng năng lực thể chế và nâng cao nhận thức cộng đồng” do tổ chức Oxfam tài trợ<br /> và Viện Nghiên cứu Xã hội thực hiện năm 2013. Mục đích của dự án nhằm thúc đẩy bảo vệ<br /> quyền, nhân phẩm và phúc lợi của bốn nhóm thiệt thòi này và tạo điều kiện thuận lợi để họ có<br /> thể hòa nhập với xã hội. Nghiên cứu thực hiện tại 4 thành phố lớn của Việt Nam, nơi mà theo<br /> số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có số người mại dâm cao trong cả<br /> nước, đó là Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Phương pháp chủ đạo<br /> của nghiên cứu này là phương pháp định tính với các kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận<br /> nhóm. Tổng cộng có 36 nữ mại dâm và 8 nam mại dâm, 8 nhóm người dân cộng đồng, và một<br /> số người đại diện cho các cơ quan thực thi chính sách và luật pháp (Trung tâm Phòng, chống<br /> HIV/AIDS, Chi cục Phòng, chống Tệ nạn Xã hội các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ,<br /> TP Hồ Chí Minh) tham gia phỏng vấn. Tác giả bài viết này tham gia dự án với tư cách là<br /> nghiên cứu viên chính.<br /> Trư ng Đ i h c Thăng Long<br /> <br /> 287<br /> <br /> K y u công trình khoa h c 2015 - Ph n II<br /> <br /> Câu hỏi nghiên cứu<br /> Bài viết cũng đưa ra một số nét về thực trạng đời sống kinh tế-xã hội của nhóm mại<br /> dâm, đặc biệt các vấn đề liên quan đến quyền đã được quy định trong các chính sách pháp luật<br /> được thực thi tại Việt Nam với các câu hỏi nghiên cứu sau:<br /> • Những nguyên nhân mang tính cấu trúc (vĩ mô – trung mô – vi mô) ảnh hưởng đến<br /> cuộc sống của người mại dâm (NMD) tại Việt Nam như thế nào?<br /> • Người mại dâm ở Việt Nam bị kỳ thị và phân biệt đối xử như thế nào? Những<br /> nguyên nhân nào khiến cho họ bị kỳ thị và PBĐX?<br /> • Những nhu cầu thực sự của NMD Việt Nam trong việc cải thiện các điều kiện làm<br /> việc hiện nay của họ và khi họ tái hoà nhập cộng đồng?<br /> • Người mại dâm ở Việt Nam cần những điều kiện gì từ phía xã hội để có thể xây<br /> dựng và thực hiện một chương trình bền vững hỗ trợ họ thực hiện các quyền của mình?<br /> 3. Một số phát hiện chính từ nghiên cứu.<br /> Kết quả phân tích từ số liệu định tính trong nghiên cứu này nhằm đưa ra bức tranh<br /> chân thật nhất về cuộc sống của NMD cũng như những gì mà họ gặp phải khi họ là NMD qua<br /> đó mô tả những khó khăn mà họ gặp phải khi quyết định bước chân vào công việc này. Sự kỳ<br /> thị cũng như cảm giác mặc cảm tự ti về thân phận của mình chính là điều xuyên suốt trong tất<br /> cả các phần của báo cáo này.<br /> Những phát hiện từ nghiên cứu cho thấy khi là NMD, nghĩa là họ phải sống và làm<br /> việc trong một môi trường nhiều rủi ro và nguy hiểm. Mặc dù những bằng chứng của nghiên<br /> cứu cho thấy NMD có thu nhập khá cao nhưng khoảng cách thu nhập giữa những phụ nữ<br /> đứng đường và phụ nữ nuôi nhốt quá lớn13 (nếu như những phụ nữ mại dâm trẻ, đẹp có thể có<br /> thu nhập từ 30 – 45 triệu đồng một tháng thì nhóm phụ nữ mại dâm đứng đường chỉ khoảng<br /> từ 3 đến 5 triệu đồng một tháng) chứng tỏ tính dễ bị tổn thương và dễ thay đổi của nhóm dân<br /> số này bởi nhiều chị em ý thức được rằng:<br /> “Cái nghề này tuổi thọ ngắn lắm chị ạ, vì vậy khi còn trẻ thì còn tranh thủ được nhan<br /> sắc và sức khỏe thì phải tận dụng tối đa thế mạnh đó để kiếm tiền. Em giờ mới thấy, lúc mới<br /> vào nghề, một đêm đi khách có ngay một trăm USD nhưng giờ tầm này thì năm trăm ngàn<br /> cũng phải chấp nhận” (M, 43 tuổi, Hà Nội)<br /> Ngoài ra, mặc dù thu nhập của NMD trong nghiên cứu này khá cao nhưng những dịch<br /> vụ mà họ được hưởng không tương xứng với số tiền mà họ có. Đa số chị em đều chỉ thuê nhà<br /> ở chật chội vì tiền còn dùng vào nhiều mục đích khác nhau: gửi về cho gia đình, nuôi con thơ,<br /> bao chồng nghiện, vui chơi, giải trí v.v.. Không một ai trong nghiên cứu này hiện đang có bảo<br /> hiểm xã hội và bảo hiểm y tế dù chi phí dành cho khoản này chỉ bằng số tiền chi tiêu sinh hoạt<br /> ở mức trung bình trong một ngày của họ (130 nghìn đồng).