intTypePromotion=3

36 làng nghề Thăng Long - Hà Nội: Phần 1 - Lam Khê, Khánh Minh

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

0
91
lượt xem
28
download

36 làng nghề Thăng Long - Hà Nội: Phần 1 - Lam Khê, Khánh Minh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

36 làng nghề Thăng Long - Hà Nội: Phần 1 giới thiệu các làng nghề truyền thống ở Hà Nội được sắp xếp theo các quận Hà Nội như quận Hoàn Kiếm, quận Ba Đình, quận Cầu Giấy, quận Đống Đa, quận Tây Hồ. Mời bạn đọc tham khảo nội dung phần 1 tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: 36 làng nghề Thăng Long - Hà Nội: Phần 1 - Lam Khê, Khánh Minh

  1. LAM KHÊ - KHÁNH MINH (Sưu tầm, biên soạn) 36 L àng nghể 7U »f - cSãHpi NHÀ X U Ấ T BẢ N THANH NIÊN
  2. ■ .
  3. onỷ - rW ẩẠ ừỉ/ tùĩẨ Âoa/ (/ i/ IMĨ/Ỉ /ỉs k i/ (ẵ ĩ/1 tậ c ỉ V ĩề l \^ J /h ă n g Long - Hà Nội là mảnh đất thiêng, nơi hội tụ những tinh hoa của đất nước. Chiều dài 1.000 năm lịch sử thẳm sâu đó cũng chính là quá trình hun đúc, kết tinh, hình thành và nuôi dưỡng những giá trị văn hoá tinh thần, vật chất hết sức đặc sắc của con người và miền đất Thăng Long - Hà Nội thân thương, được nhân dân cả nước trân trọng và ngưỡng mộ, được bạn bè quốc tế thừa nhận và tồn vinh. Có thể tổng kết những nét cơ bản về lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội qua những khía cạnh: Lịch sử - văn hóa í.000 năm Th(ỉng Long - Hà Nội gán nền với những biến cố lớn lao, bi tráng và hào hùng; những sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá quan trọng mang tầm vóc quốc gia, quốc tế; trở thành một phần hết sức quan trọng của lịch sử dân tộc. 5
  4. Lịch sử - văn hóa 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội cũng đã hun đúc nên những giá trị về trí tuệ, tính cách, lối sống, ứng xử, phong tục tạp quán, trang phục... Các th ế hệ đã đem đến những nét đẹp củo địa phương mình, chắt lọc, hun đúc lại,7 tạo nên cái tinh hoa của chốn kinh • ' • • kỳ và cô đọng lại trong cụm từ “hào hoa, thanh lịch”. Dó là một giá trị biểu thị điển hình nhất về con người Hà Nội. Thanh lịch, cao sang nhưng không cao xa; gần gũi mà không tầm thường và có mặt trong mọi nẻo của cuộc sống người Hà Nội. Lịch sử - văn hóa 1.000 năm Thõng Long - Hà Nội đã mang trong mình cả một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú và quý giá với nhiều truyền thuyết, thần tích, thần thoại, ca dao, tục ngữ, cổ tích, lễ hội, tập tục, trò chơi, trò diễn đi theo... Lịch sử - văn hóa 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội cũng đã tạo nên những sản vật, những nét văn hóa ẩm thực hết sức tinh tế và đa dạng. Âm thực Hà Nội vừa mang trong mình nét đặc trưng chung của ẩm thực Việt Nam nhưng lại có những điểm khác biệt khiến cho người thưởng thức không khỏi thán phục những món ngon của Hà Nội và nâng những món ăn tưởng như thân thuộc ấy thành nghệ thuật ẩm thực của vùng đất kinh kỳ Thăng Long - Hà Nội. Người Kinh kỳ xưa đã biết chốt lọc những món ngon, vật lạ bốn phương đ ể ch ế tạo ra những món ngon của riêng Hà Nội. Đó chính là nét tài hoa của người Hà Nội, chỉ có sự tiếp thu và biến đổi những dặc sân địa phương thành đặc sản kinh kỳ mới đáp ứng được nhu cầu của người Hà Nội - những người vốn “sành ăn, sành mặc, sành chơi”. Chẳng th ế mà nhiều dặc sản của người Hà Nội đã đi vào tục ngữ, ca dao: “Cốm Vòng, gạo tám Mề Trì/Tương Bần, húng Láng, còn gì ngon hơn...” 6
