Y học cổ truyền: Chương 7 - Các bệnh về ruột - Nguyễn Khắc Thái Bảo

Chia sẻ: Bảo Nguyễn Khắc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:37

0
167
lượt xem
66
download

Y học cổ truyền: Chương 7 - Các bệnh về ruột - Nguyễn Khắc Thái Bảo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu "Y học cổ truyền: Chương 7 - Các bệnh về ruột" giới thiệu các bài thuốc, kinh nghiệm dân gian trong điều trị các bệnh liên quan đến ruột. Các bệnh được đề cập đến như: Viêm ruột, rối loạn chức ruột, ung thư trực tràng, ung thư đại tràng, viêm bàng quang cấp tính và mạn tính, bài thuốc đại tràng Hoàn Bà Giằng, xuất xứ và biến chứng theo y học cổ truyền. Mời bạn đọc tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Y học cổ truyền: Chương 7 - Các bệnh về ruột - Nguyễn Khắc Thái Bảo

  1. Biên soạn : Nguyễn Khắc Bảo Y HỌC CỔ TRUYỀN CHƯƠNG 7 CÁC BỆNH VỀ RUỘT Khởi biên : TP.HCM THÁNG 10-2012 1
  2. CHƯƠNG 7 CÁC BỆNH VỀ RUỘT - Phương tây có câu “người Việt Nam chết trên đống thuốc”. Nền y học cổ truyền dân tộc có nhiều bài thuốc rất huyền diệu, tuy nhiên nhưng phương thuốc hay này đang bị chìm dần vào quên lãng và dần dần mất đi niềm tin từ chúng ta. - Người nghèo ở Việt Nam có rất ích điều kiện chăm sóc bởi nền y học hiện đại, một khi họ mắc các bệnh hiểm nghèo thì chỉ có thể chờ chết, hoặc nếu có điều kiện thì đôi khi tây y cũng bó tay với nhiều trường hợp. - Với mục đích sưu tầm các bài thuốc hay dân gian để điều trị hầu hết các loại bệnh, cũng như cung cấp những bài thuốc cổ truyền hay cho những ai thật sự đang rất cần và tin tưởng vào nó, một cứu cánh cho người nghèo mắc bệnh... Người dùng trước khi sự dụng các bài thuốc này cần nghiên cứu thật kỉ các thông tin trong sách này, những vấn đề còn thắc mắc thì nên hỏi thầy thuốc đông y để tránh những việc đáng tiếc. Mọi thắc mắc xin liên lạc tác giả qua. Email : nkbao80@gmail.com Lời tác giả 2
  3. MỤC LỤC CHƯƠNG 7 .......................................................................................................................2 VẤN ĐỀ 1 : VIÊM RUỘT................................................................................................4 1. Viêm ruột giả mạc……………………………………………………………………………4 2. Viêm ruột mạn……………………………………………………………………………….5 3. Để chữa viêm ruột mạn tính, Đông y gợi ý 2 bài thuốc tiêu biểu sau………………………..6 4. Vị thuốc này lưu truyền trong dân gian cùng với những truyền thuyết thú vị……………….6 5. Sách “Thiên Gia Điệu Phương” có nói về bệnh này như sau………………………………..7 VẤN ĐỀ 2 : RỐI LOẠN CHỨC RUỘT .......................................................................16 1. Sách “Thiên Gia Điệu Phương” chép rằng………………………………………………...16 VẤN ĐỀ 3 : UNG THƯ TRỰC TRÀNG ......................................................................18 1.Lương y Trần Hoàng Bảo có một số bài thuốc trị bệnh này như sau……………………….18 2. BÀI THUỐC ................................................................................................................18 3. Bài thuốc từ cây Bạch Hoa Xà nổi tiếng……………………………………………………20 VẤN ĐỀ 4 : UNG THƯ ĐẠI TRÀNG ..........................................................................21 1.Biện chứng luận trị đông y viêm đại tràng…………………………….……………………21 2. Một số bài thuốc kinh nghiêm khác…………….………………………………………….24 3. Điều trị bằng đông y……….……………………………………………………………….26 4. Bài thuốc từ cây bạch hoa xà……………………………………………………………….30 VẤN ĐỀ 5 : VIÊM BÀNG QUANG CẤP TÍNH VÀ MẠN TÍNH.............................31 VẤN ĐỀ 6 : BÀI THUỐC ĐẠI TRÀNG HOÀN BÀ GIẰNG, XUẤT XỨ VÀ BIẾN CHỨNG THEO YHCT ..................................................................................................34 “Kiện tỳ hoàn” chuyên chữa bệnh về tiêu hóa và bệnh đại tràng……………………………...34 3
  4. CHƯƠNG 7 VẤN ĐỀ 1 : VIÊM RUỘT 1. Viêm ruột giả mạc Biện chứng đông y: Tì vị thấp chưng nhiệt uẩn, khí huyết ngưng kết. Cùng với các chất cặn bã tích trệ, vào ruột, bào lớp dịch mỡ mà hóa thành nước huyết đổ xuống dưới. Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, chỉ huyết sinh cơ. Đơn thuốc: Phương thức địa du tiền dịch (thụt giữ ở ruột). Công thức: Địa du 30g, Tích loại tán 8 chỉ (liều cho trẻ em). Đem Địa du bỏ vào 200 ml nước, sắc đặc còn 80 ml thì cho Tích loại tán vào trộn lẫn, rồi chia ra 4 lần để thụt vào ruột, mỗi ngày 2 lần. Đồng thời phối hợp uống thuốc Tích loại tán, mỗi ngày 4 lần, mỗi lần 1 chỉ. Hiệu quả lâm sàng: Quách X, 3 tuổi, Sốt cao 39-40o C liên tục trong 7 ngày mà không hạ nên được đưa vào viện. Đã dùng nhiều loại kháng sinh với liệu cao để trị nhiễm trùng như xen kẽ dùng streptomycin, tetracyclin, syntomycin bệnh đã khá hơn, thân nhiệt hạ còn 37o5 C, nhưng đến ngày thứ 10, đột nhiên trẻ bị ỉa chảy, mới đầu phân như nước, sau là nước máu. Một ngày đi hơn 10 lần, mỗi lần 30 - 40 ml, kèm theo mất nước độ hai, nôn oẹ, bụng trướng, quấy khóc không yên. Mạch trở nên tế nhược, thân nhiệt tǎng lên 38o6 C, soi kính hiển vi thấy phân có màng giả của ruột (+++). Chẩn đoán lâm sàng là viêm ruột có mạc giả. Ngoài việc bù nước và chất điện giải như kali, còn dùng neomycin, erythromycin vẫn không khống chế được bệnh tình. Bèn ngừng chữa tây y chuyển sang đông y. Trẻ vì mẹ thiếu sữa, phải nuôi bộ, luôn bị tích trệ. Nay sốt cao kéo dài dẫn đến tì vị thấp chưng nhiệt uẩn, khí huyết ngưng kết, kèm theo cặn bã tích trệ đưa vào ruột, bào dịch mỡ, hòa thành nước máu mà ỉa ra ngoài. Xét nghiệm phân thấy có nhiều mạc giả của ruột, đó là biểu hiện màng mỡ bị thương tổn. Cần phải thanh nhiệt giải độc, chỉ huyết sinh cơ. Cho dùng Phức phương địa du tiễn dịch thụt vào ruột, uống thuốc Tích loại tán. Sau 24 giờ ỉa chảy đỡ, giảm bớt số lần đi ngoài, phân từ dạng nước chuyển sang sền sệt. Chữa liền trong 3 ngày, đại tiện trở lại bình thường. Xét nghiệm phân không còn phát hiện giả mạc. Theo dõi trong 1 tuần, bệnh nhi khỏi ra viện. Bàn luận: Trường hợp này trẻ bị viêm ruột giả mạc điều trị bằng nước sắc Địa du cho vào Tích loại tán, lại phối hợp uống Tích loại tán, chỉ trong thời gian ngắn là khỏi bệnh, Tích loại tán là biệt dược bán ngoài thị trường. Bài thuốc này có chép 4
  5. trong sách Kim quĩ dực gồm có Thanh đại 2g, Trân châu 1g, Bột ngà voi (sấy) 1g, Ngưu hoàng 0,3g, Nhân chỉ giáp 0,15g, Bǎng phiến 1g, Bích tiên 1 g (nung), tất cả trộn lại với nhau tán thành bột mịn. Công dụng của thuốc này là thanh nhiệt giải độc, chống thối, sinh cơ, hay dùng nhất cho các bệnh thông thường ở xoang miệng như viêm amiđan có mủ, viêm họng cấp tính, bạch hầu đều thu được hiệu quả khá tốt. Còn dùng bài thuốc này để điều trị viêm loét đại trạng mạn tính cũng thu được hiệu quả rất mĩ mãn, cách chữa cũng như đối với viêm ruột giả mạc. Ngoài ra còn dùng Tích loại