CẬP NHẬT KIẾN THỨC VỀ HỘI CHỨNG
BUNG TRỨNG ĐA NANG
Hội chứng buồng trứng đa nang là một trong những rối loạn nội tiết thường gặp
nhất, xảy ra trong 5 10% phnữ trong độ tuổi sinh sản . Hội chứng này gây
nhiều tranh luận xung quanh các tiêu chuẩn chẩn đoán và chiến lược điều trị. Để
thống nhất các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng buồng trứng đa nang trên toàn cầu,
một hội nghị giữa các chuyên gia của Châu Âu và Mtrong lĩnh vực y đã được
tchức tại Rotterdam, Lan m 2003. Tiêu chuẩn chẩn đoán thống nhất là khi
người phụ nữ 2 trong 3 triệu chứng sau (1) Kinh thưa hay kinh, (2) Cường
androgen biểu hiện trên lâm sàng hay cận lâm sàng, (3) Hình nh buồng trứng
đa nang trên siêu âm sau khi đã loại trừ các nguyên nhân khác như tăng sản
tuyến thượng thận bẩm sinh, các loại u chế tiết androgen, hội chứng Cushing.
Nhiều nghiên cứu sau đó đã tiến hành để đánh giá những thuận lợi kkn
khi sdụng các tiêu chun chẩn đoán này trong các dân sbệnh nhân kc nhau,
xác định các kiểu hình, nguồn gốc gen khác nhau của bệnh nhân hội chứng buồng
trứng đa nang, từ đó đánh giá các nguy sức khỏe lâu dài và chiến lược điều trị
tối ưu nhất.
Mặc dù ngày càng nhiều tiến bộ trong schấp nhận các tiêu chuẩn chẩn đoán
thống nhất hội chứng buồng trứng đa nang trên toàn cầu, chiến lược điều trị vô
sinh tối ưu cho các bệnh nhân này vẫn chưa được tìm ra. nhiều chiến lược can
thiệp khác nhau đã được đưa ra như thay đổi lối sống, sử dụng các thuốc gây
phóng noãn (clomiphene citrate, thuốc làm tăng nhạy cảm insulin, gondotrophins
kết hợp GnRH analogues), sử dụng đốt điểm buồng trứng đa nang và sdụng
các kthuật hỗ trợ sinh sản. Sự tranh luận quanh các chiến lược điều trị này đã
đưa đến một hội nghị toàn thế giới lần thứ 2 tại Thessaloniki, Hy Lạp năm 2007
nhằm thống nhất các chiến lược điều trị sinh trong hội chứng buồng trứng đa
nang dựa trên các chứng cứ y học hiện có về vấn đề này.
Chiến lược thống nhất trong điều trị sinh bệnh nhân hội chứng buồng trứng
đa nang (Thessaloniki Consensus, 2007)
1. Trước khi bắt đầu can thiệp, cần vấn bệnh nhân, nhấn mạnh đến sự quan
trọng của lối sống, đặc biệt là giảm cân và tp thể dục những bệnh nhân
dư cân hay béo phì, hút thuốc và uống rượu. Số kilogram cân nặng lý tưởng
cần giảm chưa được biết rõ, tuy nhiên, giảm 5% trọng lượng thể thể
có ý nghĩa lâm sàng.
2. Điều trị đầu tay được chọn lựa là gây phóng noãn bằng clomiphene citrate.
Liều đầu của clomiphene citrate nên 50 mg/ngày trong 5 ngày liều tối
đa là 150 mg/ngày. Tỉ lệ có rụng trứng là 75-80%, tlệ có thai là 22%.
3. Schọn lựa thứ hai nếu bệnh nhân thất bại với clomiphene citrate là gây
phóng noãn với gonadotrophins hay đốt điểm buồng trứng đa nang. Phác đồ
liều thấp tăng dần được khuyến cáo sử dụng với liều đầu rất thấp từ 37.5-50
đơn vFSH trong 14 ngày, liều điều chỉnh là 50% của liều đầu. Liều FSH
được chọn lựa và điều chỉnh tùy theo đặc điểm của c dân số bệnh nhân
khác nhau. Mục đích của phác đồ này nhm tạo ra một nang phóng noãn
trong chu kỳ, giảm nguy quá kích buồng trứng và đa thai. Nói chung,
gây phóng noãn bằng thuốc (gồm clomiphene citrate và gonadotrophins)
được ghi nhận có hiệu quả cao với tỉ lệ một trẻ sinh sống là 72%.
Đốt điểm buồng trứng đa nang được chỉ định những bệnh nhân hội chứng
buồng trứng đa nang kháng clomiphene citrate. Đốt điểm buồng trứng đa
nang đơn thuần chỉ hiệu quả trong < 50% bệnh nhân và trong nhiều
trường hợp cần kết hợp thêm với sử dụng thuốc gây phóng noãn.
4. Chọn lựa thứ ba là thtinh trong ống nghiệm. Phác đồ kích thích buồng
trứng phù hợp nhất trong thụ tinh trongng nghiệm ở những bệnh nhân này
cần được nghiên cứu thêm.
5. Sdụng Metformin chỉ được khuyến cáo những bệnh nhân không dung
nạp đường huyết. Các chứng chiện không ủng hviệc sử dụng thường
qui metformin trong bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang. Hiện tại,
chưa có đủ chứng cứ ủng hộ việc sử dụng thuốc ức chế men thơm hóa trong
gây phóng noãn.
S dụng phác đồ liều thấp tăng dần trên bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang
người Việt Nam (VTN Lan và cộng sự, International Ovulation Induction
Congress, Rome, 2007)
Có skhác nhau rõ rệt về đặc điểm của bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang
giữa bệnh nhân người Châu Âu, Mỹ với người Châu Á, nói chung và Việt Nam,
nói riêng như chỉ số BMI của người Việt Nam thấp hơn rất nhiều, biểu hiện cường
androgen ít hơn và lối sống và chế độ ăn kc biệt. Do đó, chiến lược điều trị và
liều thuốc sử dụng cần được điều chỉnh phù hp theo đặc điểm bệnh nhân. Nghiên
cứu tiến hành trên 183 bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang đã thất bại 3 chu
kclomiphene citrate. Bệnh nhân được kích thích buồng trứng với FSH liều đầu
25 đơn vị /ngày (sơ đồ 1). hCG được sử dụng khi nang lớn nhất đạt kích thước
18mm và có không quá 3 nang phát triển (>/= 16mm).
đồ 1. Phác đồ liều thấp tăng dần để gây phóng noãn bệnh nhân hội chứng
buồng trứng đa nang.
Siêu âm nang noãn
12mm, giữ nguyên liều đến ngày 14.Ngày 7: nang
12mm, tăng liều mỗi lần 25IUNgày 15, 20, 25, 30, 35: nang
Bất kỳ lần siêu âm nào: nang >12mm, giữ nguyên liều; nang > 12mm, siêu âm mỗi
2 - 3 ngày
Ngày chu k
Kết quả cho thấy thời gian kích thích buồng trứng trung bình15.9 ± 4.8 ngày
tổng liều FSH sử dụng là 484 ± 257IU. 96,7% chu knang phát triển, trong số
đó 62,1% chu kỳ có 1 nang phát triển. 15,8% chu kỳ bị hủy do đáp ứng quá
nhiều và 1 trường hợp quá kích buồng trứng nhẹ. Tỉ lệ có thai lâm sàng là 35,%
và thai diễn tiến là 33,9%, không có trường hợp nào đa thai.
Phác đliều thấp tăng dần với liều FSH khởi đầu được sử dụng 25 đơn vcho
hiệu quả cao và an toàn cho bnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang người Việt
Nam có chỉ số BMI bình thường hay thấp.