THỂ HIỆN BIẾN TỐ ÂM CUỐI TRONG TIẾNG ANH CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC
ĐÀ NẴNG - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
AN INVESTIGATION INTO THE PRONUNCIATION OF
INFLECTIONAL ENDINGS IN ENGLISH BY STUDENTS OF COLLEGE
OF FOREIGN LANGUAGES - UNIVERSITY OF DANANG
PROBLEMS AND SOLUTIONS
NGUYỄN THỊ THANH THANH
Trường Đại học Ngoại ng, Đại học Đà Nẵng
TÓM TT
Bài viết điều tra thực trạng phát âm các biến tố âm cuối trong Anh ngữ của sinh viên khoa
tiếng Anh Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng. Với kết quả khảo sát, bài báo đưa ra
một số gii pháp để chữa lỗi và nâng cao khả năng phát âm của sinh viên nói chung, khả năng
thể hiện các biến tố âm cuối trong ngữ lưu giao tiếp nói riêng.
ABSTRACT
This article investigates the pronunciation of English inflectional endings by Vietnamese
students at College of Foreign languages, University of Danang. The findings show some
problems encountered by the students when they pronounce these endings. The study also
suggests some solutions to help students improve their pronunciation in general, and their
pronunciation of inflectional ending in spoken discourse in particular.
1. Đặt vấn đề
Trong giao tiếp khẩu ngữ, việc truyền đạt và nhận hiểu ý tưởng sẽ gặp nhiều khó khăn
nếu chúng ta mắc quá nhiều lỗi ngữ âm cho dù ý nghĩa truyn đạt đã đạt đến độ hoàn chỉnh.
Ng âm đóng một vai trò quan trọng giúp người khác hiểu ta muốn nói ngược lại
(Brazil, 1994). Trong nhiều trường hợp, việc phát âm sai âm cuối tiếng Anh, đặc biệt là nhng
biến tố âm cuối có thể gây ra nhầm ln và cn trở giao tiếp. Hơn nữa, tiếng Anh giao tiếp là
sản phẩm của những chuỗi lời i gắn kết nhau cho nên ch phát âm chuẩn, những âm cuối
trên chưa hn đã mang lại hiệu quả cho giao tiếp (Celce-Mucia, Briton & Goodwin, 1996). Vì
vậy, khnăng kết nối thành công giữa các ttrong phát ngôn là vô cùng quan trọng.
Mặc đã được trang bị khá đầy đủ kiến thức vâm cuối ngữ pháp tiếng Anh đã
được hc về Ngữ âm học và Âm vhọc tiếng Anh, sinh viên năm III khoa tiếng Anh trường
Đại hc Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi thhin những âm này
trong phát ngôn. Trong khi đó, thực trạng dạy và hc ngữ âm trường tạo rt ít hội cho
sinh viên thực hành k ng này bmôn này cũng chưa được kết hợp nhun nhuyễn đtr
thành một b phận trong giờ học của các môn khác. Vấn đề này chắc chắn sẽ gây cản trở việc
đạt được khả năng phát âm tốt để giao tiếp tnh công.
Với tình hình như vậy, một yêu cầu cp thiết được đặt ra đòi hi giáo viên phải chú ý
hơn nữa vvấn đề này. mt giảng viên tiếng Anh, i viết bài này nhằm khảo sát nhng
vấn đề mà sinh viên gặp phải khi thể hiện biến tâm cui tiếng Anh trong phát ngôn, đồng
thời đề xuất một số giải pháp giúp sinh viên vượt qua nhng khó khăn trên.
2. Tổng quan về biến tố âm cuối và nhiệm vụ của đề tài
Avery & Ehrlich (1995) định nghĩa biến t âm cuối tiếng Anh hay âm cuối ngữ pháp
tiếng Anh là nhng tiếp ngữ đóng vai tthhin ý nghĩa ngpháp, miêu tnhững khái
niệm như "thì", "s", "shữu" …. Trên thc tế, biến tâm cuối xuất hiện rất nhiều c th
tường thuật trong nn ngữ hằng ngày. Tuy nhiên, đôi khi khó nhận biết được dấu hiệu các
âm cui trong ngữ lưu giao tiếp bởi luôn nấp dưới dạng nối âm giữa các từ, đc biệt khi t
theo sau li là một nguyên âm. Chính những trường hợp hồ về ngữ âm như I introduced
Amanda to herI introduce Tamanda to herlại dgây ra nhng nhầm ln vngữ nghĩa
trong giao tiếp.
Đề tài chỉ giới hạn ở việc khảo sát cách phát âm những biến tố âm cuối /s/, /z/, /iz/, /t/,
/d/, /id/ trong giao tiếp khẩu ngữ. i báo chtập trung vào nghiên cứu đối tượng sinh viên
năm III Tng Đại học Ngoại ng- Đại học Đà Nng.
3. Sơ lược về so sánh đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt
3
.1. Cấu trúc âm tiết tiếng Anh theo quan điểm phát âm tự nhiên theo ng lưu
(Pronunciation) và phát âm tách bch từng từ (Enunciation)
Trong nglưu giao tiếp tiếng Anh, cấu trúc âm tiết của từ, đặc biệt là âm cui không
còn chặt chẽ mà tr nên lỏng lẻo và khuynh hướng bứt ra khỏi âm tiết trước để trở thành âm
đầu của âm tiết sau. Song, "sự rng âm cui" này diễn ra để bảo đảm khẩu ngữ giao tiếp tự
nhiên, d hiu và là cách phát âm của người bản ngữ. Hiện tượng này cũng có thể được lý gii
hơn qua việc phân tích cấu trúc âm tiết của hai t "an apple" [@n &pl] (Hình 3.1)
Hình 3.1. S chuyển đổi bên trong cấu trúc âm tiết 1trong chuỗi liên âm giao tiếp
Đim khác bit này giữa hai ngôn ngữ là rào cn đối với sinh viên Việt trong việc thể hiện các
yếu tni trong ngữ lưu tiếng Anh.
3.2. So sánh đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt về phương diện hình thái và ng âm
Thực tiễn dạy và học tiếng đã nhiều o cáo, nghiên cứu về lỗi phát âm âm cuối.
Hoá ra rằng nguyên nhân cnh không phải khi nào cũng là n lực phát âm những âm không
trong tiếng mẹ đcủa người hoc mà sự khác nhau cơ bn về đặc điểm và tính chất của
tiếng Anh và tiếng Việt. t vmặt loại hình, cấu trúc ngữ âm của từ, tiếng Việt là một ngôn
ngđơn lập, phân tích tính (isolated/ analytic language), trong khi tiếng Anh lại là ngôn ng
vừa tổng hợp tính vừa phân tích tính với đặc tng đa âm tiết (synthetic language) (GNU Free
Documentation License, 14/2/2006).
Tiếng Việt hầu như không phtố, tin tố và nhiều ttrong tiếng Việt chỉ chứa mt
hình v trong khi từ tiếng Anh được cấu tạo bởi mt gốc và rt nhiều hình v. Ttiếng Việt
thường không dấu hiu biến cách để thhiện ý nghĩa ngữ pháp mà lại được thể hiện thông
qua vtrí sắp xếp các ttrong câu hay các tiểu từ: đã (thhiện thì quá khứ), đang(th
hiện một nh động đang diễn ra), hay những”, một vài(chdanh từ số nhiều). Khác với
tiếng Việt, vị trí các ttrong câu thường ít quan trọng trong Anh ngữ bởi mỗi ttiếng Anh đã
bao hàm ý nghĩa riêng của nó. Vì thế nếu người Việt i những quyển sách”, người Anh ch
dùng một t duy nhất để thể hiện ý nghĩa số nhiều books”.
4. Thực trạng phát âm biến tố âm cuối tiếng Anh của sinh viên
4.1. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Loại hình nghiên cứu được tiến hành phương pháp mô tđnh tính định lượng
dựa trên phân tích tương phản hay so sánh đối chiếu tiên đoán.
Thông tin được thu thập t phiếu điều tra và thu âm trực tiếp 20 sinh viên năm III khoa
tiếng Anh trường Đại hc Ngoại Ngữ - Đại hc Đà Nng trình độ hc tập khác nhau. Phần
này gm: (a) Thông tin vthái độ hc tập bmôn luyện âm tiếng Anh. (b) Thông tin vviệc
thhiện âm cuối tiếng Anh được phân bố tcấp độ triêng lđến cấp độ câu, và i tdo
theo đề tài. Việc xử thông tin đi theo hai ớng phát âm (production) tri nhận
(perception) dựa vào phát âm chuẩn của người bản ngữ, sóng phân tích phcủa phần mềm hỗ
tr "Goldwave" và các tiêu chuẩn đánh giá cụ thể nời nghiên cứu đặt ra.
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Sinh viên thường gặp kkhăn trong việc nghe và hiểu chui liên âm các biến t
âm cui tiếng Anh trong ngữ lưu giao tiếp
- Sinh viên thường gặp kkhăn và mắc li phát âm khi thể hiện biến tâm cuối tiếng
Anh trong nglưu giao tiếp
4.3. Kết quả nghiên cứu
- Nhìn chung, sinh viên đạt kết quả khquan khi phát âm biến tố âm cuối tiếng Anh ở
cấp độ t. Ngược lại, họ lại mắc khá nhiều li phát âm và li thể hiện biến t âm cuối; đặc
bit, sinh viên khuynh hướng phát âm ch bạch từng âm hoặc từng từ, hoặc nối âm
nhưng không tự nhiên khi thể hiện biến tâm cuối ở cấp độ câu đánh giá tn phương din nối
âm tnhiên, dhiểu. So sánh cách phát âm ca sinh viên người bản ngữ, ta có thể thấy rõ
những li pt âm này (Hình 4.1)
Thể hin của sinh viên:
Sự nối âm
He begs us to forgive him
Thể hin của người bản ngữ
Sự nối âm
He begs us to forgive him
Hình 4.1 Sóng âm của sinh viên và nời bản ngữ khi thể hiện biến tố âm cuối ở cấp độ câu
Tần số xuất hiện của các li ngữ âm và cách th hiện sai các yếu t nối lại càng cao, t
l thun với lần thu âm thứ 3 - thhin biến tâm cuối trong chuỗi liên âm qua hình thức nói
tự do (Free talk). Kết quả thu được về phương din tri nhận (perception) ủng hộ gi thuyết ban
đầu cho rằng sinh viên gp nhiều khó khăn khi nghe hiu chuỗi liên âm các biến tố âm
cui tiếng Anh trong ngữ lưu giao tiếp.
- Nguyên nhân nhng hạn chế của sinh viên trên chai phương diện phát âm và tri
nhận xuất phát từ các yếu tố chủ quan lẫn khách quan. Nhưng suy cho cùng ý thức học tập, rèn
luyện ngữ âm của sinh viên cũng như những hạn chế vsửa li chính nguyên nhân sâu xa
cho những kết quả chưa như mong đợi.
5. Mt số đề xuất khắc phục các lỗi phát âm của sinh viên nói chung biến tâm cuối
tiếng Anh nói riêng
5.1. Giúp sinh viên ý thc được sự khác nhau giữa hai ngôn ngAnh - Việt vai
trò của việc nói chính xác và nói lưu loát
Do ảnh hưởng của nhiều yếu t, đặc biệt là nh hưởng của tiếng mđẻ, sinh viên mc
khá nhiều li phát âm. Vì vy, cn giúp sinh viên nâng cao được ý thức v skhác biệt giữa
hai ngôn ng. Nếu không được xây dựng ý thức vsự khác biệt trên ngay t giai đon đầu của
quá trình học t nhng li ngữ âm hình thành do thói quen và sự áp dụng sai lệch các quy luật
chữu của tiếng mđca sinh viên srất khó khắc phục trong các giai đoạn sau ca q
trình học.
Đồng thời, kết quả phiếu điều tra cho thy một số sinh viên đã quan niệm sai khi ch
chú trọng phát âm rõ từng t tiếng Anh không cần phải nối âm. Tuy nhiên, ch này ch
hiu quả đối với mt môi trường giao tiếp hẹp, với người nghe trình độ Anh ngữ còn hn chế,
đó là chưa kể sẽ y ra những kchịu nhất định cho người nghe, đặc biệt khi ngôn ngữ
giao tiếp hằng ngày cn sự nối âm để dễ hiểu, dgia công. Chính khía cạnh âm vị hc siêu
đoạn tính này mới làm cho phát ngôn ca người i tiến đến độ chuẩn, gần vi ch phát âm
của ngưi bản ngữ.
5.3. Kết hợp dạy ng âm với các bộ môn khác
Nhng giờ học ngữ âm tập trung sẽ gây cho người học cảm giác chán nản bởi tính chất
khô khan của môn học này. Ngược lại, những bài luyn ngữ âm rải rác lại không đủ sức để xây
dựng khả ng phát âm tốt cho người hc. vậy, nên chăng bmôn này shiệu qu hơn nếu
được kết hợp trong tiến trình dạy của những môn học khác thông qua các hình thức sửa li
phát âm, phản hi của giáo viên. Bng cách y, sinh viên stập trung vào cách phát âm của
một từ, một cụm từ nào đó trong đối thoại tnhiên và tlấp đầy kinh nghiệm của mình. Đây
cũng là ch dy và hc mang tính h trợ tương hỗ đồng thời giúp sinh viên vừa phát trin k
năng nghe và nói.
5.4. Tchức các hoạt động thích hợp phát huy khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá
của sinh viên (self-monitoring and evaluating)
Đôi khi sinh viên không thể cứ trông đợi hoàn toàn vào thông tin phn hi và sửa li
của giáo viên. Go viên nên nh thành cho sinh viên khnăng tkiểm tra, tự đánh giá khả
năng và đchuẩn phát âm của mình. Giáo viên sđồng hành với sinh viên trong những giai
đoạn đầu của quá trình tập luyện và để họ tlập hoàn thành yêu cầu đặt ra trong các giai đon
sau của quá trình. Bằng cách sử dụng máy và băng cassette, giáo viên hướng dẫn sinh viên thu
âm nhng bài i, i thảo luận, bài hi thoại của bản thân hoặc thực hin cùng với bn. Vào
cui các hoạt động, giáo viên cho sinh viên nghe lại và tđánh g khẩu ngữ giao tiếp của
mình trên phương diện phát âm chun, lưu loát. Đây là cách phản hồi hiệu quả khi sinh viên có
thể "nghe lại chính mình", và học từ những lỗi sai của mình.
5.5. Tạo hứng thọc tập bằng cách thiết kế các bài tập ngữ âm trên giao diện hình
ảnh hiện đại, ấn tượng của phần mềm chương trình hỗ trợ Hot Potatoes
Phần mềm chương trình Hot Potatoes cho phép thiết kế các bài tập ngữ âm với nhiều
thloại kc nhau (Hình 5.1), dnhư dạng bài tập Matching, Cloze, Quiz, Crossword,
Với phần mềm này, tôi mạnh dạn thiết kế một trang web với đy đủ các bài tập ngữ âm không
ch dành cho sinh viên bất k ai muốn cải thiện khả ng phát âm khnăng thể hiện
biến tâm cui tiếng Anh. Người học th"online" học tại nhà hay bất k địa điểm nối
mạng Internet nào. Thêm vào đó, người học sẽ thật sự những giờ học thật thú vị ngồi bên
màn hình vi tính ứng dụng công nghệ vào quá trình hc tiếng của mình.
Hình 5.1. Hình chụp phần mềm chương trình h trợ thiết kế bài tập Hot Potatoes