intTypePromotion=1
ADSENSE

Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh nhằm điều chỉnh hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Chia sẻ: Vương Tâm Lăng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:16

14
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh nhằm điều chỉnh hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ

  1. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 YÊU CẦU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH NHẰM ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ PERFECTING LEGAL SYSTEM ON COMPETITION TO REGULATE INTELLECTUAL PROPERTY IMPLEMENTATION ThS. Bùi Thị Hằng Nga Trường Đại Học Kinh Tế- Luật, ĐHQGTP.HCM ngabth@uel.edu.vn Tóm tắt Với các lợi thế cạnh tranh có được từ độc quyền sở hữu trí tuệ, các chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ có thể ngăn cản việc tiếp cận khoa học công nghệ thông qua các ràng buộc mang tính hạn chế cạnh tranh nhằm ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khác, thậm chí là từ chối chuyển giao. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh mà còn ngăn cản sự tiếp cận khoa học công nghệ, phát minh sáng tạo của người tiêu dùng. Do đó, trong mối tương quan với cấu trúc thị trường, tính cạnh tranh của nền kinh tế thì hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ ngoài tác động tích cực còn có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, đặc biệt là trong trường hợp chủ sở hữu lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ. Đó chính là nguyên nhân chính để các nhà nghiên cứu cho rằng cần phải sử dụng các quy định của pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể bên cạnh quy định của luật sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, việc điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ cần phải đảm bảo được độc quyền hợp pháp của quyền sở hữu trí tuệ trong mối tương quan với bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh. Bài viết phân tích điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: Luật Cạnh tranh, Quyền sở hữu trí tuệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Hoàn thiện pháp luật Abstract With the competitive advantages which are archieved from intellectual property monopoly, the accession into science and technology can be restrained by IPRs owners by restrictive com- petition constraints, to prevent the market entry of other enterprises, to the extent of the refuse to transfer, thus limiting the consumers’ access to science and technology and even their inventions. Therefore, in relation to the market structure, the competitiveness of the economy, the enforcement of IPRs not only has the positive impact but also containt the potential negatively affect toward the competitive environment, especially in cases where the owner abuses this very IPRs. As the consequence, it becomes the main reason for the consideration of the researchers in using the 1623
  2. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 provisions of the competition to regulate the enforcement of IPRs of the subject in addition to the provisions of the property law. The article analyzes the adjustment of competition law for the enforcement of IPRs activities in the legal system of countries worldwide, from which experience shall be learned by Vietnam in the process of constructing and perfecting the national laws. Keywords: Competition Law, IPRs, Property Law, Perfecting the national laws 1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu thì việc xây dựng một khuôn khổ pháp luật quốc tế không chỉ dành riêng cho lĩnh vực thực thi quyền sở hữu trí tuệ mà còn cho cả lĩnh vực cạnh tranh là điều cần thiết vì sự phát triển chung của tất cả các quốc gia. Điều này đã được thừa nhận trong hệ thống pháp luật của các quốc gia tiên tiến1. Việc đó sẽ thúc đẩy các chủ thể cạnh tranh, đầu tư, nghiên cứu và sáng tạo cũng như chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ sử dụng các sáng chế, công nghệ hiệu quả hơn thông qua việc kết hợp các công nghệ khác nhau, thiết lập thị trường cho các công nghệ mới hoặc các sản phẩm sử dụng công nghệ cũng như thúc đẩy việc hình thành các chủ thể cạnh tranh mới (các doanh nghiệp). Tuy nhiên, để đạt được mục đích đó thì điều quan trọng là phải thiết lập được sự cân bằng hợp lý giữa bảo vệ sở hữu trí tuệ và cạnh tranh, để đảm bảo rằng cả hoạt động lành mạnh của thị trường và sáng tạo, đổi mới công bằng đều được khuyến khích và bảo vệ. Muốn làm được điều này đòi hỏi cả cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ và các cơ quan cạnh tranh cần áp dụng một cách tiếp cận cân bằng trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ môi trường cạnh tranh trong khuôn khổ lập pháp và thực thi luật pháp liên quan. Trong vài năm qua, rất nhiều các quốc gia đã ban hành các văn bản pháp lý nhằm xác định mối quan hệ giữa chính sách cạnh tranh và sở hữu trí tuệ. Cụ thể, vào tháng 2 năm 1989, tại Nhật Bản, Ủy ban thương mại ban hành Hướng dẫn về quy định thực hành thương mại không lành mạnh đối với bằng sáng chế và các thỏa thuận cấp phép. Tại Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 1995, Các cơ quan cạnh tranh của các Bang đã ban hành Hướng dẫn chống độc quyền cho việc cấp phép sở hữu trí tuệ. Tháng 1 năm 1996, Ủy ban Châu Âu đã thông qua Quy định số 240/96 (sau đây gọi là Quy định chuyển giao công nghệ), thay thế cho hai khối miễn trừ bao gồm cấp phép bằng sáng chế và cấp phép bí quyết. Và vào tháng 5 năm 1996, Chính phủ Canada đồng tài trợ một Hội nghị chuyên đề về chính sách cạnh tranh và sở hữu trí tuệ, là bước đầu tiên trong đánh giá chính sách của chủ đề. Ngoài ra, vào tháng 9 năm 1998 tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) cũng đã công bố một báo cáo đầy đủ về vấn đề này.2 Năm 2016 Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển – UNCTAD đã ban hành văn bản hướng dẫn các quốc gia thành viên xác định mối tương quan giữa quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh nhằm xây dựng chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia mình. Theo đó, các quốc gia đều có những cách thức khác nhau nhằm thừa nhận rằng trong mối tương quan với pháp luật cạnh tranh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải đưa ra được các 1624
  3. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 hướng dẫn nhằm giải thích và minh họa cho mối tương quan giữa hai vấn đề nêu trên. Nghĩa là, phải đưa ra được các giới hạn giữa quyền thực thi của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ với pháp luật về cạnh tranh. Tuy vậy, việc tồn tại một chế định pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và chuyển giao công nghệ nói riêng để áp dụng hiệu quả cho tất cả các quốc gia là điều không thể. Do đó, nghiên cứu các khía cạnh liên quan từ các quốc gia phát triển, đặc biệt là các nước đi tiên phong trong lĩnh vực này như Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản cũng như các quốc gia có điều kiện kinh tế, chính trị tương đồng như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonexia, Malaysia là việc làm quan trọng và cần thiết. Trên cơ sở những kinh nghiệm đó, Việt Nam có thể tìm được điểm cân bằng hợp lý giữa quyền và nghĩa vụ của chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ trong mối quan hệ với lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh nhằm hoàn thiện môi trường cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế. 2. Phương pháp nghiên cứu: Nhằm phân tích, làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu, bài viết được trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lenin về nhà nước và pháp luật với phương pháp nghiên cứu nền tảng là phương pháp duy vật biện chứng. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng các phương pháp cụ thể sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp các nội dung, kiến thức có liên quan là nền tảng quan trọng để đưa ra các nhận định, kết luận liên quan đến các nội dung được trình bày. Từ đó chỉ ra các điểm còn hạn chế của quy định pháp luật nhằm nêu ra các giải pháp hoàn thiện Phương pháp so sánh luật học: đây là phương pháp quan trọng, nền tảng trong quá trình nghiên cứu của tác giả. Bởi lẽ, điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ dường như đang bị bỏ ngõ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong khi đó, đây là vấn đề quan trọng, tác động đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, cho nên, pháp luật của các quốc gia trên thế giới đã có các nguyên tắc, quy định điều chỉnh vấn đề này từ khá lâu. Thông qua việc so sánh các quy định pháp luật của các quốc gia phát triển trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam là nền tảng quan trọng để tác giả đưa ra các kiến nghị, giải pháp phù hợp cho việc ban hành và áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian tới. 3. Điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các quốc gia trên thế giới 3.1. Pháp luật của các quốc gia phát triển Với lịch sử phát triển lâu dài, vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh được quy định và thừa nhận khá sớm theo nguyên tắc các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ đôi khi lại là chính đáng, hợp lý nhằm đảm bảo độc quyền của chủ sở hữu nhằm khuyến khích các chủ thể thực hiện nghiên cứu, sáng tạo, công bố các thành quả nghiên cứu của mình mà điển hình là Hoa Kỳ, Canada, Liên minh châu Âu và Nhật Bản3. 1625
  4. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 Tại Hoa Kỳ, vào năm 1988 bộ phận chống độc quyền đã ban hành chính sách “Nguyên tắc thực thi chống độc quyền đối với các giao dịch quốc tế”4 trong đó đã chính thức thừa nhận nguyên tắc lập luận hợp lý, cho phép tồn tại các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằm cân bằng giữa lợi ích độc quyền của chủ sở hữu và các tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, Bộ quy tắc 1988 cho phép chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được phép tối đa hóa giá trị thị trường của tài sản sở hữu trí tuệ, hay nói cách khác, nó thừa nhận độc quyền tự nhiên của quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, việc chủ sở hữu trí tuệ sử dụng độc quyền tự nhiên này để mở rộng độc quyền về thị trường hoặc gây tác hại cho môi trường cạnh tranh, quyền lợi của người tiêu dùng thì sẽ bị ngăn cấm. Đó chính là lý do để các thỏa thuận đó cần phải được đánh giá theo nguyên tắc lập luận hợp lý. Sau đó, nhằm áp dụng hiệu quả luật chống độc quyền đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên cơ sở cân bằng lợi ích của các chủ thể có liên quan. Năm 1995, Bộ Tư pháp và Ủy ban thương mại Liên bang đã cùng ban hành Hướng dẫn áp dụng luật chống độc quyền cho hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ (cập nhật năm 2007)5. Hướng dẫn trên bao gồm 6 phần nhằm đưa ra các nguyên tắc áp dụng của luật chống độc quyền đối với hoạt động chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời xác định các cách thức nhằm đánh giá tính hạn chế cạnh tranh tồn tại trong hợp đồng chuyển giao cũng như áp dụng các nguyên tắc này cho từng thỏa thuận/ hành vi hạn chế cạnh tranh cụ thể nhằm xác định rõ giới hạn điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh (pháp luật chống độc quyền) đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Tương tự như vậy, tại Canada, Hướng dẫn thực thi quyền sở hữu trí tuệ được Cục cạnh tranh Canada ban hành vào tháng 9 năm 2000. Với cách tiếp cận tương tự như pháp luật Hoa Kỳ, nguyên tắc được thừa nhận trong hướng dẫn thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Canada là: việc áp dụng luật cạnh tranh đối với quyền sở hữu trí tuệ cũng tương như việc áp dụng luật cạnh tranh cho các loại tài sản khác khi hướng đến mục tiêu “… duy trì sự cạnh tranh của thị trường bằng cách thúc đẩy sự cạnh tranh, đổi mới, đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ đồng thời chống lại hành vi tập trung sức mạnh thị trường có được từ quyền sở hữu trí tuệ trong tương lai”. Đồng thời, Cục quản lý cạnh tranh cũng đưa ra 4 nguyên tắc ; Các hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được Cục quản lý cạnh tranh xem xét dựa trên quy định tại Điều 32 của văn bản cùng với tình tiết của từng vụ việc cụ thể; Trong từng vụ việc cụ thể, Cục cạnh tranh phải xem xét cẩn trọng mối quan hệ giữa tác động tích cực và tiêu cực của hành vi đó để có thể kết luận rằng hành vi đó có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không; Khi phân tích, đánh giá việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không thì Cục cạnh tranh cần xem xét quyền sở hữu trí tuệ như các loại tài sản khác nhưng có tính đến sự khác biệt của nó với các tài sản thông thường; Các yêu cầu khắc phục theo quy định tại Điều 32 của văn bản hướng dẫn chỉ được tiến hành khi không thể thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định của luật cạnh tranh. Bên cạnh đó, văn bản cũng hướng dẫn cụ thể các tiêu chí nhằm đánh giá sức mạnh thị 1626
  5. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 trường của chủ thể, tiêu chí vi phạm pháp luật cạnh tranh của các thỏa thuận độc quyền, ấn định giá, định giá hủy diệt, từ chối chuyển giao…6 Tóm lại, pháp luật của Canada và Hoa Kỳ đều thừa nhận rằng: luật cạnh tranh và luật sở hữu trí tuệ là hai yếu tố bổ sung cho nhau chứ không mang tính chất đối kháng. Điều này cũng được thừa nhận trong hệ thống pháp luật của các quốc gia tiên tiến7. Bởi lẽ, khung pháp lý về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ví dụ như cấp bằng sáng chế cũng hướng đến thúc đẩy cạnh tranh bằng cách ghi nhận quyền của chủ sở hữu sẽ là động lực thúc đẩy các chủ thể cạnh tranh, đầu tư, nghiên cứu và sáng tạo. Thêm vào đó, việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cũng sẽ khuyến khích việc sử dụng các sáng chế, công nghệ hiệu quả hơn thông qua việc kết hợp các công nghệ khác nhau, thiết lập thị trường cho các công nghệ mới hoặc các sản phẩm sử dụng công nghệ. Đồng thời, hoạt động đó cũng tạo điều kiện thuận lợi trong việc xuất hiện, gia nhập thị trường của các chủ thể cạnh tranh mới (các doanh nghiệp) qua đó góp phần thúc đẩy cạnh tranh. Để làm được điều đó, đòi hỏi luật sở hữu trí tuệ và luật cạnh tranh cần được xem như hai công cụ hổ trợ trong chính sách phát triển kinh tế quốc gia. Vậy nên, các hướng dẫn này cần tập trung vào các hành vi cụ thể của chủ sở hữu trong quá trình thực thi quyền sở hữu trí tuệ có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không. Tại châu Âu, việc xem xét, đánh giá tính hợp pháp/ bất hợp pháp của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đối với quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo hướng dẫn áp dụng Điều 101(3) TFEU (Hiệp ước cộng đồng chung châu Âu). Theo đó, việc đánh giá một thỏa thuận có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không được thực hiện dựa trên nguyên tắc lập luận hợp lý thông qua 2 bước: (1) thỏa thuận đang xem xét có gây hạn chế cạnh tranh hay không; và (2) thỏa thuận đó có mang lại lợi ích thúc đẩy cạnh tranh hay không và liệu tác động thúc đẩy cạnh tranh của thỏa thuận có lớn hơn tác động hạn chế cạnh tranh do nó mang lại hay không. Nguyên tắc trên một lần nữa được khẳng định tại Quy chế chuyển giao công nghệ của EU năm 2004 -TTBER8 (sửa đổi năm 2014). Với mục đích hướng dẫn đánh giá các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo quy định của quy chế TTBER song song với các quy định của Điều 102 TFEU liên quan đến các thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Quy chế TTBER đã xác định nguyên tắc để đánh giá tính trái pháp luật của các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là nguyên tắc lập luận hợp lý và phải được thực hiện cho từng vụ việc cụ thể. Do đó, hướng dẫn này phải được áp dụng một cách hợp lý và linh hoạt. Các ví dụ được đưa ra trong quy chế chỉ mang tính chất minh họa, chứ không nhằm mục đích xây dựng khuôn khổ nhất định cho các hành vi cụ thể. Tương tự với cách tiếp cận trên, tại châu Á, Nhật Bản cũng đã ban hành các hướng dẫn cụ thể điều chỉnh mối quan hệ giữa thực thi quyền sở hữu trí tuệ với pháp luật cạnh tranh. Theo đó, năm 1968 Nhật Bản đã thông qua Hướng dẫn Đạo luật chống độc quyền cho các Thoả thuận Cấp phép Quốc tế được ban hành bởi Ủy ban Thương mại Công bằng (JFTC) nhằm điều chỉnh các điều khoản “không lành mạnh” trong các thỏa thuận cấp phép. Hầu hết các thỏa thuận cấp phép trước năm 1968, bên cấp phép thường là một công ty của Hoa Kỳ hoặc châu Âu và bên được cấp giấy phép là một đối tác Nhật Bản. Với mục đích thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, quyền 1627
  6. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 tiếp cận khoa học, công nghệ của các doanh nghiệp Nhật Bản vốn vẫn còn rất mới mẻ nên các quy định của Hướng dẫn trong giai đoạn này là hướng đến bảo vệ sự độc quyền của quyền sở hữu trí tuệ cao hơn mục đích đảm bảo môi trường cạnh tranh. Hay nói cách khác, ở giai đoạn này pháp luật sở hữu trí tuệ được xem trọng hơn pháp luật cạnh tranh. Năm 1989, JFTC ban hành hướng dẫn mới có tên là Hướng dẫn về quy định về hành vi kinh doanh không lành mạnh liên quan đến các thỏa thuận cấp phép sử dụng sáng chế và bí quyết kinh doanh. Hướng dẫn này phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản trong những năm 1970 và 1980 nhằm đặt ra một tiêu chuẩn cân bằng hơn trong mối tương quan giữa quyền sở hữu trí tuệ và môi trường cạnh tranh lành mạnh. Tuy nhiên, các hướng dẫn chỉ mới điều chỉnh đối với hành vi kinh doanh không lành mạnh. Năm 1998, JTFC đã ban hành hướng dẫn mới, tiếp tục được cải thiện dựa trên phiên bản hướng dẫn 1989. Cụ thể, hướng dẫn năm 1998 không chỉ phân tích về các hành vi kinh doanh không lành mạnh mà còn đưa ra những phân tích liên quan đến độc quyền tư nhân và hạn chế thương mại bất hợp lý. Đồng thời, Nhật Bản lúc bấy giờ dường như chấp nhận cách tiếp cận mới, thay vì phân loại các điều khoản hợp đồng thành “đen”, “xám” và “trắng” thay vào đó là đưa ra nguyên tắc để xác định một hành sẽ bị xem vi phạm Luật Cạnh tranh nếu “một nghĩa vụ nào đó có thể có một tác động tiêu cực đến cạnh tranh trên thị trường”. Hướng dẫn mới nhất của JFTC là hướng dẫn được ban hành 2007 và được điều chỉnh, sửa đổi vào năm 2016, có tên là Hướng dẫn về sử dụng quyền sở hữu trí tuệ theo Luật Chống độc quyền. Theo đó, hiện nay luật cạnh tranh sẽ được áp dụng để điều chỉnh đối với các hạn chế liên quan đến việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, bảng hướng dẫn cũng quy định rõ các cách thức để đánh giá, xem xét xem có hay không việc vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong trường hợp chủ thể lạm dụng các quyền sở hữu trí tuệ thông qua việc phân tích các tác động của hành vi đó đối với môi trường cạnh tranh dưới góc độ về độc quyền tư nhân, các hạn chế thương mại bất hợp lý và cạnh tranh không lành mạnh. Nói tóm lại, đối với các quốc gia phát triển, với cơ sở khoa học đã được chứng minh và thừa nhận rộng rãi đều khẳng định rằng việc điều chỉnh các khía cạnh liên quan đến cạnh tranh của hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ cần phải tính đến các đặc thù của quyền sở hữu trí tuệ cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu. Do đó, việc ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho việc điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với quyền sở hữu trí tuệ là yêu cầu cần thiết nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ sở hữu và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và công bằng. 3.2. Pháp luật của các quốc gia đang phát triển Nếu như trong hệ thống pháp luật các quốc gia phát triển, sự khác biệt của các quy định pháp luật chủ yếu được tìm thấy trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ, còn các quy định của pháp luật cạnh tranh dường như khá tương đồng với nhau khi đều hướng đến điều chỉnh các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh. Trong khi đó, việc điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đang là một vấn đề khó khăn đối với h các nước đang phát triển đặc biệt đối với các quốc gia tại châu Á. Sự khác 1628
  7. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 biệt đó nó thể hiện trong cả pháp luật về sở hữu trí tuệ lẫn pháp luật về cạnh tranh9. Cụ thể, trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia luật cạnh tranh bao gồm các quy định liên quan đến thương mại tự do và công bằng cũng như các quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như luật cạnh tranh của Thái Lan hay Indonexia. Hầu hết các quốc gia châu Á ban hành luật cạnh tranh dưới áp lực của các cam kết hội nhập, đối với từng thành viên của Hiệp hội các quốc gia châu Á (Asean) thì việc ban hành luật cạnh tranh là điều kiện quan trọng mang tính quyết định xây dựng nên cộng đồng kinh tế Asean (AEC) hoặc Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Điều đó khiến cho pháp luật cạnh tranh tại một số quốc gia châu Á không được xây dựng dựa trên chính sách cạnh tranh và điều kiện phát triển kinh tế của quốc gia. 10 Bên cạnh đó, đặc trưng của nền kinh tế cũng như văn hóa doanh nghiệp cũng tác động không nhỏ đến chính sách cạnh tranh và luật cạnh tranh của các quốc gia tại châu Á. Cụ thể, đối với các quốc gia Châu Á, sức mạnh kinh tế quốc gia thường tập trung vào một số tập đoàn gia đình lớn. Đồng thời, văn hóa doanh nghiệp và mô hình kinh doanh của các nước này thường theo xu hướng “cha truyền con nối”. Từ đó hình thành nên sức mạnh độc quyền của một số tập đoàn gia đình, do vậy ở một khía cạnh nào đó, pháp luật của châu Á vẫn thừa nhận sức mạnh độc quyền của các doanh nghiệp và việc lạm dụng sức mạnh độc quyền đó đôi khi là điều hiển nhiên. Cụ thể, hiện nay điều chỉnh hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh pháp luật của các quốc gia đang phát triển chủ yếu chia thành hai mô hình phổ biến: nhóm các quốc gia có quy định cụ thể về hướng dẫn pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và nhóm các quốc gia không có các quy định cụ thể. 3.2.1. Nhóm các quốc gia có quy định cụ thể hướng dẫn áp dụng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Đây là các quốc gia đã xây dựng được hướng dẫn cụ thể việc áp dụng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có tính đến các đặc thù của quyền ở hữu trí tuệ. Điển hình là Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc và Singapore. Hàn Quốc và Đài Loan được xem là các quốc gia tiên phong trong số các nền kinh tế đang phát triển đặt hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh. Theo đó, Uỷ ban Thương mại bình đẳng của Hàn Quốc và Đài Loan đã ban hành Hướng dẫn áp dụng pháp luật cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nhằm đặt ra các nguyên tắc đánh giá tính bất hợp pháp đối với các hành vi cụ thể của chủ sở hữu trong mối tương quan của pháp luật cạnh tranh. Uỷ ban Thương mại bình đẳng của Đài Loan và Hàn Quốc đã khẳng định rằng, cơ sở để áp dụng pháp luật cạnh tranh (Đạo luật Thương mại công bằng) trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Đài Loan là các quy định điều chỉnh vấn đề này tại Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản11. Một quốc gia khác được đánh giá là có các quy định áp dụng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ khá hiệu quả dù các quy định hướng dẫn này được thiết lập muộn hơn các quốc gia khác đó chính là Trung Quốc.12 Năm 2007, Trung Quốc mới ban hành Luật Chống độc quyền, đây được xem là luật cạnh tranh đầu tiên trong lịch sử của Trung Quốc. Cùng với các quy định trong các trường hợp cạnh 1629
  8. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 tranh và độc quyền khác, Luật Chống độc quyền đã quy định các nguyên tắc pháp luật để hướng dẫn thi hành việc chống độc quyền liên quan tới sở hữu trí tuệ. Điều 55 quy định rằng một mặt luật không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp để thực thi các quyền sở hữu trí tuệ của họ theo quy định của các luật liên quan và các quy định hành chính khác, mặt khác luật cấm các doanh nghiệp có hành vi loại trừ hoặc hạn chế cạnh tranh trên thị trường bằng cách lạm dụng các quyền sở hữu trí tuệ mà họ đang nắm giữ. Năm 2014, Cục quản lí Công nghiệp và Thương mại (SAIC) đã ban hành Quy tắc về cấm lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ (Quy định SAIC) nhằm mục đích loại bỏ hoặc hạn chế cạnh tranh, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2015 (bản thảo lần 2 được công bố vào năm 2017 ) 13. Trong hướng dẫn của mình, SAIC cũng đã thừa nhận rằng giữa chống độc quyền và bảo vệ sở hữu trí tuệ có những mâu thuẫn vì mục tiêu trái ngược nhau, tuy nhiên những mâu thuẫn này cần được dung hòa, giải quyết vì cả luật cạnh tranh và luật sở hữu trí tuệ đều có cùng mục đích: khuyến khích cạnh tranh và đổi mới; nâng cao hiệu quả kinh tế; bảo vệ người tiêu dùng và lợi ích công cộng. Trong khối các nước Đông Nam Á, Singapore được xem là quốc gia đầu tiên có các hướng dẫn cụ thể nhằm áp dụng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Vì từng là thuộc địa của Anh nên hệ thống pháp luật của Singapore chịu ảnh hưởng khá nhiều và chủ yếu được xây dựng theo mô hình của hệ thống pháp luật Anh. Ba văn bản luật đầu tiên về sở hữu trí tuệ của Singapore về quyền tác giả, sáng chế và nhãn hiệu gần như giống hoàn toàn với các văn bản luật của Anh. Tương tự như thế, luật cạnh tranh của Singapore về căn bản cũng dựa vào pháp luật của Anh và Liên minh châu Âu. Ở Singapore, giống với cách tiếp cận của châu Âu, Ủy ban cạnh tranh Singapore (Compe- tition Commission of Singapore - CCS) đã ban hành “Hướng dẫn về đối xử quyền sở hữu trí tuệ” năm 2007. Đây dường như là một bản sao của Quy chế chuyển giao công nghệ của EU- TTBER, trong đó đã đưa ra các yếu tố mà CCS có thể xem xét khi đánh giá một hành vi liên quan đến sử dụng quyền sở hữu trí tuệ có vi phạm pháp luật cạnh tranh hay không. 3.2.2. Nhóm các quốc gia không có quy định cụ thể hướng dẫn áp dụng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Nhóm này bao gồm các quốc gia mà hoạt động điều chỉnh của pháp luật đối với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như các quy định nhằm xây dựng, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch và công bằng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Do đó, ở các quốc gia này, sự kết nối giữa các văn bản còn nhiều hạn chế khiến cho hiệu quả điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với các khía cạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ chưa cao. Đầu tiên phải kể đến Indonesia, được xem là một trong những quốc gia ban hành luật cạnh tranh và chống độc quyền sớm nhất trong khu vực. Luật sở hữu trí tuệ ở Indonesia công nhận cho chủ sở hữu tài sản trí tuệ có quyền độc quyền khai thác tài sản trí tuệ của mình hoặc cấp phép cho tổ chức, cá nhân khác. Tuy nhiên, các điều khoản cấp phép của luật sở hữu trí tuệ không quy định cụ thể trường hợp nào thì việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có thể mâu thuẫn với luật chống độc quyền. Luật sở hữu trí tuệ ở Indonesia chỉ quy định chung 1630
  9. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 rằng các thỏa thuận li-xăng không nên bao gồm các điều khoản trực tiếp hoặc gián tiếp gây bất lợi cho nền kinh tế Indonesia, cản trở khả năng của người dân Indonesia trong việc làm chủ và phát triển công nghệ nói chung hoặc mâu thuẫn với pháp luật, xâm phạm trật tự công cộng. Luật Chống độc quyền của Indonesia lần đầu tiên được ban hành năm 1999 có cùng phạm vi với luật cạnh tranh của các hệ thống tư pháp khác. Nó bao gồm các quy định cấm đối với các hành vi tập trung kinh tế, thỏa thuận hạn chế theo chiều ngang cũng như các hạn chế về chiều dọc của thương mại và hành vi đơn phương của chủ thể như lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Trong mối quan hệ với quyền sở hữu trí tuệ, Điều 50(b) Luật Chống độc quyền cho phép xem xét, miễn trừ các thỏa thuận: Liên quan đến sở hữu trí tuệ (ví dụ: cấp phép sở hữu trí tuệ), bí mật thương mại và nhượng quyền thương mại; Các thỏa thuận để thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật cho các sản phẩm, miễn là các thỏa thuận này không hạn chế hoặc cản trở cạnh tranh; Tuy nhiên, trong Hướng dẫn của KPPU (Ủy ban giám sát Cạnh tranh kinh doanh) đã đưa ra khẳng định rằng sự miễn trừ này không tuyệt đối và việc cấp phép sở hữu trí vẫn phải tuân theo giám sát theo Luật chống độc quyền. KPPU đánh giá các thỏa thuận cấp phép theo nguyên tắc lập luận hợp lý và chỉ miễn trừ khi xác định rõ là không gây ra các hành vi độc quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Trên thực tế, khi các bên bị cáo buộc vi phạm Luật Chống độc quyền cố gắng viện dẫn Điều 50(b) thì thông thường KPPU sẽ không chấp nhận việc miễn trừ theo quy định của điều này14. Năm 2017 Quốc hội đã thông qua Dự thảo Luật Chống độc quyền đã loại bỏ các quy định miễn trừ cấp phép sở hữu trí tuệ và nhượng quyền thương mại theo Điều 50 (b). Điều đó có nghĩa là hiện nay trong hệ thống pháp luật của Indonesia, các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến việc cấp phép sở hữu trí tuệ sẽ phải tuân thủ các quy định của Luật chống độc quyền. Chính vì thế, hiện nay Ủy ban giám sát Cạnh tranh kinh doanh đang nghiên cứu để sớm ban hành một danh sách các hành vi bị cấm đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu nói chung và chuyển giao công nghệ nói riêng trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh.15 Tương tự như Indonesia, mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ và luật cạnh tranh ở Thái Lan khá phức tạp. Theo đó, ngày 7 tháng 7 năm 2017, Thái Lan đã ban hành Đạo luật Cạnh tranh Thương mại (TCA) có hiệu lực vào ngày 05 tháng 10 năm 2017 nhằm thay thế Đạo luật Cạnh tranh Thương mại 1999. Sau những điều chỉnh thì TCA 2017 tập trung vào bốn hoạt động chính được coi là bất hợp pháp bao gồm: - Lạm dụng sự thống trị của thị trường; - Sáp nhập và một số hình thức mua lại; - Thông đồng và các hành vi tập thể khác làm hạn chế cạnh tranh trên thị trường; - Các hoạt động được TCA coi là những hành vi thương mại không lành mạnh. 1631
  10. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 TCA 2017 được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh tại Thái Lan, bao gồm các nhà sản xuất, người bán, người nhập khẩu, và người mua. Tuy nhiên, cũng như TCA đầu tiên, luật mới vẫn không rõ ràng về mối quan hệ giữa chính sách cạnh tranh và quyền sở hữu trí tuệ. Mặc dù vậy, phần 5 của đạo luật có quy định rằng việc xác định sự thống trị của thị trường phải tính đến “các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện cạnh tranh”, bao gồm cả “tiếp cận các yếu tố cần thiết cho sản xuất”. Đồng thời giải thích rằng “yếu tố sản xuất” sẽ bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, “quyền tiếp cận” bị hạn chế bởi quyền độc quyền của quyền sở hữu trí tuệ. Bằng quy định này, đạo luật đã thừa nhận rằng sức mạnh của quyền sở hữu trí tuệ sẽ là một yếu tố có thể ảnh hưởng đến điều kiện cạnh tranh trong các thị trường liên quan. Do đó, cần sử dung pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh đối với hành vi của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ bên cạnh pháp luật về sở hữu trí tuệ. Tuy vậy, các hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ gây hạn chế cạnh tranh vẫn chưa được liệt kê trong hệ thống pháp luật của Thái Lan. Điều này đã khiến cho Thái Lan cũng như các quốc gia khác trong khu vực phải đối mặt với các hành vi lạm dụng của các chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ từ bên ngoài khi thực hiện chuyển giao công nghệ vào Thái Lan. Do đó, hiện nay Ủy ban cạnh tranh thương mại đang nghiên cứu nhằm ban hành danh sách các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm trong hoạt động chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao khả năng tiếp cận khoa học công nghệ của các doanh nghiệp trong nước cũng như năng cao hiệu quả thực thi của pháp luật. Tương tự như các quốc gia khác trong khu vực, tại Malaysia, hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ được điều chỉnh bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ. Bao gồm: Luật Nhãn hiệu, Đạo luật Sáng chế, Đạo luật Bản quyền. Trong khi đó, hoạt động Cạnh tranh ở Malaysia chủ yếu được điều chỉnh bởi Luật Cạnh tranh năm 2010 cấm hai loại hành vi: - Một