tán cho uống để chữa bệnh loét hành tá tràng, loét niêm mạc thực quản v.v... cũng thu được kết quả rất tốt. 2. Viêm ruột mạn Biện chứng đông y: Khí của tì vị vận hóa thất thường, vị khí cực hư. Cách trị: Bổ hư ôn trung, sáp tràng cố thoát. Đơn thuốc: Chân nhân dưỡng tạng thang. Công thức: Đảng sâm 12g, Bạch truật 10g, Cam thảo nướng 3g, Đương qui 6g, Bạch thược 12g, Nhục quế 6g, Nhục đậu khấu 10g, Mộc hương 6g, Kha tử 12g. Túc xác 6g, Can khương 6g. Sắc uống, ngày 1 thang. Hiệu quả lâm sàng: Chu XX, nam, 30 tuổi, công nhân. Hơn 3 nǎm lại đây, ngày đêm ngâm ngẩm đau bụng, ỉa chảy mỗi ngày 5 - 6 bận, đã chữa chạy nhiều mà không khỏi. Chẩn đoán là viêm ruột mạn tính, từng đến bệnh viện tiêm tĩnh mạch cloramphenicol, lại uống Tứ thần hoàn, hơn 100 thang Phụ tử lý trung hoàn thang, nhưng bệnh lúc đỡ lúc lại nặng, mãi mà không khỏi. Bệnh nhân thân thể gầy còm, sợ rét, tứ chi lạnh giá, không muốn ǎn, ǎn xong là đi lỏng, chất lưỡi non, rêu trắng dầy, mạch trầm trì tế nhược, thuộc chứng tì thận dương hư, không có sức vận hóa. Tì vị hư thì không tiêu hóa thức ǎn, vận hóa tinh vi dược. Tì thận dương hư, thì âm thủy không hóa lâu dần thành ra đi ngoài lúc canh nǎm, bệnh không dứt sẽ tiến tới chứng hoạt thoát. Chứng tỏ khí của tì vị vận hóa bất thường, vị khí cực hư. Chữa nên bổ hư ôn trung, sáp tràng cố thoát. Cho uống 5 thang bài Chân nhân dưỡng tạng thang, sau khi dùng thuốc chứng đau bụng và đi ngoài lúc canh nǎm có chuyển biến tốt rõ rệt, nhưng ngày vẫn đi lỏng 1-3 lần. Bài thuốc đã có công hiệu, nên nguyên phương thêm Phụ phiến 6g, Bổ cốt chỉ 10g, để ôn bổ thận dường, ích tì cốt thoát, dùng liền 10 thang. Uống thuốc xong, tứ chi trở nên ấm, ỉa lỏng ngừng, đại tiện đã bình thường, ǎn uống tǎng lên. Vì vậy bỏ vị can khương, cho uống tiếp 10 thang nữa để củng cố hiệu quả. Hai tháng sau thǎm lại mọi thứ đều tốt. 5
  6. 3. Để chữa viêm ruột mạn tính, Đông y gợi ý 2 bài thuốc tiêu biểu sau: Bài 1 Biện chứng đông y: Khí của tì vị vận hóa thất thường, vị khí cực hư. Cách trị: Bổ hư ôn trung, sáp tràng cố thoát. Đơn thuốc: Chân nhân dưỡng tạng thang. Công thức: Đảng sâm 12g, Bạch truật 10g, Cam thảo nướng 3g, Đương qui 6g, Bạch thược 12g, Nhục quế 6g, Nhục đậu khấu 10g, Mộc hương 6g, Kha tử 12g. Túc xác 6g, Can khương 6g. Sắc uống, ngày 1 thang. Bài 2 Biện chứng đông y: Tì thận dương hư. Cách trị: Ôn bổ mệnh môn, kiêm ôn tì vị, sáp tràng. Đơn thuốc: Gia vị tứ thần thang. Công thức: Bổ cốt chỉ 12 g, Ngô thù du 6g, Nhục đậu khấu 6g, Ngũ vị tử 6g, Bạch truật 10g, Phục linh 10g, Hoàng kỳ 12g, Đảng sâm 12g, Trần bì 6g, Ô mai 3 quả, Thạch lựu bì 6g, Phụ tử 6g, Quế chi 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 tháng. Hiệu quả lâm sàng: Lấy "Gia vị tứ thần thang" làm chủ, khi dùng có phần gia giảm. Đã từng chữa nhiều ca viêm ruột mạn, thông thường dùng 3 - 6 thang là khỏi. Bàn luận: Trong bài thuốc dùng Bổ cốt chỉ, Phụ tử để bổ mệnh môn, tráng thận dương; Ngô thù du, Quế chi, Nhục đậu khấu, Bạch truật, Đảng sâm, Hoàng kì, Trần bì, Phục linh để ôn tì vị, trợ tiêu hoá, thǎng thanh giáng ngọc; Ngũ vị tử. Ô mai, Thạch lựu bì để liễm trường, chỉ tả, làm cho dù đi ngoài lâu ngày cũng có thể dứt. (Theo Yhoccotruyen.com) 4. Trong Đông y, có một vị thuốc rất đặc biệt, với biệt danh là mã liên an (ngựa liền cả yên). Vị thuốc này lưu truyền trong dân gian cùng với