
Ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thẩm mỹ của ảnh nghệ thuật
Khi phân tích lý luận ảnh nghệ thuật, có lẽ nên đề cập đến cả vị trí của
ảnh nghệ thuật trong nền văn hóa hiện đại và vai trò của nó trong việc
phát triển thẩm mỹ của xã hội.
Hai điều sau đây có lẽ đều có một ý nghĩa nhất định. Một là, ảnh nghệ
thuật là một loại hình nghệ thuật duy nhất được hình thành trên cơ sở
phối hợp gốc tài liệu - tạo hình với gốc nghệ thuật. Hai là, sau mấy
chục năm tồn tại, nghệ thuật nhiếp ảnh đã trở thành một trong những
hình thức hoạt động nghệ thuật có tính chất quần chúng rộng rãi nhất.
Cả hai điều này không thể không có những kết quả cực kỳ quan trọng
và rất phong phú chứa đựng tính chất của nền văn hóa chung, tính chất
tâm lý xã hội, tính chất tư tưởng và đặc biệt là tính chất thẩm mỹ.
Để làm sáng tỏ những kết quả này, trước hết chúng ta thấy rằng hình
tượng chứa đựng tài liệu lấy từ cuộc sống thực tế do con người bắt lấy
được nhờ kỹ thuật nhiếp ảnh đã không ngừng nâng cao vai trò thông tin
chính xác trong mọi phạm vi tiếp xúc của con người. Trong hoạt động
của con người, mặc dù ấn tượng do con mắt để lại thật vô cùng lớn (để
chứng minh có thể dẫn ra đây nhiều tài liệu thú vị có tính chất tâm sinh
lý, và có thể làm nhớ lại câu ngạn ngữ “trăm nghe không bằng một
thấy”). Song khả năng ghi nhận tin tức, và truyền đạt tin tức trong cả
một kỷ nguyên trước khi nhiếp ảnh ra đời xem ra thật vô cùng ít ỏi.

Nguyên nhân của tình trạng này không phải chỉ vì việc vẽ, khắc họa
hoặc nặn có lắm thứ thủ tục kỹ thuật phức tạp, mà chủ yếu là vì mọi
phương pháp diễn tả cuộc sống “bằng tay” đều mất đi tính chính xác.
Bởi lẽ chúng ta không thể biết được bức vẽ, bức khắc chạm, bức tranh,
bức tượng tái hiện lại hình thù đối tượng chính xác đến mức nào, bởi lẽ
chúng ta không bao giờ biết được những tác phẩm ấy thoát ly thực tế,
xuyên tạc thực tế và bịa đặt thêm đến mức nào…
Đúng là sự giới hạn này của 0những phương tiện tạo hình cũ đã được
khắc phục bởi nhiếp ảnh. Bức ảnh trình bày trước mắt chúng ta là một
vật thể, một hiện tượng, một hành động đúng với nguyên hình của
chúng, với sự chính xác về tài liệu. Dù cho những bức chân dung Lê-
nin do các họa sĩ: N.An-te man, N.Anđrê-ép, U.Brốt-xki vẽ trực tiếp
hấp dẫn và thú vị đến mức nào, những bức chân dung đó cũng không
thể đem lại cho chúng ta ấn tượng hoàn toàn chính xác về Via-đi-mia I-
lich như chúng ta có được khi xem ảnh.
Còn người đã tìm ra khả năng nhìn thấy cái mà trước đây người ta chỉ
có thể nghe được thôi. Nhiếp ảnh mở rộng thênh thang phạm vi gây ấn
tượng bằng mắt của chúng ta, thực hiện việc thu nhận tin tức chính xác
bằng cách không phụ thuộc vào mối quan hệ trực tiếp của con người
với đối tượng quan sát. Nhiếp ảnh đem lại cho con người khả năng, như
người ta thường nói, “nhìn thấy thế giới một cách vắng mặt”. Không đi
ra khỏi Mát-xcơ-va, không đi ra khỏi nhà, chúng ta cũng có thể nhìn
thấy “bằng mắt mình” hai năm rõ mười nhà máy thuỷ điện Brát-xki,
các giai đoạn của cuộc chiến tranh giải phóng ở Việt Nam, những nét

gồ ghề của bề mặt Mặt trăng, và thậm chí có thể thấy được những bức
tranh có một không hai của thời kỳ quá khứ xa xưa. Và hơn thế, coi con
người như một kẻ mục kích, như người chứng kiến những sự kiện đã
được ghi lại, nhiếp ảnh làm dấy lên ở họ tình cảm tiếp cận với cái đang
xảy ra trên thế giới. Nhiếp ảnh phá tung cái ranh giới chật hẹp của kinh
nghiệm sống của từng người, chụp được cái cảm giác thầm kín trong
mỗi một người, hướng từng nggười vào số phận chung của nhân loại.
Thật vậy, trong thời đại chúng ta, điện ảnh và vô tuyến truyền hình
cũng đang giải quyết những nhiệm vụ tương tự. Hai ngành này, bằng
những phương tiện công cộng, có khả năng ghi lại cuộc sống đang vận
động, đang đổi thay, đang tiến tới. Chúng có sức mạnh nhưng đồng
thời cũng có cái yếu so với nhiếp ảnh. Chúng không thể ghi được tâm
trạng con người, không thể bắt kịp cái xảy ra trong khoảnh khắc, không
thể làm cho cái đã xảy ra trở thành tài liệu vĩnh cửu cho hậu thế. Đó là
lý do tái ao quan hệ giữa nhiếp ảnh với điện ảnh và vô tuyến truyền
hình không phải là quan hệ cạnh tranh mà là quan hệ hợp tác nhằm giải
quyết các nhiệm vụ chung: nâng cao hiệu quả công tác thông tin bằng
mắt trong đời sống tinh thần của con người hiện đại, và trong việc biến
công tác này thành tài sản của đông đảo quần chúng nhân dân.
Tất cả những điều nói trên có lẽ liên quan tới nhiếp ảnh nói chung chứ
không riêng ảnh nghệ thuật. Ý nghĩa có tính chất đặc trưng của ảnh
nghệ thuật là ở chỗ nó kết hợp tài trí nghệ thuật với việc phản ánh thế
giới hiện thực một cách chính xác về tài liệu. Tức là sau khi rút ngắn
khoảng cách giữa nghệ thuật và thực tế, ảnh nghệ thuật bắt đầu nâng

cao ý thức thẩm mỹ của con người ngày nay bằng cách ghi lại một cách
có nghệ thuật các sự kiện có thực trong đời sống.
Khuynh hướng này xuất hiện trong thời đại chúng ta và trở thành phổ
biến đến mức nên coi đó như là một hiện tượng tâm lý – xã hội độc
đáo. Ở phần trước chúng tôi đã dẫn ra mỗi ví dụ chứng minh cho sự ra
đời của một số thể loại có tính chất tài liệu trong văn học hiện đại,
trong điện ảnh, trong sân khấu ngày nay. Những ví dụ do có lẽ nói lên
rằng trong thời đại chúng ta, con người luôn luôn đòi hỏi được hiểu biết
chính xác cái gì đang xảy ra trên thế giới; đòi hỏi có quyền không tin
bất cứ sự bịa đặt nào, bất cứ sự tưởng tượng nào không dựa trên tài liệu
chính xác của sự kiện. Tất nhiên không phải ảnh nghệ thuật “xúi dục”
người ta đòi hỏi như vậy, nhưng chính ảnh nghệ thuật là “kẻ đầu trò”
kích thích, củng cố và phát triển những đòi hỏi đó.
Để đánh giá vai trò của nghệ thuật nhiếp ảnh trong việc làm cho sự
thống nhất tính nghệ thuật với tính tài liệu phù hợp với nhu cầu xã hội,
cần phải tính tới sức nặng của cái ấn tượng do ảnh gây ra trong toàn bộ
kinh nghiệm thẩm mỹ bằng mắt của chúng ta. Bởi vì nếu như trong nền
văn hóa trước đây, sự cảm thụ bằng mắt được nuôi dưỡng từ lúc ấu thơ
bằng những bức tranh, bức họa trong an-bum gia đình, hoặc bằng
những tiểu phẩm chân dung, và nếu như trong thời cổ xưa, sự cảm thụ
bằng mắt được nuôi dưỡng từ lúc ấu thơ bằng những bức tranh thánh
hoặc những bức tranh dân gian, thì trong sinh hoạt của con người ngày
nay, những bức tiểu phẩm, những bức tranh, bức họa trong an-bum hầu
như đã bị thay thế hoàn toàn bằng ảnh. Các bức ảnh này hoặc tự làm

lấy hoặc cắt từ các tạp chí tranh ảnh. Người ta treo nó lên tường nhà,
đặt trên bàn làm việc, dán vào an-bum, bày lên giá sách, trình bày trong
các cặp vở thông qua phương pháp ê-pi-acốp. Trong “cuộc chiến đấu”
chính nghĩa của nhiếp ảnh để giành phần thắng về mình và trong việc
nó thay thế những hình thức cũ của nghệ thuật tạo hình rõ ràng là giá trị
thẩm mỹ của những bức ảnh lấy đề tài sinh hoạt thường ngày hãy còn
rất thấp. Nhưng dù thế nào chăng nữa, ý nghĩa của việc này là ở chỗ ý
thức thẩm mỹ của tâm lý cảm thụ bằng mắt của con người ở thế kỷ XX
đã được hình thành trước hết là do cách mô tả thực tế vừa có tính tài
liệu vừa có tính nghệ thuật. các tác phẩm ảnh nghệ thuật làm cho việc
cảm thụ hiện thực sinh động của chúng ta thêm sâu sắc, giúp ta nhìn
cuộc sống theo con mắt văn hóa - thẩm mỹ, giúp ta hoàn thiện khả năng
tiếp thu cái đẹp.
Nhân dịp này, chúng ta hãy nhớ lại những tư tưởng sâu sắc của Các
Mác về sự khác nhau giữa cáo nhìn của con người và cái nhìn của loài
vật. Cơ sở tâm lý của việc cảm thụ bằng mắt cũng như của mọi cảm
giác khác của con người đã được điểu chỉnh tận gốc trong quá trình
phát triển của xã hội, đã được “nhân tính hóa”. Và như các Mác đã nói:
“mắt người nhận biết và cảm thấy thích thú mọi cách khác không giống
con mắt thô thiển của loài vật”, bởi vì “việc hình thành năm giác quan
là công việc của toàn bộ tiến trình lịch sử thế giới đến ngày nay”.
Hội họa, đồ họa, điêu khắc tồn tại suốt hàng trăm năm nay. Ngày nay
nghệ thuật nhiếp ảnh nhập dòng vào đây và bắt đầu mang lại những sự
bổ sung quan trọng cho quá trình “nhân tính hóa” việc cảm thụ thế giới