thỏa thuận chống cạnh tranh, bất kể thỏa thuận ngang hoặc dọc giữa các doanh nghiệp hoặc hiệp hội doanh nghiệp có ảnh hưởng loại trừ, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh trong bất kỳ thị trường hàng hoá hoặc dịch vụ nào; - Một doanh nghiệp tham gia, độc lập hoặc cùng nhau, trong bất kỳ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường hàng hoá hoặc dịch vụ. Trong mối tương quan của quyền sở hữu trí tuệ, Luật Cạnh tranh 2010 đưa ra những hành vi bị cấm: (i) bất kể các thỏa thuận cấp phép sở hữu trí tuệ, các thoả thuận chuyển giao công nghệ và các thỏa thuận chung về sở hữu trí tuệ khác, kể cả những thỏa thuận theo chiều dọc, sẽ bị cấm theo mục 4 (1) của Luật cạnh tranh mà không có bất kỳ sự miễn trừ nào; (ii) một doanh nghiệp tham gia, dù độc lập hay cùng nhau, trong bất kỳ hành vi nào liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ dẫn đến việc lạm dụng vị trí thống lĩnh trong bất kỳ thị trường hàng hóa hoặc dịch vụ nào cũng sẽ bị cấm theo quy định tại mục 10.16 Bên cạnh đó, trong hệ thống pháp luật cạnh tranh của Malaysia không có các chế định pháp luật ngăn chặn các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phổ biến như: ấn định giá, hạn chế sản xuất, bán kèm, độc quyền…17 Tóm lại, áp dụng luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có sự khác nhau giữa các 1632
  11. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 quốc gia khác nhau. Sự khác biệt đó phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội cũng như lịch sử của quá trình lập pháp. Điều quan trọng là làm sao các quốc gia có thể viện dẫn linh hoạt các quy định của pháp luật cạnh tranh nhằm kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nhưng vẫn khuyến khích hoạt động đầu tư nghiên cứu, phát minh sáng tạo cũng như chuyển giao các thành quả của hoạt động sáng tạo. Do đó, hệ thống pháp luật của các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển vẫn đang nổ lực nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiệu quả nhằm điều chỉnh các khía cạnh pháp lý cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ vì mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, nâng cao phúc lợi xã hội. 4. Điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Công nhận giá trị của tài sản trí tuệ và quyền của chủ thể đối với tài sản sở hữu trí tuệ là một việc làm rất quan trọng, nó không chỉ giúp thúc đẩy hoạt động đầu tư sáng tạo mà còn hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần phát triển kinh tế quốc gia. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể được thừa nhận và bảo vệ bởi Luật Sở hữu trí tuệ ban hành năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009). Cùng với Bộ luật Dân sự 2015 đã hình thành một hệ thống các quy định pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất điều chỉnh các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Với các quy định rõ ràng, phù hợp liên quan đến phạm vi bảo vệ của nhà nước đối với các đối tượng thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã tạo ra một cơ chế điều chỉnh hiệu quả hơn đối với quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể, thông qua các quy định tại Điều 92, Luật sở hữu trí tuệ ghi nhận cho chủ sở hữu các quyền độc quyền khai thác và ngăn cản các chủ thể khác xâm phạm đến các quyền sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ. Chính điều đó đã giúp chủ sở hữu hình thành một lợi thế cạnh tranh, một quyền lực thị trường đối với những người muốn tiếp cận tài sản trí tuệ. Trong khi đó sức mạnh thị trường lại chính là một trong những đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh. Đó chính là nguyên nhân quan trọng để các nhà nghiên cứu cho rằng cần phải sử dụng các quy định của pháp luật cạnh tranh để can thiệp vào các quan hệ sở hữu trí tuệ. Theo đó, việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được phép xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp lợi ích công cộng lớn hơn lợi ích của chủ sở hữu thì pháp luật phải hướng đến bảo vệ lợi ích công cộng, điều đó dẫn đến các ngoại lệ của quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ. Do vậy, trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình18. Vì thế cho nên, trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh, độc quyền của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có thể bị phá vỡ trong một vài trường hợp đặc biệt, một trong những trường hợp đó là khi chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tuy nhiên, Luật sở hữu trí tuệ hiện nay không quy định cụ thể thế nào là hành vi hạn chế cạnh tranh. Trong khi trên thực tế việc thực thi quyền sở hữu có nhiều khả năng làm phát sinh, tồn tại một số hành vi hạn chế cạnh tranh nếu chủ sở hữu lạm 1633
  12. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 dụng lợi thế cạnh tranh có được từ việc nắm giữ các tài sản sở hữu trí tuệ19 với sức mạnh khó cưỡng của độc quyền, của quyền lực thị trường và siêu lợi nhuận. Luật Cạnh tranh được ban hành năm 2004, có hiệu lực từ tháng 7 năm đã đưa ra các quy định pháp luật cụ thể nhằm điều chỉnh đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Tuy vậy, với sự phát triển của nền kinh tế, hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trên thực tế thay đổi, biến hóa đa dạng đã khiến cho giới hạn điều chỉnh của Luật Cạnh tranh 2004 không còn phù hợp. Bên cạnh đó, biểu hiện và phạm vi thực hiện của các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh cũng ngày càng phức tạp hơn không chỉ xảy ra trong nước mà còn có nhiều hành vi, giao dịch xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng các hành vi, giao dịch đó lại gây tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường Việt Nam. Trước thực tế đó, Luật Cạnh tranh sửa đổi bổ sung đã được Quốc hội khóa XIV kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12/6/2018 (Luật Cạnh tranh 2018) được các chuyên gia đánh giá đã khắc phục được những nhược điểm của Luật Cạnh tranh 2004 và tiệm cận được với luật cạnh tranh của các nước trên thế giới và đáp ứng được xu hướng phát triển kinh tế cũng như mục tiêu bảo vệ môi trường cạnh tranh và bảo vệ các chủ thể doanh nghiệp trên thị trường20. Với phạm vi điều chỉnh là các hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam; hành vi cạnh tranh không lành mạnh tố tụng cạnh tranh; xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh; quản lý nhà nước về cạnh tranh. Như vậy, trong mối tương quan so sánh