những truyền thuyết thú vị. Mã liên an là vị thuốc thông dụng ở các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta và các tỉnh miền Nam Trung Quốc. “Mã liên an” là cách đọc theo âm Hán – Việt. Đồng bào dân tộc ở các tỉnh miền núi, thường phát âm chệch đi một chút, như ở Tuyên Quang, gọi là “mã lìn ón”, ở Bắc Kạn là “mạ liền an”... Theo Đông y, mã liên an có vị đắng hơi ngọt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc. Dùng chữa ngược tật (sốt rét), cảm mạo phát sốt lúc nóng lúc lạnh, tiết tả (tiêu chảy), lỵ tật (bệnh lỵ), vị thống (đau vùng dạ dày), lâm trọc (tiểu tiện nhỏ 6
  7. giọt, tiểu đục...). Liều dùng: nếu sắc uống dùng từ 4-8g, nếu tán bột uống dùng từ 2-4g. Như vậy, ngoài tác dụng chữa cảm sốt mà cụ lang người dân tộc đã áp dụng để chữa khỏi bệnh cho Bác Hồ, cây còn có thể sử dụng để chữa trị một số chứng bệnh khác. Thêm 3 bài thuốc có dùng mã liên an - Chữa viêm ruột cấp tính và mạn tính: Dùng rễ củ mã liên an, phơi khô, nghiền mịn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần từ 1,5-3g, chiêu bằng nước sôi. - Chữa viêm thận mạn tính, đau lưng: Dùng 3-6g rễ mã liên an tươi, sắc nước uống trong ngày. - Chữa rắn độc cắn: Dùng lá mã liên an tươi 50-60g, giã nát, hòa vào 50ml rượu trắng, vắt lấy nước uống. Bã đắp kín xung quanh vết thương. (Theo Dantri) 5. Sách “Thiên Gia Điệu Phương” có nói về bệnh này như sau : Bài 97 : Viêm ruột cấp Biện chứng đông y: Tì hư thấp khốn, vận hóa thất thường. Cách trị: Vận tì hóa thấp. Đơn thuốc: Vị linh thang và Tam nhân thang gia giảm. Công thức: 1. Phục linh 15g, 2. Trư linh 9g, 3. Thương truật 9g, 4. Hậu phác 9g, 5. Trạch tả 9g, 6. Quế chi 3g, 7. Cam thảo 6g, 7
  8. 8. Dĩ mễ 9g, 9. Hạnh nhân 9g, 10. Thông thảo 3g, 11. Bạch khấu nhân 6g, 12. Hoạt thạch 9g, 13. Sinh khương 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Hiệu quả lâm sàng: Tô X, nam, 45 tuổi, cán bộ. Tới khám ngày 7-7-1973. Trước đây bệnh nhân đã bị tức ngực, thở ngắn, có lúc đau vùng ngực. Kiểm tra điện tâm đồ không thấy có thay đổi rõ rệt, ngày 5-7 đột nhiên đi tháo, phân ra như nước, một ngày hơn 20 lần. Đã khám và cho uống rượu thuốc opi, còn cho dùng các vị thuốc như Ô mai, Ngũ bột tử, Sinh mẫu lệ để thu sắp, bên ngoài thì dùng Cao khổ sâm đắp lên rốn để cầm ỉa chảy. Sau khi dùng thuốc quả nhiên số lần đi lỏng giảm bớt, chỉ còn 6-7 lần. Nhưng vẫn thấy mạch nhu hoãn, rêu lưỡi trắng bẩn, chất lưỡi nhạt. Tổng hợp tứ chẩn, thấy đây là trường hợp bệnh phát sinh vào giữa hè, thử thấp làm tổn thương đến tì vị. Tì vị thấp bao vây, vận hóa mất bình thường, thử thấp chảy xuống dưới gây chướng bụng, đau rốn, kém ǎn và tức ngực. Tì chủ tứ chi, nên thấy tay chân, mỏi mệt. Rêu lưỡi trắng bẩn, mạch nhu hoãn là triệu chứng thấp nặng. Lưỡi nhạt mà mạch hư, là triệu chứng của tì hư. Tất cả các chứng trên rõ rằng cǎn nguyên bệnh là tì hư, bị thấp bao vây. Vì dùng rượu thuốc opio và thuốc thu sáp cho nên vẫn chướng bụng, đau bụng, dùng bài thuốc vận tì hóa thấp. Cho uống "Vị linh thang và Tam nhân thang gia giảm". Uống 9 thang, thấy giảm hẳn đau chướng bụng, chỉ còn đi ngoài 1-2 lần mỗi ngày, ǎn uống khá hơn, nhưng đại tiện chưa thành khuôn. Khám thấy mạch trầm, tế, vô lực, chất lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, có thể thấy thử thấp đã mất được phần lớn, cần trợ giúp cho tì dương đang bị giam hãm, dùng phương pháp kiện tì khư thấp tiêu chướng, cho uống bài thuốc trên có gia giảm như sau: Bạch sâm 9g, Tiêu truật 9g, Phục linh 9g, Cam thảo 6g, Quảng 8