  5. Lịch sử - văn hóa í.000 năm Thõng Long - Hà Nội qua từng giai đoạn phát triển lịch sử, thời nào cũng có những nhân tài, dẫu họ được sinh ra, lớn lên trên chính mảnh đốt này hay từ nơi khác đến lập thân, lập nghiệp ở đây. Tên tuổi và sự nghiệp của Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Chu Văn An, Bùi Dương Lịch, Phạm Quý Thích, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu... đã góp phần tạo nên ngàn năm văn hiến Thăng Long - Hà Nội. Lịch sử - văn hóa 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đã ghi nhận sự hội tụ kết tinh và tỏa sáng của các ngành nghề thủ công truyền thống của cả nước. Trải qua ngàn năm giữ gìn, xây dựng và phát triển với những làng nghề, p h ố nghề thủ công truyền thống, Thăng Long - Hà Nội ngày càng thể hiện một diện mạo, tiềm năng phong phú và đa dạng. Có được điều đó, phải k ể đến công lao to lớn của các nghệ nhân làng nghề nhiệt huyết và tài hoa qua các thời kỳ lịch sử... Lịch sử - văn hóa 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội cũng đã đ ể lại những dặc trưng về một đô thị có kiến trúc tinh tế của nhiều thời kỳ lịch sử với Hoàng thành, đình, đền, chùa, miếu mạo, nhà thờ, bảo tàng, biệt thự, p hố Cổ và các p hố buôn bán sầm uất... Lịch sử - văn hóa 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội cùng dã ghi dấu những danh lam thắng cảnh nổi tiếng bao gồm cả thiên tạo và nhân tạo. Trải ngàn năm, giờ đây Hà Nội vẫn giữ được nhiều nhiều danh lam tháng cảnh đẹp, là nơi mà đến Hà Nội không thể không đến thăm như: Hồ Tây, Hồ Gươm, chùa Một Cột, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình, nhà sàn Bác 7
  6. Hồ, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đền Quán Thánh, đền Ngọc Sơn, đền Bạch Mã, Tháp Rùa, Khu thành CỔ... Thăng Long - Hà Nội, Thủ đô thiêng liêng của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trái tim của cả nước, đang trong quá trình hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 tuổi. Nhân dịp này, chúng tôi xin được trân trọng giới thiệu cùng độc giả bộ sách về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, phong tục, tập quán, địa danh, làng nghề... Thăng Long - Hà Nội. Trong cuốn sách giới thiệu về làng nghề này, chúng tôi mạn phép được đặt tên là: “36 làng nghề Thăng Long - Hà N ội” để hoài niệm về một Thăng Long 36 phố phường, mặc dù số lượng làng nghề Thăng Long - Hà Nội được giới thiệu trong sách không chỉ dừng lại ở con số 36. Hy vọng, bộ sách này sẽ giúp độc giả nói chung và những ai muốn tìm hiểu về Thăng Long - Hà Nội sẽ tìm được những điều bổ ích và thú vị. Chúng tôi cũng mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng của quý vị và các bạn! Trân trọng cảm ơn và giới thiệu cùng độc giả! Hà Nội, tháng 12/2009 Nhóm biên soạn 8