với các quy định của Luật sở hữu trí tuệ thì có thể thấy rằng, hiện nay hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ chưa được ghi nhận và điều chỉnh một cách cụ thể bởi cả hai văn bản pháp luật này. Bên cạnh đó, hai văn bản pháp luật này cũng chưa có sự kết nối đồng bộ dẫn đến các quy định dẫn chiếu trở nên dở dang, hiệu quả thực thi không cao21. Sự thiếu đồng bộ đó không chỉ ở khía cạnh cơ quan có thẩm quyền thực thi mà ngay các các quy định điều chỉnh cũng còn nhiều bất cập. Bởi lẽ, theo cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh 2018 thì quyền sở hữu trí tuệ là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh thị trường đáng kể cho các doanh nghiệp nắm giữ22. Điều đó có nghĩa là việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các chủ sở hữu sẽ gây ra hành vi hạn chế cạnh tranh khi chủ sở hữu có sức mạnh thị trường đáng kể hoặc thị phần chiếm 30% trở lên, bất chấp đó là quyền đương nhiên của chủ sở hữu đã được luật sở hữu trí tuệ thừa nhận (tại Điều 20, 123, 143, 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005). Vì vậy, nếu chỉ dựa vào yếu tố thị phần, hay sức mạnh thị trường đánh kể có được từ việc nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ theo cách tiếp cận hiện nay của Luật Cạnh tranh 2018 để xem xét chấp thuận hoặc không chấp thuận đối với các thỏa thuận/hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ là một quy định không khả thi, hợp lý, mà phải tùy vào từng trường hợp, vụ việc cụ thể với các phân tích, đánh giá tác động của các thỏa thuận đó trong mối quan hệ với lợi ích mà thỏa thuận ấy mang lại nhằm đưa ra quyết định cho phép hay không cho phép.. Từ các phân tích nêu trên cho thấy, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa tạo được một cách tiếp cận có hệ thống về sự tương quan giữa quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh.23 Bởi dưới góc độ thực thi pháp luật cạnh tranh, khía cạnh độc quyền có được từ việc nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ chưa được xem xét và chú trọng. Điều đó ít nhiều đã ảnh hưởng đến quyền của chủ 1634
  13. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 sở hữu trong quá trình thực thi, khai thác các phát minh, sáng chế của mình. Bên cạnh sự thiếu kết nối đồng bộ về nội dung thì hiệu quả thực thi qua lại giữa hai văn bản pháp luật này còn kém hiệu quả24, vì thực tế hiện nay hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh đang thuộc về các chủ thể khác nhau, trong khi đó, giữa cơ quan cạnh tranh với cơ quan quản lý về sở hữu trí tuệ lại chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả. Mặc khác, thực tế đã chứng minh rằng việc sử dụng các quy định của pháp luật cạnh tranh để đánh giá về hậu quả hạn chế cạnh tranh liên quan đến hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải được xem xét dưới nhiều khía cạnh theo nguyên tắc lập luận hợp lý25. Điều đó đòi hỏi cần có sự phối hợp giải quyết giữa các cơ quan có liên quan nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi của pháp luật trên thực tế. Xuất phát từ thực trạng đó, việc xây dựng một chế định pháp luật cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ hợp lý không chỉ đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các chủ sở hữu mà còn góp phần giúp chúng ta kiểm soát hiệu quả các hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ gây cản trở cạnh tranh, đồng thời nó cũng là một công cụ nhằm yêu cầu, thúc đẩy quyền tiếp cận khoa học, công nghệ vì lợi ích của cộng đồng, xã hội thông qua yêu cầu bắt buộc chuyển giao. Bởi lẽ, nếu chúng ta sẽ không có các công cụ ràng buộc chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sử dụng công nghệ để phục vụ cộng đồng, gia tăng lợi ích chung trong mối tương quan với bảo vệ độc quyền cho chủ sở hữu sẽ ngăn cản chúng ta tiếp cận với văn minh, sáng tạo để có thể phát triển bền vững trong thời đại công nghê phát triển như vũ bão và cách mạng công nghệ 4.0.26 5. Kết luận Hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ đặt trong tương quan với pháp luật cạnh tranh là vấn đề khá mới mẻ đối với Việt Nam. Liên quan tới sự tương tác giữa hai lĩnh vực này, nếu những người làm chính sách và các cơ quan thực thi Việt Nam có thể xác định được một sự cân bằng hợp lí giữa chúng sẽ thúc đẩy việc thu hút và chuyển giao công nghệ, đồng thời đẩy mạnh quá trình xây dựng môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh, tăng cường cả phúc lợi cho người tiêu dùng lẫn lợi ích xã hội. Trong khi Luật Sở hữu trí tuệ 2005 của Việt Nam chỉ đề cập tới vấn đề cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, còn lại dẫn chiếu tất cả các vấn đề hạn chế cạnh tranh tới luật cạnh tranh, thì luật cạnh tranh hiện nay chưa giải quyết vấn đề này một cách thấu đáo và phù hợp. Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm đảm bảo hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với đề nêu trên, đòi hỏi trong hệ thống pháp luật chúng ta cần phải có hướng dẫn cụ thể đối với điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Do đó, dựa trên thực tế và yêu cầu điều chỉnh của pháp luật, trong thời gian sắp tới chúng ta cần xây dựng văn bản riêng (dưới hình thức Nghị định kết hợp hướng dẫn luật cạnh tranh và luật sở hữu trí tuệ27) để điều chỉnh các khía cạnh cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật trong mối quan hệ đảm bảo cân bằng lợi ích của các bên liên quan. Kết quả nghiên cứu Với nội dung được trình bày, bài nghiên cứu đã chỉ ra được sự cần thiết phải sử dụng pháp luật cạnh tranh nhằm điều chỉnh hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong mối cân bằng hợp lý giữa đảm bảo quyền sở hữu cho chủ thể với xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, công 1635
  14. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 bằng nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao khoa học, công nghệ, phát triển kinh tế quốc gia. Đồng thời, với các kinh nghiệm rút ra khi nghiên cứu hệ thống pháp luật của các wuoocs gia phát triển liên quan đến vấn đề nêu trên, bài viết đã chỉ ra được những bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam khi đề cập đến mối tương quan này. Từ đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo được sự cân bằng lợi ích của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ với độc quyền của văn bằng bảo hộ trong mối tương với các hành vi hạn chế cạnh tranh, độc quyền bất hợp pháp nhằm xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh. Phần thảo luận Đặt hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh nhằm đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ nhằm xây dựng khung pháp lý điều chỉnh một cách hiệu quả là một vấn đề còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Do đó, nội dung này cần được nghiên cứu, thảo luận thêm, đặc biệt là trong bối cạnh Luật Cạnh tranh 2018 mới có hiệu lực vào tháng 7/2019. Ghi chú 1 UNCTAD (2016), Examining the interface between the objectives of competition policy and intellectual property, page 4. 2 OECD (1998), Competition policy and Intellectual property rights, page 4. 3 Tiếp cận theo cách xác định của OECD. 4 Antitrust Enforcement Guidelines for International Operations. 5 U.S. Department of Justice and the Federal Trade Commission (2017), Antitrust Guide- lines for the Licensing of Intellectual Property. 6 Intellectual Property Enforcement Guidelines of Canada, part 7 7 Page 83 “On a philosophical level, both countries’ guidelines take for granted that competition law and IPRs are complementary rather than antagonistic. Almost every ad- vanced economy now recognizes this” 8 Thông tin được đăng tải tại trang http://europa.eu/rapid/press-release_IP-14-299_en.htm truy cập ngày 24/8/2018. 9 R Ian McEwin (2011), Intellectual property, Competition Law and Economics in Asias, Published by Hart Publishing. page 11 10 R Ian McEwin (2011), Intellectual property, Competition Law and Economics in Asias, Published by Hart Publishing. page 15 Nguyễn Thanh Tú (2010), Pháp luật cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và Hiệp 11 định TRIPs - Kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia tr329. 12 Hệ thống luật sở hữu trí tuệ của Trung Quốc bao gồm: Luật Sáng chế (1992), Luật Bản quyền (2001), Luật Hợp đồng (1999) và hệ thống các Quy định thi hành được ban hành chi tiết cho từng lĩnh vực cụ thể. 1636
  15. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 13 Wang Xianlin, Recent Developments in China’s Antimonopoly Regulations on Abuse of Intellectual Property Rights, The Antitrust Bulletin 2017, Vol. 62(4) 806-814, page 812. 14 Tambunan, T (2016), Competition law and SMEs in Indonesia. In M. Schaper& C.Lee (Eds), Competition law, Regualation and SMEs in the Asia-Pacific: Understanding the Small Buiness Perspective (pp. 276-291). ISEAS-Yusof Ishak Institute. 0ECD (2018), Annual report on Competition Law and Policy in Indonesia- 15 DAF/COMP/AR(2018)28. 16 Sri Richgopinath and Natalie Lim (2012), Intellectual Property and Competition Law https://www.skrine.com/insights/newsletter/september-2012/intellectual-property-and-competi- tion-law Nguyễn Thanh Tú (2010), Pháp luật cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và Hiệp định 17 TRIPs và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Chính Trị Quốc Gia tr 332. 18 Xem khoản 4 Điều 3, Điều 10 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 7 và Khoản 1 Điều 8 Luật SHTT 19 Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. (Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT) Thông tin được công bố tại trang: https://plo.vn/kinh-te/8-diem-moi-cua-luat-canh-tranh- 20 2018-793152.html truy cập ngày 10/9/2020 Cục quản lý cạnh tranh (2014), Báo Cáo Rà Soát Pháp Luật Cạnh Tranh Với Pháp Luật 21 Chuyên Ngành, tr53 22 Sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp được xác định dựa vào một hoặc một số căn cứ chủ yếu sau đây: [a) Tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan; b) Sức mạnh tài chính, quy mô của doanh nghiệp; …. e) Quyền sở hữu, nắm giữ, tiếp cận cơ sở hạ tầng; g) Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;] ( Điều 26 Luật Cạnh tranh 2018). R Ian McEwin (2011), Intellectual Property, Competition Law And Economics In Asia 23 page 315-319. Cục quản lý cạnh tranh (2014), Báo Cáo Rà Soát Pháp Luật Cạnh Tranh Với Pháp Luật 24 Chuyên Ngành, tr53. 25 “Nguyên tắc cân bằng hợp lý (The rule of reason) là học thuyết tư pháp cho rằng một hành vi thương mại vi phạm luật Sherman chỉ khi hành vi thương mại đó là một “rào cản thương 1637
  16. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020 ICYREB 2020 mại bất hợp lý”, dựa trên các yếu tố kinh tế cụ thể trong vụ việc được xem xét“. Hằng nga (2009), Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Nxb Tổng Hợp tr21 Gates, Bill (2008) “A New Approach to Capitalism in the 21st Century” World Economic 26 Forum in Davos, Switzerland on Jan. 24, 2008 Thông tin được đăng tải tại trang https://www.networkworld.com/article/2282669/mi- crosoft-s-bill-gates—-a-new-approach-to-capitalism-in-the-21st-century-.html truy cập ngày 14/4/2019 27 Theo đề xuất của Bộ Công thương thể hiện tại Báo cáo rà soát pháp luật cạnh tranh với pháp luật chuyên ngành tr54. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009). 2. Luật Cạnh tranh 2018. 3. Nghị định 35/2020/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Cạnh tranh 2018. 4. Bộ Công thương - Cục quản lý cạnh tranh (2014), “Báo cáo rà soát pháp luật cạnh tranh với pháp luật chuyên ngành”, Hà Nội. 5. OECD (1998), “Competition policy and Intellectual property rights”. 6. U.S. Department of Justice and the Federal Trade Commission (2017), “Antitrust Guide- lines for the Licensing of Intellectual Property”. 7. R Ian McEwin (2011), “Intellectual property, Competition Law and Economics in Asias, Published by Hart Publishing”. 8. Nguyễn Thanh Tú (2010), “Pháp luật cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và Hiệp định TRIPs - Kinh nghiệm cho Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia. 9. Wang Xianlin (2017), “Recent Developments in China’s Antimonopoly Regulations on Abuse of Intellectual Property Rights”, The Antitrust Bulletin 2017, Vol. 62(4) 806-814. 10. Tambunan, T (2016), “Competition law and SMEs in Indonesia. In M. Schaper& C.Lee (Eds), Competition law, Regualation and SMEs in the Asia-Pacific”, Understanding the Small Buiness Perspective (pp. 276-291). ISEAS-Yusof Ishak Institute. 11. OECD (2018), “Annual report on Competition Law and Policy in Indonesia”, DAF/COMP/AR(2018)28. 12. UNCTAD (2016), “Examining the interface between the objectives of competition pol- icy and intellectual property”. 13. Hằng nga (2009), “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”, Nxb Tổng Hợp. 1638
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=14

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2