  9. mộc hương 6g, Trần bì 9g, Dĩ mễ 15g, Quế chi 3g, Tam tiên thán (tức Sơn tra, Mạch nha, Trần khúc) 15g, Hậu phác 6g, Uống 2 thang đã thấy bệnh yên, tinh thần tỉnh táo, ǎn uống tốt, chỉ còn mệt mỏi, biểu hư tự hãn, lại cho uống tiếp 3 thang nữa, bệnh khỏi hẳn. Bàn luận: Trường hợp viêm ruột cấp tính này chủ yếu biểu hiện ở đi tháo, lỏng như nước. Đông y cho rằng thử tháp bạo tả, vừa là thực, vừa là nhiệt, nên xử lý bằng cách sơ lợi. Đi lỏng lâu ngày là thiên về hư, thiên về hàn, thì lại phải cố sáp. Trường hợp này là bạo tả rõ ràng, cho nhầm thuốc sáp, càng uống bệnh càng nặng. Cần phải thận trọng biện chứng cho đúng, thì luận trị mới đúng. Bài 098 : Viêm ruột mạn Biện chứng đông y: Tì thận dương hư. Cách trị: Ôn bổ mệnh môn, kiêm ôn tì vị, sáp tràng. Đơn thuốc: Gia vị tứ thần thang. Công thức: 1. Bổ cốt chỉ 12 g, 2. Ngô thù du 6g, 3. Nhục đậu khấu 6g, 4. Ngũ vị tử 6g, 5. Bạch truật 10g, 6. Phục linh 10g, 7. Hoàng kỳ 12g, 8. Đảng sâm 12g, 9. Trần bì 6g, 10. Ô mai 3 quả, 11. Thạch lựu bì 6g, 9
  10. 12. Phụ tử 6g, 13. Quế chi 6g. Sắc uống mỗi ngày 1 tháng. Hiệu quả lâm sàng: Lấy "Gia vị tứ thần thang" làm chủ, khi dùng có phần gia giảm. Đã từng chữa nhiều ca viêm ruột mạn, thông thường dùng 3 - 6 thang là khỏi. Bàn luận: Trong bài thuốc dùng Bổ cốt chỉ, Phụ tử để bổ mệnh môn, tráng thận dương; Ngô thù du, Quế chi, Nhục đậu khấu, Bạch truật, Đảng sâm, Hoàng kì, Trần bì, Phục linh để ôn tì vị, trợ tiêu hoá, thǎng thanh giáng ngọc; Ngũ vị tử. Ô mai, Thạch lựu bì để liễm trường, chỉ tả, làm cho dù đi ngoài lâu ngày cũng có thể dứt. Bài 99 : Viêm ruột mạn Biện chứng đông y: Khí trệ thấp trở. Cách trị: Hành khí hóa ứ, thêm thảm thấp nhuyễn kiên. Đơn thuốc: Khổ sâm thang. Công thức: 1. Khổ sâm 6 - 9g, 2. Đương qui 10g, 3. Xích thược 12g, 4. Đại hoàng (chế) 6-9g, 5. Mộc hương (nướng) 9g, 6. Hải tảo 15g, 7. Đào nhân 9g, 8. Xuyên phác 5g, 9. Bạch truật (sống) 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 tháng. Đại tiện lỏng thêm sơn tra nhục 10g, đại tiện bí thêm đại ma nhân 12g 10
  11. Bài 100 : Viêm ruột mạn Biện chứng đông y: Khí của tì vị vận hóa thất thường, vị khí cực hư. Cách trị: Bổ hư ôn trung, sáp tràng cố thoát. Đơn thuốc: Chân nhân dưỡng tạng thang. Công thức: 1. Đảng sâm 12g, 2. Bạch truật 10g, 3. Cam thảo nướng 3g, 4. Đương qui 6g, 5. Bạch thược 12g, 6. Nhục quế 6g, 7. Nhục đậu khấu 10g, 8. Mộc hương 6g, 9. Kha tử 12g. 10. Túc xác 6g, 11. Can khương 6g. Sắc uống, ngày 1 thang. Hiệu quả lâm sàng: Chu XX, nam, 30 tuổi, công nhân. Hơn 3 nǎm lại đây, ngày đêm ngâm ngẩm đau bụng, ỉa chảy mỗi ngày 5 - 6 bận, đã chữa chạy nhiều mà không khỏi. Chẩn đoán là viêm ruột mạn tính, từng đến bệnh viện tiêm tĩnh mạch cloramphenicol, lại uống Tứ thần hoàn, hơn 100 thang Phụ tử lý trung hoàn thang, nhưng bệnh lúc đỡ lúc lại nặng, mãi mà không khỏi. Bệnh nhân thân thể gầy còm, sợ rét, tứ chi lạnh giá, không muốn ǎn, ǎn xong là đi lỏng, chất lưỡi non, rêu trắng dầy, mạch trầm trì tế nhược, thuộc chứng tì thận dương hư, không có sức vận hóa. Tì vị hư thì không tiêu hóa thức ǎn, vận hóa tinh vi dược. Tì thận dương hư, thì âm thủy không hóa lâu dần thành ra đi ngoài lúc canh nǎm, bệnh không dứt sẽ tiến tới chứng hoạt 11
  12. thoát. Chứng tỏ khí của tì vị vận hóa bất thường, vị khí cực hư. Chữa nên bổ hư ôn trung, sáp tràng cố thoát. Cho uống 5 thang bài Chân nhân dưỡng tạng thang, sau khi dùng thuốc chứng đau bụng và đi ngoài lúc canh nǎm có chuyển biến tốt rõ rệt, nhưng ngày vẫn đi lỏng 1-3 lần. Bài thuốc đã có công hiệu, nên nguyên phương thêm Phụ phiến 6g, Bổ cốt chỉ 10g, để ôn bổ thận dường, ích tì cốt thoát, dùng liền 10 thang. Uống thuốc xong, tứ chi trở nên ấm, ỉa lỏng ngừng, đại tiện đã bình thường, ǎn uống tǎng lên. Vì vậy bỏ vị can khương, cho uống tiếp 10 thang nữa để củng cố hiệu quả. Hai tháng sau thǎm lại mọi thứ đều tốt. Bài 105 : Viêm ruột giả mạc Biện chứng đông y: Tì vị thấp chưng nhiệt uẩn, khí huyết ngưng kết. Cùng với các chất cặn bã tích trệ, vào ruột, bào lớp dịch mỡ mà hóa thành nước huyết đổ xuống dưới. Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, chỉ huyết sinh cơ. Đơn thuốc: Phương thức địa du tiền dịch (thụt giữ ở ruột). Công thức: Địa du 30g, Tích loại tán 8 chỉ (liều cho trẻ em). Đem Địa du bỏ vào 200 ml nước, sắc đặc còn 80 ml thì cho Tích loại tán vào trộn lẫn, rồi chia ra 4 lần để thụt vào ruột, mỗi ngày 2 lần. Đồng thời phối hợp uống thuốc Tích loại tán, mỗi ngày 4 lần, mỗi lần 1 chỉ. Hiệu quả lâm sàng: Quách X, 3 tuổi, Sốt cao 39-40o C liên tục trong 7 ngày mà không hạ nên được đưa vào viện. Đã dùng nhiều loại kháng sinh với liệu cao để trị nhiễm trùng như xen kẽ dùng streptomycin, tetracyclin, syntomycin bệnh đã khá hơn, thân nhiệt hạ còn 37o5 C, nhưng đến ngày thứ 10, đột nhiên trẻ bị ỉa chảy, mới đầu phân như nước, sau là nước máu. Một ngày đi hơn 10 lần, mỗi lần 30 - 40 ml, kèm theo mất nước độ hai, nôn oẹ, bụng trướng, quấy khóc không yên. Mạch trở nên tế nhược, 12
  13. thân nhiệt tǎng lên 38o6 C, soi kính hiển vi thấy phân có màng giả của ruột (+++). Chẩn đoán lâm sàng là viêm ruột có mạc giả. Ngoài việc bù nước và chất điện giải như kali, còn dùng neomycin, erythromycin vẫn không khống chế được bệnh tình. Bèn ngừng chữa tây y chuyển sang đông y. Trẻ vì mẹ thiếu sữa, phải nuôi bộ, luôn bị tích trệ. Nay sốt cao kéo dài dẫn đến tì vị thấp chưng nhiệt uẩn, khí huyết ngưng kết, kèm theo cặn bã tích trệ đưa vào ruột, bào dịch mỡ, hòa thành nước máu mà ỉa ra ngoài. Xét nghiệm phân thấy có nhiều mạc giả của ruột, đó là biểu hiện màng mỡ bị thương tổn. Cần phải thanh nhiệt giải độc, chỉ huyết sinh cơ. Cho dùng Phức phương địa du tiễn dịch thụt vào ruột, uống thuốc Tích loại tán. Sau 24 giờ ỉa chảy đỡ, giảm bớt số lần đi ngoài, phân từ dạng nước chuyển sang sền sệt. Chữa liền trong 3 ngày, đại tiện trở lại bình thường. Xét nghiệm phân không còn phát hiện giả mạc. Theo dõi trong 1 tuần, bệnh nhi khỏi ra viện. Bàn luận: Trường hợp này trẻ bị viêm ruột giả mạc điều trị bằng nước sắc Địa du cho vào Tích loại tán, lại phối hợp uống Tích loại tán, chỉ trong thời gian ngắn là khỏi bệnh, Tích loại tán là biệt dược bán ngoài thị trường. Bài thuốc này có chép trong sách Kim quĩ dực gồm có Thanh đại 2g, Trân châu 1g, Bột ngà voi (sấy) 1g, Ngưu hoàng 0,3g, Nhân chỉ giáp 0,15g, Bǎng phiến 1g, Bích tiên 1 g (nung), tất cả trộn lại với nhau tán thành bột mịn. Công dụng của thuốc này là thanh nhiệt giải độc, chống thối, sinh cơ, hay dùng nhất cho các bệnh thông thường ở xoang miệng như viêm amiđan có mủ, viêm họng cấp tính, bạch hầu đều thu được hiệu quả khá tốt. Còn dùng bài thuốc này để điều trị viêm loét đại trạng mạn tính cũng thu được hiệu quả rất mĩ mãn, cách chữa cũng như đối với viêm ruột giả mạc. Ngoài ra còn dùng Tích loại tán cho uống để chữa bệnh loét hành tá tràng, loét niêm mạc thực quản v.v... cũng thu được kết quả rất tốt. Bài 106 : Viêm ruột hoại tử 13
  14. Biện chứng đông y: Thấp nhiệt tà độc, chước thương mạch lạc, ứ huyết nội trở, kinh khí bất hành. Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, trừ thấp hóa ứ, thông kinh chỉ thống. Đơn thuốc: Gia giảm bạch đầu ông thang. Công thức: 1. Bạch đầu ông 30g, 2. Hoàng liên 4,5g, 3. Trần bì 30g, 4. Kim ngân hoa 30g, 5. Bạch thương 18g, 6. Đương qui 10g, 7. Xích tiểu đậu 30g, 8. Điền thất mạt 3g, 9. Địa du than 12g, 10. Hoạt huyết đằng 30g, 11. Cam thảo 5g. Sắc uống, mỗi ngày một thang. Với người bệnh mới mắc, chính khí còn chưa suy, bụng trướng nhiệt thống thì thêm Đại hoàng, Hậu phác, bệnh đã tương đối lâu ngày, đau dữ dội, mạch tế vô lực thì thêm Nhân sâm; nếu ỉa máu không thôi, sắc mặt xanh xao thì thêm A giao châu hoặc Đào hoa tán (Xích thạch chi, Can khương, gạo tẻ); nếu có tẩy giun thì thêm Ô mai, Xuyên tiêu. Hiệu quả lâm sàng: Mã XX, nữ, 12 tuổi, học sinh, vào viện 15-7-1980. Người bệnh 5 ngày trước đây đột nhiên đau bụng từng cơn liên tục dữ dội. Phân như nước màu hồng, ngày đi 4- 5 bận. Thân nhiệt 38o3 C, thần sắc mệt mỏi, mặt nhanh nhợt, vẻ mặt đau đớn. Tim phổi không có gì khác thường, bụng trướng đầy, ấn đau rõ rệ. Xét nghiệm phân chứ huyết dương tính. Xét nghiệm máu: huyết sắc tố 6,6g, hồng cầu 2,32 triệu/mm3m, bạch cầu 16000/mm3, trung tính 88%. Tây y chẩn đoán lâm sàng là 14
  15. viêm ruột hoại tử. Mời khám điều trị, thấy mạch huyền sắc, lưỡi đỏ, rêu vàng bẩn. Cǎn cứ vào mạch chứng, thì đây là thấp nhiệt tà độc thiêu đốt làm thương tổn mạch lạc, ứ huyết nội trở, kinh khí không chạy. Điều trị phải thanh nhiệt giải độc, trừ thấp hóa ứ, thông kinh chỉ thống. Cho dùng Gia giảm bạch đầu ông thang, uống 5 thang, các chứng đều trở lại bình thường, cơn đau cơ bản khỏi hết, đại tiện bình thường. Tiếp đó cho dùng mấy thang điều lý khí huyết để củng cố, bệnh khỏi hoàn toàn, bệnh nhân ra viện. 15
  16. CHƯƠNG 7 VẤN ĐỀ 2 : RỐI LOẠN CHỨC RUỘT 1. Sách “Thiên Gia Điệu Phương” chép rằng 107. Rối loạn chức nǎng ruột Biện chứng đông y: Thoát lực, lao thương. Cách trị: Kiện tì, bổ thận. Đơn thuốc: Tứ vị thang gia vị. Công thức: 1. Đảng sâm 30g, 2. Phục linh 15g, 3. Bạch truật (sao) 15g, 4. Chích cam thảo 6g, 5. Kê huyết đằng 30g, 6. Tiên hạc thảo 30g, 7. Tiểu hồi (sao) 30g, 8. Hồng táo 10 quả. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Hiệu quả lâm sàng: lý XX, nam, 50 tuổi, nông dân. Tới khám 30-9-1977. Người bệnh khoảng tuần trước vào rừng chặt củi, ngã từ trên cao xuống. Buổi tối trở về thấy vùng quanh rốn đau ngâm ngẩm dai dẳng, thích ấn, kèm theo đau lưng, đại tiện phân nát, mỗi ngày 2-3 lần. Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế. Chẩn đoán lâm sàng là rối loạn chức nǎng ruột. Bèn cho uống bài Tứ vị thang gia vị, cho dùng 3 thang, các chứng đều khỏi hết. Bàn luận: Đông y cho rằng chứng rối loạn chức nǎng ruột phần lớn là do nhảy ngã, vác nặng hoặc quá lao lực gây ra. Trường hợp này là do khí vốn yếu lại nhảy mạnh làm cho tì thận khí bị tổn thương. Tì mà vận chuyển không khỏe, thǎng giáng thất thường, khí cơ không điều hoà, không thông thì đau, vì thế mà đau bụng phân nát. Thận chủ về đại tiểu tiện, lưng thuộc thận, thận hỏng thì lưng đau, tiểu tiện do thế mà thay đổi. Đau bụng thích ấn, lưỡi 16