<br /> Bằng chứng từ nghiên cứu cũng cho thấy, NMD hầu như không có bạn để chia sẻ<br /> những vui buồn mà họ gặp trong cuộc sống. Một phần vì mặc cảm về nghề nghiệp và một<br /> phần họ cũng chỉ thoải mái và vui vẻ khi gặp những người bạn cùng hoàn cảnh và công việc<br /> với mình. Đa số NMD che giấu công việc của mình đối với gia đình, chồng và con cái mặc dù<br /> <br /> 13<br /> <br /> Khái niệm mại dâm đứng đường là những người mại dâm tự hoạt động và đi khách, thường là những người<br /> mại dâm đã không còn trẻ, nghèo, sử dụng ma túy, rượu và tỷ lệ nhiễm HIV cao. Mại dâm nuôi nhốt là những<br /> người mại dâm sống trong các nhà hàng (quán bia, quán karaoke, massge) được quản lý bởi chủ chứa hay quản<br /> lý nhà hàng.<br /> <br /> Trư ng Đ i h c Thăng Long<br /> <br /> 288<br /> <br /> K y u công trình khoa h c 2015 - Ph n II<br /> <br /> nhiều khi chính công việc “không đàng hoàng” đó đang là nguồn thu chính để nuôi cha mẹ,<br /> nuôi cơn nghiện của chồng và nuôi những đứa con ăn học.<br /> Em phải giấu con em đấy, em sợ nhất là nó biết mẹ nó làm gái thì chắc nó không nhận<br /> tiền em gửi về nuôi nó ăn học đâu … mà bố mẹ em cũng thế, biết em làm nghề mạt<br /> hạng này chắc từ em luôn (L, 32 tuổi, Hải Phòng)<br /> Một trong những phát hiện quan trọng của nghiên cứu này là những thông tin về công<br /> việc của NMD. Với khoảng thời gian trung bình từ 4-12 năm trong nghề cũng (người mới vào<br /> là 6 tháng, người làm lâu nhất tới 19 năm) đủ để NMD có thể chia sẻ những niềm vui cũng<br /> như những rủi ro trong công việc. Điều đáng nói ở đây là những rủi ro cũng như những kỷ<br /> niệm vui của NMD trong nghiên cứu này đều gắn liền với khách hàng của họ. Chân dung<br /> khách làng chơi trong nghiên cứu này hiện lên một cách đa chiều, có khi là: đẹp trai, hào<br /> phóng, nhân hậu nhưng cũng có thể là kẻ gây ra bạo lực, chủ nhân của những cái thai vô thừa<br /> nhận, quỵt tiền, chơi hội đồng và là kẻ móc túi. Một điều đáng ngạc nhiên của nghiên cứu này<br /> là độ tuổi của nhóm khách hàng ngày càng cao (trung bình khoảng từ 50 đến 65, cá biệt còn<br /> có những người ngoài 70) và đối với nhiều NMD thì đây cũng là nhóm khách hàng tiềm năng<br /> bởi sự sòng phẳng, biết điều và không đòi hỏi những hành vi tình dục kỳ quặc như nhóm<br /> khách trẻ. Việc số lượng khách hàng lớn tuổi gia tăng cũng là một bằng chứng cho thấy nhu<br /> cầu có quan hệ tình dục với NMD đã ngày càng mở rộng ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp trong<br /> xã hội.<br /> Cho dù khách hàng là ai đi chăng nữa thì những số liệu từ nghiên cứu cũng cho thấy<br /> nhiều NMD đã có được kinh nghiệm từ công việc thể hiện trong việc họ đã chủ động nhận<br /> diện được khách làng chơi và những nguy cơ mà họ có thể lường trước được như bệnh tật,<br /> bạo lực để có thể từ chối hoặc tìm các giải pháp an toàn cho bản thân mình.<br /> Phát hiện từ nghiên cứu cũng cho thấy câu chuyện về tình dục và khoái cảm đã đi theo<br /> một chiều hướng khác. Cho dù nhiều NMD thừa nhận rằng họ đi khách chỉ để có tiền phục vụ<br /> các nhu cầu khác của mình (sử dụng ma túy, nuôi con, nuôi chồng và phục vụ bản thân v.v) vì<br /> vậy họ không có cảm hứng nào với khác tuy nhiên một số NMD, họ đã tìm được khoái cảm<br /> trong khi quan hệ với khách hàng. Câu chuyện đáng nói ở đây là tình dục không dành cho<br /> khoái cảm vì bản thân NMD không thích đạt được điều đó. Với họ tình dục chỉ đơn thuần là<br /> công việc để có tiền, nếu có khoái cảm thì mục đích đi nhiều khách để có tiền sẽ không thực<br /> hiện được.<br /> 4. Bàn luận<br /> Khi chúng tôi tiến hành nghiên cứu này thì mại dâm vẫn bị coi là bất hợp pháp tại Việt<br /> Nam, vì vậy việc bắt giữ, khám xét (đặc biệt là trong những dịp cao điểm ) NMD vẫn là<br /> nhiệm vụ của những người thừa hành pháp luật. Chính vì vậy việc thi hành các nhiệm vụ của<br /> công an lại trở thành nỗi ám ảnh và lo sợ của NMD. Điều này khiến cho nhiều NMD luôn<br /> cảm thấy sống trong sự bất ổn và những mặc cảm tội lỗi do công việc không được thừa nhận<br /> của mình.<br /> Một phát hiện khá quan trọng trong nghiên cứu này là cảm giác tự kỳ thị và tự xỉ nhục<br /> công việc của bản thân NMD. Mặc dù sự kỳ thị luôn hiện hữu trong suốt quá trình sống và<br /> làm việc của họ tuy nhiên sự tự kỳ thị và nỗi hổ thẹn về công việc luôn ám ảnh NMD gần như<br /> từ khi bước chân vào nghề.<br /> <br /> Trư ng Đ i h c Thăng Long<br /> <br /> 289<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản