
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ HƯƠNG THẢO
NGỮ NGHĨA VÀ CƠ SỞ TRI NHẬN CỦA CÁC GIỚI TỪ
ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN THEO CHIỀU ‘TRÊN-DƯỚI’
TRONG TIẾNG ANH, ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT.
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018

Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI
VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS. TSKH Lý Toàn Thắng
PGS. TS Hồ Ngọc Trung
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp
tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Vào hồi .... giờ ... ngày .... tháng ..... năm 201...
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Giới từ tiếng Anh chiếm số lượng nhỏ nhưng nó đóng một vai trò
không thể thiếu trong ngôn ngữ và xuất hiện khá thường xuyên và là từ loại đa
nghĩa vì một giới từ có thể được sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau để
diễn đạt các nghĩa khác nhau. Giới từ định vị không gian cũng có sự đa dạng
về ngữ nghĩa.
Qua thực tế giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên, trao đổi với đồng nghiệp
và kết quả khảo sát thực nghiệm bước đầu, chúng tôi nhận thấy người học
Việt Nam gặp khó khăn trong việc sử dụng giới từ định vị không gian “trên-
dưới”. Người học Việt Nam thường nhầm lẫn cách dùng của over và above
cũng như under và below. Ngoài ra, các giáo viên cũng gặp khó khăn trong
việc lý giải các sự lựa chọn của các giới từ trên.
Có rất nhiều sách chuyên khảo và sách bài tập về giới từ tiếng Anh
nhưng số lượng bài tập về giới từ định vị không gian “trên-dưới” còn chiếm
số lượng khá khiêm tốn đặc biệt là bốn giới từ over, above, under và below.
Do đó, việc nghiên cứu ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của giới từ định vị không
gian theo chiều “trên-dưới” của tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt
cung cấp các luận cứ để lí giải những điểm tương đồng và dị biệt trong cách
sử dụng các giới từ chỉ không gian tương ứng giữa hai ngôn ngữ. Qua đó,
người học có thể hiểu rõ được cách sử dụng của các giới từ này và giúp cho
việc dịch thuật về các giới từ này được chính xác hơn.
Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận
án là “Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các giới từ định vị không gian theo
chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt.”
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là giới từ định vị không gian theo
chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Do dung lượng luận án có hạn, luận án chỉ dừng lại nghiên cứu những vấn
đề về ngữ nghĩa và cơ chế tri nhận không gian của bốn giới từ định vị không
gian theo chiều “trên-dưới” over, above, below và under và so sánh đối chiếu
ngữ nghĩa và cơ chế tri nhận của chúng với tiếng Việt
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết, lý luận và bổ sung tư liệu cho
việc nghiên cứu về giới từ định vị không gian “trên-dưới” theo quan điểm của
ngôn ngữ học tri nhận;

2
- Góp phần làm rõ sự tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa của giới từ định
vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt;
- Góp phần làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong cơ chế tri nhận đối với
giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” của người Anh và người
Việt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, miêu tả ngữ nghĩa của giới từ định vị không gian theo chiều “trên-
dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt.
- So sánh và đối chiếu về mặt ngữ nghĩa của giới từ định vị không gian theo
chiều “trên-dưới” tiếng Anh với tiếng Việt nhằm chỉ ra nét giống và khác
nhau về ngữ nghĩa của nhóm giới từ này;
- Phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức tri
nhận về giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” của người Anh và
người Việt qua mối quan hệ tư duy và ngôn ngữ;
- Khảo sát việc sử dụng giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” đối
với người học của một số trường đại học ở Việt Nam và người bản ngữ để
bước đầu kiểm chứng sự tương đồng và khác biệt về cơ chế tri nhận giới từ
định vị không gian theo chiều “trên-dưới” của người bản ngữ và người Việt.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp
miêu tả-phân tích-tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp
khảo sát thực nghiệm và thủ pháp thống kê, phân loại.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
5.1. Về lí thuyết
Luận án nghiên cứu lý luận về giới từ định vị không gian theo chiều
“trên-dưới” dưới góc độ của ngôn ngữ học tri nhận, do đó luận án góp phần
làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết, lý luận và bổ sung tư liệu cho việc nghiên
cứu về giới từ định vị không gian “trên-dưới” theo quan điểm của ngôn ngữ
học tri nhận.
Luận án cũng đi sâu vào nghiên cứu bốn giới từ đặc trưng cho nhóm
giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với
tiếng Việt, các kết quả khảo sát về nhóm giới từ này góp phần giúp cho các
nhà nghiên cứu có thêm luận chứng để đi sâu nghiên cứu thêm về ngữ nghĩa
và cơ sở tri nhận của chúng.
5.2. Về thực tiễn
Việc phân tích ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các giới từ định vị không
gian “trên-dưới” có ý nghĩa thực tiễn vì nó giúp cho việc dạy và học nhóm
giới từ này hiệu quả hơn. Thực tế, qua việc khảo sát bốn giới từ thuộc nhóm
này cho thấy hầu hết người học Việt Nam gặp khó khăn trong việc sử dụng
chúng vì họ chưa hiểu rõ nghĩa của chúng do có sự khác nhau về tri nhận

3
không gian giữa người bản ngữ và người Việt. Ngoài ra, người bản ngữ cũng
có khó khăn trong việc hiểu rõ và phân biệt cách dùng của chúng trong các
ngữ cảnh khác nhau.
Kết quả nghiên cứu các giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới”
trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt sẽ giúp người học Việt Nam
hiểu sâu hơn về sự tương đồng và khác biệt giữa chúng, cũng như đóng góp
thêm một hướng nghiên cứu mới với một màu sắc riêng về giới từ định vị
không gian “trên-dưới” trong hai ngôn ngữ. Thêm vào đó, luận án cung cấp
một khối ngữ liệu Anh – Việt về nhóm giới từ này giúp ích cho việc biên soạn
tài liệu tham khảo, từ điển và giáo trình phục vụ cho việc dạy và học các giới
từ này nói riêng và tiếng Anh nói chung.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án được chia thành ba chương (ngoài phần mở đầu, kết luận, danh
mục những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục): Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên
cứu giới từ định vị không gian và cơ sở lí luận; Chương 2: Ngữ nghĩa của giới
từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh (over, above, under và
below) đối chiếu với tiếng Việt; Chương 3: Cơ sở tri nhận của giới từ định vị
không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ
KHÔNG GIAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu giới từ định vị không gian
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về giới từ định vị không gian trên thế giới
Halliday [48] cho rằng giới từ không tách rời khỏi các từ loại khác mà
luôn được xếp đặt, kết hợp, sử dụng trong tình huống, ngữ cảnh, trong mối
quan hệ tầng bậc gồm ngữ cảnh ngữ nghĩa, từ vựng-ngữ pháp. Có nhiều
nghiên cứu mới về ngữ nghĩa của giới từ như nghiên cứu của Klebanowaska’s
[58], Lakoff [60], Leech [65] và Leech và Svartvit [66]. Các tác giả cũng đề
cập đến giới từ chỉ vị trí, chỉ ra sự khác nhau thú vị giữa các giới từ over,
above, under và below. Ngoài ra, các công trình chuyên sâu về biểu đạt không
gian từ góc nhìn ngôn ngữ và tri nhận của giới từ không gian phải kể đến là
nghiên cứu của Talmy [85], [86], Herskovits [50], [51] và Przybylska [74].
Muộn hơn về sau này, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Tyler và
Evans [89] trình bày một phân tích lý thuyết cơ bản về ngữ nghĩa của giới từ
tiếng Anh. Các tác giả nhấn mạnh đến một khái niệm rất quan trọng trong ngữ
nghĩa của các giới từ là ‘kịch cảnh không gian’ (spatial scene). Một điều đáng
chú ý khác là Tyler và Evans [89] đã dành cả chương 4 để bàn về hệ thống
nghĩa của riêng một giới từ over, sử dụng 5 tiêu chí để phân biệt 15 nghĩa của
giới từ này. Tiếp đó, ở chương 5, các tác giả trình bày thêm về 3 giới từ theo

