intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Chia sẻ: Sdgsxf Sdgsxf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:109

0
217
lượt xem
91
download

Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam nhằm khái quát hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại, thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, giải pháp phát triển hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ------------------ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM Họ và tên sinh viên: TRẦN THỊ THU HỒNG Lớp : A15 – K42D Khoá : 42 Giáo viên hướng dẫn: TS. TRẦN VIỆT HÙNG Hà Nội, tháng 11 năm 2007
  2. Luận văn tốt nghiệp khoá 42 - ĐH Ngoại thương Hà Nội MỤC LỤC ---- ----***---- ---- Chương I: Tổng quan về hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại 3 I. Sự cần thiết khách quan của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế và một số vấn đề đặt ra trong hoạt động xuất nhập khẩu 3 1. Hoạt động xuất nhập khẩu là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế. 3 2. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế quốc dân nước ta. 4 3. Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu và nhu cầu tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu. 4 3.1. Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu. 4 3.2. Nhu cầu tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu. 5 II. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại. 7 1. Khái niệm, bản chất của tín dụng. 7 2. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. 8 2.1. Sự ra đời và phát triển của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. 8 2.2. Bản chất và vai trò của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. 8 2.3. Vai trò của hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu trong nền kinh tế. 9 2.3.1. Đối với ngân hàng thương mại. 9 2.3.2. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. 10 2.3.3. Đối với nền kinh tế quốc dân. 10 2.4. Nguyên tắc trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân hàng. 11 2.4.1. Việc hỗ trợ tài chính phải trên cơ sở thẩm định rõ khách hàng. 11 2.4.2. Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo đúng thời hạn cam kết. 11 2.4.3. Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích như đã cam kết khi vay vốn, có hiệu quả kinh tế. 11 III. Một số hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại. 11 GVHD: Ts Trần Việt Hùng - SVTH: Trần Thị Thu Hồng - Lớp A15K42D
  3. Luận văn tốt nghiệp khoá 42 - ĐH Ngoại thương Hà Nội 1. Tài trợ trên cơ sở thương phiếu. 11 2. Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ. 15 3. Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. 17 4. Tài trợ bằng cách cho vay vốn trực tiếp. 21 5. Bao thanh toán tương đối và bao thanh toán tuyệt đối. 22 6. Tài trợ dưới hình thức bảo lãnh ngân hàng. 25 7. Tín dụng thuê mua. 27 IV. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu 29 1. Năng lực cho vay của ngân hàng thương mại 29 2. Chính sách xuất nhập khẩu của Nhà nước 29 3. Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước 30 4. Năng lực của doanh nghiệp xuất nhập khẩu 31 Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 31 I. Một số nét khái quát về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 31 1. LÞch sö h×nh thµnh vµ ph¸t triÓn 31 2. Mét sè ho¹t ®éng kinh doanh cña Ng©n hµng §Çu t- vµ Ph¸t triÓn ViÖt Nam 34 3. KÕt qu¶ ho¹t ®éng kinh doanh cña Ng©n hµng §Çu t- vµ Ph¸t triÓn ViÖt Nam n¨m 2006 36 II. Thùc tr¹ng ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu t¹i Ng©n hµng §Çu t- vµ Ph¸t triÓn ViÖt Nam 45 1. Tµi trî trªn c¬ së ph-¬ng thøc thanh to¸n nhê thu kÌm chøng tõ 45 2. Tµi trî trªn c¬ së ph-¬ng thøc thanh to¸n tÝn dông chøng tõ 46 3. Tµi trî trªn c¬ së cho vay vèn trùc tiÕp 48 4. Tµi trî d-íi h×nh thøc b¶o l·nh ng©n hµng 49 5. NghiÖp vô thuª mua tµi chÝnh 51 III. KÕt qu¶ ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu cña Ng©n hµng §Çu t- vµ Ph¸t triÓn ViÖt Nam 53 1. Nh÷ng kÕt qu¶ ®¹t ®-îc trong ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu cña BIDV 53 2. Mét sè vÊn ®Ò tån t¹i trong ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu cña BIDV 54 GVHD: Ts Trần Việt Hùng - SVTH: Trần Thị Thu Hồng - Lớp A15K42D
  4. Luận văn tốt nghiệp khoá 42 - ĐH Ngoại thương Hà Nội 3. Nguyªn nh©n cña nh÷ng tån t¹i trong ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu cña BIDV 56 Ch-¬ngIII: Gi¶i ph¸p ph¸t triÓn ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu t¹i ng©n hµng §Çu t- vµ Ph¸t triÓn ViÖt Nam 70 I. Bèi c¶nh kinh tÕ trong n-íc vµ quèc tÕ 70 1. Xu h-íng më cöa vµ héi nhËp kinh tÕ ViÖt Nam 70 2. TÝnh tÊt yÕu cho sù ph¸t triÓn cña ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu trong thêi gian tíi 71 2.1. TÝnh tÊt yÕu kh¸ch quan 71 2.2. TÝnh tÊt yÕu chñ quan 74 II. Ph-¬ng h-íng ®Èy m¹nh ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu trong nh÷ng n¨m tíi cña BIDV 74 1. Ph-¬ng h-íng ho¹t ®éng cña BIDV giai ®o¹n 2007- 2015 77 2. Ph-¬ng h-íng ®Èy m¹nh ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu trong nh÷ng n¨m tíi cña BIDV 81 III. Mét sè gi¶i ph¸p ph¸t triÓn ho¹t ®éng tÝn dông tµi trî xuÊt nhËp khÈu t¹i BIDV 82 1. §èi víi Ng©n hµng §Çu t- vµ Ph¸t triÓn ViÖt Nam 82 1.1. T¨ng c-êng kh¶ n¨ng nguån vèn 82 1.2. X©y dùng chiÕn l-îc, chÝnh s¸ch dµi h¹n ®Ó ®Þnh h-íng cho ho¹t ®éng tµi trî xuÊt nhËp khÈu cña BIDV ph¸t triÓn 83 1.3. §-a ra c¸c biÖn ph¸p h¹n chÕ rñi ro trong tµi trî 85 1.4. §a d¹ng ho¸ c¸c ph-¬ng thøc tµi trî 88 1.5. §µo t¹o vµ ph¸t triÓn nguån nh©n lùc 91 1.6. T¨ng c-êng øng dông c«ng nghÖ cao vµo c¸c nghiÖp vô ng©n hµng 92 1.7. §Èy m¹nh ho¹t ®éng Marketing 93 2. §èi víi Nhµ n-íc 94 2.1. Hoµn thiÖn m«i tr-êng ph¸p lý, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi thóc ®Èy tµi trî xuÊt nhËp khÈu 94 2.2. Hoµn thiÖn hÖ thèng chÝnh s¸ch nh»m thóc ®Èy sù ph¸t triÓn cña doanh nghiÖp, t¹o ra m«i tr-êng an toµn cho ng©n hµng cung cÊp c¸c s¶n phÈm tµi trî xuÊt nhËp khÈu 95 2.3. Hç trî c¸c ng©n hµng tham gia tµi trî xuÊt nhËp khÈu 96 3. §èi víi c¸c doanh nghiÖp xuÊt nhËp khÈu 97 GVHD: Ts Trần Việt Hùng - SVTH: Trần Thị Thu Hồng - Lớp A15K42D
  5. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Trong suốt quá trình phát triển xây dựng kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng vai trò của hoạt động kinh tế đối ngoại. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại luôn là một trong những định hướng phát triển hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xác định được tầm quan trọng của hoạt động ngoại thương, chúng ta phải tìm cách thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển nhằm phát huy tối đa vai trò của hoạt động này đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Trong điều kiện của một nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay thì một trong những biện pháp quan trọng và hiệu quả nhất là tài trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu bởi yếu tố vốn là nền tảng căn bản để tiến hành sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, thực lực về vốn của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp và vay vốn ngân hàng luôn là giải pháp hàng đầu đối với các doanh nghiệp. Nhận thức được vấn đề này, trong thời gian qua Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)- một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất nước ta hiện nay, luôn quan tâm phát triển hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu với nhiều sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, do gặp nhiều khó khăn xuất phát từ phía khách quan và chủ quan mà hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV chưa phát huy hết hiệu quả. Đó cũng là lý do người viết lựa chọn đề tài: “Hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” để tiến hành nghiên cứu. Mục đích của đề tài Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại (NHTM) nói chung và BIDV nói riêng, người viết mong muốn: - Giới thiệu đầy đủ hơn một số nội dung của hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. 1
  6. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội - Giới thiệu một số nét về BIDV, kết quả hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV, nguyên nhân của những tồn tại để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động này ở BIDV. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại. - Phạm vi nghiên cứu là hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác- Lênin kết hợp với phương pháp nghiên cứu khảo sát thực tiễn. Phương pháp phân tích, hệ thống, so sánh, tổng hợp, thống kê, khái quát hoá cũng được sử dụng để làm rõ ý tưởng của người viết. Bố cục của khoá luận Khoá luận gồm ba chương: Chƣơng I: Tổng quan về hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại. Chƣơng II: Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chƣơng III: Một số giải pháp phát triển hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Để có thể hoàn thành khoá luận này, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo- TS. Trần Việt Hùng cùng sự giúp đỡ quý báu của các cán bộ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Do còn những hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế, khoá luận chắc chắn không tránh khỏi có nhiều thiếu sót. Người viết rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận được hoàn chỉnh hơn. 2
  7. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. I. Sự cần thiết khách quan của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế và một số vấn đề đặt ra trong hoạt động xuất nhập khẩu. 1. Hoạt động xuất nhập khẩu là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế. Sự phát triển của các hoạt động kinh tế đối ngoại trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi nước trở thành một lĩnh vực phong phú và đa dạng của nền kinh tế quốc dân- một thực thể khách quan của nền kinh tế. Thế giới đang bước vào một nền kinh tế được gọi là nền kinh tế tri thức. Loài người đang đứng trước một sự lựa chọn là phải thay thế hệ thống công nghệ hiện nay hoặc sẽ bị tiêu diệt. Để tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa trong cộng đồng kinh tế thế giới, đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển như Việt Nam, đặc trưng này vừa tạo ra những thách thức, nguy cơ mới, vừa tạo ra khả năng để thoát ra khỏi những thách thức và nguy cơ ấy. Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và cũng mang đầy đủ các đặc trưng nói trên. Thực trạng nền kinh tế nước ta có những lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động nhưng còn rất hạn chế về vốn và khoa học kĩ thuật mà nước ta chưa thể khắc phục được. Mặt khác, do bối cảnh kinh tế chính trị quốc tế thay đổi, xu hướng chung là các nước "mở cửa" nền kinh tế. "Mở cửa" nền kinh tế là cần thiết khách quan, là biện pháp không thể thiếu được để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra trong chiến lược kinh tế xã hội đến năm 2010 và giai đoạn tiếp theo. Hơn nữa, trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu hóa đã và đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng tăng làm cho nền kinh tế Thế giới tồn tại và phát triển như một chỉnh thể, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, có quan hệ chằng chịt lẫn nhau, làm cho các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn 3
  8. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội nhau về vốn, kĩ thuật, công nghệ, nguyên liệu và thị trường. Từ đó có thể khẳng định rằng, hoạt động xuất nhập khẩu tồn tại và phát triển như một tất yếu khách quan của nền kinh tế. 2. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế quốc dân nước ta. Hoạt động xuất nhập khẩu tồn tại trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan. Trong thời kỳ mở cửa nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu là một hình thức kinh tế đối ngoại được hình thành sớm nhất và có vai trò quan trọng nhất. Đối với nước ta, xuất nhập khẩu là một hoạt động kinh tế đóng vai trò quan trọng, thể hiện ở những mặt sau: - Xuất nhập khẩu phục vụ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Biểu hiện thông qua nhập khẩu hàng hoá, máy móc thiết bị, vật tư kĩ thuật tiên tiến, những thành tựu khoa học, phát minh sáng chế... phục vụ cho công tác nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất. Thông qua xuất khẩu tiêu thụ được sản phẩm trong nước sản xuất ra, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. Đồng thời, với việc nghiên cứu thị trường ngoài nước, hoạt động xuất nhập khẩu hướng dẫn, khuyến khích phát triển sản xuất trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu; - Xuất nhập khẩu góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân; - Xuất nhập khẩu góp phần làm tăng thu ngoại tệ và tăng tích luỹ cho Nhà nước; - Đối với quốc phòng và bảo vệ an ninh Tổ quốc, thông qua nhập khẩu góp phần thoả mãn nhu cầu vật chất của quốc phòng; - Xuất nhập khẩu góp phần thực hiện đường lối mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đường lối ngoại giao của Đảng và Nhà nước. 3. Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu và nhu cầu tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu. 3.1. Rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu. 4
  9. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội Liên quan đến phương tiện tài trợ ngoại thương, những rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu quyết định trước hết khả năng tài trợ thuần tuý, bên cạnh đó quyết định cả chi phí cho việc tài trợ. So sánh với nội thương, trong ngoại thương nảy sinh thêm nhiều rủi ro mà các rủi ro nhỏ nhất theo thông lệ thường bắt nguồn từ các khoảng cách lớn hơn, đó là những trật tự kinh tế xã hội và luật pháp ở các nước xa lạ, cũng phát sinh cả từ rào cản về ngôn ngữ. Các loại rủi ro xuất hiện trong hoạt động xuất nhập khẩu gồm: - Rủi ro về khả năng thanh toán: vì có ít thông tin hơn và thông tin khó đánh giá hơn về khả năng thanh toán của khách hàng và địa vị của họ trên thị trường ở trong nước họ. Các rủi ro người nhận hàng không thanh toán vì lý do không muốn thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán. - Rủi ro về tiêu thụ: Bên cạnh rủi ro về thanh toán, người bán hàng còn phải chịu rủi ro về tiêu thụ. - Rủi ro về vận chuyển: những khoảng cách thường rất xa trong ngoại thương cũng như những nguy hiểm có thể xảy ra bởi sự bất thường của tự nhiên làm cho việc vận chuyển cao hơn trong nội thương. - Rủi ro về pháp lý: là những rủi ro có thể nảy sinh trên cơ sở các tiêu chuẩn pháp lý khác nhau giữa các nước. - Rủi ro về tỷ giá hối đoái: rủi ro này nảy sinh vì ít nhất một đối tác phải dự tính bằng ngoại tệ, trong hệ thống tỷ giá thả nổi thì rất khó có thể dự tính chính xác tỷ giá đối với các hợp đồng dài hạn. - Các rủi ro về đất nước thuộc loại rủi ro mang tính chất kinh tế và luật pháp nhiều hơn, những nhân tố rủi ro được quyết định về chính trị là: chiến tranh, cách mạng, nổi loạn...; tình hình kinh tế không thuận lợi như: thiếu nguyên vật liệu, kém phát triển, nợ quá nhiều, tỷ lệ lạm phát cao và giảm giá trị tiền tệ, rủi ro về chuyển đổi, rủi ro về chu chuyển, rủi ro về cấm thanh toán và rủi ro vì bị cấm vận. 3.2. Nhu cầu tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu. 3.2.1. Nhu cầu tài trợ của nhà xuất khẩu. 5
  10. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội Việc thực hiện nghiệp vụ ngoại thương thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng cho tới vài năm, do đó thông thường có thể hình thành nhu cầu tài trợ nhiều mặt liên quan đến các giai đoạn của nghiệp vụ xuất khẩu: - Khâu phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại diện tại các hội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch cũng phát sinh nhu cầu tài trợ; - Đưa ra đề nghị chào hàng: các đề nghị chào hàng trong khuôn khổ đấu thầu quốc tế thường kèm theo bản đảm bảo đấu thầu của một ngân hàng thương mại có tên tuổi, chính là phát sinh nhu cầu bảo lãnh dự thầu; - Ký kết hợp đồng: nhà xuất khẩu nhận tiền đặt cọc thì nhà nhập khẩu có thể yêu cầu một bảo đảm ngân hàng cho khoản tiền đặt cọc của mình. Lúc này phát sinh nhu cầu vay mượn chữ tín ngân hàng của nhà xuất khẩu. - Chuẩn bị sản xuất: đây là giai đoạn phát sinh nhu cầu tài trợ về vốn ngân hàng để nhà xuất khẩu có thể tiến hành sản xuất hàng xuất khẩu theo đúng tiến độ vì thường giai đoạn này phát sinh rất nhiều chi phí nếu bằng vốn tự có của mình nhà xuất khẩu không đủ khả năng để trang trải. - Giai đoạn sản xuất: ở giai đoạn này cũng sẽ nảy sinh nhu cầu tài chính cao về vật tư và lương cho công nhân sản xuất. - Cung ứng: cả quá trình cung ứng cũng có thể phát sinh chi phí về vận tải và bảo hiểm tuỳ theo điều kiện cung ứng. - Mục tiêu thanh toán: phạm vi chủ yếu của việc tài trợ xuất khẩu chính trong giai đoạn này. Không có sự giúp đỡ của các ngân hàng và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, cả các công ty mạnh về tài chính cũng không thể đáp ứng được toàn bộ nhu cầu tài trợ này. 3.2.2. Nhu cầu tài trợ của nhà nhập khẩu. Giống như ở phía nhà xuất khẩu, ở phía nhà nhập khẩu cũng hình thành nhu cầu tài trợ nhiều mặt: - Trước khi ký hợp đồng - Ký hợp đồng: nhu cầu tài trợ cho các khoản đặt cọc 6
  11. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội - Thời gian sản xuất và hoàn thành công trình: có thể phải thanh toán các khoản giữa chừng - Cung ứng và vận chuyển hàng hoá: nhu cầu tài trợ cho các phí tổn và vận tải và bảo hiểm - Nhận hàng hoá: nhu cầu tài trợ thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Các ngân hàng thương mại với chức năng và đặc điểm trong hoạt động kinh doanh của mình là nhân tố không thể thiếu được trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. II. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thƣơng mại. 1. Khái niệm, bản chất của tín dụng. Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ Latin CREDITIUM với nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Trong từ điển tiếng Việt 1997 thì “Tín dụng” được định nghĩa là sự vay mượn vật tư, tiền mặt, hàng hoá. Theo K.Marx: “Tín dụng” là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Theo Luật các tổ chức tín dụng 2004: Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Như vậy, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sở hữu một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này gọi là lợi tức tín dụng. Theo nghĩa rộng, quan hệ tín dụng gồm hai mặt: huy động vốn và tiến hành cho vay. Trong thực tế tín dụng rất phong phú và đa dạng. Luật Ngân hàng các nước định nghĩa tín dụng:" Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ tác động nào, qua đó một người đưa hoặc hứa đưa vốn cho một người khác dùng, hoặc cam kết bằng 7
  12. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội chữ ký cho người vay như bảo đảm, bảo chứng hay bảo lãnh mà có thu tiền", hình thành nên ba nghiệp vụ tín dụng cơ bản của ngân hàng, đó là: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh. Bản chất của tín dụng được thể hiện là hình thức vận động của vốn tiền tệ trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của người dân. 2. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. 2.1. Sự ra đời và phát triển của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quan trọng. Thị trường thương mại Thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trường tiêu thụ hàng hoá, thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp bách của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu hoặc đủ vốn để thu mua, chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và sự giúp đỡ tài trợ của ngân hàng. Quan hệ giao thương quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, phức tạp nên những nghiệp vụ thương mại đòi hỏi sự tham gia của các ngân hàng thương mại (NHTM). Ngân hàng đem lại cho các nhà hoạt động ngoại thương sự hiểu biết về kĩ thuật và chỗ dựa tài chính trong lĩnh vực quan trọng này. Có thể nói sự ra đời và phát triển của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu khách quan, ra đời gắn liền với các quan hệ giao dịch ngoại thương giữa các nước với nhau. 2.2. Bản chất và vai trò của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. Tài trợ xuất nhập khẩu được hiểu là sự chuẩn bị sẵn sàng những phương tiện tài chính và thay thế về mặt tài chính (vay tín dụng) để hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại cũng như đảm bảo các quá trình thanh toán liên quan. Từ đó có thể thấy bản chất của tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM là sự vận động của giá trị vốn tín dụng dưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hoá trong xuất khẩu cả trong giai đoạn sản xuất và trong nhập khẩu trên phương diện từ ngắn hạn đến dài hạn. Hay tín dụng tài trợ xuât nhập khẩu là 8
  13. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội một mảng dịch vụ thuộc hệ thống tất cả các dịch vụ chuyên biệt của ngân hàng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Mảng dịch vụ này có nét chung là ngân hàng cung ứng vốn bằng tiền hoặc bảo lãnh giúp cho các doanh nghiệp gia tăng hiệu quả kinh doanh và thực hiện thương vụ thành công. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngoại thương cũng như sự phát triển kinh tế của đất nước. Vai trò của nó được thể hiện ở các mặt sau: - Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại, đổi mới trang thiết bị kĩ thuật, dây chuyền sản xuất chế biến hàng nhập khẩu với công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, hạ giá thành sản phẩm tạo khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu và kinh doanh có lãi; - Nhờ có sự tài trợ của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đồng thời thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách Nhà nước; - Tạo điều kiện thuận lợi giúp các đơn vị tiểu thủ công nghiệp phát triển sản xuất, tăng nhanh lượng hàng hoá, tạo ra nhiều sản phẩm xuất khẩu, thâm nhập, mở rộng thị trường tiêu thụ, đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu; - Tín dụng xuất nhập khẩu còn góp phần nhập khẩu các hàng hóa tiêu dùng cần thiết cho đời sống và sinh hoạt của nhân dân; - Tín dụng xuất nhập khẩu còn góp phần quan trọng phục vụ chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, góp phần mở rộng kinh tế đối ngoại với các nước trên Thế giới. 2.3. Vai trò của hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu trong nền kinh tế. 2.3.1. Đối với Ngân hàng thương mại. Tài trợ của ngân hàng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu là hình thức cho vay mang lại hiệu quả cao, an toàn, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích và thời gian thu hồi vốn nhanh cho ngân hàng, bởi: 9
  14. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội - Thời gian tài trợ ngắn hạn do gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ. Kỳ hạn tài trợ ngắn phù hợp với kỳ hạn huy động vốn của các NHTM , thường là dưới một năm. Điều này giúp ngân hàng tránh được rủi ro về thanh khoản. - Tài trợ xuất nhập khẩu nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông qua việc quản lý thu các nguồn thanh toán. Vì đối với người xuất khẩu, khi ngân hàng chuyển bộ chứng từ giao hàng để đòi tiền người nhập khẩu, thì đã chỉ định việc thanh toán tiền hàng phải thông qua tài khoản của người xuất khẩu mở tại ngân hàng; đối với người nhập khẩu, trong trường hợp có tài trợ, ngân hàng sẽ buộc người nhập khẩu tập trung tiền bán hàng vào tài khoản mở tại ngân hàng. Do vậy, tránh được tình trạng xoay vốn của doanh nghiệp. - Hiệu quả của ngân hàng trong tài trợ xuất nhập khẩu thể hiện thông qua lãi suất. Có nhiều loại lãi suất trong quá trình tài trợ: lãi suất cho vay thanh toán, lãi suất chiết khấu chứng từ, lãi suất vay bắt buộc... Tiền thu lãi cao vì thường giá trị tài trợ ở mức vừa và lớn. -Thông qua tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng còn mở rộng được các quan hệ với các doanh nghiệp và với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế. 2.3.2. Đối với doanh nghiệp. - Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng giúp doanh nghiệp thực hiện được các thương vụ lớn. - Nếu doanh nghiệp được sự giúp đỡ của ngân hàng về mặt tài chính và các quan hệ thanh toán quốc tế thì sẽ tạo rất nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình đàm phán, thương lượng ký kết hợp đồng ngoại thương. - Tài trợ xuất nhập khẩu làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng. - Tài trợ xuất nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nhờ những đổi mới về trang thiết bị công nghệ từ vốn tài trợ của ngân hàng. 10
  15. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội - Tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín trên trường quốc tế. 2.3.3. Đối với nền kinh tế quốc dân. - Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho hàng hoá xuất nhập khẩu lưu thông trôi chảy, hàng hoá xuất nhập khẩu theo nhu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên, liên tục góp phần tăng tính năng động của nền kinh tế, ổn định thị trường. - Tài trợ xuất nhập khẩu giúp các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và các doanh nghiệp phát triển, làm ăn có hiệu quả, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước. 2.4. Nguyên tắc trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân hàng. 2.4.1. Việc hỗ trợ tài chính phải trên cơ sở thẩm định rõ khách hàng. Đây là nguyên tắc đầu tiên và cũng là nguyên tắc vô cùng quan trọng trong công tác tín dụng nói chung và tín dụng xuất nhập khẩu nói riêng. Nguyên tắc này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quyết định tín dụng cũng như những rủi ro mà ngân hàng gặp phải. Cán bộ tín dụng thẩm định hồ sơ khách hàng theo các mục: - Thẩm định tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh, của dự án. - Đánh giá tình hình tài chính, công nợ của khách hàng. - Tình hình sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ vay của khách hàng. 2.4.2. Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo đúng thời hạn cam kết. Để thực hiện nguyên tắc này, ngân hàng và khách hàng phải thoả thuận với nhau về số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay. Việc định kỳ hạn nợ phải phù hợp với chu kỳ sản xuất, thời gian giao hàng, thời gian tiêu thụ hàng. 2.4.3. Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích như đã cam kết khi vay vốn, có hiệu quả kinh tế. Khi cho khách hàng vay phải nắm rõ khách hàng vay để làm gì. Trong quá trình cho vay ngân hàng sẽ giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng, nếu 11
  16. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội không đúng mục đích sẽ thu hồi nợ trước hạn. Việc sử dụng vốn vay phải được thảm định là có hiệu quả kinh tế để đảm bảo nguồn thu nợ gốc và lãi. III. Một số hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thƣơng mại. 1. Tài trợ trên cơ sở thương phiếu. Thương phiếu bao gồm hối phiếu và kỳ phiếu, là công cụ thanh toán được sử dụng hết sức phổ biến trong các giao dịch ngoại thương và thường xuất hiện trong các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng hiện nay 1.1. Khái niệm và đặc điểm của hối phiếu. Năm 1930, hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Geneve, các nước thành viên đã phê chuẩn Công ước về Luật hối phiếu, gọi là công ước Geneve 1930 về Luật hối phiếu thống nhất (Uniform Law for Bill of Exchange- Geneve Convention 1930, ULB 1930). Ngày nay, Luật hối phiếu thống nhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các nước châu Âu (ngoại trừ Anh). Nhiều nước khác mặc dù không tham gia công ước Geneve, nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương tự như ULB 1930. Ngoài ra hai nước Mỹ và Anh cũng xây dựng riêng Luật về hối phiếu như: hệ thống luật các nước thuộc khối Anglo-saxon dựa trên cơ sở Luật hối phiếu của Anh( Bill of Exchange Act 1882)và Luật thương mại thống nhất của Mỹ(Uniform Commercial Codes of 1962). Tại Việt Nam, ngày 24/12/1999, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 17/1999/PL-UBTVQH10 về Thương phiếu có hiệu lực từ ngày 01/07/2000. Nhìn chung Pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của Công ước Geneve 1930.[2] Các nước tham gia ký kết Công ước Geneve 1930 không đi đến việc thoả thuận trong việc định ra khái niệm hối phiếu là gì để quy định trong ULB mà các nước này thoả thuận dùng định nghĩa hối phiếu của Luật hối phiếu 1882 của Anh làm dẫn chiếu trong khái niệm hối phiếu của ULB. 12
  17. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội Hối phiếu là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho người khác yêu cầu ngưòi này khi nhìn thấy hối phiếu, hoặc đến một ngày xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người nay trả cho người khác hoặc trả cho người cầm phiếu.[1] Theo Pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam thì hối phiếu được định nghĩa như sau:”Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”.[2] Qua khái niệm trên có thể thấy hối phiếu có ba đặc điểm quan trọng: - Tính trừu tượng của hối phiếu hay tính độc lập của khoản ghi nợ trên hối phiếu. Trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ tín dụng, tức là nguyên nhân sinh ra việc lập hối phiếu mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả và những nội dung có liên quan đến việc trả tiền. - Tính bắt buộc trả tiền: Người trả tiền phải trả tiền theo đúng nội dung ghi trên tờ hối phiếu, không được viện những lý do riêng mà từ chối trả tiền trừ trường hợp hối phiếu được lập ra trái với đạo luật chi phối nó. - Tính lưu thông: Hối phiếu có thể chuyển nhượng được một hay nhiều lần trong thời hạn hiệu lực của nó.[1] 1.2. Các hình thức tài trợ của ngân hàng trên cơ sở hối phiếu. 1.2.1. Chiết khấu hối phiếu. Chiết khấu hối phiếu là một dạng tài trợ ngắn hạn của ngân hàng cho người thụ hưởng hối phiếu, theo đó người thụ hưởng chuyển nhượng hối phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của hối phiếu trừ đi phần lãi chiết khấu và hoa hồng phí.[4] Trong giao dịch ngoại thương người thụ hưởng giá trị hối phiếu thường là nhà xuất khẩu. Loại tài trợ này giúp cho nhà xuất khẩu có điều kiện thu hồi vốn nhanh chóng đưa vào hoạt động kinh doanh thay vì phải chờ hối phiếu đến hạn thanh toán. 13
  18. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội Tài trợ chiết khấu hối phiếu trong ngoại thương thường áp dụng cho các giao dịch xuất nhập khẩu thanh toán bằng phương thức ghi sổ hoặc nhờ thu, trong đó nhà xuất khẩu cấp tín dụng thương mại ( bán hàng trả chậm) cho nhà nhập khẩu nước ngoài dưới hình thức hối phiếu trả chậm do nhà xuất khẩu ký phát yêu cầu người mua nước ngoài thanh toán khi hối phiếu đến hạn. Để được ngân hàng xem xét tài trợ chiết khấu, hối phiếu trả chậm này phải được nhà nhập khẩu ký chấp nhận trước lên bề mặt hối phiếu, thừa nhận món nợ phải trả ( giá trị hối phiếu) cho người thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn thanh toán. Kỹ thuật tài trợ chiết khấu hối phiếu khá đơn giản. Ngân hàng sẽ mua lại quyền thụ hưởng giá trị hối phiếu khi đến hạn thanh toán từ người thụ hưởng hợp pháp thể hiện trên bề mặt hối phiếu. Số tiền mua lại quyền thụ hưởng này chính là mức tài trợ chiết khấu hối phiếu và được tính bằng phần còn lại của giá trị hối phiếu sau khi trừ đi lãi chiết khấu cùng phí hoa hồng nghiệp vụ. Md = M x [1- (rd x t/360)] – C Trong đó: Md là mức tài trợ chiết khấu ngân hàng cấp cho khách hàng M- mệnh giá hối phiếu t- thời gian còn lại của hối phiếu rd- lãi suất chiết khấu mà ngân hàng áp dụng C- phí hoa hồng nghiệp vụ Ta thấy rằng yếu tố quan trọng nhất trong cách tính mức tài trợ chiết khấu là lãi suất chiết khấu ( rd). Lãi suất này do ngân hàng định kỳ công bố dựa theo lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương và các lãi suất tài trợ đối chiếu khác. Trong tài trợ ngoại thương lãi suất chiết khấu ngân hàng áp dụng có khi cộng thêm khoản tỷ lệ phụ trội nhằm chống đỡ rủi ro tài trợ. Tỷ lệ này phụ thuộc vào khả năng truy đòi khách hàng nhận tài trợ ( nhà xuất khẩu), khả năng thanh toán khi đáo hạn hối phiếu của con nợ ( nhà nhập khẩu), thời hạn hiệu lực còn lại của hối phiếu, mệnh giá và đồng tiền của hối phiếu...[4] Đối với ngân hàng tài trợ, việc chiết khấu hối phiếu tuy đơn giản nhưng lại chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, đặc biệt là rủi ro liên quan đến uy tín và khả năng thanh toán của con nợ chấp nhận hối phiếu tức là nhà nhập khẩu nước ngoài. 14
  19. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội Chính vì vậy mà ngân hàng thường áp dụng lãi suất chiết khấu ở mức cao và luôn phòng chống rủi ro không thu hồi được tiền khi đáo hạn bằng cách bảo lưu “quyền truy đòi” đối với nhà xuất khẩu đã chuyển nhượng quyền thụ hưởng giá trị hối phiếu. 1.2.2. Chấp nhận hối phiếu. Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký chấp nhận hối phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự bảo đảm về tài chính. Thực chất ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay như trong chiết khấu hối phiếu. Tuy nhiên, khi đến hạn nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì ngân hàng chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay. Sự phát sinh tín dụng chấp nhận hối phiếu là do bên bán thiếu tin tưởng khả năng thanh toán của bên mua và họ đề nghị bên mua yêu cầu một ngân hàng đứng ra chập nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát. Khi cấp tín dụng dưới dạng chấp nhận hối phiếu, ngân hàng không phải xuất vốn của mình mà chỉ phải trả tiền hối phiếu khi đến hạn, sau đó ngân hàng sẽ đòi lại tiền từ nhà nhập khẩu. Trong trường hợp này, ngân hàng phải sử dụng vốn của mình, phải chịu mọi rủi ro và tổn thất xảy ra với hối phiếu do vậy ngân hàng thường thu phí chấp nhận cao. Nếu nhà nhập khẩu chuyển vốn đến cho ngân hàng để trả tiền thì họ chỉ phải trả thủ tục phí chấp nhận còn nếu ngân hàng dùng vốn của mình trả tiền thì nhà nhập khẩu còn phải trả lãi vay vốn.[1] Một hình thức cũng tương đối phổ biến trong ngoại thương là tái chấp nhận ( Reimbursement Acceptance). Tái chấp nhận là một hình thức chấp nhận trong đó người xuất khẩu không chuyển hối phiếu đến ngân hàng phục vụ người nhập khẩu yêu cầu chấp nhận trả tiền mà chuyển đến một ngân hàng hạng nhất mà hai bên đã thoả thuận yêu cầu chấp nhận. 1.2.3. Cho vay bằng “kỳ phiếu của nhà nhập khẩu”. 15
  20. Luận văn tốt nghiệp – Khoá 42 - Đại học Ngoại thương Hà Nội Kỳ phiếu ( Promissory note) là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác quy định trong kỳ phiếu đó.[1] Trong loại tài trợ này, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng đứng ra thanh toán những hối phiếu của người xuất khẩu với điều kiện người nhập khẩu ký phát kỳ phiếu trả tiền cho ngân hàng. Số tiền của kỳ phiếu lớn hơn số tiền của hối phiếu, khoản chênh lệch này là lợi tức sinh ra kể từ ngày ngân hàng trả tiền hối phiếu đến ngày trả tiền của kỳ phiếu. 2. Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ. 2.1. Khái niệm phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ. Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua, không những căn cứ vào hối phiếu do người bán ký phát mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo điều kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng để người mua đi nhận hàng.[1] Ngân hàng xử lý nghiệp vụ nhờ thu chỉ trên cơ sở chứng từ và hoàn toàn độc lập với giao dịch mua bán hàng hoá giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. 2.2. Các hình thức tài trợ của ngân hàng trên cơ sở phương thức nhờ thu kèm chứng từ. Trong phương thức thanh toán nhờ thu nhà xuất khẩu thường phải chờ đợi một thời gian đáng kể từ lúc giao hàng xuống tàu tại cảng xuất khẩu cho đến khi nhận được tiền thanh toán từ người mua nước ngoài chuyển về thông qua các ngân hàng. Không những thế, để bán được hàng, nhà xuất khẩu đôi khi phải chấp nhận điều kiện D/A ( chứng từ đổi lấy việc chấp nhận thanh toán), nghĩa là cho phép người mua được trả chậm tiền hàng. Chính vì thế, nhà xuất khẩu có thể gặp phải những khó khăn về vốn kinh doanh khi sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu. Để có thể nhận được tiền hàng sớm hơn, nhà xuất khẩu phải cần đến dịch vụ tài trợ của ngân hàng. 16

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản