
Điều trị sẹo lồi bằng nội và ngoại khoa
BS. Trần Thị Thanh Mai
BV. Da Liễu
TÓM TẮT:
Sẹo lồi là sự tăng sinh collagen da lành tính, nhưng đôi khi đau và/hoặc ngứa,
thường là do sự đáp ứng quá thừa của mô với chấn thương. Mặc dù lành tính,
nhưng gây ảnh hưởng về mặt xã hội và tâm lý lên bệnh nhân nên phải được xem
xét. Sẹo lồi thường thứ phát từ xỏ tai và các qui trình phẫu thuật khác, Không có
liệu pháp duy nhất nào luôn luôn thành công. Những liệu pháp thông dụng sẽ được
bàn đến ở bài này. Một vài trong số những liệu pháp nội khoa bao gồm
corticosteroids, interferon, 5-fluorouracil, và imiquimod. Trước tiên là cắt bỏ và
phẫu thuật lạnh là những biện pháp ngoại khoa chủ yếu. Xạ trị và các biện pháp
vật lý khác cũng được bàn.
CÁC TỪ KHÓA: corticosteroids, excision, 5-fluorouracil, imiquimod, interferon,
keloids.
Sẹo lồi là sự tăng sinh collagen da lành tính thường là do sự đáp ứng quá thừa của
mô với tổn thương da. Tuy nhiên, cũng gặp sẹo lồi tiên phát không có tiền sử chấn

thương tại điểm đó. Sẹo lồi thường ngứa và/hoặc đau, mặc dù lành tính, nhưng
chúng xâm lấn vào vùng da kề cận bình thường về lâm sàng.
Do xỏ tai, những người nữ trẻ thường có tần suất sẹo lồi cao hơn nam giới. Những
người trên 65 tuổi hiếm khi bị sẹo lồi, tuy nhiên, vì những thủ thuật ở giữa ngực và
shunt động mạch vành ngày càng nhiều, nên tần suất sẹo lồi vùng ức tăng ở những
người cao tuổi.
Điều trị sẹo lồi có nhiều mức độ thành công khác nhau. Không có một cách duy
nhất nào luôn luôn thành công. Nhiều báo cáo điều trị thành công trong y văn là
không đúng sự thật, điều này được chứng minh qua những nghiên cứu lâm sàng
ngẫu nhiên. Có những mô hình động vật cũng được sử dụng cho nghiên cứu lâm
sàng. Nhiều cách điều trị nội khoa, ngoại khoa, xạ trị và vật lý thường dùng phổ
biến trong điều trị sẹo lồi sẽ được bàn trong bài này.
Dự phòng là nguyên tắc đầu tiên trong điều trị sẹo lồi.
- Không nên tiến hành những thủ thuật thẩm mỹ không cần thiết ở những người
sẹo lồi (những bênh nhân chỉ có sẹo lồi ở dái tai không được coi là những người
tạo sẹo lồi).
- Nên tránh những thủ thuật tối đa ở giữa ngực, những vùng tổn thương da hậu
phẫu phải được điều trị bằng những kháng sinh thích hợp để tránh nhiễm trùng.

-Tất cả những vết thương do phẫu thuật phải được đóng lại với độ căng bình
thường nếu có thể, không nên cắt ngang khoảng cách giữa các khớp và nên cắt da
theo hình elip nằm ngang theo cùng hướng với đường căng của da.
ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA.
Tiêm steroid
Một trong những tiêu chuẩn lâu dài cho điều trị sẹo lồi và cách điều trị thường
dùng nhất, là tiêm triamcinolon acetonid (10-40 mg/ml). Phải báo trước cho bệnh
nhân rằng vùng tiêm thuốc có thể bị mất sắc tố và tình trạng này kéo dài 6 – 12
tháng. Việc tiêm triamcinolon gây đau cho bệnh nhân vì thế cần sử dụng EMLA
hoặc L-M-Y ( lọai thuốc này trước đây có tên là ELA-Max) 1-2 giờ trước khi tiêm
triamcinolon . Ngòai ra để giúp bệnh nhân chịu được nhiều mũi tiêm và giảm bớt
đau do sẹo cũng cần tiêm lidocaine chứa epinephrine xung quanh sẹo trước khi
tiêm triamcinolon .Sau mỗi lần tiêm, phải thử ống tiêm coi kim có bị nghẹt hay
không. Do. độ cứng của mô sẹo nên sự đâm kim vào mô sẹo sẽ có tác động như
việc đâm kim để lấy mẫu sinh thiết bằng kim khiến kim bị nghẽn.Phải đâm kim và
bơm triamcinolon vào đến tận lớp nhủ bì, nơi tạo ra chất collagenase. Không nên
tiêm steroid vào mô dưới da vì có thể làm teo lớp mỡ bên dưới. Sự kết tụ của chất
mang steroid được biểu hiện dưới dạng cục u màu vàng rất nhạt ở bên dưới điểm
tiêm bị teo. Corticosteroid ức chế alpha2-macroglobulin,một chất có tác dụng ức
chế collagenase. Một khi chu trình này bị ngăn chặn,lượng collagenase sẽ tăngvà

do đó sẽ làm thoái hóa collagen. Nên tiêm trực tiếp vào chỗ sẹo lồi để bệnh nhân ít
bị đau hơn. Nếu dùng ni tơ lỏng làm phù da trước khi tiêm thì việc tiêm cortocoid
vào sẹo sẽ dễ dàng hơn.
Trước khi bắt đầu tiêm triamcinolon vào sẹo, phải báo trước cho bệnh nhân rằng
có thể gặp chứng teo và giãn mao mạch xung quanh chỗ tiêm. Để tránh tái phát
sẹo lồi nên tiêm corticoid cứ mỗi 2-3 tuần một lần
Việc phối hợp điều trị bằng áp lực hoặc tạo lớp silicone gel với tiêm tramcinolon
vào trong sẹo đem lại hiệu quả hơn việc dùng riêng từng liệu pháp.
Điều trị bằng Interferon
Interferon-alpha và gamma ức chế tổng hợp collagen loại I và III bằng cách khử
acid ribonucleic thông tin nội bào. Benman và Flores đã báo cáo tỷ lệ tái phát
18,7% khi tiêm interferon alpha-2b sau khi cắt sẹo lồi so với tỷ lệ tái phát 51% khi
chỉ cắt sẹo lồi mà không tiêm interferon và tỷ lệ tái phát 58% khi điều trị sẹo lồi
phối hợp với tiêm triamcinolon vào sẹo sau phẫu thuật.Liềư lượng tiêm là 1 triệu
đơn vị vào mỗi centimét chiều dài da xung quanh chỗ hậu phẫu, ngay sau khi phẫu
thuật và tiêm nhắc lại 1 đến 2 tuần sau đó. Đối với vết cắt rộng, bệnh nhân phải
được tiền mê bằng acetaminophen để điều trị những triệu chứng giống bệnh cúm
do interferon gây ra. Đối với những bệnh nhân phải cắt bỏ nhiều sẹo lồi hoặc
những sẹo lồi lớn , việc điều trị bằng trị interferon sẽ rất tốn kém.

Điều trị bằng 5-flurouracil
Liệu pháp tiêm chất 5-flurouracil (5-FU) vào sẹo đã được dùng một cách thành
công trong điều trị những sẹo lồi cô lập nhỏ. Nếu tiêm hỗn hợp 0,1 ml
triamcinolone acetonide 10 mg/ml và 0,9 ml 5-FU (50 mg/ml) kết quả sẽ tốt hơn.
Ban đầu tiêm hỗn hợp này 3 lần một tuần, sau đó điều chỉnh tần suất tiêm theo đáp
ứng lâm sàng của người bệnh . Một vết sẹo có kích thước trung bình cần 5-10 lần
tiêm, thường là tiêm mỗi tuần. Một hạn chế lớn của 5-FU là gây đau khi tiêm
khiến bệnh nhân không tuân thủ điều trị.
Điều trị Imiquimod:
Imiquimod 5% dạng kem gây sản xuất tại chỗ interferon tại nơi bôi thuốc. Dựa
trên thông tin này, Berman và Kaufiman đã bôi kem imiquimod hậu phẫu cho 12
bệnh nhân vừa cắt bỏ sẹo lồi. Nên bắt đầu bôi Imiquimod ngay sau khi cắt bỏ sẹo
và bôi hằng ngày liên tục trong 8 tuần. Những bệnh nhân của Berman được đánh
giá 24 tuần sau khi cắt sẹo lồi và không có trường hợp nào tái phát sẹo lồi. Hầu hết
các bệnh nhân đều bị kích ứng từ nhẹ đến nặng do bôi Imiquimod hằng ngày .
Những trường hợp bị kích ứng nặng được ngưng thuốc từ vài ngày cho đến 1 tuần
rồi mới bôi lại. Những bệnh nhân có cá vết mổ rộng, có những vết thương có cấy
ghép da hoặc căng da không nên bôi kem Imiquimod trong 4-6 tuần hậu phẫu, vì
việc bôi imiquimod i sớm thường làm cho chỗ phẫu thuật nở rộng hoặc bị nứt.
Hơn 50% bệnh nhân bị tăng sắc tố tại chỗ điều trị.