  17. nhạt rêu trắng mạch trầm tế đều là biểu hiện của hư. Trong bài thuốc dùng tứ quân để kiến trung ích khí, phụ thêm có Kê huyết đằng, Tiên hạc thảo bổ thận, cầm ỉa. (Theo báo cáo, Tiên hạc thảo có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đường ruột), Tiểu hồi tán hàn giảm đau, Đại táo nâng tì bổ trung. Các vị thuốc cùng có tác dụng kiện tì bổ thận, hành khí trán thống, nên chỉ cần uống 3 thang là bệnh khỏi. 17
  18. CHƯƠNG 7 VẤN ĐỀ 3 : UNG THƯ TRỰC TRÀNG 1.Lương y Trần Hoàng Bảo có một số bài thuốc trị bệnh này như sau : + Phương 1: Ung thư trực tràng dùng Bạch hoa xà thiệt thảo, Bạch mao căn, Đường phèn - Bạch hoa xà thiệt thảo 150g, Bạch mao căn 150g, sắc nước uống. - Hoặc dùng Bạch hoa xà thiệt thảo 170g, Bạch mao căn 75g, Đường phèn 300g, sắc nước thay trà uống. - Phương này còn có thể điều trị ung thư thực quản. + Phương 2: Ung thư trực tràng dùng Mã xỉ hiện - Lấy Mã xỉ hiện khô 160g, Miến chi tử 20g, dùng 4 chén nước sắc còn 1 chén uống. +Phương 3: Tiên hạc thảo tiển - Thành phần : Tiên hạc thảo tươi 500g, Hồng táo 100g - Cách dùng : Sắc uống mỗi ngày 1 thang. - Công hiệu : Mát huyết tiêu sưng. - Chứng thích ứng: Ung thư trực tràng. - Phụ chú : Một bệnh nhân nữ 44 tuổi, đại tiện tình trạng niêm dịch có máu, mỗi ngày 2~4 lần, đã có hơn 2 năm. Đã qua các bệnh viện cấp tỉnh chẩn đoán là ung thư trực tràng. dùng phương pháp này trị liệu liên tục 2 tháng, chứng trạng biến mất. + Phương 4: Lộ Đảng Sâm trị ung thư trực tràng. - Thành phần: Lộ đảng sâm, Hoàng kỳ mỗi vị 30g; Bạch truật, Phục linh, Hoàng cầm, Sài hồ mỗi vị 9g: Đan sâm, Thục địa, Bạch thược, Đỗ trọng, Câu kỉ tử mỗi vị 15g; Thăng ma 6g. - Cách dùng: Mỗi ngày 1 thang, sắc nước uống. - Công hiệu: Điều trị ung thư trực tràng, công năng bổ trung ích khí. + Phương 5: Hậu phác trị ung thư tràng. - Thành phần: Hậu phác 9g; Bạch truật, Phục linh mỗi vị 12g; Bội lan 9g, Nhục khấu 10g, Thương truật 9g, Thái tử sâm 12g, Cam thảo 9g. - Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. - Công hiệu: Kiện Tỳ cầm tiêu chảy thích hợp dùng chứng sau khi thủ thuật ung thư trực tràng tiêu chảy không cầm. (Lương y Trần Hoàng Bảo) 2. Bài thuốc Bạch hoa thiệt thảo 1 lạng, Bạch anh 1 lạng, Long quỳ 1 lạng, Hồng đằng 5 đồng cân, Bồ công anh 5 đồng cân, Hoè giác 5 đồng cân, Bán chi liên 1 lạng, Nhẫn đông đằng 1 lạng, Địa du 5 đồng cân, Bại tương thảo 1 lạng. Gia giảm: + Phân có máu, gia than Hoè hoa, than Trắc bách + Lý cấp hậu trọng, bụng dưới đau, gia Mộc hương, Hoàng liên, Xích thược. 18
  19. + Đại tiện không thông, gia Qua lâu nhân, Tạo giác tử, Đại hoàng. + Bụng đau, gia Ô dược, Hậu phác , sắc nước uống. 19
  20. 3. Bài thuốc từ cây Bạch Hoa Xà nổi tiếng Bạch hoa xà thiệt thảo 1 lạng, Đảng sâm 3 đồng cân, Bát nguyệt trát 5 đồng cân, Hồng đằng 1 lạng, Bại tương thảo 1 lạng, bào Xuyên sơn giáp 5 đồng cân, Đan sâm 1 lạng, Bạch anh 1 lạng, Mộc man đầu 1 lạng, Sinh Mẫu lệ 1 lạng, Ô liễm môi 1 lạng, Qua lâu nhân (đập ra) 1 lạng, Sinh Chỉ thực đồng cân, Địa du thán 4 đồng cân. Sắc uống ngày 1 thang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản