
Ý nghĩa tác phẩm Tân Việt Nam
của Phan Chu Trinh – Phần 2
Theo Phan, hai vụ dân biến và binh biến “đều do lời cổ động trong những trước
tác của PBC và đã được thực hiện không chút sai sót” 34. Vụ dân biến sở dĩ có hậu
quả xấu xa một phần cũng vì “quan lại Nam triều phản ứng quá mức 35, rồi hai
phái bài Pháp và tự trị kích bác lẫn nhau”. Phan cho rằng binh biến là kết quả tất
yếu của dân biến, vì một khi “chủ nghĩa tự trị đã bị chủ nghĩa áp chế đánh bại,
người bị tù bị chết đầy rẫy, người ta biết chủ nghĩa tự trị dựa Pháp ắt không thành
công thì cái thế tất yếu là không thể không chạy theo đảng bài Pháp. Do đó nghĩ
đến bạo động là cái thế phải đến, cái lẽ tất nhiên” 36.
Theo Phan, sở dĩ Phan bị nghi ngờ là do mối liên hệ giữa Phan và PBC. Bởi vậy,
trong Tân Việt Nam, nhằm minh oan cho các đồng chí đã chết hay còn bị tù đày
Phan giải thích tường tận những khác biệt giữa Phan và PBC về chủ trương cũng
như về đường lối hoạt động. Những thông tin độc đáo trong Tân Việt Nam giúp
người đọc nhận thức rõ hơn tâm trạng của Phan khi bị tù đày ở Côn Đảo và trong
khoảng thời gian cư ngụ ở Pháp sau này. Trước khi đưa ra một số nhận xét và

đánh giá tổng quát, chúng tôi sẽ trình bày cách nhìn của Phan về con người của
PBC.
Theo nhận xét của Phan, thoạt kỳ thủy không có đảng phái mà chỉ có hai chủ
nghĩa tranh luận với nhau mà thôi. PBC chủ trương bạo động, nhưng trong lần gặp
gỡ với Phan tại Huế vào khoa thi Hội năm Quý Mão (1903), khi Phan bác bỏ chủ
trương bạo động thì PBC cũng đồng ý là cả hai cùng đứng lên kêu gọi sĩ phu dâng
sớ xin bãi bỏ khoa cử, cải cách luật pháp và chế độ (biến pháp) 37. Khi công việc
kêu gọi đang tiến hành tốt đẹp thì PBC vì thi hỏng nên không ký tên, sĩ phu vì thế
cũng bắt chước không chịu ký bởi lẽ uy tín của PBC rất lớn trong giới sĩ phu 38.
Sau đó, PBC sang Nhật và từ lúc này trở đi mới có hai đảng: đảng cách mạng do
PBC sáng lập có bộ phận ở trong nước và ở ngoài nước, và đảng tự trị do Phan
khởi xướng thì không có trong ngoài 39.
Về mối quan hệ với PBC, Phan ghi lại như sau: “Lịch sử cuộc đời của PBC là một
trang sử u sầu ảm đạm, một lịch sử đầy gian truân vất vả. Lịch sử của ông cũng là
lịch sử đời tôi. Tính chất giống nhau, chí khí giống nhau, cảnh ngộ giống nhau,
nhưng ý kiến không giống nhau và chủ nghĩa thì khác hẳn. Bởi vậy ban đầu thì
thương nhau mà cuối cùng thì xa nhau, trước là bạn mà sau là địch. Tôi sở dĩ
không ngại hiềm nghi, không nề đường sá cách trở để theo tận hải ngoại cũng vì
ông ấy. Tôi sở dĩ bất chấp sống chết, đụng chạm tới kỵ húy nhằm hô hào người
trong nước cũng vì ông ấy. Tôi thất bại chẳng còn chút gì, đồng chí bạn bè bị tù

đày hay phải hy sinh đầy rẫy, và cho tới nay cũng vì ông ấy mà tôi hãy còn bị nghi
kỵ và không giải bày tâm sự được” 40.
Phan cho rằng “nếu không biết rõ nhân cách của PBC cùng lý do vì sao ông lợi
dụng quốc dân thì không làm sao hiểu được tại sao tôi đã phản đối ông ấy từ đầu
đến cuối” 41. Theo Phan, “PBC là người rất giàu chí khí, nhiều nghị lực, chịu nhẫn
nhục và dám làm (cảm vi). Một khi ông đã tin vào điều gì rồi thì quyết không bỏ,
cho dù sấm sét cũng không thay đổi”. Trong giới sĩ phu ở nước ta lúc đó, “không
ai có thể sánh với ông ấy” 42. Đó là những ưu điểm của PBC. Theo Phan, “vì chủ
trương bạo động bị Phan bác bỏ nhiều lần nên PBC không thích giao du” cùng
Phan. Phan kể là trong lần hai người tranh luận với nhau ở Hương Cảng, “ông ấy
đuối lý rồi khóc sướt mướt — tôi thương ông chỗ ấy” 43. Về nhược điểm của PBC,
Phan nhận xét: “Tiếc thay ông ấy học thức nông cạn, không rõ thời thế, thích dùng
thủ đoạn và mánh khóe (quyền thuật), tự dối mình và dối người, đầu óc ngoan cố
khăng khăng không chịu thay đổi ... Chủ nghĩa phục thù cực đoan của PBC thật
ngoan cố và sai lầm cùng cực, đã không hợp lý luận, không hợp thời thế mà lại
còn đẩy đồng bào vào chỗ chết (tử địa)” 44. Dưới mắt Phan, PBC là “người có lòng
yêu nước nhưng không biết cách thương nước” (hữu ái quốc chi tâm nhi bất tri sở
dĩ ái quốc chi đạo) 45. Phan kể lại như sau: “PBC thường nói ‘Bình sinh sở học của
tôi đắc ý nhất ở chữ Nhân trong sách Luận ngữ’. Tôi mới nói đùa: ‘Sở đắc của anh
là ở bộ Chiến quốc sách, nếu quả là sách Luận ngữ thì tôi sợ anh sẽ đem nửa bộ
giết người trong nước và nửa bộ để giết thân anh. Ông bực tôi lắm” 46.

Phan cho rằng PBC là người “cực kỳ thủ cựu, nhất thiết không chịu đọc Tân thư”.
Bởi thế, “những trước tác của ông ấy không căn cứ vào lý luận, không khảo sát
thời thế, khi thì chửi tràn, khi thì khóc than thống thiết”. Sự thật, dưới mắt Phan,
PBC là “nhà yêu nước bị biến tướng bởi cái học văn chương tám vế” (bát cổ biến
tướng chi ái quốc gia) 47, là “nhà bát cổ” điển hình mang những tập tính do ảnh
hưởng của cái học khoa cử đã đề cập ở phần trên. Phan viết: “[Các trước tác của
PBC] xem ra toàn là biến thể của văn chương bát cổ, không có mảy may một chút
giá trị, nhưng vì trình độ và tính cách thích hợp với quốc dân, nên dân mới bị lừa
theo” 48. Không những thế, cá tính con người PBC biểu hiện “những quán tính lâu
đời của người Việt Nam, gồm những mặt tốt đẹp nhất cho tới những mặt thiếu sót,
kém cỏi nhất” 49. Phan giải thích: “... Ông ấy là người đại biểu cho những tập quán
có từ ngàn xưa trong lịch sử của dân tộc nước Nam. Không biết chân tướng của
người nước Nam, xem ông ấy thì biết được. Người dân nước Nam rất giàu tính bài
ngoại, ông ấy bài ngoại đến chỗ cực đoan. Người nước Nam rất thích ỷ lại vào
người nước ngoài thì ông ấy ỷ lại đến chỗ cực đoan. Người dân nước Nam rất
thiếu tính tự lập thì ông ấy lại càng thiếu cùng cực. Tính cách và trình độ của ông
ấy nhất nhất đều tương hợp với tính cách và trình độ của quốc dân, bởi vậy ông
nhân ưu điểm và khuyết điểm của quốc dân mà lợi dụng. Đây là điều thầy thuốc
gọi là thuật ‘lấy độc trị độc’ (tắc nhân tắc dụng chi thuật)” 50.
Mặc dù Phan không nói rõ “danh sĩ” trong đoạn sau đây là ai, nhưng đọc qua ta có
thể đoán ngay được nhân vật Phan muốn ám chỉ không ai khác hơn là PBC: “Ngày

nay có danh sĩ tự phụ là yêu nước mà không biết tập trung hết sức vào trong nước
mà đề xướng quốc dân, rồi như sư tử ngủ mê, ngợi khen cường quyền của Đảo
quốc [Nhật Bản], nói năng ngông cuồng không nghĩ tới lợi hại, chỉ muốn mời một
nước thứ ba “khẩu Phật tâm xà” không có lấy chút nhân đạo (tận vô nhân lý) để
đem giao phó tất cả vận mệnh đất nước cho được mới bằng thích. [Danh sĩ ấy]
không hiểu rằng nước đó hiện nay không có sức nên để vậy mà không quyết đoán,
chứ nếu quả thật có sức thì còn đợi ta cầu làm gì? Hãy trông Triều Tiên, các đảng
phái liên Nga liên Nhật chia năm xẻ bảy, rốt cuộc bây giờ hoàng hậu thì bị sát hại,
nhà vua thì bị giam cầm, tù tội liên miên và cảnh giết chóc vẫn chưa yên. Cầu đã
được đấy mà lợi thì không thấy đâu cả” 51. Cần để ý là Tân Việt Nam được Phan
trước tác vào 1910-1911, tức chẳng bao lâu sau khi Triều Tiên bị Nhật Bản sáp
nhập, bởi vậy niềm lo lắng của Phan không phải là hoàn toàn vô căn cớ.
Nếu Phan đã rất mực thẳng thừng khi phê phán chủ trương bạo động của PBC,
điều khiến ta không khỏi ngạc nhiên và cảm phục là Phan cũng không kém thẳng
thừng và khách quan khi dự đoán về khả năng thất bại của đường lối mà chính bản
thân Phan đang theo đuổi: “Tôi tự biết những lý do mà chủ nghĩa của ông ấy đưa
ra thì rất yếu, nhưng nếu áp dụng vào đặc tính của dân nước Nam thì rất mạnh.
Chủ nghĩa của tôi, lý do đưa ra thì rất mạnh, nhưng nếu áp dụng vào đặc tính của
người nước Nam trong tình thế hiện tại thì rất yếu. Chủ nghĩa của ông ấy rất hợp
với đặc tính và trình độ của quốc dân, lại nhắm vào chỗ mạnh mà lợi dụng và vì ở
hải ngoại nên ngôn luận tự do, dễ có người theo, do đó chủ nghĩa ông ấy sẽ tất