  7. ỌUẬN HOÀN KIẾM Dòng tranh Hàng Trông phát triển ở các phô" Hàng Trông, Hàng Nón (Hà Nội). Cách diễn hình tinh vi, phong phú trong khuôn khổ bức tranh và trong nhiều loại tranh. Khuynh hướng tranh trục cuốn phương Đông được sử dụng mạnh mẽ nhằm tạo không gian có nhiều mảng trống, gợi cảm và thanh cảnh theo thị hiếu của dân thành thị. Tranh Hàng Trống nét mảnh, tinh, yểu điệu. Do sử dụng được mầu phẩm nên hòa sắc của tranh Hàng Trống rất phong phú, gợi được khôi của không gian. Mầu thường là lam-hồng, có thêm lục-đỏ, da cam-vàng. Mầu phẩm tô bằng tay sau khi đã in các nét đen, pha ít hay 9
  8. Tranh tứ bình thuộc dòng tranh Hàng Trống nhiều nước mà có màu đậm nhạt. Tranh chỉ tạo khôi ở • • nhân vật, không có khái niệm về không gian xa, gầCác tác phẩm tranh dân gian nổi tiếng như: Lý ngư vọng nguyệt, Thất đồng, Ngũ hổ, Tô" nữ; bộ tranh truyện: Hoa tiêu, Kiều... bộ tranh về cảnh dạy học, cảnh nhà nông hay các kiểu khác: Canh, tiều, ngư, mục (nhà nông, tiều phu, đánh cá); các tranh thờ: Tam toà Thánh Mẩu, Phật, Tứ phủ, Ngọc hoàng... làm cho dòng tranh có thể sánh ngang với bất cứ dòng tranh đồ hoạ danh tiếng nào. Ước vọng hạnh phúc và dùng nhiều mô típ tượng trưng, màu sắc tươi sáng, nội dung vui vẻ, ngộ nghĩnh, đơn giản hoá các khái niệm triết học là tinh thần chính 10
  9. của dòng đồ hoạ trên, tranh thường được bán vào các dịp Tết âm lịch. Hành nghề có tính phường thợ, cha truyền con nối. Tranh Hàng Trông sử dụng kỹ thuật nửa in nửa vẽ, tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, còn nửa ngọn bút kia châm nước lã, tô tranh theo kỹ thuật vờn màu. Tranh chỉ có một bản đen đầu tiên, sau khi in thì tranh được tô màu lại bằng tay. Từ các bản khắc gốc, những bức tranh đã được in ra, bằng mực Tàu mài nguyên chất. Sau đó là công đoạn bồi giây. Tùy thuộc từng tranh cụ thể mà có tranh chỉ bồi một lớp, có tranh lại phải bồi đến 2 hay 3 lớp giấy. Khi hồ đã khô thì mới có thể vẽ mầu lại. Có khi phải mất đến 3, 4 ngày mới hoàn thành một bức tranh. Tranh được in trên giấy dó bồi dầy hay giấy báo khổ rộng. Có những tranh bộ khổ to và dài, thường bồi dầy, hai đầu trên dưới lồng suốt trục để tiện treo, phù hợp với kiểu kiến trúc nhà cao, cửa rộng nơi thành thị. Ván khắc được làm bằng gỗ lồng mực hoặc gỗ thị. Mực in truyền thông dùng bằng những chất liệu dân dã nhưng cầu kỳ và tinh xảo trong chế tác. Tranh dùng các gam màu chủ yếu là lam, hồng đôi khi có thêm lục, đỏ, da cam, vàng... Tỷ lệ được tạo không hề đúng với công thức chuẩn mà chỉ dể cho thật thuận mắt và ưa nhìn. Màu đen của tranh được làm từ tro rơm nếp hay tro lá tre được đốt và ủ kỹ, màu vàng từ hoa hoè, màu chàm của các loại nguyên liệu từ núi rừng, màu son của sỏi đồi 11
  10. tán nhuyễn. Những màu sắc đó được pha với dung dịch hồ nếp cổ truyền tạo cho tranh một vẻ óng ả và trong trẻo mà các loại màu hiện đại không thể nào có được. Đề tài của tranh rất phong phú nhưng chủ yếu ỉà tranh thờ như: Hương chủ, Ngũ hổ, Độc hổ, Sơn trang, Ồng Hoàng Ba, Ông Hoàng Bảy... Ngoài ra, cũng có những bức tranh chơi như: Tô" nữ, Bôn mùa (mỗi bản bốn bức vẽ), Tranh Kiều, Nhị độ mai; hoặc những bức phỏng theo các vở tuồng. Có những bức dùng để chơi Tết như tranh Gà, Cá chép trông trăng.... 12
  11. Sể ạ c - ng/iề ẤầM íioàn Phô" Hàng Bạc thuộc phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, thành phô" Hà Nội, là phcí nghề nổi tiếng đất Thăng Long nằm trong 36 phô' phường thuộc khu phố’ cổ Hà Nội. Phô" chạy dài từ Đông sang Tây, bắt đầu từ Hàng Mắm đến ngã tư Hàng Ngang - Hàng Đào, có độ dài khoảng 280m. Đất này vốn xưa là đất phương Các Đài thời Trần, đến thời Lê là phường Đông Các, xưa là các thôn Đông Thọ, Dũng Hàn thuộc tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương. Phố- Hàng Bạc, như tên gọi vốn lấy nghề đúc bạc và sản xuất đồ mỹ nghệ kim hoàn làm kế sinh nhai, vốn thời Lê, dân làng Trau Khê (nay thuộc huyện cẩm Bình, tỉnh Hải Dương) lên đây cư trú và làm nghề đúc bạc ở Kinh đô Thăng Long. Sau thêm, người Đồng Sâm (Thái Bình) và người làng Định Công (Hà Nội) đến sinh sống sản xuất đồ mỹ nghệ kim hoàn, hình thành nên phô" Hàng Bạc chuyên đúc bạc, đổi tiền và làm đồ mỹ nghệ kim hoàn phục vụ đời sông xã hội ở Kinh thành Thăng Long và dân tứ xứ. (Hiện nay di tích Trường đúc bạc (tại 13
  12. sô" nhà 58), di tích Trương Đình (sô" nhà 50), di tích Kim Ngân Đình (sô" 42), và di tích Nhà thờ tổ nghề kim hoàn Định Công (sô" nhà 51) vẫn còn tồn tại). Trải qua thăng trầm trong tiến trình lịch sử, phô" nghề Bạc (Hàng Bạc) lúc thịnh lúc suy nhưng không bao giờ mất hẳn. Từ ngày đất nước đổi mới, nghề thủ công truyền thông trong đó có nghề vàng bạc kim hoàn đã có đầy đủ điều kiện phát triển, vừa bảo tồn nghề nghiệp vừa nâng cao cuộc sống. Đến nay, phố’ Hàng Bạc lại sầm uất với nhiều cửa hàng kinh doanh, sản xuất mỹ nghệ kim hoàn, làm đồ trang sức với kỹ năng cao, với truyền thông khéo tay hay nghề, cha truyền con nôi. Là một trong những phô" trọng tâm của khu phô" cổ 14
  13. Hà Nội, phô" Hàng Bạc tuy có nhiều thay đổi nhưng cơ bản vẫn chưa bị biến dạng nhiều, việc bảo tồn một không gian phô" nghề có nhiều thuận lợi do phô" Hàng Bạc nay đã trở lại buôn bán kinh doanh và sản xuất mỹ nghệ kim hoàn, đồ nữ trang và một sô" ngành nghề khác phục vụ du lịch. Nhưng để giữ giá trị truyền thông, ngoài việc bảo tồn một sô" kiến trúc đặc thù của khu phô" cổ, nhât thiết phải trùng tu tôn tạo những di tích lịch sử, vãn hóa, trong đó đình Hàng Bạc là nơi tiêu biểu cho phô' nghề đặc thù này. Hiện nay, phô" Hàng Bạc còn 4 di tích lịch sử phường nghề ữuyền thông nhận thấy được: + Di tích trường đúc bạc - sô" nhà 58 (nơi đúc bạc thoi, nén). + Di tích Trương Đình - số nhà 50. + Di tích Kim Ngân Đình - sô" nhà 42. + Nhà thờ tổ nghề kim hoàn Định Công - sô" Iihà 51. 15
  14. Địa chỉ sô" 1 phô" Lò Rèn, phường Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ngày nay, toạ lạc ngôi đình Lò Rèn. Khu vực này, đầu thế kỷ XIX, là đất thôn Tân Khai, tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương; xa xưa hơn, vào thế kỷ XVI, là phần đất mở rộng của khu phố' cổ ở Thăng Long thời Lê. Đình Lò Rèn do dân làng làm nghề thợ rèn lập nên để thờ Tổ nghề rèn sắt. Theo truyền tụng thì, thời Hùng Vương, ở vùng châu thổ sông Hồng có người họ Lỗ tên Cao Sơn, thông minh tuấn tú, giỏi võ nghệ lại ham thích các việc thủ công. Biết người Thục giỏi nghề rèn sắt, ông tìm đường sang học được các bí truyền của nghề đó, về nước còn cải tiến thêm khiến nghề rèn không thua kém nghề rèn của họ, rồi đem dạy cho mọi người. Nước Nam có nghề rèn là do ông, nên sau khi ông qua đời, người người làm nghề rèn tôn ông làm Tổ sư. Trong lịch sử phát triển của Thăng Long thì sự phát ưiển của “36 phô' phường” có vai trò quan trọng trong 16
  15. phát triển kinh tế. Như trong sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đã viết:" Thời nhà Lý mới đóng đô ở Thăng Long, người bôn phương đã lũ lượt kéo đến, tụ họp, buôn bán..." Diễn biến lịch sử cụ thể cho thấy, sau cải cách của vua Lê Thánh Tông (1460 — 1497), thế kỷ XVI và XVII, nền kinh tế của đất nước đã có bước phát triển lớn và bền vững, đặc biệt là nền kinh tế hàng hoá. Rất đáng kể là sự hình thành thêm và phát triển các làng nghề thủ công. Khi đó, Thăng Long đã trở thành một trung tâm hấp dẫn, khiến xuất hiện nhiều đợt di động lớn, đưa các thợ thủ công từ các làng nghề về hành nghề tại phô" phường Kẻ Chợ. Cùng với một sô" nghề thủ công gcíc ở Thăng Long, như nghề dệt ở Nghi Tàm, nghề giấy ở Yên Hoà, Yên Thái... có thêm nhiều nghề thủ công ở các vùng phụ cận được di chuyển vào, tạo nên “ba mươi sáu phô" phường”. Đa phần, thợ thủ công các nghề vào Thăng Long đều tập trung ở khu vực phía Đông kinh thành, ví dụ: nghề nhuộm đào từ Đan Loan, Hải Dương; nghề thêu từ Quất Động, Thường Tín; nghề kim hoàn từ Định Công, Thanh Trì và từ Đồng Xâm, Thái Bình; nghề da - giầy từ Trúc Lâm, Văn Lâm, Hải Dương; nghề tiện từ Nhị Khê; và nghề rèn sắt từ Hoè Thị, Từ Liêm và Đa Hội, Đông Anh... v ề nghề rèn sắt di chuyển vào Thăng Long gồm hai nhóm chính: một nhóm khá đông đảo đã đến lập nghiệp ở khu vực Tân Khai - Tân Lập, còn nhóm kia thì kéo đến khu vực gần cửa Nam, sau này là phô" Sinh Từ. Nhiều năm sau, nghề rèn phát đạt, mở rộng thêm, một sô" thợ đã đến Kim Mã, Hàng Bột, Ô cầu Dền... Một lượng thợ rèn từ Hoè Thị đã đến Tân Khai - Tân Lập để định cư, hành nghề, sau có thêm một số thợ các làng khác như Đa Sĩ, Đa Hội cũng đến đây, khiến vùng Tân 17
  16. Khai - Tân Lập có một hình ảnh điển hình là những bễ lò rèn và sản phẩm chính bàv rất nhiều trước nhà. Do vậy mà đầu thế kỷ XIX xuất hiện phô" Hàng Bừa. Đến cuôì thế kỷ XIX. người Pháp IĨ1Ở mang phô" xá, nên nguyên vật liệu bằng sắt râ't thông dụng, và suổt dâv phô" nhà nào cũng có bễ lò rèn phì phò hoạt động. Từ đấy xuất hiện tên phô" Lò Rèn. Lúc phát triển nhất, thợ rèn ở Nam Định, Thanh Hoá cũng đến lập nghiệp ở phô" Lò Rèn, có gần trăm bễ lò hoạt động, trong đó quá nửa là lò rèn của người gốc Hoè Thị. Và rồi, củng như bao làng nghề, phường nghề khác, người dân phường rèn cũng đã cùng nhau dựng một ngôi đình chung để thờ Tổ nghề và các vị khai công đầu tiên đưa nghề rèn lên Thăng Long lập nghiệp. Trước kia, sản phẩm của người thợ rèn ở Lò Rèn và một số nơi nữa gồm lưỡi cày, bừa, cuốc, liềm, hái, dao phát bờ, kéo... đáp ứng cho nhu cầu của dân kinh thành và dân các tỉnh lên Hà Nội mua. Dần dần, nhu cầu xã hội phát triển nhiều mặt hàng sắt, người thợ rèn đã luôn luôn thích ứng, lại không ngừng cải tiến mẫu mã, chất lượng và kỹ thuật. Đầu thế kỷ XX, thợ Lò Rèn Hà Nội đã sản xuất bulông theo đơn đặt hàng của công trình xây dựng đường sắt Hà Nội đi Vân Nam và Hà Nội đi Sài Gòn. Rồi tất cả các đồ sắt cho các công ưình xây dựng công sở, xây dựng các công trình văn hoá công cộng lớn như cửa sắt hoa, hàng rào, cổng, bản lề... đều được người thợ rèn ở Hà Nội làm ra. Và nhiều mặt hàng công cụ người thợ rèn Hà Nội chê tạo rất đẹp và bền như khoan, kìm, búa, chàng, đục... Thời kỳ Cách mạng tháng Tám 1945, Nghiệp đoàn thợ rèn đã được thành lập tại đình Lò Rèn. Trong cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp, các bễ lò rèn vẫn nổi lửa, người thợ vẫn làm 18
  17. ra những dụng cụ thiết yếu cho đời sông của nhân dân, và cờn rèn những vật phẩm phục vụ công cuộc kháng chiến trong đó có các loại vũ khí thô sơ như lưỡi lê, kiếm để cung câp cho quân đội, cho du kích. Đến năm 1954, tại đình Lò Ròn đã có buổi lễ long trọng thành lập Liên đoàn Thợ rèn. Mọi hoạt động của công nhân Liên đơàn Thợ rèn đều được tổ chức tại Đình. Sau ngàv giải phóng Thủ đô, và cho đến hôm nay, sản phẩm của nghề rèn thủ công Hà Nội vẫn luôn đáp ứng được nhu cầu thị trường trong Hà Nội và một sô" vùng lân cận. Trong nhịp độ phát triển kỹ thuật hiện đại, phô" Lò Rèn hôm nay còn nhiều nhà vẫn giữ được nghề truyền thông. Trên một đoạn đường phố- Lò Rèn, chỉ dài 128 mét là phố nhỏ thôi mà có đến 20 sô" nhà là những bễ lò rèn của người quê gốc Hoè Thị! Đó là sắc thái làng nghề thật đặc biệt của Thăng Long trải mấy trăm năm vẫn còn đến hôm nay. Và, nó đâu chỉ là giá trị kinh tế kỹ nghệ, mà nó là những giá trị văn hoá lịch sử của Thăng Long - Hà Nội. 19
  18. S P / ử ỉ S ễ ữ m / i - nrj/iề da yiàự Thăng Long - Hà Nội từ lâu có một nơi thờ Tổ nghề da giày, đó là đình Phả Trúc Lâm, Di tích đình Phả Trúc Lâm có tên nôm là làng Trắm (hay Chắm), có lúc được gọi là Phong Lâm, Tam Lâm, một địa phương có nhiều thế hệ thợ da giày nổi tiếng. Những người thợ da giày đã đem cái nghề của mình đến làm ăn sinh sông ở nhiều nơi. Khi đến Thăng Long - Hà Nội, thợ da giày đã quần tụ, lập phường thợ và xây dựng đình Phả Trúc lâm để thờ Tổ nghề của mình. Các vị Tổ của nghề da giày được tôn thờ là Tiến sĩ Nguyễn Thời Trung và ba vị khác là Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sĩ Bân. Nguyễn Thời Trung đỗ tiến sĩ khoa thi Ât Sửu, niên hiệu Thuần phúc nguyên niên, thời Lê - Mạc (năml565), làm quan cho triều Mạc đến chức Thừa chánh sứ. Ông đã cầm đầu đoàn sứ bộ nước ta qua Trung Quốc để hòa đàm. Trong đoàn sứ có ba người cùng quê ở làng Phong Lâm là: Ông Chánh, ông Chính, ông Bân. Trên đường đi, đoàn sứ bộ có qua Hàng Châu, các ông đã chú ý đến nghề thuộc da, đóng giầy mà lúc đó ở 20
  19. nước ta, nghề này chưa phát triển và tinh xảo bằng họ. Hoàn thành công việc sứ bộ, Thời Trung cùng ba người bạn cùng quê quay lại Hàng Châu học nghề da giày. Trải qua bao gian nan vất vả, các ông đã học thuộc nghề, nắm vững các bí quyết về thuộc da, đóng giày, khi về nước đã truyền nghề ở quê hương Trúc Lâm. Từ đó nghề thuộc da, đóng giày ngày càng phát triển thịnh đạt. Bốn ông đã được triều đình ban phong chức quan "Thượng y" ở Quốc Tử Giám. Sau này, khi các ông qua đời, làng nghề da giày đã tôn vinh và thờ cúng làm Tổ của nghề. Phô" Hàng Hành trước đây vốn là đất của thôn Tả Khánh Thụy thuộc tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) của huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Nơi đây đã có nhiều đời thợ da giày từ Hải Dương đến ở, quần tụ sinh sông, làm nghề và buôn bán sản phẩm da giày. Nghề da giày cùng với sự hưng vượng của kinh đô Thăng Long đã phát triển mạnh. Đến trước thế kỷ XIX, các phường thọ da giày đã tập trung đông đúc ở vùng đất Tả Khánh và xung quanh tổng Tiền Túc, Hữu Túc thuộc huyện Thọ xương. Các địa danh này sau đổi tên thành phô' như Hàng Da, Hàng Hài, Hàng Trông, ngõ Hài Tượng... đều có liên quan đến phường thợ da giày... Di tích đình Phả Trúc Lâm được xây dựng vào thời gian nào? Nội dung văn bia còn lưu giữ ở đình đã cho biết: Ngôi đình đầu tiên được dựng bằng tre nứa đơn giản, sau đó được tu bể và nâng cấp thêm vào đầu thế kỷ XX. Như vậy, rõ ràng đình được khởi dựng sớm hơn thời điểm mà văn bia đã nêu. Đình thờ Tổ nghề da giầy có một kiến trúc khiêm tốn, quy mô vừa phải. Trải qua năm tháng và ảnh hưởng của chiến tranh ngôi đình đã ít nhiều có sự thay đổi 21
  20. nhưng vẫn giữ được phong cách của kiến trúc truyền thống. Ngày 16/1/1995, đình Phả Trúc Lâm đã được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết đinh công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Đình Phả Trúc Lâm từ xa xưa đã luôn được sự quan tâm của những người thợ da sinh sống ở Hà Nội cũng như ở các địa phương khác. Di tích càng đông vui và sầm uất hơn vào dịp tháng 2 và tháng 8 âm lịch là ngàv giỗ Tổ. Trong những ngày này, thế hẹ thợ da giầy ở Hà Nội và các địa phương tụ họp về làm lễ tế Tổ, thăm hỏi và trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp.Sau khi được cóng nhận, xếp hạng, di tích càng được sự quan tâm giữ gìn của các cấp chính quyền và nhân dân. Phường, quận chăm lo chu đáo cho di tích, quy hoạch cho di tích được khang trang hơn. Cùng với sự hưng thịnh phát đạt của nghề da giầy, di tích cũng được chú ý quan tâm hdn. Nơi đâv được dùng làm Iiơi thờ cúng tôn vinh Tổ nghề. Đó là nét đẹp truyền thông văn hóa, đồng thời còn có thể dùng làm nơi trưng bày, quảng bá sản phẩm da giầy, nơi gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm nghề... Đình Phả Trúc Lâm có vị trí gần hồ Hoàn Kiếm, là một ữong những di tích lịch sử văn hóa quý, bổ sung và tôn thêm vẻ đẹp của khung cảnh văn hóa của phô" cổ, của quận Hoàn Kiếm và của Thủ đô Hà Nội. 22

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản