vi
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: LUẬT KINH TẾ
Mã môn học: MH 08
Thời gian thực hiện môn học: 30 giờ (Lý thuyết: 15 giờ; Thực hành: 12 ; Kiểm
tra: 03 giờ)
I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔN HỌC:
- Vị trí: môn khoa học cơ strong nội dung chương trình đào tạo của nghề kế
toán doanh nghiệp, được bố trí giảng dạy sau khi học các môn chung và trước khi học các
môn cơ sở của nghề.
- Tính chất: Luật kinh tế là môn học bắt buộc, nghiên cứu những kiến thức cơ bản
về hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế, sở để học các
môn chuyên môn của nghề
II. MỤC TIÊU MÔN HỌC:
- Kiến thức:
+ Trình bày được những nội dung bản của pháp luật kinh tế như hành vi
kinh doanh, phương thức thực hiện hành vi kinh doanh.
+ Phát hiện các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh.
+ Vận dụng các chế tài với hành vi vi phạm pháp luật kinh tế và vi phạm hợp
đồng kinh tế.
- Kỹ năng:
+ Viết được hợp đồng kinh tế đúng quy định pháp luật.
+ Phân biệt được các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
+ Thực hiện được trình tự, thủ tục để giải quyết phá sản doanh nghiệp.
+ Giải quyết các tranh chấp kinh tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh.
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Tuân thủ pháp luật kinh tế trong thực hiện hành vi kinh doanh.
+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ kinh tế.
+ Có thái độ nghiêm túc trong học tập, xác định đúng đắn động mục
đích học tập.
III. NỘI DUNG MÔN HỌC:
1. Nội dung tổng quát và phân phối thời gian:
Số TT
Tên chương, mục
Thời gian(giờ)
Tổng
số
thuyết
Thực
hành
Kiểm tra
1
Chương 1. Những vấn đề luận
chung về Luật kinh tế
1. Khái quát về hoạt động thương
mại và Luật kinh tế
2. Chủ thể của Luật kinh tế
3. Nguồn của Luật kinh tế
2
2
2
Chương 2. Chế định pháp của các
loại hình doanh nghiệp
12
12
vii
1. Công ty TNHH 2 thành viên
trở lên
2. Công ty TNHH 1 thành viên
3. Công ty cổ phần
4. Công ty hợp danh
5. Doanh nghiệp tư nhân
6. Doanh nghiệp Nhà nước
7. Hợp tác xã
3
Chương 3. Chế định pháp lý về hợp
đồng kinh tế
1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò
của hợp đồng kinh tế
2. Ký kết hợp đồng kinh tế
3. Thực hiện hợp đồng kinh tế
4. Hợp đồng kinh tế hiệu xử
lý hợp đồng kinh tế vô hiệu
5. Trách nhiệm pháp do vi
phạm hợp đồng kinh tế
6
5
1
4
Chương 4. Chế định pháp luật về
giải quyết tranh chấp kinh tế
1. Khái quát chung về tranh chấp
kinh tế trong kinh doanh
2. Các phương thức giải quyết
tranh chấp kinh tế Việt Nam
hiện nay
5
5
5
Chương 5. Chế định pháp lý về phá
sản doanh nghiệp
1. Khái quát về phá sản quy
định về phá sản
2. Trình tự thủ tục giải quyết phá
sản doanh nghiệp
5
4
1
Tổng số
30
28
02
1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT KINH
TẾ
Mã chương: MH 08- 01
Gii thiu: Nhn thc đưc vai trò và tm quan trng ca Lut kinh tế đối vi hot
động kinh doanh ca xã hi
Mc tiêu:
- Trình bày đưc khái nim Lut kinh tế
- Trình bày đưc lch s hình thành và phát trin ca Lut kinh tế
- Trung thc, nghiêm túc trong nghiên cu
1. Khái quát chung về hoạt động thương mại và Luật kinh tế
1.1 Khái niệm hoạt động thương mại
Sự ra đời phát triển của hoạt động thương mại gắn liền với nền sản xuất hàng
hóa. Thương mại xuất hiện trên cơ sở sự phân công lao động hội, tồn tại phát triển
qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Ban đầu, khái niệm thương mại được hiểu đơn thuần hoạt động mua bán hàng
hóa nhằm mục đích kiếm lời. Sau đó, cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế -
hội, khái niệm thương mại dần được mở rộng hơn trên nhiều lĩnh vực của đời sống, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ.
Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 cũng xây dựng khái niệm thương mại theo
nghĩa hẹp theo đó “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương
mại của thương nhân, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại các
hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích sinh lợi nhuận hoặc thực hiện các chính
sách kinh tế xã hội”. Bên cạnh đó, Luật Thương mại năm 1997 còn định nghĩa thêm hành
vi thương mại, theo đó, “Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động
thương mại làm phát sinh quyền nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa
thương nhân với các bên có liên quan”.
Hiện nay, khái niệm thương mại ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển
đều được hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm các quan hệ nêu trên.
Để phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và trong quá trình từng bước hoàn thiện pháp
luật cho yêu cầu hội nhập, Luật Thương mại năm 2005 ra đời thay thế cho Luật Thương
mại năm 1997, đã xây dựng khái niệm hoạt động thương mại theo nghĩa rộng, theo đó hoạt
động thương mại hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác .
1.2 Các đặc điểm của hoạt động thương mại
1.2.1 Hoạt động thương mại là hoạt động mang tính chất nghề nghiệp do
thương nhân thực hiện
Hoạt động thương mại được khái quát hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, tuy
nhiên theo một số quan điểm thì các chủ thể pháp luật khi tiến hành các hoạt động phù hợp
với nhu cầu hoặc mục đích tồn tại của mình, và trong chừng mực nhất định, các hoạt động
đó đều được xem là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi cho bản thân chủ thể đó và cho toàn
xã hội , vì thế chúng ta cần hiểu hoạt động thương mại ở đây là hoạt động nhằm mục đích
sinh lời của thương nhân, do thương nhân thực hiện.
1.2.2 Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
Mục đích sinh lợi là mục đích tạo ra lợi nhuận. Khi thực hiện hoạt động thương mại
thì mục đích của thương nhân là muốn có lợi nhuận. Đây là điểm khác biệt với người thực
hiện hành vi dân sự chđể thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng hàng ngày của họ.
Cần lưu ý mục đích sinh lợi không đồng nghĩa với việc lợi nhuận. Một người thực
2
hiện hành vi vì mục đích sinh lợi có thể không đạt được mục đích ấy có lợi nhuận. Vì vậy
ta cần lưu ý là mục đích sinh lợi với kết quả của lợi nhuận.
1.2.3 Hoạt động thương mại được thực hiện trên thị trường
Nơi diễn ra hành vi thương mại thị trường đó các thương nhân thực hiện hoạt
động thương mại. Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động thương mại do thương nhân thực
hiện. Không thị trường thì không thể xuất hiện hành vi thương mại đó do giải
thích tại sao nếu chỉ mới có sự trao đổi thì chưa thể có thương mại. Chỉ khi nào sự trao đổi
ấy diễn ra trên thị trường thị trường xuất hiện – thì mới xuất hiện hoạt động thương mại.
1.3 Phân loại hoạt động thương mại
-Nhóm hoạt động mua bán hàng hóa: Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động cơ
bản, phổ biến nhất trong các hoạt động thương mại. Theo điều 3 khoản 8 Luật Thương mại
2005 thì mua bán hàng hóa hoạt động thương mại, theo đó bên bán nghĩa vụ giao
hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua nhận thanh toán; bên mua nghĩa
vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Tùy vào
phương thức giao dịch, hoạt động mua bán hàng hóa có thể phân thành mua bán hàng hóa
thông thường và mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa. Mua bán hàng hóa cũng
thể phân thành mua bán hàng hóa trong nước và mua bán hàng hóa quốc tế.
- Nhóm hoạt động cung ứng dịch vụ: Theo điều 3 khoản 9 cung ứng dịch vụ là hoạt
động thương mại, theo đó một bên nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác nhân
thanh toán; n sử dụng dịch vụ nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ng dịch vụ sử
dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Luật Thương mại 2005 không quy định hết tất cả các dịch
vụ chỉ quy định một số dịch vụ phổ biến và bản như dịch vụ logistics, dịch vụ quá
cảnh hàng hóa, dịch vụ giám định.
-Nhóm hoạt động xúc tiến thương mại: Đây là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội
mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương
mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại.
- Nhóm hoạt động trung gian thương mại: Đây các hoạt động của thương nhân để
thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao
gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa
và đại lý thương mại.
-Nhóm các hoạt động thương mại khác: Đây là các hoạt động thương mại bao gồm
đấu thầu, đấu giá, gia công hàng hóa, cho thuê dịch vụ và nhượng quyền thương mại… và
tất cả các hoạt động thương mại mà thương nhân hướng đến thực hiện nhằm mục đích sinh
lợi. 1.4 Sự ra đời của luật Thương mại
Khi các trình độ của nền sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định thì
hội xuất hiện một tầng lớp người chuyên thực hiện các hoạt động mua đi bán lại kiếm
lời, đó chính các thương gia. Họ coi việc mua đi bán lại như nghề nghiệp của mình,
nghề đó chính là nghề thương mại.
Sự xuất hiện của các thương gia nghề thương mại đòi hỏi phải một hệ thống
các quy tắc pháp lý phù hợp để xác định địa vị pháp của các thương gia các hành vi
thương mại, chính thế luật thương mại ra đời. Các quy phạm pháp luật thương mại
thật ra đã những quy tắc tồn tại lâu đời cùng với sự hình thành tầng lớp thương nhân.
Các quan hệ xã hội phát triển đã làm nảy sinh nhu cầu ban hành các quy định pháp luật để
điều chỉnh quy chế thương nhân và các hoạt động thương mại.
Như vậy, sở kinh tế cho việc hình thành luật thương mại là sự hình thành và phát
triển của nền sản xuất hàng hóa, còn cơ sở xã hội là sự xuất hiện tầng lớp người mới trong
xã hội chuyên làm nghề thương mại.
3
Khi mới hình thành, luật thương mại chỉ điều chỉnh quan hệ trao đổi, mua bán hàng
hóa giữa các thương nhân. Dần dần, luật thương mại đã mở rộng phạm vi điều chỉnh không
chỉ các quan hệ mua bán mà hầu hết các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất,
lưu thông hàng hóa và thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Việc ra đời những chế định pháp đặc thù Luật thương mại, bên cạnh Luật dân
sự được giải thích thương nhân những chủ thể hành nghề độc lập, lấy các giao dịch
thương mại làm nghề nghiệp chính, và thực hiện chúng không phải vì mục đích tiêu dùng,
bản nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Các giao dịch giữa các chủ thể này mang
những đặc điểm khác với các giao dịch dân sự, thể hiện ở những điểm chính sau đây:
- Các quan hệ thương mại cần được tổ chức đơn giản, thuận tiện linh hoạt. Để
lưu thông hàng hóa được nhanh chóng, luật pháp phải tạo điều kiện cho thương nhân giao
kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng một cách đơn giản nhất.
- Các hoạt động thương mại chỉ mang tính nghề nghiệp, cho nên liên quan đến
nhiều bên thứ ba. vậy, để bảo đảm an toàn pháp cho các hoạt động kinh doanh, cần
thiết phải có các quy định về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại và các quy định
về đăng ký kinh doanh để hình thành tư cách thương nhân. Luật thương mại phải góp phần
bảo vệ an toàn pháp cho mọi giao dịch và các bên liên quan đến các hoạt động thương
mại. - Khác với c chủ thể luật dân sự không tham gia kinh doanh, thương nhân là
những chủ thể ý thức được các rủi ro trong kinh doanh, một mặt họ cần các quy định pháp
luật linh hoạt hơn cho các giao dịch của mình, mặt khác họ cũng phải chấp nhận những
điều kiện khắt khe hơn của Nhà nước để được hưởng một sự bảo hộ nhất định. Nói một
cách khác, sự giải phóng khỏi những thủ tục mang tính công thức đtiến hành c hoạt
động thương mại một cách đơn giản thuận tiện được đổi lấy bởi những điều kiện ngặt
nghèo hơn khi muốn được Nhà nước bảo hộ.
- Thương nhân muốn xử lý các tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm
kinh doanh của mình, dụ tại một cơ quan phán xét kinh nghiệm trong lĩnh vực thương
mại, đảm bảo tính bí mật và xử lý vụ việc nhanh gọn.
Những lý do cơ bản u trên đã làm cho các quy định riêng về thương nhân các
hoạt động thương mại trở nên cần thiết. Cùng với sự gia tăng của các hoạt động nội thương
cũng như ngoại thương, lĩnh vực pháp luật thương mại đã dần dần được hình thành.
2. Chủ thể của Luật kinh tế
2.1 Khái niệm thương nhân
Pháp luật thương mại một chừng mực nào đó luật điều chỉnh hoạt động của
thương nhân. Do vậy xác định chủ thể pháp luật nào được gọi là thương nhân là một trong
những nội dung đầu tiên và quan trọng của pháp luật thương mại.
Theo Luật thương mại Việt Nam 1997, “Thương nhân gồm nhân, pháp nhân, tổ
hợp tác, hộ gia đình, có đăng kinh doanh hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên”.
Luật Thương mại 2005 định nghĩa: “Thương nhân gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên đăng kinh
doanh”.
Nhìn chung, khái niệm thương nhân theo quy định của Luật thương mại 2005 mang
tính khái quát hơn so với khái niệm này trong Luật thương mại 1997.
2.2 Đặc điểm của thương nhân
2.2.1 Thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại
Hoạt động thương mại là một tiêu chí không thế thiếu được để xác định một thương
nhân. Thương nhân là chủ thể của hoạt động thương mại, là thương nhân thì phải xem hoạt
động thương mại là hoạt động mang tính chất nghề nghiệp của mình.