
Mã số: …………….
TÊN CÔNG TRÌNH:
ĐIỂM GÃY CẤU TRÚC VÀ MÔ HÌNH TỶ GIÁ
THỰC HIỆU LỰC CÂN BẰNG Ở VIỆT NAM –
PHƢƠNG PHÁP NATREX
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ


1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tỷ giá hối đoái là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia. Nó
được xem như một công cụ làm cân bằng hệ thống giá cả trong nước và thế giới và tác
động rất nhiều đến các chỉ số vĩ mô cơ bản của nền kinh tế. Ở Việt Nam, tỷ giá hối
đoái không chỉ tác động đến các yếu tố như tăng trưởng, lạm phát, hoạt động xuất
nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, hay thu hút nguồn FDI mà còn tác động
đến cả niềm tin của dân chúng.
Bên cạnh đó việc xác định giá trị cân bằng của tỷ giá hối đoái thực cũng là một vấn đề
đang được các nhà kinh tế cũng như các nhà hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm.
Thật vậy mức độ sai lệch của tỷ giá hối đoái thực và giá trị cân bằng của nó có thể có
tác động rất lớn đến sự cân bằng của cả nền kinh tế. Như một nghiên cứu thực nghiệm
đã chỉ ra rằng mức độ sai lệch của tỷ giá hối đoái thực so với giá trị cân bằng của nó
có thể là một chỉ báo quan trọng đánh giá mức độ dễ bị tổn thương của một nền kinh
tế. Hay theo một nghiên cứu của Kaminsky và các cộng sự (1998) cũng nhấn mạnh
việc đánh giá cao đồng nội tệ thường là một dấu hiệu của tính không thống nhất trong
các quyết định chính sách vĩ mô và có nguy cơ dẫn đến sự thâm hụt ngân sách, gia
tăng nợ nước ngoài và các cuộc tấn công tiền tệ khác. Ngược lại, một sự định giá thấp
nội tệ _ do chính sách phá giá của chính phủ _ có thể khuyến khích xuất khẩu và thúc
đẩy kinh tế tăng trưởng. Chính vì vậy mà việc xây dựng một phương pháp đo lường tỷ
giá hối đoái cân bằng và cách xác định mức độ sai lệch so với tỷ giá hối đoái thực là
điều rất cần thiết, đặt biệt là với các nhà điều hành chính sách vĩ mô.
Đáp ứng cho yêu cầu trên, năm 1995, Lim và Stein đã công bố một mô hình đo lường
tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng trong trung và dài hạn của đồng đô la Mỹ _mô
hình NATREX. Mô hình NATREX gốc ban đầu của Stein phù hợp hơn để áp dụng
cho các nước phát triển. Tuy nhiên, Stein cũng đã chỉ ra rằng phương pháp NATREX
không chỉ là một mô hình mà là một tập hợp các mô hình, có thể ứng dụng cho những
nền kinh tế khác nhau theo từng đặc trưng riêng của nó. Do vậy, các nghiên cứu gần
đây đã bắt đầu ứng dụng và mở rộng mô hình NATREX cho các quốc gia thị trường

2
mới nổi như các nghiên cứu của Holger cùng các cộng sự (2001), You và Sarantis
(2008, 2011) xây dựng mô hình NATREX cho Trung Quốc. Đặc biệt hơn, bài nghiên
cứu của You và Sarantis ( 2011) còn kết hợp việc xây dựng mô hình NATREX với
phương pháp đồng liên kết có xem xét điểm gãy cấu trúc để đo lường chính xác hơn
mức độ định giá sai đồng Nhân dân tệ.
Tiếp tục xu hướng đó, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Điểm gãy cấu
trúc và mô hình tỷ giá thực hiệu lực cân bằng ở Việt Nam-phương pháp NATREX”
nhằm xây dựng một mô hình NATREX mở rộng có xét đến điểm gãy cấu trúc, xác
định tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong trung và dài hạn cho đồng Việt Nam và xem
xét vấn đề liệu rằng đồng Việt Nam có bị định giá sai hay không. Nếu có thì mức độ
định giá sai là bao nhiêu và tầm ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế như thế nào.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu tập trung vào bốn câu hỏi chính như sau:
Mô hình NATREX mà Stein đưa ra vào năm 1995 cho Mỹ và các nước công
nghiệp phát triển có áp dụng được cho Việt Nam hay không? Và nếu áp dụng thì liệu
có phải thay đổi gì không?
Những biến số kinh tế nào sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực cân bằng của
đồng Việt Nam trong trung và dài hạn.
Liệu đồng Việt Nam có bị định giá sai không? Và nếu có thì mức độ sai lệch
với giá trị thực là bao nhiêu?
Liệu các điểm gãy cấu trúc có xảy ra tại Việt Nam không, và nó tác động thế
nào đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng? Từ đó tác động thế nào đến mức độ
định giá sai?

3
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vì NATREX là khái niệm tỷ giá cân bằng trong trung và dài hạn nên chúng tôi ứng
dụng phương pháp đồng liên kết cho các ước tính của mình. Trước khi tiến hành ước
lượng phương trình đồng liên kết, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra tính dừng của các
biến trong chuỗi dữ liệu bằng kiểm định của Ng & Perron 2001. Sau đó, chúng tôi ước
lượng mô hình NATREX cho Việt Nam dưới ba trường hợp: (1) không xét đến điểm
gãy cấu trúc, (2) có xét đến một điểm gãy cấu trúc và (3) xét đến hai điểm gãy cấu
trúc.
Đối với trường hợp (1), chúng tôi sử dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết
Johansen để kiểm tra xem có tồn tại mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn giữa các
biến dừng ở sai phân bậc một không. Sau đó sử dụng vecto đồng liên kết đã được
chuẩn hóa của phương trình Johansen để ước lượng mô hình.
Đối với trường hợp (2), chúng tôi sử dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết có
xét đến một điểm gãy của Gregory và Hansen (1996) (sau đây viết là GH) và sử dụng
mô hình của kiểm định này.
Còn trong trường hợp (3), chúng tôi kiểm định đồng liên kết có xét đến hai điểm gãy
theo phương pháp của Hatemi-J (2008, 2009) (sau đây viết là HJ).
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Phần 1 của bài nghiên cứu sẽ giới thiệu cơ sở lí thuyết của tỷ giá hối đoái thực cân
bằng và các phương pháp đo lường tỷ giá hối đoái, giới thiệu mô hình NATREX.
Phần 2 sẽ tổng quan về những nghiên cứu trước đây xoay quanh vấn đề xây dựng mô
hình xác định tỷ giá hối đoái trung và dài hạn tại Việt Nam, những ứng dụng và phát
triển mô hình NATREX của Stein (1995), và các nghiên cứu có xét đến điểm gãy
trong phương trình đồng liên kết
Phần 3 và 4 chúng tôi sẽ xây dựng mô hình NATREX mở rộng cho Việt Nam dựa
trên bài nghiên cứu gốc của Lim & Stein (1995) và của You & Sarantics ( 2008 ) và
giới thiệu hai phương pháp thực nghiệm GH và HJ sử dụng trong mô hình.

