N G U Y Ễ N Đ Ă N G H Ư N G

C H U Y Ê N N G À N H Q U Ả N T R Ị K I N H D O A N H

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ------------------------------------- NGUYỄN ĐĂNG HƯNG PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH HÀ NỘI - 2013

K H O Á 2 0 1 1 - 2 0 1 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -------------------------------------

NGUYỄN ĐĂNG HƯNG PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA

TĂNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA –

THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN ÁI ĐOÀN

HÀ NỘI - 2013

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN...................................................................................................5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ....................................................................................7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ..........................................................................8

MỞ ĐẦU................................................................................................................9

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ...........................................................................14

1.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế .......................................................................14

1.1.1. Khái niệm về thuế .....................................................................................14

1.1.2. Chức năng của thuế ...................................................................................15

1.1.3. Phân loại thuế ............................................................................................15

1.2. Thuế giá trị gia tăng .....................................................................................16

1.2.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng ..................................................................16

1.2.2. Các yếu tố cấu thành thuế GTGT ..............................................................17

1.2.3. Phương pháp tính thuế GTGT ...................................................................18

1.2.4. Quy trình kê khai nộp thuế GTGT ............................................................21

1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến số thuế GTGT phải nộp trong kỳ của DN ......22

1.3. Quản lý thu thuế GTGT ...............................................................................23

1.3.1. Một số khái niệm chung về quản lý thuế GTGT ......................................23

1.3.2. Nội dung quản lý thuế GTGT ...................................................................29

1.3.2.1. Nội dung quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế ......................................29

1.3.2.2. Nội dung quản lý thuế GTGT đối với NNT ...........................................32

1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế GTGT ........................................37

1.3.3.1. Người nộp thuế .......................................................................................37

1.3.3.2. Chính sách của Nhà nước về thuế ..........................................................37

1.3.3.3. Tổ chức quản lý thuế của cơ quan chức năng ........................................38

1 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

1.3.3.4. Môi trường quản lý thuế .........................................................................39

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

1.4. Nội dung phân tích quản lý thuế GTGT ......................................................40

1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế GTGT ..................................40

1.4.2. Phân tích quản lý thuế GTGT theo các bước công việc ...........................43

1.4.2.1. Công tác lập kế hoạch quản lý thuế .......................................................43

1.4.2.2. Công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, kiểm tra quyết toán thuế, thu nợ cưỡng chế, hỗ trợ NNT và xử lý hoàn thuế .........................................................45

1.4.3. Phân tích quản lý thuế GTGT theo các yếu tố ảnh hưởng ........................47

1.4.3.1 Người nộp thuế ........................................................................................47

1.4.3.2 Hệ thống luật pháp và chính sách của nhà nước về thuế ........................47

1.4.3.3 Tổ chức quản lý của các cơ quan chức năng ...........................................48

1.4.3.4 Môi trường kinh tế xã hội .......................................................................48

Kết luận chương 1 ...............................................................................................49

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT Ở CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA – TP.HÀ NỘI ...........................................................50

2.1 Giới thiệu khái quát về Quận Đống Đa và Chi cục Thuế quận Đống Đa – TP.Hà Nội ............................................................................................................50

2.1.1. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Đống Đa .................50

2.1.2. Giới thiệu khái quát về Chi cục Thuế quận Đống Đa ...............................51

2.2. Phân tích tình hình thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ...........55

2.2.1. Đánh giá khái quát công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ........................................................................................................................55

2.2.2. Kết quả thực hiện thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ..........56

2.2.3. Phân tích tình hình thu thuế GTGT theo nội dung công việc ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ............................................................................................60

2.2.3.1 Công tác lập kế hoạch .............................................................................60

2.2.3.2 Công tác đăng kí thuế, kê khai thuế, quyết toán thuế, thu nợ cưỡng chế và hỗ trợ NNT .....................................................................................................66

2.2.3.3 Công tác xử lý hoàn thuế ........................................................................70

2.2.3.4. Công tác kiểm tra thuế ...........................................................................71

2 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

2.3. Phân tích tình hình thu thuế theo các yếu tố ảnh hưởng ..............................75

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

2.3.1. Tình hình về nhân lực ................................................................................75

2.3.2. Cơ sở vật chất kĩ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin ............................79

2.3.3. Phương pháp tổ chức quản lý thu thuế GTGT ..........................................80

2.3.4. Môi trường pháp lý ....................................................................................81

2.3.5. Đặc điểm của người nộp thuế ...................................................................82

2.3.6. Môi trường kinh tế xã hội .........................................................................84

2.4. Kết luận chương 2 ........................................................................................84

2.4.1 Những kết quả đạt được .............................................................................85

2.4.2 Hạn chế trong công tác quản lý thu thuế GTGT ........................................88

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý thu thuế GTGT ...............91

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA – TP.HÀ NỘI .........................................................................................................95

3.1 Định hướng công tác thu thuế GTGT trong thời gian tới .............................95

3.1.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác thu thuế GTGT ...............................95

3.1.2. Các quan điểm cơ bản trong công tác thu thuế GTGT .............................97

3.1.3. Định hướng hoàn thiện công tác thu thuế GTGT trong thời gian tới .......98

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ............................................................................................................102

3.2.1. Giải pháp về cải tiến tổ chức bộ máy quản lý thuế và nâng cao trình độ cán bộ công chức thuế .......................................................................................102

3.2.2. Giải pháp về công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT .....................................103

3.2.3. Giải pháp về công tác kiểm tra quyết toán thuế ......................................105

3.2.4. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế ...................106

3.2.5. Giải pháp về công tác cải cách thủ tục hành chính Thuế và hiện đại hoá công tác quản lý thuế .........................................................................................107

3.3. Một số đề xuất hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ............................................................................................................109

3.3.1. Đề xuất về chính sách, pháp luật thuế .....................................................109

3 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

3.3.2. Đề xuất với cơ quan chủ quản .................................................................115

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

KẾT LUẬN .......................................................................................................117

4 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................119

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn

thiện công tác thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận Đống Đa – TP.Hà

Nội” này là công trình nghiên cứu của tôi và nó chưa hề được công bố, hoặc

trình bày trên bất kỳ bài báo hay tạp chí khoa học nào của các tác giả trong

nước.

Tác giả luận văn

5 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Nguyễn Đăng Hưng

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Giải nghĩa

GTGT Giá trị gia tăng

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

TNCN Thu nhập cá nhân

NNT Người nộp thuế

ĐTNT Đối tượng nộp thuế

DN Doanh nghiệp

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

MST Mã số thuế

MSDN Mã số doanh nghiệp

ĐKKD Đăng ký kinh doanh

KHĐT Kế hoạch đầu tư

QHS Quản lý hồ sơ

TT Thông tư

BTC Bộ Tài chính

QĐ Quyết định

TCT Tổng cục Thuế

NSNN Ngân sách Nhà nước

6 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

UBND Ủy ban nhân dân

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1. Tính thống nhất của các hoạt động quản lý .......................................29

Sơ đồ 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy các Đội thuế tại Chi cục Thuế ...................55

Sơ đồ 2.2. Mô hình phân công quản lý theo khối ...............................................55

Sơ đồ 2.3. Mô hình phân công theo chức năng ...................................................56

Sơ đồ 2.4. Mô hình quản lý thuế đối với doanh nghiệp ......................................57

7 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Sơ đồ 2.5. Công tác lập kế hoạch ........................................................................63

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Số lượng DN trên địa bàn Quận Đống Đa qua các năm .....................58

Bảng 2.2. Số lượng DN phân chia theo loại hình doanh nghiệp năm 2012 ........59

Bảng 2.3. Số thu thuế GTGT hàng năm và tỷ trọng thuế GTGT trên tổng số thu ngân sách .............................................................................................................60

Bảng 2.4. Kết quả thu thuế năm 2012 tại Chi cục thuế .......................................60

Bảng 2.5. Kết quả thu thuế năm 2012 tại các Đội thuế ......................................62

Bảng 2.6. Giao kế hoạch thu thuế .......................................................................65

Bảng 2.7. Kết quả thực hiện kế hoạch thu thuế từ năm 2010 đến 2012 .............65

Bảng 2.8. Cấp và đóng MST cho NNT ...............................................................68

Bảng 2.9. Kết quả kiểm tra hoàn thuế và số thuế thu hồi ...................................73

Bảng 2.10. Số cán bộ vi phạm qua các năm .......................................................76

Bảng 2.11. Kiểm tra quyết toán và số thuế truy thu ............................................77

Bảng 2.12. Cơ cấu tổ chức tại Chi cục Thuế quận Đống Đa ..............................79

Bảng 2.13. Chi tiêu và kinh phí đào tạo ..............................................................80

Bảng 2.14. Chế độ tiền lương ..............................................................................81

Bảng 2.15. Nhiệm vụ quản lý NNT của công chức thuế ....................................81

Bảng 2.16. Trang bị máy tính cho cán bộ công chức thuế ..................................83

8 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Bảng 2.17. Kết quả thu thuế giá trị gia tăng qua các năm ..................................88

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại

và phát triển của Nhà nước. Nhà nước xuất hiện đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm

bảo cho nhà nước tồn tại và thực hiện những chức năng nhiệm vụ của mình, vì

thế nhà nước phải sử dụng quyền lực vốn có để tập trung một bộ phận của cải xã

hội vào tay mình.

Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để

chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương

đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản; chi cho

các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho

xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công

cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài.

Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực

chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách

Nhà nước. Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân đóng góp để

đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là thuế.

Ngành thuế Việt Nam luôn hoàn thành nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước

giao phó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm phối hợp chặt chẽ

của các ban ngành, đoàn thể và sự nỗ lực phấn đấu của các doanh nhân, doanh

nghiệp, hệ thống thuế ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt nhiều

9 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thành tựu quan trọng, đó là:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để trang trải các khoản chi

thường xuyên, kìm chế lạm phát và có tích lũy ngày một cao hơn.

- Bao quát được tất cả các hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và các

thu nhập phát sinh trong tiến trình phát triển kinh tế; mở rộng và đồng bộ hóa

các loại thị trường, vừa huy động đúng mức cho Nhà nước, vừa khuyến khích

tích tụ vốn tại doanh nghiệp và dân cư để đầu tư phát triển giải quyết việc làm,

thu nhập và góp phần tăng trưởng kinh tế.

- Phát huy vai trò thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với

nền kinh tế, khuyến khích đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thực hiện công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.

- Hệ thống thuế góp phần khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức,

cá nhân bỏ vốn đầu tư cho sản xuất; khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất

trong nước; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam;

thúc đẩy các doanh nghiệp lớn vươn lên giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế

quốc dân.

- Đảm bảo thực hiện nguyên tắc, công bằng, bình đẳng giữa các thành

phần kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư trong các luật thuế.

- Luật hóa toàn bộ các hình thức thuế và quản lý thuế từng bước hiện đại

tiên tiến phù hợp với sự hội nhập sau rộng vào nền kinh tế thế giới.

Ở nước ta, Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) được thông qua tại kỳ họp

thứ 11 Quốc hội khóa IX ngày 10 tháng 5 năm 1997 và được chính thức áp dụng

từ 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu nhằm khắc phục nhược điểm

của thuế doanh thu. Luật thuế GTGT ra đời là kết quả của sự quyết tâm và nỗ

lực lớn của Đảng và Nhà nước ta, tạo ra bước đột phá có tính chất quyết định

của công cuộc cải cách thuế bước II của Việt Nam. Trước khi chuyển từ thuế

10 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

doanh thu sang áp dụng thuế GTGT, nhiều ý kiến cho rằng có thể xảy ra lạm

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

phát, giảm thu ngân sách Nhà nước cũng như các tác động xấu đến phát triển

sản xuất kinh doanh và xuất khẩu.

Đến nay, thuế GTGT đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, khắc

phục những nhuợc điểm của thuế doanh thu trước đây, không gây ra lạm phát,

với số thu thuế chiếm tỷ trọng lớn trong các loại thuế. Qua gần 15 năm thực

hiện, ngoài việc thể hiện vai trò vốn có, thuế GTGT còn góp phần hoàn thiện hệ

thống chính sách thuế ở nước ta, đưa hệ thống thuế ở nước ta từng bước phù hợp

với thông lệ quốc tế, thúc đẩy mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế.

Tuy nhiên cùng với những ưu việt của Luật thuế GTGT, quá trình thực

hiện một luật thuế mới và việc tổ chức quản lý thu thuế cũng bộc lộ rất nhiều

vấn đề liên quan đến cả chính sách thuế và đối tượng nộp thuế. Đặc biệt là đã

xuất hiện tình trạng quản lý chưa tốt, gian lận thuế GTGT tương đối nhiều gây

thất thu cho ngân sách nhà nước và bất bình trong dư luận xã hội. Đây là vấn đề

bức xúc trong quản lý thu thuế GTGT.

Trước những vấn đề đặt ra nêu trên, là người trực tiếp tham gia quản lý

thu thuế, tiếp cận với người nộp thuế GTGT trên địa bàn quận Đống Đa – TP Hà

Nội, tôi lựa chọn đề tài “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện

công tác thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận Đống Đa – Hà Nội”

làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục đích chủ yếu của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và

thực tiễn của quản lý thu thuế GTGT, phân tích thực trạng công tác quản lý thu

thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa – Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp

nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác thu thuế GTGT trên địa bàn quận

Đống Đa – Hà Nội trong thời gian tới.

11 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Để đạt được mục tiêu đó, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Góp phần nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý thuế GTGT.

- Phân tích thực trạng của công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn

quận Đống Đa – Hà Nội.

- Đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường quản lý, chống gian lận

thuế GTGT, góp phần hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT trong thời

gian tới.

3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chủ thể và khách thể của quản lý

thuế GTGT, trọng tâm là nghiên cứu về việc tổ chức quản lý thu thuế GTGT

trên địa bàn quận Đống Đa – TP Hà Nội.

- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn từ khi thực hiện Luật thuế GTGT và

trên địa bàn quận Đống Đa do Chi cục Thuế quận Đống Đa trực tiếp quản lý.

Theo Luật Thuế GTGT quy định cho một số đối tượng do điều kiện chưa thể áp

dụng hình thức tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế thì áp dụng

hình thức tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. Tuy nhiên, phương pháp

tính thuế GTGT trực tiếp không phải là phương pháp tính thuế điển hình, chỉ có

tính tạm thời, phạm vi áp dụng hẹp, số thuế GTGT thu theo phương pháp này

chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Do đó, trong phạm vi luận văn này không nghiên cứu đối

với phương pháp tính thuế trực tiếp.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để

nghiên cứu, quan sát, nhìn nhận phân tích sự việc trong sự biến động gắn với

điều kiện lịch sử cụ thể, ngoài ra các phương pháp chuyên ngành cũng được sử

dụng trong quá trình nghiên cứu như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn giải,

tiếp cận hệ thống.

12 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

5. Đóng góp của luận văn

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Luận văn góp phần phân tích làm rõ về lý luận công tác quản lý thu thuế

GTGT, các nguyên nhân và kết quả của công tác quản lý.

- Đánh giá đúng thực trạng quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn quận

Đống Đa – TP. Hà Nội và đề xuất các giải pháp có tính khả thi để tăng cường

công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn quận Đống Đa – TP. Hà Nội trong

thời gian tới.

- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định

chính sách thuế cũng như cơ quan quản lý thuế.

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thuế giá trị gia tăng và quản lý thu thuế

GTGT.

Chương 2: Phân tích công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống

Đa – TP. Hà Nội.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở

13 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Chi cục Thuế quận Đống Đa – TP. Hà Nội.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ GTGT VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT

1.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế

1.1.1. Khái niệm về thuế

Thuế là một hình thức huy động nguồn tài chính cho Nhà nước đã có từ

lâu đời. Khi Nhà nước ra đời, thuế trở thành công cụ để Nhà nước có được

nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước. Trải qua quá trình phát

triển lâu dài và cho đến nay, các Nhà nuớc đều sử dụng thuế để phân phối các

khoản thu nhập và huy động nguồn thu cho Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của

thuế gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Do đó, thuế là một phạm trù

kinh tế, đồng thời là phạm trù lịch sử.

Với những quan điểm như trên cho thấy, Nhà nước và thuế là hai phạm

trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế để đảm bảo

điều kiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Thuế có thể thu

bằng tiền, hiện vật hoặc bằng ngày công lao động.

Xét về nội dung vật chất, thuế là một bộ phận của cải xã hội tập trung vào

quỹ ngân sách nhà nước, mà thực chất là một bộ phận của cải từ khu vực tư

được chuyển vào khu vực công, nhằm trang trải những kinh phí để duy trì sự tồn

tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và các chi phí công cộng.

Về bản chất kinh tế, thuế phản ánh quan hệ phân phối của cải xã hội dưới

hình thức giá trị giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Các quan hệ

kinh tế này được nảy sinh một cách khách quan giữa nhà nước và các chủ thể

khác trong xã hội, đặc biệt là các pháp nhân và các thể nhân. Trong đó các pháp

14 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

nhân, thể nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nước theo đúng quy định do chính nhà nước đề ra mà không gắn với bất kỳ một

ràng buộc nào về sự hoàn trả số thuế đã nộp, hoặc cung cấp trực tiếp hàng hoá

hay dịch vụ cho người nộp thuế từ phía nhà nước.

Như vậy, có thể hiểu thuế là hình thức động viên bắt buộc của nhà nước

theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập

của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước, để đáp ứng các nhu cầu

chi tiêu của nhà nước và phục vụ cho lợi ích công cộng, chính sách xã hội.

1.1.2. Chức năng của thuế

Thuế có ba chức năng cơ bản là:

- Công cụ chủ yếu trong việc tập trung nguồn lực vào ngân sách nhà nước

để đảm bảo cho chi tiêu của nhà nước.

- Công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường góp phần bảo đảm sự phát triển

ổn định, cân đối của nền kinh tế.

- Công cụ quan trọng góp phần tái phân phối thu nhập nhằm thực hiện

công bằng xã hội.

1.1.3. Phân loại thuế

Số lượng các sắc thuế trong hệ thống thuế của các quốc gia là không

giống nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu xây

dựng hệ thống thuế quốc gia trong giai đoạn cụ thể.

Tuy vậy, để phân tích tác động của thuế đến các quá trình kinh tế - xã hội

nhằm xây dựng điều chỉnh hệ thống thuế cho phù hợp người ta có thể lựa chọn

các tiêu thức khác nhau để phân loại:

- Phân loại theo tính chất chuyển giao thuế: Chuyển giao thuế là việc xác

định ai là người nộp thuế, ai là người thực sự phải gánh chịu thuế. Theo tiêu

15 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thức này thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

+ Thuế trực thu là loại thuế xác định đối tượng chịu thuế đồng thời cũng

là đối tượng nộp thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá

nhân,v.v..

+ Thuế gián thu là loại thuế mà đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế

khác nhau như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, v.v..

- Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: Đối tượng đánh thuế là gì, thuế

đánh trên cái gì? Dựa vào đó, thuế được chia thành các loại:

+ Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không đánh vào phần

thu nhập phát sinh từ tài sản đó. Các loại thuế tài sản gồm: thuế nhà đất, thuế

chuyển nhượng tài sản (nhà cửa, xe cộ...).

+ Thuế đánh vào thu nhập là thuế chỉ đánh vào những đối tượng có thu

nhập như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.

+ Thuế tiêu dùng là loại thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu dùng

sản phẩm hàng hoá bị đánh thuế như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế

xuất nhập khẩu.

+ Thuế đánh trên hoạt động là thuế đánh trên các hoạt động kinh tế như:

thuế môn bài đánh vào hoạt động kinh doanh.

1.2. Thuế giá trị gia tăng

1.2.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng (Tiếng Anh là Value Added Tax -VAT) là loại thuế

được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh từ sản xuất, lưu

thông đến tiêu dùng. Chỉ người bán hàng hoá, dịch vụ lần đầu phải nộp thuế

GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ đó. Vì thuế GTGT được

16 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên đối tượng đánh thuế là

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

hàng hoá, dịch vụ. Đối tượng nộp thuế là cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ còn

đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó.

Thuế GTGT được áp dụng ở một vài nước Tây Âu từ những năm 50 của

thế kỷ XX. Năm 1954, Chính phủ Pháp chính thức ban hành thuế GTGT nhằm

hạn chế việc thu thuế chồng chéo lên thuế, với thuế suất đồng loạt 20% và chỉ

khấu trừ thuế ở khâu trước đối với nguyên liệu, vật liệu. Đến năm 1966, các

nước châu Âu chính thức ban hành thuế GTGT thay thế một số sắc thuế gián

thu. Nếu như năm 1989 chỉ có 43 quốc gia áp dụng thuế GTGT thì đến năm

2012 đã có trên 150 nước áp dụng sắc thuế này và mức thuế suất dao động từ

5% – 25% tuỳ theo nền kinh tế mỗi quốc gia (Theo NHTG – 2012).

Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT được thông qua lần đầu tại kỳ họp thứ 11

Quốc hội khóa IX ngày 10 tháng 5 năm 1997. Nay là Luật thuế GTGT số

13/2008/QH12 được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6

năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009, theo quy định tại Điều 2:

“Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh

trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Như vậy, Thuế GTGT có

tên gọi là cơ sở tính thuế, là loại thuế có đối tượng đánh thuế là hàng hoá, dịch

vụ. Tại mỗi khâu sản xuất, cung ứng dịch vụ, thuế GTGT chỉ tính trên giá trị

tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở từng khâu, mà không đánh vào phần giá trị đã

chịu thuế ở khâu trước nên cách tính thuế là rất khoa học, rất cần thiết đối với sự

phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phù hợp với yêu

cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Vì Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước

thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang

trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý cuả nhà nước, do

đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng.

1.2.2. Các yếu tố cấu thành thuế GTGT

17 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Thuế GTGT có các thành tố sau:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Tên gọi của Luật Thuế GTGT dựa trên cơ sở tính thuế là giá trị gia tăng

của hàng hoá dịch vụ qua mỗi khâu sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.

- Cơ sở đánh thuế của Thuế GTGT là các đối tượng tiêu dùng hàng hoá

trong xã hội đều phải nộp một khoản thuế nhất định, khoản thuế này phải nộp

vào ngân sách nhà nước thông qua nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá dịch vụ.

- Thuế suất thuế GTGT : Thuế GTGT là loại thuế có ít thuế suất và thuế

suất thấp, tuỳ theo chính sách thuế của từng quốc gia mà thuế suất thường giao

động từ 5% đến 20%.

- Đối tượng nộp thuế GTGT là nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ. Đối tượng

nộp thuế có nghĩa vụ thu số tiền thuế của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ để

nộp ngân sách nhà nước.

- Đối tượng chịu thuế GTGT là người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ. Mọi

tổ chức, cá nhân khi tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ thuộc diện tính thuế đều phải

trả ngay một khoản thuế khi thanh toán mua hàng, trừ một số đối tượng tiêu

dùng đặc biệt được miễn thuế.

- Đối tượng đánh thuế đối với thuế GTGT là hàng hoá và dịch vụ.

- Quy trình khai thuế và nộp thuế GTGT.

Việc kê khai nộp thuế GTGT được thực hiện khi phát sinh quan hệ mua

và bán hàng hoá chịu thuế GTGT. Tuy nhiên để đơn giản hoá thì thuế GTGT

thường được kê khai nộp vào một kỳ nhất định. Theo quy định của Luật thuế

GTGT Việt Nam là hàng tháng.

1.2.3. Phương pháp tính thuế GTGT

Thuế GTGT được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua

mỗi khâu sản xuất, cung cấp dịch vụ, ở đó doanh nghiệp phải xác định giá trị

18 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp thực hiện sản xuất, cung cấp

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

để kê khai nộp thuế. Để xác định được số thuế phải nộp trong từng kỳ, Luật

Thuế GTGT đã quy định cụ thể phương pháp tính cho các loại đối tượng nộp

thuế như sau:

- Phương pháp khấu trừ thuế.

Khấu trừ thuế GTGT thực chất là trừ đi số thuế GTGT mà cơ sở kinh

doanh đã trả khi mua hàng hoá, dịch vụ về để dùng cho hoạt động sản xuất kinh

doanh. Như vậy, số thuế GTGT doanh nghiệp phải nộp trong kỳ là số thuế

GTGT đầu ra tính theo doanh số doanh nghiệp bán ra và thuế suất trừ đi số thuế

GTGT doanh nghiệp đã nộp ở khâu trước thông qua việc thanh toán tiền hàng

cho người bán.

Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện

đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế

toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế,

trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.

Xác định thuế GTGT phải nộp:

Thuế GTGT Thuế GTGT Thuế GTGT đầu vào = - phải nộp đầu ra được khấu trừ

Trong đó thuế GTGT đầu ra là số thuế tính trên tổng giá bán (chưa bao

gồm thuế GTGT) hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kỳ. Thuế GTGT đầu ra được

tính theo công thức sau:

Giá tính thuế Thuế suất

Thuế GTGT của hàng hoá, tương ứng của = x đầu ra dịch vụ chịu hàng hoá, dịch

19 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế bán ra vụ bán ra

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Thuế GTGT đầu vào là thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng

hoá, dịch vụ hoặc số thuế ghi trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá, dịch

vụ nhập khẩu.

Thời điểm tính thuế GTGT đầu ra là thời điểm cơ sở kinh doanh chuyển

giao quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ đã hoàn thành không phân biệt người mua

đã trả tiền hay chưa trả tiền.

Trên cơ sở tính thuế phải nộp, sẽ xuất hiện những trường hợp số thuế phải

nộp âm thì sẽ được Nhà nước hoàn thuế đã nộp ở khâu trước. Căn cứ vào điều

kiện, hoàn cảnh của từng thời kỳ, Nhà nước quy định cụ thể điều kiện và thủ tục

hoàn thuế cho phù hợp.

- Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên GTGT.

Trên thực tế có một số đối tượng kinh doanh không đáp ứng được yêu cầu

để áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, nên Luật thuế GTGT

đã quy định một phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng.

Phương pháp này thực chất không hoàn toàn chính xác với giá trị tăng thêm tại

doanh nghiệp, nhưng trên cơ sở khảo sát toàn bộ ngành nghề kinh doanh trên thị

trường và xác định mức bình quân chung của xã hội, Nhà nước đã quy định cụ

thể đối với một số đối tượng cụ thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh

tại Việt Nam không thực hiện theo luật đầu tư nước ngoài, cá nhân Việt Nam

sản xuất kinh doanh chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn

chứng từ để làm căn cứ tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và các cơ sở

mua bán vàng bạc đá quý, ngoại tệ.

Hoá đơn bán hàng cho các cơ sở tính thuế GTGT theo phương pháp trực

tiếp: Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp sử dụng loại hoá

đơn khác (gọi là hoá đơn bán hàng), loại hoá đơn này không ghi số thuế GTGT

20 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

của hàng hoá trên đó mà giá bán hàng ghi trên hoá đơn là giá đã có thuế GTGT.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Xác định thuế GTGT phải nộp:

Giá trị gia tăng

Thuế suất của hàng hoá Thuế GTGT x = thuế GTGT dịch vụ chịu phải nộp tương ứng thuế GTGT

Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định như sau:

Doanh số của Giá vốn của hàng Giá trị gia tăng

- = hàng hoá dịch hoá, dịch vụ mua của hàng hoá,

vụ bán ra vào tương ứng dịch vụ

+ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện dầy đủ hoá đơn, chứng từ bán

hàng hoá, dịch vụ xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ theo hoá

đơn bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không đủ hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ thì

thuế GTGT được tính theo công thức sau:

Tỷ lệ % giá trị gia

Thuế GTGT Doanh thu tăng tính trên = x của hàng hoá, bán hàng hoá doanh thu hàng

dịch vụ dịch vụ hoá, dịch vụ

+ Đối với cá nhân kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ

chế độ hoá đơn mua, bán hàng hoá dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình

kinh doanh của từng cá nhân kinh doanh mà ấn định mức doanh thu tính thuế;

giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu ấn định nhân với tỷ lệ % giá trị gia

tăng tính trên doanh thu.

1.2.4. Quy trình kê khai nộp thuế GTGT

Cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế, cơ quan thuế

cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế và thực hiện các quy trình quản lý như

21 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

hỗ trợ, quản lý kê khai thuế, kiểm tra. Hàng tháng, cơ sở kinh doanh phải thực

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

hiện lập và gửi cho cơ quan thuế tờ khai tính thuế GTGT kèm theo bảng kê hàng

hoá, dịch vụ mua vào, bán ra. Cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hoá, phải kê

khai nộp tờ khai thuế GTGT theo từng lần nhập khẩu.

Trên cơ sở tờ khai thuế GTGT nộp cho cơ quan thuế, cơ sở kinh doanh

nộp tiền vào ngân sách số thuế đã kê khai. Nếu số thuế GTGT phải nộp trong kỳ

là số âm mà không đủ điều kiện xin hoàn thuế thì cơ sở được trừ vào kỳ sau.

1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến số thuế GTGT phải nộp trong kỳ của

mỗi doanh nghiệp.

Theo nguyên lý và phương pháp tính thuế GTGT thì thuế GTGT của mỗi

doanh nghiệp phải nộp trong kỳ phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

- Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ do mỗi cơ sở sản xuất ra bao gồm:

Giá trị lao động sống doanh nghiệp đưa vào giá thành sản phẩm, dịch vụ; lợi

nhuận mà doanh nghiệp tạo ra từ việc sản xuất, cung cấp dịch vụ đó.

- Lao động quá khứ doanh nghiệp đã sử dụng trong quá trình sản xuất

kinh doanh nhưng đối tượng cung cấp chưa nộp thuế GTGT.

- Thuế suất của hàng hoá, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp ra thị trường

và thuế suất thuế GTGT của hàng hoá là nguyên vật liệu đã sử dụng trong quá

trình doanh nghiệp thực hiện sản xuất sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Nếu thuế

suất thuế GTGT nguyên vật liệu cao, thuế suất thuế GTGT của sản phẩm thấp

thì số thuế GTGT doanh nghiệp phải nộp trực tiếp ngân sách ít, thậm chí còn

được hoàn thuế và ngược lại.

- Ngoài các yếu tố trên, thuế GTGT doanh nghiệp phải nộp trong từng

thời kỳ còn phụ thuộc vào giá trị nguyên vật liệu tồn kho, trên dây truyền sản

xuất. Đây chính là vấn đề phức tạp của thuế GTGT mà việc kiểm soát trở nên

22 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

khó khăn hơn rất nhiều so với thuế doanh thu.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

1.3. Quản lý thu thuế GTGT

1.3.1. Một số khái niệm chung về quản lý thuế GTGT

+ Khái niệm quản lý thuế

“Quản lý thuế” là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đang

có nhiều cách quan niệm khác nhau. Tuy nhiên các khái niệm đều đề cập đến sự

tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý bằng các phương thức,

phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định. Chủ thể quản lý là Nhà nước

(mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp). Đối tượng bị quản lý là các doanh nghiệp

và cá nhân có nghĩa vụ về thuế. Mục đích quản lý là để đối tượng nộp thuế và

các đối tượng có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của

mình. Phương tiện quản lý là sử dụng các quy định như đăng ký thuế kê khai

thuế, kế hoạch thuế, kế toán, thống kê thuế.

Qua nghiên cứu có thể rút ra một số nội dung chính của khái niệm về

quản lý thuế như sau:

Quản lý phải gắn liền với một lĩnh vực, với một (hay một số) tổ chức nhất

định. “Thuế do Nhà nước tổ chức và dùng quyền lực để thu”. Cho nên, quản lý

thuế gắn liền với Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước nói chung và những tổ chức

được Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp “thu thuế” là hai khái niệm có sự phân

biệt.

“Quản lý nhà nước về thuế” là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu

lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế. Quản lý nhà nước về thuế là quản lý

nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Chủ thể quản lý nhà nước trong lĩnh

vực thuế là các cơ quan nhà nước có chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp

về thuế. Đối tượng của quản lý nhà nước về thuế là các quá trình xã hội, hành vi

của cá nhân và tổ chức xã hội trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, bản luận văn này

23 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

chỉ xét đến lĩnh vực quản lý thuế.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước,

thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các

chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã

được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ

chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ

thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan

hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính

sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trường quản lý

luôn biến động.

Thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính cho Nhà

nước và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Do đó xét đến cùng, mục

đích của quản lý thuế là nhằm làm cho đối tượng nộp thuế thực hiện đầy đủ, kịp

thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình, đồng thời Nhà nước thực hiện

được các mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế.

Quản lý là hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công

việc qua những nỗ lực của người khác. Do đó, theo nghĩa rộng, công tác quản lý

thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế của

các đối tượng nộp thuế qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế và sự hỗ trợ

của cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có liên quan.

+ Vai trò của quản lý thuế

- Quản lý thuế là thực hiện một chức năng quan trọng của Nhà nước trong

lĩnh vực tài chính.

Kinh tế chính trị Mác-Lê nin đã chỉ ra “quan hệ sản xuất xã hội là quan hệ

kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội: sản

xuất-phân phối-trao đổi-tiêu dùng”. Quản lý nhà nước về thuế nói riêng quản lý

24 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

nhà nước về tài chính nói chung là quản lý “quan hệ sản xuất xã hội” diễn ra

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

trong một khâu đặc biệt quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường – khâu

phân phối.

- Mục đích của chính sách thuế có được thực hiện hay không phụ thuộc

chủ yếu vào khâu thực hiện.

Hoạch định chính sách thuế và quản lý thuế là các khâu gắn liền với nhau

trong công tác quản lý nhà nước về thuế. Sau khi chính sách thuế được hoạch

định và được thông qua, cính sách đó được thực thi trong thực tế. Quản lý thuế

có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc sống.

+ Đối tượng quản lý thuế GTGT

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Như vậy,

quản lý là một hoạt động khách quan khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục

tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản

đến phức tạp. Trình độ xã hội hoá càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò

của nó càng tăng lên.

Thuế là phạm trù pháp luật; luật thuế quy định quyền, nghĩa vụ của các

chủ thể tham gia thực hiện. Trong đó, cơ quan thuế có tư cách là chủ thể quản

lý nhà nước về thuế, người nộp thuế là đối tượng của quản lý. Luật thuế GTGT

nước Việt Nam quy định về đối tượng nộp thuế và chịu sự quản lý về thuế là:

Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu

thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh

doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức cá nhân khác có nhập khẩu

hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập

khẩu) đều là đối tượng nộp thuế GTGT. Như vậy, đối tượng quản lý ở đây gồm

các tổ chức kinh doanh được thành lập theo luật doanh nghiệp; các tổ chức kinh

tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ

25 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

chức sự nghiệp và tổ khác; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam, các cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam; cá nhân, hộ

gia đình và các đối tượng kinh doanh khác có hoạt động kinh doanh, xuất nhập

khẩu.

+ Chủ thể quản lý thuế GTGT

Chủ thể quản lý ở đây là cơ quan thuế các cấp. Để thực hiện luật thuế

GTGT nói riêng và các luật thuế nói chung, nhà nước quyết định thành lập cơ

quan thuế theo mô hình.

TỔNG CỤC THUẾ

CỤC THUẾ TỈNH, THÀNH PHỐ

CHI CỤC THUẾ QUẬN, HUYỆN VÀ THỊ XÃ TRỰC THUỘC CỤC THUẾ

Chi cục Thuế quận, huyện và thị xã tại các tỉnh, thành phố (cơ quan thuế

địa phương) thực hiện quản lý nhà nước đối với các khoản thu nội địa với chức

năng, quyền hạn của Chi cục Thuế như sau:

- Tổ chức triển khai thực hiện thống nhất các văn bản qui phạm pháp luật

về thuế; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn;

- Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân

tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa

phương về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công

tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị

26 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao;

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính

sách thuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ

nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật.

- Kiến nghị với Cục trưởng Cục Thuế những vấn đề vướng mắc cần sửa

đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy trình chuyên môn

nghiệp vụ, các quy định quản lý nội bộ và những vấn đề vượt quá thẩm quyền

giải quyết của Chi cục Thuế.

- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc

phạm vi quản lý của Chi cục Thuế : đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ

khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền

phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo

qui định của pháp luật thuế và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ của

ngành; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào

ngân sách nhà nước.

- Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông

tin về người nộp thuế trên địa bàn;

- Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế,

giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối

với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phân

cấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế;

- Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm,

hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu

tiền thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật;

- Được quyền yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổ

chức, cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ cho

27 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

công tác quản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nhân không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thực

hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước;

- Được quyền ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành

quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên các

phương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm pháp luật thuế của người

nộp thuế;

- Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế do lỗi của cơ quan thuế, theo

quy định của pháp luật; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việc

thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật;

- Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế;

lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ

đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và các cơ

quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Chi cục

Thuế.

- Tổ chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và khiếu

nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chức thuế

thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của

pháp luật.

- Xử lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm

quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế theo quy định của

Luật quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan.

- Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế theo mục tiêu nâng cao chất

28 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ quản lý thuế

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ cho người nộp thuế thực hiện

chính sách, pháp luật về thuế.

- Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ

thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động của Chi cục Thuế.

- Quản lý bộ máy, biên chế, lao động; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ

công chức, viên chức của Chi cục Thuế theo quy định của Nhà nước và của

ngành thuế.

- Quản lý kinh phí, tài sản được giao, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế

theo quy định của pháp luật và của ngành.

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.

1.3.2. Nội dung quản lý thuế GTGT

Những công việc cần phải làm của các chủ thể quản lý tại cơ quan thuế

trong quá trình quản lý chính là các chức năng quản lý. Các chức năng quản lý

thuế tại cơ quan thuế có thể xem xét theo hai cách chiều:

- Theo quá trình quản lý (xem xét theo “chiều dọc”).

- Theo hoạt động của cơ quan thuế (xem xét theo “chiều ngang”).

Theo quá trình “Quản lý”

Theo lĩnh vực

Sơ đồ 1.1. Tính thống nhất của các hoạt động quản lý

29 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

1.3.2.1. Nội dung quản lý thuế GTGT tại Chi cục Thuế

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Theo quá trình quản lý, nội dung cơ bản của quản lý thuế tại cơ quan thuế

bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, thanh tra kiểm tra thuế.

- Lập kế hoạch quản lý thuế.

Lập kế hoạch quản lý thuế là một chức năng của tất cả các chủ thể quản lý

trong công tác quản lý thuế. Lập kế hoạch quản lý thuế không chỉ là lập kế

hoạch “thu thuế”. Lập kế hoạch quản lý thuế cần được hiểu theo nghĩa rộng gồm

kế hoạch của cơ quan thuế trong mọi lĩnh vực quản lý. “Việc lập kế hoạch có 4

mục đích quan trọng: ứng phó với những bất định và thay đổi, tập trung sự chú

ý vào các mục tiêu, tạo khả năng tác nghiệp kinh tế, giúp cho các nhà quản lý

kiểm tra”. Tại cơ quan thuế hàng năm tiến hành lập các kế hoạch chủ yếu sau:

+ Kế hoạch thu thuế năm

+ Kế hoạch tuyên truyền hỗ trợ NNT

+ Kế hoạch thanh tra, kiểm tra

+ Dự toán nguồn kinh phí hoạt động, kế hoạch đào tạo, nhân lực ….

- Tổ chức quản lý thuế.

Tổ chức công tác thu thuế tại cơ quan thuế là quá trình gắn kết, phân công

và phối hợp nhiều người vào làm việc cùng nhau nhằm thực hiện mục tiêu

chung. Trong đó, nội dung của chức năng tổ chức bao gồm tổ chức con người và

tổ chức công việc.

Tổ chức con người tại cơ quan thuế là việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu

tổ chức của cơ quan thuế trong từng thời kỳ cho phù hợp với chức năng nhiệm

vụ được giao

Tổ chức công việc tại cơ quan thuế được hiểu theo nghĩa rộng là tổ chức

30 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

công việc trong phạm vi toàn cơ quan và trong phạm vi toàn bộ phận. Mục đích

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

tổ chức công việc của mỗi bộ phận phải phù hợp với mục đích tổ chức công việc

toàn cơ quan thuế.

Tổ chức công việc tại các bộ phận trực tiếp liên quan đến quản lý NNT

bao gồm: xây dựng và hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ thuế (như đăng ký và

cấp mã số thuế, xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế,

miễn giảm thuế, quản lý hồ sơ doanh nghiệp). Nội dung quan trọng nhất của các

quy trình nghiệp vụ thuế là các trình tự và thủ tục mà NNT và các bên liên quan

phải tuân theo trong mỗi giai đoạn của quá trình quản lý thuế, các biện pháp tác

động vào đối tượng bị quản lý để đạt mục tiêu của quản lý thuế.

Tổ chức công việc tại cơ quan thuế được hình thành trong mối liên hệ chặt

chẽ với vai trò của các chủ thể trong quản lý thuế, bao gồm: lãnh đạo các cấp,

các công chức thuế và đối tượng nộp thuế. Để làm tốt công tác tổ chức công việc

trong quản lý thuế phải luôn quan tâm đến quá trình nhân sự. Đó là các vấn đề

như: thiết kế và phân tích công việc, thu hút tuyển chọn nhân viên, đào tạo và

phát triển, đánh giá kết quả công việc…

- Lãnh đạo công tác quản lý thuế.

Sự lãnh đạo là khả năng tác động đến người khác để đạt được mục tiêu đã

đề ra. Lãnh đạo công tác thu thuế là quá trình thu hút, lôi cuốn, thuyết phục và

hướng dẫn các hoạt động có liên quan đến nhiệm vụ, nghĩa vụ của những thành

viên trong cơ quan thuế và các đối tượng nộp thuế. Nói cách khác, lãnh đạo là

quá trình tác động vào những con người khác nhau trong đối tượng nộp thuế và

cơ quan thuế để đạt được mục tiêu do người lãnh đạo đề ra. Các nguồn lực hình

thành quan hệ lãnh đạo bao gồm: quyền lực pháp lý-hành chính, quyền lực từ

góc độ lợi ích, quyền lực từ góc độ cưỡng chế, quyền lực từ góc độ chuyên gia-

chuyên môn, quyền lực từ tín nhiệm.

31 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Thanh tra, kiểm tra công tác quản lý thuế.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Thanh tra, kiểm tra trong một tổ chức là hoạt động kiểm tra theo dõi các

hoạt động của tổ chức thông qua việc thiết lập hệ thống thông tin quản lý và thu

nhập các thông tin cần thiết.

Kiểm tra là quá trình trong đó các hành động được thực hiện để đảm bảo

rằng các mục tiêu về tổ chức và quản lý được thực hiện. Đó còn là quá trình

mang tính hệ thống trong đó các chủ thể quản lý điều tiết các hoạt động của tổ

chức cho phù hợp với kế hoạch, mục tiêu và các tiêu chuẩn đã được đặt ra.

1.3.2.2. Nội dung quản lý thuế đối với NNT

Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng bao gồm các nội

dung sau:

* Đăng ký thuế

- Đăng ký thuế: Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh

nghiệp: Hồ sơ đăng ký MST, MSDN nộp tại Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế

hoạch đầu tư TP Hà Nội sau đó gửi tờ khai đăng ký thuế (theo mẫu số: 01-ĐK-

TCT của Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính) tới cơ

quan thuế nơi đóng trụ sở chính.

- Tiếp nhận đăng ký thuế: Đội Tuyên truyền (Bộ phận một cửa): Nhận tờ

khai đăng ký thuế, cập nhật thông tin hồ sơ nhận vào ứng dụng QHS sau đó

phân loại tờ khai đăng ký thuế theo từng đội kiểm tra và lập danh sách rồi

chuyển cho Đội kê khai ngay trong ngày.

Trường hợp hồ sơ đăng ký thuế chuyển đến cơ quan thuế qua Phòng

ĐKKD - Sở KHĐT, Đội Tuyên truyền (Bộ phận một cửa) tiếp nhận hồ sơ đăng

ký MSDN từ Sở KHĐT, đóng dấu, ghi ngày nhận vào hồ sơ đăng ký MSDN,

cập nhật thông tin hồ sơ nhận vào ứng dụng QHS và chuyển hồ sơ đăng ký

32 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

MSDN cho Đội kê khai ngay trong ngày.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Nhập, xử lý thông tin đăng ký thuế và truyền dữ liệu: Sau khi tiếp nhận

hồ sơ, Đội kê khai nhập, kiểm tra thông tin hồ sơ đăng ký thuế và truyền dữ liệu

đăng ký thuế của NNT về Cục Thuế để theo dõi.

Việc đăng ký thuế của NNT được thực hiện theo qui định tại Thông tư số

80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn Luật quản lý

thuế về đăng ký thuế và Qui trình quản lý đăng ký thuế ban hành kèm theo

Quyết định số 443/QĐ-TCT ngày 29/4/2009.

* Khai thuế, tính thuế:

- Đối với trường hợp NNT mới thành lập (mới được cấp MST/MSDN):

Đội tuyên truyền hướng dẫn NNT lập và khai thuế theo mẫu và gửi cơ quan thuế

theo đúng hạn quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi

hành.

- Tiếp nhận hồ sơ khai thuế: Đội tuyên truyền tiếp nhận hồ sơ khai thuế,

đóng dấu, phân loại, in danh sách NNT và chuyển đến các đội kê khai và các đội

kiểm tra thuế để kiểm tra, theo dõi.

- Kiểm tra hồ sơ khai thuế: Đội kê khai kiểm tra việc kê khai của NNT,

nếu phát hiện sai sót lập thông báo đề nghị NNT điều chỉnh và kê khai bổ sung.

Các đội kiểm tra thuế tiến hành kiểm tra đối chiếu nếu phát hiện kê khai sai, sử

dụng hoá đơn bất hợp pháp lập thông báo đề nghị NNT lên cơ quan thuế để

kiểm tra và xử phạt theo qui định tại Luật quản lý thuế và các văn bản hướng

dẫn thi hành.

Người nộp thuế phải tính số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước, trừ

trường hợp cơ quan thuế ấn định thuế hoặc tính thuế theo quy định tại Điều 37

33 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

và Điều 38 của Luật Quản lý thuế.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung

trong tờ khai thuế với cơ quan thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp

đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế.

Việc khai thuế được thực hiện tại Luật quản lý thuế; Quy trình quản lý

khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế ban hành kèm theo Quyết định số 1864/QĐ-

TCT ngày 21/12/2011 của Tổng cục Thuế.

- Ấn định thuế: Đội kiểm tra thuế theo dõi NNT nếu trường hợp không

nộp hồ sơ khai thuế hoặc không bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ

quan quản lý thuế hoặc đã bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng không đầy đủ, trung

thực, chính xác các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp thì thực hiện

việc ấn định thuế. Việc ấn định thuế được thực hiện tại Luật quản lý thuế và

Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính và các văn bản

hướng dẫn thi hành.

- Quản lý nợ thuế: Đội nợ Lập thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm

nộp theo mẫu số 07/QLN, Sau khi phát hành Thông báo nếu NNT chưa nộp tiền

thuế nợ vào ngân sách nhà nước thì mời NNT đến làm việc tại trụ sở cơ quan

thuế hoặc làm việc trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế và lập biên bản ghi

nhận kết quả, đồng thời, tại biên bản phải yêu cầu NNT cam kết thực hiện nộp

thuế trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế. Đối với khoản tiền thuế

nợ trên 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, NNT có hành vi phát tán tài

sản, bỏ trốn, đội nợ lập thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ

thuế theo mẫu 09/CCNT. Việc quản lý nợ thuế được thực hiện tại Quyết định số

1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011 của Tổng cục Thuế.

- Xử phạt VPHC đối với NNT nộp HSKT chậm và chậm nộp tiền thuế

vào NSNN: Việc NNT chậm nộp HSKT được tính theo ngày chậm nộp theo qui

định và chậm nộp tiền thuế vào NSNN tính phạt 0,05% mỗi ngày trên số tiền

34 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế chậm nộp (không kể ngày lễ, ngày nghỉ).

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Nộp thuế: Thời hạn nộp thuế, NNT có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng

thời hạn vào NSNN tại Kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín

dụng khác và thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp

hồ sơ khai thuế.

* Hoàn thuế:

- NNT lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo quy định và gửi đến cơ

quan thuế trực tiếp theo phương pháp hoàn trước kiểm tra sau hoặc kiểm tra

trước hoàn sau.

- Đội tuyên truyền (Bộ phận một cửa) nhận hồ sơ đề nghị hoàn thuế của

NNT và gửi cho Đội kê khai lập thủ tục trình Lãnh đạo chi cục và gửi toàn bộ hồ

sơ lên Cục Thuế để ra Quyết định hoàn thuế cho NNT.

Công việc này được thực hiện tại Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày

11/01/2012 của Bộ Tài chinh qui định về điều kiện, thủ tục hoàn thuế GTGT và

Qui trình hoàn thuế ban hành kèm theo quyết định số 905/QĐ-TCT ngày

01/7/2011 của Tổng cục Thuế.

* Miễn thuế, giảm thuế:

- Người nộp thuế thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo qui định

(gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn; bị tai nạn, mắc bệnh hiểm nghèo) phải lập

hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế và gửi tới cơ quan thuế.

Đội tuyên truyền (Bộ phận một cửa) nhận hồ sơ thuộc diện được miễn

thuế, giảm thuế theo qui định và gửi cho Đội kê khai lập thủ tục trình Lãnh đạo

chi cục và gửi toàn bộ hồ sơ lên Cục Thuế để ra Quyết định miễn thuế, giảm

thuế cho NNT.

Sau khi có Quyết định miễn thuế, giảm thuế, Đội kê khai điều chỉnh số

35 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế phải nộp từng kỳ của NNT và lưu hồ sơ.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Công việc này được thực hiện tại Luật quản lý thuế, các thông tư hướng

dẫn và Qui trình miễn thuế, giảm thuế ban hành kèm theo quyết định số

1444/QĐ-TCT ngày 24/10/2011 của Tổng cục Thuế.

* Kiểm tra thuế

- Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế và tại trụ sở của NNT về tính đầy

đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân

thủ pháp luật về thuế của NNT.

Công việc này được thực hiện tại Luật quản lý thuế, các thông tư hướng

dẫn và Qui trình Kiểm tra thuế ban hành kèm theo quyết định số 528/QĐ-TCT

ngày 29/5/2008 của Tổng cục Thuế.

* Quyết toán thuế:

Chi cục thuế giải quyết việc quyết toán thuế đối với trường hợp NNT có

rủi ro về thuế cao và NNT có nhu cầu sáp nhập, giải thể hoặc chia, tách.

- Trường hợp NNT có rủi ro về thuế cao, vào cuối mỗi năm đội kiểm tra

thuế lập danh sách các DN có rủi ro về thuế cao để lên kế hoạch kiểm tra quyết

toán thuế của năm sau, trình Lãnh đạo chi cục để báo cáo Cục thuế Hà Nội phê

duyệt; Căn cứ kế hoạch kiểm tra quyết toán thuế được phê duyệt các đội kiểm

tra lên kế hoạch kiểm tra quyết toán vào năm sau.

- Trường hợp NNT có nhu cầu sáp nhập, giải thể hoặc chia, tách thì NNT

có công văn gửi cơ quan thuế đề nghị xin kiểm tra quyết toán thuế, công văn này

được gửi tại Bộ phận một cửa thuộc Đội tuyên truyền đóng dấu nhận rồi gửi tới

Đội hành chính vào sổ công văn trình Lãnh đạo chi cục và được gửi tới đội kiểm

tra thuế lập danh sách và lên kế hoạch quyết toán thuế trình Lãnh đạo chi cục

phê duyệt.

36 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Xác định kết quả quyết toán thuế.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Điều chỉnh thuế số thuế phải nộp vào tháng hoặc quý hiện tại.

- Lưu hồ sơ quyết toán: Đội kiểm tra thuế lưu vào hồ sơ doanh nghiệp.

Công việc này được thực hiện tại Luật quản lý thuế và các thông tư hướng

dẫn: Thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính.

1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế GTGT

1.3.3.1. Người nộp thuế

- Khả năng nắm bắt chính sách pháp luật về thuế của các doanh nghiệp

còn yếu. Người làm chủ doanh nghiệp, làm kế toán về trình độ chuyên môn,

trình độ dân trí còn hạn chế, người dân không có thói quen lấy hoá đơn khi mua

hàng, không quan tâm đến kết cấu giá của hàng hoá phải thanh toán khi lấy hoá

đơn.

- Ham muốn lợi nhuận của nhà kinh doanh: mục đích kinh doanh và lợi

nhuận là một trong những phương pháp kiếm lời nhanh trong trong hoạt động

kinh doanh nếu có thể thực hiện được: Lòng ham muốn lợi nhuận thường xuyên

lôi cuốn, thôi thúc nhà doanh nghiệp tìm cách giảm số thuế phải nộp ngân sách

Nhà nước, có tư tưởng trốn tránh và xa rời sự quản lý của cơ quan thuế.

1.3.3.2. Chính sách của Nhà nước về thuế

Về lý thuyết, nếu thu thuế quá cao thường dẫn đến tình trạng trốn thuế;

thuế sẽ đạt mức tối ưu khi thuế suất ở mức độ phù hợp. Trong điều kiện thực tế

hiện nay ở nước ta với ba mức thuế suất thuế GTGT là 0%; 5%; 10% so sánh

với thuế suất của một số nước thì không phải là cao. Tuy nhiên, trong điều kiện

nền kinh tế đang phát triển và thu nhập của dân cư còn thấp, nếu có thể giảm

37 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế suất thì tình trạng trốn thuế sẽ được hạn chế.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Chính sách thuế thường xuyên điều chỉnh bổ sung và thay đổi để phù

hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế nên doanh nghiệp có thể lợi dụng để

thực hiện hành vi lách luật. Từ đó gây nhiều khó khăn cho quản lý thu thuế.

- Chế tài xử lý các vi phạm pháp luật thuế không đủ mạnh để làm cho đối

tượng nộp thuế không dám thực hiện gian lận. Trong xã hội văn minh mọi hoạt

động của con người được điều chỉnh bằng pháp luật trong đó pháp luật quy định

những hình phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật. Hình phạt dùng để xử

lý các hành vi vi phạm đồng thời có tính giáo dục răn đe. Luật thuế không là

ngoại lệ, để đảm bảo thực hiện tốt luật thì phải có các chế tài xử lý nghiêm các

vi phạm pháp luật về thuế, đồng thời răn đe các đối tượng không dám làm sai

luật.

1.3.3.3. Tổ chức quản lý thuế của cơ quan chức năng

- Việc quản lý thu thuế có được giải quyết tốt hay không còn phụ thuộc

vào khả năng quản lý thuế của cơ quan thuế. Thuế là cơ quan hành pháp, được

Nhà nước giao quyền và có trách nhiệm thực hiện công tác quản lý nhà nước về

thuế. Nếu cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý tốt, mọi gian lân đều

được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh thì người nộp thuế không thể vi

phạm hoặc sẽ tự giác thực hiện tốt hơn pháp luật thuế. Ngược lại, nếu cơ quan

thuế và các cơ quan quản lý nhà nước khác quản lý không tốt thì sự vi phạm

pháp luật thuế sẽ phát triển mạnh. Trình độ quản lý của cơ quan thuế phụ thuộc

vào các yếu tố:

+ Điều kiện cơ sở vật chất: trụ sở làm việc, trang thiết bị văn phòng, máy

tính, phương tiện và công cụ công tác. Thực tế hiện nay điều kiện về cơ sở vật

chất chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ công tác quản lý.

+ Tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý thuế chưa đồng nhất do chính sách thuế

38 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thường xuyên điều chỉnh bổ sung và cùng một văn bản mới ở mỗi địa danh có

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

cách hiểu khác nhau. Thực tế hiện nay tổ chức ngành thuế đang được kiện toàn

từ việc sắp xếp lại các phòng ban chuẩn hoá cán bộ quản lý. Ngành thuế cũng

đang hoàn thiện xây dựng và triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng

theo TCVN ISO 9001:2008 trong thời gian đến hết năm 2015.

+ Phương pháp quản lý thu thuế hiện tại chưa theo kịp với tốc độ phát

triển của nền kinh tế do vậy cần nghiên cứu cải tiến các quy trình quản lý sao

cho tiên tiến, khoa học, năng động và phù hợp cho tất cả các thành phần kinh tế.

1.3.3.4. Môi trường quản lý thuế

Bất kỳ một tổ chức nào, quá trình hoạt động đều gắn liền với các yếu tố

tác động nhất định. Mức độ và tính chất tác động của các yếu tố đó tuỳ thuộc

vào quy mô và tính chất hoạt động của tổ chức. Quản lý thuế luôn diễn ra trong

một môi trường nhất định và môi trường này luôn biến động.

Các yếu tố bên trong và bên ngoài có tác động đến cơ quan thuế, trong

những điều kiện nhất định hợp thành môi trường ảnh hưởng tới cơ quan thuế.

Môi trường bên ngoài là các yếu tố tác động trên phạm vi rộng và thường

là không tác động một cách trực tiếp đến các hoạt động của cơ quan thuế. Các

yếu tố thuộc môi trường bên ngaòi bao gồm:

- Kinh tế: các yếu tố kinh tế được xem xét và đánh giá trên các chỉ tiêu

chung của một nền kinh tế như tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, tình

hình giá cả và lạm phát, tình hình lao động và việc làm…

- Văn hoá: tập quán tiêu dùng, văn hoá kinh doanh…

- Xã hội: gồm các yếu tố chính như các yếu tố về nhân khẩu, tập quán và

39 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

truyền thống của từng cộng đồng dân cư, các giá trị xã hội…

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Chính trị: thể chế và xu thế chính trị của quốc gia, lập trường và thái độ

của Chính phủ trước các vấn đề kinh tế xã hội, tình trạng luật pháp và trật tự xã

hội.

- Kỹ thuật công nghệ: thực trạng trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật,

các xu hướng trang bị về kỹ thuật máy móc thiết bị.

Môi trường bên trong là các yếu tố thuộc về nội bộ cơ quan thuế như:

- Cán bộ công chức thuế là những người trực tiếp thực thi công vụ về

thuế. Trình độ và kỹ năng cũng như khả năng phát triển của họ trong tương lai,

tập quán, phong thái và thái độ trong quá trình làm việc sẽ tác động trực tiếp đến

hiệu quả của công tác quản lý thuế.

- Văn hoá công sở: Đây là các giá trị, niềm tin của mọi người trong cơ

quan thuế cùng chia sẻ để xác định đâu là cái đúng và đâu là điều sai đối với

từng hành vi của các cá nhân trong cơ quan thuế.

1.4. Nội dung phân tích quản lý thuế GTGT

1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế GTGT

* Về kết quả công tác thu thuế là số thuế thu được tính trong một niên độ

nhất định (thường được tổng kết theo năm), bao gồm:

- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu thuế.

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch = Số thu thực tế / Số thu kế hoạch

- Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm.

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm = Số thu năm nay / Số thu năm trước

- Tỷ lệ nợ thuế = Số phải thu nợ/Số nợ thuế

40 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

* Về hiệu quả công tác quản lý thuế.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Hiệu quả là một chỉ tiêu quan trọng được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh

vực. Muốn kiểm nghiệm hiệu quả cao hay thấp phải chú ý cả hai mặt số lượng

và chất lượng. Về số lượng, so sánh giữa chi phí và kết quả, về chất lượng, so

sánh giữa hành vi hành chính và mục tiêu có ích đối với xã hội đã đạt được. Tuy

nhiên hiệu quả quản lý của mỗi công chức thuế phải được xem xét trong một

điều kiện hoàn cảnh cụ thể.

Trong lĩnh vực thuế, hiệu quả công tác quản lý thuế không chỉ xét đơn

thuần theo giá trị bằng tiền. Hiệu quả công tác quản lý thuế là hiệu quả của việc

thực hiện chính sách thuế. Hiệu quả thực hiện chính sách thuế được xác định

qua việc so sánh các kết quả đạt được với toàn bộ các nguồn lực đã sử dụng.

Hiệu quả thể hiện ở kết quả đạt được là tối đa, chi phí thì tối thiểu. Đồng thời,

hiệu quả công tác quản lý thuế cũng là hiệu quả của công tác phục vụ đói tượng

nộp thuế trong quá trình chấp hành pháp luật thuế, hiệu quả của việc phát huy

các tác dụng vốn co của mỗi loại thuế đối với sản xuất và đời sống. Do vậy, hiệu

quả công tác quản lý thuế phải được xét ở các góc độ hiệu quả kinh tế, hiệu quả

xã hội và hiệu quả chính trị.

- Hiệu quả kinh tế: khai thác đầy đủ kịp thời các khoản thu Luật định về

thuế vào ngân sách nhà nước với chi phí thối thiểu.

- Hiệu quả xã hội: công tác quản lý thuế phải tích cực góp phần thực hiện

bình đẳng, công bằng xã hội.

- Hiệu quả chính trị: là hiệu quả thực hiện các chủ trương chính sách kinh

tế xã hội của Đảng và Nhà nước.

Hiệu quả quản lý thuế GTGT về cơ bản được thể hiện ở các nội dung:

- Đảm bảo số thu đầy đủ, kịp thời cho ngân sách nhà nước. NNT tự giác

41 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

cao trong chấp hành pháp luật thuế.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Phát huy tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực

sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ tăng vốn trong toàn xã hội, tăng cường

công tác hạch toán kế toán, nâng cao ý thức trong việc sử dụng hoá đơn chứng

từ ...

Một số tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế.

Có nhiều căn cứ để đánh giá hiệu quả quản lý thuế. Dưới đây là một số

tiêu chuẩn đánh giá phổ biến (định tính, định lượng):

- Tỷ lệ số thu so với nguồn thu = số thuế thu được/khả năng thu được

thuế.

Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ số thu được so với tiềm năng và hiệu quả công

tác thu thuế.

- Chi phí thu thuế và tỷ lệ chi phí thu thuế so với số thuế thu được.

Chi phí thu thuế “là toàn bộ những chi phí cần cho thi hành nghiệp vụ

thuế như: chi phí nhân sự, chi phí đi lại, chi phí vật dụng ... được hạch toán tất

cả vào ngân sách chi hàng năm theo kế toán thông thường”. Theo Adam Smith,

chi phí phải bỏ ra để thu thuế bao gồm chi lương cho bộ máy thuế, xây dựng nơi

làm việc, đào tạo, ấn chỉ thuế, mua sắm trang thiết bị và dụng cụ làm việc.

Chi phí thu thuế trong một niên độ nhất định

Tỷ lệ chi phí thu thuế = Số thuế thu được trong một niên độ nhất định

Tỷ lệ chi phí thu thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thông thường là từ 3%

trở xuống. Tỷ lệ chi phí thu thuế có xu hướng giảm đi. Bởi vì nền kinh tế tăng

trưởng kéo theo các nguồn thu thuế tăng lên đáng kể, trong khi đó số nhân viên

thi hành thuế tăng chậm. “Hiệu quả của hệ thống thuế còn thể hiện ở chi phí

hành thu thấp. chi phí này không nên vượt 2% tổng số thu thuế”.

42 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Hiệu quả của lập kế hoạch thu:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Chất lượng của việc đánh giá là lập dự toán thu thể hiện ở độ sai số giữa

số liệu đánh giá, số liệu dự toán với số thực hiện. Theo Tổng cục Thuế, nếu sai

số thực hiện so với dự toán trong phạm vi bằng hoặc dưới 5% thì chất lượng dự

toán đạt cao, từ 5% đến 10% thì chất lượng trung bình và trên 10% thì việc lập

dự toán chưa sát.

Ngoài ra, về mặt định tính việc xây dựng (giao kế hoạch thu) cao hơn

nhiều so với nguồn thu, cơ quan thuế phải tìm mọi cách để hoàn thành sẽ dễ dẫn

đến các tác động tiêu cực đến quá trình “phát triển, nuôi dưỡng” nguồn thu cho

ngân sách nhà nước.

- Đánh giá công chức theo định kỳ (tháng, quý, năm…)

Việc xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả quản lý

thuế của cán bộ thuế và thường xuyên kiểm tra để thúc đẩy quản lý hiệu quả

hơn. Để có căn cứ đánh giá hiệu quả quản lý của cán bộ thuế thì cần phải nghiên

cứu, xây dựng thành tiêu chuẩn cho mỗi công việc, mỗi công đoạn trong quản lý

thuế để buộc cán bộ thuế thực hiện công việc đó, công đoạn đó phải thực hiện và

đạt được.

1.4.2. Phân tích quản lý thuế GTGT theo các bước công việc

1.4.2.1. Công tác lập kế hoạch quản lý thuế

- Nội dung công tác lập kế hoạch quản lý thuế:

Lập kế hoạch là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác định biện

pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó. Lập kế hoạch quản lý thuế là một

chức năng của tất cả các chủ thể quản lý trong công tác quản lý thuế. Việc lập kế

hoạch thu thuế là dựa theo dự toán được giao, phân tích tình hình sản xuất kinh

doanh và các biến động ảnh hưởng đến kết quả thu thuế, đánh giá dự báo khả

năng thu thuế, tiến độ thực hiện dự toán thuế, phối hợp các cấp, các ngành có

43 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

liên quan triển khai các biện pháp quản lý thu thuế trên địa bàn.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Để có căn cứ cho việc lập kế hoạch, hàng năm Chi cục Thuế phải thường

xuyên thực hiện việc khai thác hệ thống thông tin của Ngành và tập hợp các

thông tin từ báo chí, phản ánh qua đường dây nóng, từ các cơ quan bảo vệ pháp

luật.

Thông tin về tình hình quản lý NNT; tình hình thu nộp thuế; tình hình lập

và thực hiện dự toán thu Ngân sách; tình hình quản lý nợ thuế; kết quả thực hiện

thanh tra, kiểm tra NNT, thanh tra, kiểm tra nội bộ qua các năm; thông tin về

tình hình hoàn thuế, miễn giảm thuế, xoá nợ thuế; tình hình quản lý ấn chỉ thuế;

tình hình chấp hành pháp luật về công tác cán bộ, chi tiêu kinh phí, ...

Để phân tích, đánh giá xác định những nội dung quản lý thuế, về địa bàn,

đơn vị có doanh thu lớn, có khả năng rủi ro cao cần thiết phải thanh tra, kiểm tra

để đưa vào kế hoạch.

- Mục tiêu công tác lập kế hoạch quản lý thuế:

Việc lập kế hoạch quản lý thuế nhằm xác định hàng năm tại Chi cục Thuế

thu được bao nhiêu tiền thuế vào NSNN, trên cơ sở đó phải xác định được các

công việc cụ thể như sau:

+ Dự báo có bao nhiêu DN nộp thuế trên số lượng DN tại địa bàn Quận

đối với các sắc thuế, số lượng DN mới thành lập và số lượng DN ngừng hoạt

động kinh doanh;

+ Trên cơ sở tập hợp, phân tích thông tin và tình hình thực tế tại đơn vị,

bộ phận thanh tra, kiểm tra xác định cụ thể đối tượng, nội dung, thời kỳ cần đưa

vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm cho phù hợp với nguồn nhân lực và

đảm bảo tính khả thi của kế hoạch về số lượng và chất lượng các cuộc thanh tra,

44 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

kiểm tra.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

+ Dự báo thời gian thu được thuế đối với các DN phải nộp thuế và tình

hình nợ đọng thuế để đôn đốc, thu hồi và xử lý các khoản tiền thuế nợ của NNT

có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN.

+ Lập kế hoạch về kiểm tra hoàn thuế và số thuế truy hoàn.

+ Lập kế hoạch tuyên truyền hỗ trợ NNT về chính sách, pháp luật thuế, tổ

chức các lớp tập huấn.

+ Lập kế hoạch kiểm tra nội bộ: kiểm tra về việc tuân thủ pháp luật, tính

liêm chính của công chức thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo liên quan đến thực

thi công vụ của công chức thuế; và thanh tra NNT hàng năm, tiếp nhận yêu cầu

và hồ sơ đề nghị thanh tra NNT của các đội kiểm tra thuế và các đội khác

chuyển đến.

+ Lập dự toán nguồn kinh phí hoạt động, kế hoạch đào tạo, nhân lực.

- Đánh giá công tác lập kế hoạch quản lý thuế

Việc lập kế hoạch quản lý thuế tốt và sát với thực tế sẽ là cơ sở để mỗi

cán bộ công chức thuế thực hiện việc theo dõi quản lý và thu thuế được hiệu

quả.

1.4.2.2. Công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, kiểm tra quyết toán

thuế, thu nợ cưỡng chế, hỗ trợ NNT và xử lý hoàn thuế

- Đăng ký thuế: NNT đăng ký MST, MSDN tại Phòng đăng ký kinh

doanh - Sở Kế hoạch đầu tư TP Hà Nội sau đó gửi tờ khai đăng ký thuế (theo

mẫu số: 01-ĐK-TCT của Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ

Tài chính) tới cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính.

- Khai thuế, tính thuế: NNT lập và khai thuế phải chính xác, trung thực,

đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế với cơ quan thuế theo mẫu do Bộ Tài

45 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

chính quy định và nộp đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế,

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

và NNT phải tính số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước theo phát sinh trên

tờ khai thuế.

- Ấn định thuế: Đội kiểm tra thuế theo dõi NNT nếu trường hợp không

nộp hồ sơ khai thuế hoặc không bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ

quan quản lý thuế hoặc đã bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng không đầy đủ, trung

thực, chính xác các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp thì thực hiện

việc ấn định thuế.

- Quản lý nợ thuế: Đội nợ Lập thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm

nộp vào NSNN và mời NNT đến làm việc tại trụ sở cơ quan thuế hoặc làm việc

trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế và lập biên bản ghi nhận kết quả, đồng

thời, tại biên bản phải yêu cầu NNT cam kết thực hiện nộp thuế trong thời hạn

qui định.

- Xử phạt VPHC đối với NNT nộp HSKT chậm và chậm nộp tiền thuế

vào NSNN: Việc NNT chậm nộp HSKT được tính trên ngày chậm nộp theo qui

định và chậm nộp tiền thuế vào NSNN tính phạt 0,05% mỗi ngày trên số tiền

thuế chậm nộp (không kể ngày lễ, ngày nghỉ).

- Nộp thuế: NNT có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào NSNN

tại Kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và thời hạn

nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.

- Hoàn thuế: NNT lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo quy định, có

thể theo phương pháp hoàn trước kiểm tra sau hoặc kiểm tra trước hoàn sau.

- Miễn thuế, giảm thuế: NNT thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo

qui định (gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn; bị tai nạn, mắc bệnh hiểm nghèo)

phải lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế và gửi tới chi cục thuế.

Sau khi có Quyết định miễn thuế, giảm thuế, Chi cục thuế điều chỉnh số

46 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế phải nộp từng kỳ của NNT và lưu hồ sơ.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Tuyên truyền hỗ trợ NNT: Tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế,

hỗ trợ về chuyên môn nghiệp vụ thuế. Tổ chức các buổi tập huấn, hội nghị đối

thoại để giải đáp vướng mắc, lắng nghe ý kiến phản ảnh của NNT về chính sách

chế độ thuế, thủ tục hành chính thuế.

- Kiểm tra thuế, Quyết toán thuế: tại trụ sở cơ quan thuế và tại trụ sở của

NNT về tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm

đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT.

Đánh giá: Công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, kiểm tra quyết toán thuế,

thu nợ cưỡng chế, hỗ trợ NNT và xử lý hoàn thuế tại Chi cục Thuế quận Đống

Đa đã thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ do Tổng cục Thuế giao và đồng

thời luôn thực hiện đúng các qui trình liên quan đến từng công việc cụ thể để

triển khai và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho NNT và luôn coi NNT là bạn đồng

hành trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.

1.4.3. Phân tích quản lý thuế GTGT theo các yếu tố ảnh hưởng

1.4.3.1 Người nộp thuế

- Khả năng nắm bắt chính sách pháp luật về thuế của các doanh nghiệp

còn yếu và trình độ chuyên môn còn hạn chế.

- Ham muốn lợi nhuận của doanh nghiệp: doanh nghiệp tìm cách giảm số

thuế phải nộp cho nhà nước, có tư tưởng trốn tránh và xa rời sự quản lý của cơ

quan thuế.

1.4.3.2 Hệ thống luật pháp và chính sách của nhà nước về thuế

- Chính sách thuế thường xuyên điều chỉnh bổ sung và thay đổi để phù

hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế nên doanh nghiệp có thể lợi dụng để

47 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thực hiện hành vi lách luật. Từ đó gây nhiều khó khăn cho quản lý thu thuế.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Chế tài xử lý các vi phạm pháp luật thuế không đủ mạnh để làm cho đối

tượng nộp thuế không dám thực hiện gian lận.

1.4.3.3 Tổ chức quản lý của các cơ quan chức năng

Việc quản lý thu thuế có được giải quyết tốt hay không còn phụ thuộc vào

khả năng quản lý thuế của cơ quan thuế và các cơ quan quản lý nhà nước khác

nó phụ thuộc vào các yếu tố:

- Điều kiện cơ sở vật chất: trụ sở làm việc, trang thiết bị làm việc, phương

tiện và công cụ công tác.

- Tổ chức cơ cấu bộ máy, trình độ cán bộ công chức, tư cách đạo đức

công chức ngành thuế.

- Phương pháp quản lý thu thuế hiện tại chưa theo kịp với tốc độ phát

triển của nền kinh tế.

1.4.3.4 Môi trường kinh tế xã hội

Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cáo điều kiện sống về vật chất

và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ

xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá.

Nước ta bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006

đến 2010 trong bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi và thách thức do toàn cầu

hoá và hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh.

Tuy nhiên từ giữa năm 2011 do sự suy giảm kinh tế toàn cầu nên các DN

bị ảnh hưởng do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu

chưa được giải quyết. Những bất lợi từ sự sụt giảm đó ảnh hưởng xấu đến hoạt

động sản xuất kinh doanh và đời sống của dân cư trong nước. Thị trường tiêu

48 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thụ hàng hoá bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nợ xấu ngân hàng ở mức cao nên nhiều DN nhất là DN nhỏ và vừa phải thu hẹp

sản xuất, ngừng hoạt động hoặc giải thể vì vậy ảnh hưởng lớn đến số thu thuế.

Mặt khác do việc chi ngân sách của chúng ta chưa thật sự hiệu quả và gây

lãng phí lớn bởi các công trình công cộng, phúc lợi nên người dân thiếu sự tin

tưởng vào sự quản lý chi ngân sách do vậy cũng ảnh hưởng đến sự tự giác trong

việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách.

Kết luận chương 1:

Việc phân tích sâu sắc lý luận về thuế GTGT, vạch rõ cơ chế quản lý thu

thuế giá trị gia tăng với các phương thức, hình thức, nguyên nhân và những hậu

quả của nó giúp chúng ta có được tư duy và phương pháp khách quan, khoa học

trong việc nghiên cứu công tác quản lý thuế nói chung và nhìn nhận, đánh giá

thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn quận Đống Đa trong

thời gian qua.

Từ những cơ sở lý luận được phân tích tại chương một, đối chiếu với thực

tiễn công tác quản lý thuế tại chương hai để có những giải pháp tăng cường công

49 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

tác quản lý thu thuế GTGT một cách hiệu quả hơn.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

CHƯƠNG 2

PHÂN TÍCH CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT

Ở CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA – TP HÀ NỘI

2.1. Giới thiệu khái quát về Quận Đống Đa và Chi cục Thuế quận

Đống Đa – TP Hà Nội

2.1.1. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Quận Đống Đa

Quận Đống Đa nằm ở trung tâm Thủ đô Hà Nội, cách Hồ Gươm 3,5 km

về phía Đông nam, tổng diện tích 9,96 km2, dân số khoảng 390 nghìn người,

mật độ dân số 35.341 người/km2. Từ tháng 8/2008 Thủ đô Hà Nội được mở

rộng nên việc giao thương buôn bán giữa Quận Đống Đa và các quận huyện nội

ngoại thành cũng phát triển nhanh chóng với các hoạt động kinh doanh đa dạng

và phức tạp, chủ yếu là thương mại và dịch vụ. Quận Đống Đa gồm 21 phường:

Cát Linh, Văn Miếu, Quốc Tử Giám, Hàng Bột, Ô Chợ Dừa, Kim Liên, Phương

Mai, Quang Trung, Nam Đồng, Thổ Quan, Văn Chương, Khâm Thiên, Trung

Phụng, Phương Liên, Trung Tự, Trung Liệt, Khương Thượng, Ngã Tư Sở,

Thịnh Quang, Láng Hạ, Láng Thượng.

Quận Đống Đa là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của Thủ đô Hà Nội.

Với dân số chiếm khoảng 5,82% dân số Thủ đô nhưng Quận Đống Đa đã đóng

góp số thu lớn vào số thu của Thành phố Hà Nội. Nhìn lại 5 năm 2008 -2012,

kinh tế Quận Đống Đa phát triển nhanh và toàn diện, giá trị sản xuất công

nghiệp tăng bình quân 13,6%/năm, giá trị thương mại dịch vụ tăng 25,2%/năm.

Cơ cấu kinh tế Quận chuyển dịch theo xu thế tiên tiến, hiện đại hóa. Hoạt động

thương mại dịch vụ trên địa bàn được đẩy mạnh, hình thành một số trung tâm

buôn bán sôi động như: Chùa Bộc, Thái Hà, Giảng Võ, Xã Đàn... Tỷ trọng của

50 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

các khu vực đó trong GDP là: Thương mại - dịch vụ 67%, công nghiệp 33%.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế Quận được tăng cường, đời

sống nhân dân được cải thiện đáng kể.

2.1.2. Giới thiệu khái quát về Chi cục Thuế quận Đống Đa

Năm 1990 cùng với việc hình thành hệ thống chính sách thuế áp dụng

thống nhất với các thành phần kinh tế, bộ máy quản lý thuế được hình thành

theo hệ thống ngành dọc trên toàn quốc. Chi cục Thuế quận Đống Đa được

thành lập trực thuộc Cục Thuế Thành phố Hà Nội theo Quyết định số 315/TC-

QĐ-TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ Tài chính và Quyết định số 503/QĐ-TCT

ngày 29/3/2010 của Tổng cục Thuế Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế. Với chức năng quản lý thu thuế, phí, lệ phí

và các khoản thu khác của NSNN trên địa bàn quận Đống Đa.

Chi cục Thuế quận Đống Đa có trụ sở chính tại số 312B Tôn Đức Thắng,

quận Đống Đa – Hà Nội và được tổ chức thành 10 Đội thuế văn phòng và 09

Đội thuế liên phường trực thuộc, với tổng số 240 cán bộ công chức, nhân viên.

Tại văn phòng Chi cục Thuế quận Đống Đa có 190 cán bộ được tổ chức

thành các Đội chức năng và các Đội quản lý thu. Các Đội chức năng gồm: Đội

Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế và ấn chỉ; Đội Kê khai - kế toán thuế & Tin

học; Đội Hành chính - nhân sự - tài vụ; Đội Kiểm tra nội bộ; Đội Tổng hợp

nghiệp vụ dự toán; Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế. Các Đội quản lý thu

gồm: Đội kiểm tra thuế số 1; Đội kiểm tra thuế số 2; Đội kiểm tra thuế số 3; Đội

trước bạ và thu khác.

Tại 21 phường, trong đó có 04 chợ lớn và 02 trung tâm thương mại trên

địa bàn, Chi cục Thuế có 50 cán bộ được tổ chức thành 09 đội thu thuế liên

phường, đảm nhiệm việc thu thuế tại các hộ kinh doanh cá thể.

Công tác tổ chức con người và tổ chức công việc trong công tác quản lý

51 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế ở Chi cục Thuế quận Đống Đa.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

* Tổ chức con người: Trong tổ chức bộ máy quản lý thuế GTGT, các Đội quản lý theo loại hình giữ vai trò trung tâm và thực hiện hầu hết các chức năng quản lý của các lĩnh vực (như lập kế hoạch thu, hỗ trợ NNT, đôn đốc, cưỡng

Lãnh đạo Chi cục Thuế (Chi cục Trưởng và các Phó Chi cục trưởng)

Các Đội thuế chức năng

Các Đội không trực tiếp

Các Đội quản lý doanh nghiệp

Các Đội quản lý thuế liên phường

Người nộp thuế (Doanh nghiệp và hộ KD cá thể...)

chế, kiểm tra…).

Sơ đồ 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy các Đội thuế tại Chi cục Thuế

Đội trưởng

Đội phó

Đội phó

Cán bộ

Cán bộ

Cán bộ

Cán bộ

Các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể - Cán bộ quản lý các doanh nghiệp thuộc loại hình Công ty cổ phần - Cán bộ quản lý các doanh nghiệp thuộc loại hình Công ty TNHH - Cán bộ quản lý các doanh nghiệp thuộc loại hình DNTN, Hợp tác xã - Cán bộ quản lý các hộ kinh doanh cá thể theo địa bàn phường.

Phân công quản lý thuế theo khối (nhân sự Đội quản lý)

52 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Sơ đồ 2.2. Mô hình phân công quản lý theo khối

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

+ Phân công quản lý thuế theo chức năng

Theo mô hình phân công này, việc phân công các đội phó quản lý theo

chức năng cũng gần giống với việc tách 3 bộ phận trong mỗi đội. Việc huy động

cán bộ cho từng chức năng thì tương đối linh hoạt (có phân công cố định kết hợp

Đội trưởng

Đội phó phụ trách kiểm tra

Đội phó phụ trách kế hoạch

với điều chuyển đột xuất tuỳ tình hình cụ thể).

Đội phó phụ trách xử lý tờ khai

Các cán bộ, công chức thuế trong Đội

Người nộp thuế

Sơ đồ 2.3. Mô hình phân công theo chức năng

Trong cả hai mô hình nêu trên, thì mỗi cán bộ thuế đều “chuyên quản”

một số người nộp thuế nhất định.

53 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Mô hình chung quản lý thuế các doanh nghiệp, hộ kinh doanh

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Lãnh đạo Chi cục Thuế

Đội Hành chính Nhân sự Tài vụ

Đội Tuyên truyền hỗ trợ NNTvà ấn chỉ

Đội Kiểm tra, Đội thuế liên phường

Đội Kê khai kế toán thuế tin học và Đội THNV dự toán

Người nộp thuế

Sơ đồ 2.4. Mô hình quản lý thuế đối với doanh nghiệp

* Tổ chức công việc

Tổ chức công việc quản lý thuế GTGT tại Chi cục Thuế quận Đống Đa

bao gồm: xây dựng và hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ thuế trên cơ sở các

quy định của Tổng cục Thuế đã được ban hành thống nhất trong toàn ngành phù

hợp với điều kiện của Quận Đống Đa và nhiệm vụ thu thuế hàng năm được giao.

Việc phân công quản lý thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa được

thực hiện trên cơ sở phân loại loại hình người nộp thuế. Bao gồm: Công ty cổ

phần, Công ty TNHH, DNTN, Hợp tác xã, Hộ khấu trừ...

Về cơ bản, việc quản lý thuế đối với mỗi loại hình được giao cho một đội

thuộc khối văn phòng Chi cục Thuế (các Đội thuế phường chỉ quản lý thu thuế

hộ kinh doanh cá thể). Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế nói chung

và quản lý thu thuế GTGT nói riêng đối với từng thành phần kinh tế, Tổng cục

54 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Thuế đã ban hành nhiều quyết định về quy trình quản lý thuế áp dụng trong cả

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nước bao gồm các quy trình về kê khai thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế, kiểm

tra thuế, thu nợ thuế...

2.2. Phân tích tình hình thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống

Đa

2.2.1. Đánh giá khái quát công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế

quận Đống Đa.

Cùng với tăng trưởng kinh tế, số người nộp thuế trên địa bàn Quận cũng

phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc

doanh. Nhưng do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu từ giữa năm 2011 đến

nay, số NNT cũng bị ảnh hưởng và biến động nhưng không đáng kể. Cụ thể:

Bảng 2.1. Số lượng DN trên địa bàn Quận Đống Đa qua các năm

Số phát sinh Tỷ lệ tăng Năm Số lượng DN so với cùng kỳ so với cùng kỳ

2009 11.074

2010 14.814 3.740 1,33 lần

2011 17.222 2.408 1,16 lần

2012 19.725 2.503 1,14 lần

Mặc dù số NNT có biến động nhưng số thu ngân sách trên địa bàn Quận

cũng tăng trưởng đều, số thu năm sau cao hơn năm trước. Năm 2010 tổng số thu

ngân sách trên địa bàn Quận là 1.768 tỷ 747 triệu đồng, so với dự toán năm 2010

đạt 172,9% dự toán pháp lệnh (1.022 tỷ 710 triệu đồng), đạt 167,6% dự toán

phấn đấu (1.055 tỷ 088 triệu đồng), so với cùng kỳ năm 2009 đạt 179,2%; Năm

2011 tổng số thu ngân sách trên địa bàn Quận là 1.860 tỷ 282 triệu đồng, so với

dự toán năm 2011 đạt 117,9% dự toán pháp lệnh (1.583 tỷ 640 triệu đồng), đạt

55 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

108% dự toán phấn đấu (1.728 tỷ 2 triệu đồng), so với cùng kỳ năm 2010 đạt

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

105%. Năm 2012 tổng số thu ngân sách trên địa bàn Quận là 1.617 tỷ 968 triệu

đồng, so với dự toán năm 2012 đạt 76% dự toán pháp lệnh (2.126 tỷ 090 triệu

đồng), đạt 68% dự toán phấn đấu (2.366 tỷ 834 triệu đồng), so với cùng kỳ năm

2011 đạt 85%.

Qua số liệu trên cho thấy từ giữa năm 2011 do ảnh hưởng suy giảm kinh

tế nên nhiều DN thua lỗ, không phát sinh doanh thu, thuế ghi thu giảm đáng kể.

Số lượng DN có số thuế GTGT phát sinh dương hàng tháng thấp. Đồng thời các

DN được miễn giảm và được gia hạn nộp thuế TNDN theo quyết định

21/2011/QĐ-TTg ngày 6/4/2011 của Chính phủ. Chính sách ưu đãi thuế TNDN,

GTGT, TNCN theo Nghị quyết số 08/2011/QH13 ngày 6/8/2011 của Quốc hội

về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN

và cá nhân.

Cơ cấu các doanh nghiệp đóng trên địa bàn Quận phân chia theo loại hình

doanh nghiệp như sau:

Bảng 2.2. Số lượng DN phân chia theo loại hình doanh nghiệp năm 2012

Công ty Công ty cổ Doanh nghiệp Hợp tác xã Tổng

TNHH phần tư nhân

10.780 8.482 414 49 19.725

2.2.2. Kết quả thực hiện thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống

Đa

Giai đoạn năm 2009 đến 2012, Chi cục Thuế Quận Đống Đa liên tục hoàn

thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách và đạt được tốc độ tăng thu năm sau

cao hơn so với năm trước. Tuy nhiên, từ giữa năm 2011 do ảnh hưởng suy giảm

kinh tế nên nhiều DN thua lỗ, không phát sinh doanh thu, thuế ghi thu giảm

đáng kể. Kết quả thu thuế trên địa bàn Quận Đống Đa trong các năm 2010,

56 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

2011, 2012 và dự kiến 2013 thể hiện ở biểu dưới đây:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Bảng 2.3. Số thu thuế GTGT hàng năm và tỷ trọng thuế GTGT trên tổng số thu ngân sách

Đơn vị tính: triệu đồng

Năm tài chính Tổng số thu ngân sách Số thuế GTGT Tỷ trọng thuế GTGT/tổng thu (%) Tỷ trọng thuế GTGT so với năm trước (%)

2010 1.768.747 547.731 30,97%

2011 1.860.282 563.821 30,31% 102%

2012 1.617.968 606.507 37,49% 108%

2.303.740 756.810 32,85% 125% Dự kiến 2013

Trên địa bàn Quận Đống Đa có các khoản thu thường xuyên là: Thuế

GTGT; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân; Lệ phí trước bạ;

Thuế tiêu thu đặc biệt; Thuế môn bài; Thuế nhà đất; Tiền thuê đất; Tiền sử dụng

đất; Thuế CQ sử dụng đất; Phí, lệ phí. Trong đó thuế GTGT luôn là khoản thu

chiếm tỉ trọng lớn trong các khoản thu, thuế GTGT chiếm khoảng 30% - 37%

tổng số thu trên địa bàn. Số liệu bảng thống kê trên đây cho thấy, thuế GTGT

luôn là khoản thu lớn nhất trong các khoản thu trên địa bàn quận Đống Đa (sau

thuế TNDN). Về chỉ tiêu chất lượng số thuế GTGT năm sau cao hơn năm trước.

Bảng 2.4 Kết quả thu thuế năm 2012 tại Chi cục thuế

Đơn vị tính: triệu đồng

Chỉ tiêu Số TT Kế hoạch pháp lệnh Thực hiện 2012 TH so với KH (%)

1.617.968 76% I Tổng thu 2.126.090

1 Thuế Ngoài quốc doanh 854.658 71% 1.203.744

2 Thuế Thu nhập cá nhân 197.843 89% 222.296

3 11.281 90% Phí, lệ phí 12.534

4 56.473 94% Tiền sử dụng đất 60.078

57 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

5 186.273 209% Tiền Thuê đất 89.126

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

6 1.678 18.290 109% Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

7 Lệ phí trước bạ 285.182 54% 528.115

8 Thuế CQSD đất 465 81% 574.07

9 Thu khác ngân sách 6.188 120% 5,156.67

10 Phí xăng dầu/thuế bảo vệ 1.301 85% 1,530.59 môi trường

Đánh giá về chỉ tiêu kết quả thu thuế năm 2012: Qua bảng trên cho thấy

về tổng thể Chi cục Thuế Quận Đống Đa chưa hoàn thành dự toán thu thuế năm

2012, chỉ có 3/10 khoản thu, sắc thuế hoàn thành vượt mức dự toán. Nguồn thu

từ các doanh nghiệp NQD vẫn giữ vai trò chủ đạo trong thu ngân sách của Quận.

Mặc dù tình hình kinh tế năm 2012 có nhiều biến động khó khăn ảnh hưởng lớn

đến tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế, đặc biệt là nhiệm vụ thu ngân sách

nhà nước nhưng số thu cả năm do Chi cục quản lý vẫn cao hơn so với mức bình

quân chung của khối các Chi cục trong toàn thành phố là 5% trong đó có những

khoản thu vượt dự toán như thuế Môn bài, thuế Tiêu thụ đặc biệt, thu khác

NQD, thuế SD đất PNN, thu tiền thuê đất, thuế NQD tăng 3% so cùng kỳ năm

trước. Kết thúc năm 2012, Cục thuế TP Hà Nội đánh giá Chi cục thuế Đống Đa

hoàn thành trong nhóm số 1 của khối các Chi cục (có 3 đơn vị là Hoàn Kiếm,

Hai Bà Trưng và Đống Đa).

Đánh giá về chỉ tiêu hiệu quả công tác lập kế hoạch thấy rằng:

- Chất lượng lập kế hoạch cao (sai số +,- 5%) có 01/13 sắc thuế, khu vực

- Chất lượng lập kế hoạch trung bình (sai số +,- 5% đến 10%) có 01/13

sắc thuế khu vực

- Chất lượng lập kế hoạch chưa sát (sai số +,->10%) có 08/13 sắc thuế,

58 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

khu vực

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Về tổng thể công tác lập kế hoạch ở mức chất lượng trung bình (sai số

9%). Tuy nhiên để đánh giá chính xác và khách quan công tác này thì còn căn

cứ vào một số nguyên nhân chủ quan và khách quan khác.

Tổng kết công tác thu thuế tại các đội thuế có 11/14 đơn vị thu hoàn thành

vượt mức dự toán thu ngân sách được giao trong đó có 3/14 đơn vị hoàn thành

thu vượt dự toán trên 10%. Số đội thuế không hoàn thành kế hoạch thu ngân

sách là 3/14 đơn vị nên số thu nhỏ không ảnh hưởng nhiều tới kế hoạch thu toàn

Chi cục Thuế.

Về chỉ tiêu chất lượng xây và giao kế hoạch thu thuế cho các đội thuế có

3/14 đơn vị đạt mức trung bình, 3/14 đơn vị chưa sát, 8/14 đơn vị đạt mức cao.

Việc xây dựng và giao kế hoạch thu thuế như vậy tương đối phù hợp.

Kết quả thu theo Đội thuế tại chi cục được thể hiện qua bảng sau

Bảng 2.5. Kết quả thu thuế năm 2012 tại các Đội thuế

Đơn vị tính: triệu đồng

Kế hoạch Thực hiện TH so với TT Chỉ tiêu pháp lệnh 2012 2012 KH (%)

Tổng số 1.457.590 1.223.368 84%

1 Các đội thuế liên phường 241.890 335.180 139%

2 Đội kiểm tra số 1 439.556 319.478 73%

3 Đội kiểm tra số 2 391.748 283.472 72%

4 Đội kiểm tra số 3 384.396 285.238 74%

59 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Nguồn: Chi cục Thuế quận Đống Đa.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

2.2.3. Phân tích tình hình thu thuế GTGT theo nội dung công việc ở

Chi cục Thuế quận Đống Đa.

2.2.3.1 Công tác lập kế hoạch

+ Trình tự xây dựng và giao kế hoạch năm như sau:

Sơ đồ 2.5. Công tác lập kế hoạch

Cục Thuế TP Hà Nội UBND Quận Đống Đa

Lãnh đạo Chi cục Thuế Quận Đống Đa

Đội Tổng hợp nghiệp vụ dự toán

60 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Các đội quản lý thuế

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Trình tự xây dựng và giao kế hoạch hàng năm đối với Chi cục Thuế quận

Đống Đa diễn ra lần lượt qua các khâu sau:

- Khoảng tháng 6 – 7 năm trước năm kế hoạch: Sở Tài chính – Cục Thuế

giao chỉ tiêu để kiểm tra.

- Trao đổi giữa Chi cục Thuế quận Đống Đa với Cục Thuế TP Hà Nội về

kế hoạch thu (qua 2 vòng làm việc).

- Bộ Tài chính – Tổng cục Thuế giao kế hoạch pháp lệnh cho từng Cục

Thuế địa phương.

- Cục Thuế TP Hà Nội xây dựng phương án kế hoạch cho từng khu vực

kinh tế và trình lên UBND TP Hà Nội, Tổng cục Thuế lập kế hoạch thu thuế đối

với các Chi cục Thuế thuộc tỉnh, thành phố.

- Căn cứ kết quả phê duyệt của Hội đồng nhân dân TP Hà Nội, UBND

Quận Đống Đa giao chính thức kế hoạch thu thuế trên địa bàn Quận Đống Đa

cho Chi cục Thuế Quận Đống Đa.

Trình tự xây dựng kế hoạch nêu trên áp dụng cho các khoản thu của Chi

cục Thuế Quận Đống Đa (có xây dựng chi tiết tới từng khoản mục). Kế hoạch

thu thuế GTGT là một phần trong kế hoạch năm tổng thể các khoản thu nêu trên.

+ Kế hoạch quý, tháng.

Căn cứ kế hoạch pháp lệnh được giao, Chi cục Thuế Quận Đống Đa

(Lãnh đạo Chi cục và Đội Tổng hợp NVDT) thực hiện việc phân bổ kế hoạch

thu cho từng Đội quản lý thuế có chi tiết tới từng khoản mục trên cơ sở cân đối

nguồn, khả năng thu.

Thực tế công tác xây dựng kế hoạch thu thuế năm 2013 tại Chi cục Thuế

Quận Đống Đa dựa trên cơ sở:

- Kết quả thực hiện năm 2012

61 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Tăng trưởng về thuế so với năm 2012

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Dự báo về phát triển kinh tế xã hội Quận và cả nước như số lượng doanh

nghiệp, cơ sở hạ tầng, đầu tư nước ngoài…

- Chỉ tiêu phấn đấu (thường tăng 5% so với kế hoạch)

Bảng 2.6: Giao kế hoạch thu thuế

Đơn vị tính: triệu đồng

Chỉ tiêu Kế hoạch pháp lệnh Thực hiện 2012 TH so với KH (%) Số TT

1.617.968 76% I Tổng thu 2.126.090

1 Thuế Ngoài quốc doanh 854.658 71% 1.203.744

2 Thuế Thu nhập cá nhân 197.843 89% 222.296

3 Phí, lệ phí 11.281 90% 12.534

4 Tiền sử dụng đất 56.473 94% 60.078

5 Tiền Thuê đất 186.273 209% 89.126

6 1.678 18.290 109% Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

7 Lệ phí trước bạ 285.182 54% 528.115

8 Thuế CQSD đất 465 81% 574.07

9 Thu khác ngân sách 6.188 120% 5,156.67

10 Phí xăng dầu/thuế bảo vệ 1.301 85% 1,530.59 môi trường

Dưới đây là bảng tham khảo về kết quả thực hiện kế hoạch thu thuế từ

năm 2010 đến 2012:

Bảng 2.7: Kết quả thực hiện kế hoạch thu thuế từ năm 2010 đến 2012

Đơn vị tính: triệu đồng

Năm tài chính Kế hoạch Thực hiện TH/KH (%)

2010 1.022.710 172,9% 1.768.747

2011 1.583.640 117% 1.860.282

62 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

2012 2.126.090 76% 1.617.968

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Qua bảng thống kê trên thấy rằng Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã phấn

đấu hoàn thành tốt chỉ tiêu kết quả công tác quản lý thu thuế và chỉ tiêu hiệu quả

trong việc xây dựng kế hoạch thu qua các năm từ 2010 đến năm 2011. Tuy

nhiên từ giữa năm 2011 do suy giảm kinh tế nên nhiều DN thua lỗ, không phát

sinh doanh thu, số lượng DN có số thuế GTGT phát sinh dương hàng tháng thấp

và đặc biệt là sự giảm sút khá mạnh của hoạt động chuyển nhượng bất động

sản. Bên cạnh ảnh hưởng tác động của yếu tố kinh tế, những chính sách hỗ trợ

cho doanh nghiệp của Chính phủ thông qua việc giải quyết miễn, giảm, gia

hạn nộp thuế đã ảnh hưởng lớn đến tình hình thực hiện dự toán thu NSNN

trên địa bàn Quận trong năm 2012 theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày

10/5/2012 của Chính phủ.

2.2.3.2 Công tác đăng kí thuế, kê khai thuế, quyết toán thuế, thu nợ

cưỡng chế và hỗ trợ NNT

a. Đăng kí thuế:

Việc nhận diện, xác định đối tượng nộp thuế của cơ quan thuế hiện nay

được thực hiện thông qua mã số thuế (mã số thuế được cấp cho người nộp thuế

sử dụng trong suốt quá trình tồn tại, từ khi thành lập cho đến khi chấm dứt hoạt

động).

- Đăng kí cấp mã số thuế (MST): Bộ phận một cửa liên thông Sở Kế

hoạch đầu tư nhận hồ sơ đăng kí mã số thuế của doanh nghiệp và lập phiếu hẹn

ngày trả kết quả (chậm nhất không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ

đúng qui định). Sau đó nhập thông tin vào chương trình đăng kí tờ khai thuế trên

máy tính đồng thời chuyển dữ liệu cho Phòng Kê khai Cục Thuế TP Hà Nội để

kiểm tra tính duy nhất và hợp lệ của mã số thuế. Nếu kết quả được chấp nhận thì

in giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh trên đó số giấy chứng nhận ĐKKD đồng

thời là mã số doanh nghiệp, nếu không sẽ có thông báo cho doanh nghiệp biết lí

63 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

do không được cấp ĐKKD, mã số doanh nghiệp.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Đóng MST:

+ Đối với doanh nghiệp gửi hồ sơ đề nghị đóng MST: Hồ sơ đóng MST

hợp lệ gồm công văn đề nghị; Quyết toán hóa đơn; Quyết toán thuế. Đội Kê khai

- kế toán thuế và tin học sẽ nhập vào máy tính và đóng MST khi doanh nghiệp

đã thanh toán hết số thuế phải nộp và thanh toán hết hóa đơn. Sau khi đóng MST

Đội Kê khai - kế toán thuế và tin học sẽ thông báo cho doanh nghiệp đồng thời

thông báo công khai danh sách các doanh nghiệp đã đóng MST.

+ Đối với doanh nghiệp không tồn tại: sau 3 lần gửi thông báo đôn đốc kê

khai nộp thuế tới doanh nghiệp (khoảng cách giữa mỗi lần thông báo là 10 ngày)

nếu không có hồi âm cơ quan thuế sẽ phối hợp với chính quyền địa phương nơi

đơn vị đăng ký trụ sở lập biên bản xác minh việc không tồn tại của doanh

nghiệp. Đội kiểm tra trình công văn thông báo doanh nghiệp không tồn tại tại

địa điểm ĐKKD kèm theo các hóa đơn không còn giá trị sử dụng do Đội TTHT

và ấn chỉ (Bộ phận QLAC) cung cấp, chuyển toàn bộ hồ sơ sang Đội Kê khai -

kế toán thuế và tin học nhập thông tin vào máy tính và đóng MST.

- Đánh giá thực tế công tác cấp và đóng MST: Công tác đăng kí cấp MST

cho các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa được thực hiện từ năm

1999. Các trường hợp thành lập hoặc bổ sung thông tin doanh nghiệp được thực

hiện kịp thời đúng qui định.

- Để tăng cường công tác quản lý mã số thuế, Chi cục Thuế Quận Đống

Đa thực hiện theo Quyết định số 443/QĐ-TCT ngày 29/4/2009 của Tổng cục

Thuế V/v ban hành Qui trình quản lý đăng ký thuế.

Cấp mã số thuế cho NNT là một biện pháp quan trọng để theo dõi và quản

lý NNT. Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan cấp

64 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

ĐKKD (Sở KHĐT TP Hà Nội) để kịp thời cấp MST cho đối tượng kinh doanh.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Tình hình cấp và đóng MST cho NNT tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa qua các

năm:

Bảng 2.8: Cấp và đóng MST cho NNT

Thời điểm Cấp MST Tổng số NNT (gồm cả hộ kinh doanh) Đóng MST, đang giải thể, bỏ trốn

31/12/2010 36.754 6.419 7.459

31/12/2011 40.171 5.825 8.091

31/12/2012 44.669 5.001 9.507

Qua bảng số liệu trên cho thấy số NNT hàng năm có phát sinh với số

lượng lớn nhưng số NNT ở trạng thái ngừng kinh doanh, đóng MST, giải thể, bỏ

trốn… hàng năm tăng lên do sự suy giảm kinh tế toàn cầu. Do sự biến đổi về

NNT nên hàng năm gây ảnh hưởng lớn tới công tác quản lý một phần do cơ chế

quản lý chưa thay đổi kịp và đội ngũ cán bộ ít biến động cả về số lượng và chất

lượng.

b. Xử lí hồ sơ khai thuế và quyết toán thuế:

- Bộ phận một cửa (Đội TTHT và ấn chỉ) nhận hồ sơ khai thuế của NNT

đồng thời quét dữ liệu vào chương trình phần mềm quản lý thuế (QLT), sau đó

chuyển hồ sơ khai thuế cho Đội Kê khai - kế toán thuế và tin học. Trường hợp

có sai sót trong kê khai, Chi cục Thuế sẽ in thông báo gửi doanh nghiệp để

doanh nghiệp điều chỉnh.

- Bộ phận một cửa nhận hồ sơ Quyết toán thuế của NNT đồng thời quét

dữ liệu vào chương trình phần mềm quản lý thuế, sau đó chuyển tờ khai cho Đội

Kê khai - kế toán thuế và tin học. Chương trình phần mềm quản lý thuế sẽ hỗ trợ

kiểm tra các chỉ tiêu kê khai để phát hiện lỗi tính toán nếu có sẽ in thông báo gửi

65 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

doanh nghiệp yêu cầu điều chỉnh.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Quá trình nhận, xử lí hồ sơ khai thuế và quyết toán thuế Chi cục Thuế

Quận Đống Đa thực hiện theo Quyết định số 1864/QĐ-TCT ngày 21/12/2011

của Tổng Cục Thuế về việc ban hành Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và

kế toán thuế.

- Đội kiểm tra có trách nhiệm đối chiếu, phân tích số liệu trên báo cáo

quyết toán thuế và ghi phiếu nhận xét đánh giá với các mức độ: Doanh nghiệp

chưa có dấu hiệu vi phạm; Doanh nghiệp thể hiện một số chỉ tiêu chưa rõ ràng,

chưa đúng qui định; Doanh nghiệp có biểu hiện khai man trốn thuế cần kiểm tra

ngay. Công việc này được thực hiện theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày

29/5/2008 của Tổng Cục Thuế về việc ban hành quy trình kiểm tra thuế.

- Căn cứ vào phân tích đánh giá quyết toán Đội kiểm tra đôn đốc doanh

nghiệp sửa chữa lỗi báo cáo, nộp thuế còn nợ đọng, đưa vào danh sách kiểm tra

bổ sung (đối với các doanh nghiệp chưa có trong kế hoạch kiểm tra) theo đúng

qui định kiểm tra.

- Đánh giá chung:

+ Việc kê khai của các DN về cơ bản đã đi vào ổn định.Việc chấp hành

thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của các DN tương đối tốt do tờ khai GTGT hàng

tháng qui định chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát

sinh nghĩa vụ thuế theo qui định tại điều 32 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11.

+ Các DN về cơ bản là nộp tiền thuế theo thời hạn nộp tờ khai theo qui

định tại điều 42 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11. Chương trình quản lý thuế

trên máy tính của Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã thực hiện tính phạt chậm nộp

tiền thuế GTGT. Số tiền chậm nộp được tính là 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền

thuế chậm nộp (Tính cả ngày lễ, ngày nghỉ) theo qui định tại điều 12 Nghị định

66 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

+ Việc kiểm tra quyết toán thuế bước 1 (kiểm tra tại trụ sở cơ quan quản

lý thuế) được thực hiện đúng qui định. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của giai đoạn

kiểm tra này còn hạn chế do cán bộ quản lý DN phải làm nhiều loại báo cáo.

+ Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã thực hiện đầy đủ các bước theo Quyết

định số 1864/QĐ-TCT ngày 21/12/2011 của Tổng Cục Thuế về việc ban hành

Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế. Đồng thời Chi cục đang

tiến hành quản lý đăng ký sử dụng và khai thuế điện tử qua mạng (iHTKK) theo

Quyết định số 3645/QĐ-TCT ngày 13/10/2011 của Tổng Cục Thuế.

c. Quản lý thu nợ thuế:

Để tăng cường công tác quản lý về nợ đọng thuế và cưỡng chế thuế Chi

cục Thuế Quận Đống Đa thực hiện theo Quyết định số 1395/QĐ-TCT ngày

14/10/2011 của Tổng cục Thuế Về việc ban hành Quy trình quản lý nợ thuế.

* Mục đích:

- Đảm bảo thi hành tốt các luật thuế.

- Nâng cao năng lực quản lý có hiệu quả của CQ thuế theo pháp luật thuế.

- Qui định những bước công việc, thời gian thực hiện và mối quan hệ giữa

các bộ phận tại cơ quan thuế theo pháp luật thuế.

- Nâng cao tính tuân thủ của các tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc thực

hiện pháp luật thuế.

* Nội dung:

- Trong vòng 10 ngày đầu tháng Đội Quản lý nợ và cuỡng chế nợ thuế lập

danh sách các doanh nghiệp còn nợ thuế, phân tích tình trạng nợ của từng doanh

nghiệp và in thông báo phạt nộp chậm tiền thuế gửi doanh nghiệp.

- Thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ theo qui định đồng thời công

67 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

khai danh sách doanh nghiệp cố tình chây ỳ nợ thuế, lập danh sách hồ sơ chuyển

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Đội kiểm tra thực hiện biện pháp cưỡng chế về thuế hoặc chuyển hồ sơ gửi cơ

quan chức năng có thẩm quyền xử lý theo pháp luật.

* Đánh giá chung: Bên cạnh những DN tự giác cao trong chấp hành luật

thuế thì cũng còn có không ít DN khác chây ỳ trong thu nộp ngân sách. Chi cục

Thuế Quận Đống Đa áp dụng các biện pháp như viết lệnh thu gửi tới ngân hàng,

tạm giữ hàng hóa, đình chỉ sử dụng hoá đơn… đối với DN nợ đọng thuế. Thực

tế về cơ bản ngành thuế áp dụng cưỡng chế ở biện pháp lệnh thu gửi tới ngân

hàng. Tuy nhiên, hiệu lực thực tế của biện pháp này có lúc, có nơi còn hạn chế

bởi các DN đăng ký mở tài khoản tại nhiều ngân hàng nhưng không kê khai

trong đăng ký thuế.

Hiện tại có một số DN có nợ đọng do nhiều nguyên nhân, không đủ điều

kiện giải quyết khoanh nợ xóa nợ theo chính sách hiện hành, nhưng cũng không

có khả năng nộp. Việc phạt chậm nộp thuế GTGT đối với các doanh nghiệp đã

được triển khai. Số nợ thuế GTGT do máy tính theo dõi đối với không ít DN

hiện nay còn có nhầm lẫn chưa chính xác (vì lý do bù trừ giữa các loại thuế).

Chi cục đã áp dụng nhiều biện pháp tăng cường công tác quản lý nợ

nhằm giảm thiểu số nợ. Thực hiện phân loại nợ hộ doanh nghiệp, phân

công thu nợ đối với hộ kinh doanh, chuyển các đội thuế phường thực hiện

phân loại nợ hộ cá thể để phát hành thông báo, kết xuất báo cáo. Trong

năm 2012 đã ban hành 9.013 thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp

cưỡng chế nợ thuế mẫu 09/QLN. Thành lập các đoàn liên ngành đôn đốc

nợ thuế thực hiện theo Quyết định số 5666/QĐ-UBND ngày 2/11/2012

của UBND quận Đống Đa về việc thành lập Ban chỉ đạo và Tổ công tác

đôn đốc thu nộp Ngân sách Nhà nước năm 2012. Đến 31/12/2012 tình hình

nợ đọng thuế luỹ kế được xác định là 750 tỷ 263 triệu đồng, chiếm 46,37% trong

tổng số nộp ngân sách năm 2012. Trong đó nợ đọng thuế GTGT luỹ kế năm

68 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

2012 là 276 tỷ 725 triệu đồng.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Kết quả thu nợ trong năm 2012 được 122 tỷ 443 triệu đồng đạt 33,1%

dự toán thu nợ (369 tỷ 918 triệu đồng). Trong đó thu nợ thuế GTGT là 34 tỷ

284 triệu đồng, chiếm 28% kết quả thu nợ năm 2012.

d. Công tác Tuyên truyền hỗ trợ NNT.

Đội Tuyên truyền hỗ trợ NNT và ấn chỉ của Chi cục Thuế Quận Đống Đa

được thành lập theo Quyết định số 504/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục

Thuế nhằm thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế; hỗ trợ

NNT và đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ và tạo thuận lợi cho NNT, góp

phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng thu cho ngân sách nhà nước. Công tác

hỗ trợ đang được Chi cục Thuế Quận Đống Đa triển khai chủ yếu là:

- Duy trì tổ chức hội nghị đối thoại với các tổ chức, cá nhân nộp thuế để

giải đáp vướng mắc, lắng nghe ý kiến phản ánh của người nộp thuế về chính

sách chế độ thuế, thủ tục hành chính thuế, thực thi công vụ của công chức thuế

- Tổ chức các cuộc tập huấn về chính sách chế độ thuế cho các DN

- Phối hợp với đài phát thanh, truyền hình thực hiện tuyên truyền về thuế

- Hỗ trợ NNT bằng điện thoại, bằng văn bản, trực tiếp tại cơ quan thuế…

Trong năm 2012 Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã Phối hợp các đội kiểm

tra thuế và các bộ phận liên quan triển khai các biện pháp nhận hồ sơ tại bộ phận

“một cửa”, hạn chế được ùn tắc trong những ngày cao điểm. Tăng cường công

tác tuyên truyền, hướng dẫn doanh nghiệp, đôn đốc doanh nghiệp nộp tờ khai.

Treo 60 băng rôn tuyên truyền 2 luật thuế mới: Thuế bảo vệ môi trường và Thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp trên các tuyến phố chính thuộc địa bàn quận. Phối

hợp cùng 21 phường trên địa bàn quận để phát thanh qua hệ thống loa phường

tuyên truyền Luật thuế tổ chức 3 lớp tập huấn về kê khai thuế qua mạng Internet

cho 1.800 doanh nghiệp và 9 lớp hướng dẫn chính sách thuế mới cho 8.090

69 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

doanh nghiệp. Tổ chức buổi đối thoại cho 120 doanh nghiệp trên địa bàn Quận.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Tổ chức hội nghị biểu dương 101 doanh nghiệp và 02 hộ cá thể tiêu biểu thực

hiện tốt chính sách thuế năm 2011. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, hỗ trợ qua

đường dây nóng và cổng giao tiếp điện tử tại địa chỉ www.dongda.hanoi.gov.vn

2.2.3.3 Công tác xử lý hoàn thuế

- Bộ phận một cửa (Đội Tuyên truyền) nhận hồ sơ hoàn thuế của người

nộp thuế sau đó chuyển hồ sơ cho Đội Kê khai ngay trong ngày. Trường hợp có

sai sót trong kê khai, Chi cục Thuế sẽ in thông báo gửi doanh nghiệp để doanh

nghiệp điều chỉnh. Đội Kê khai xác định số thuế được hoàn, lập phiếu nhận xét

hồ sơ hoàn thuế và phiếu kết quả hoàn thuế, dự thảo tờ trình, quyết định hoàn

thuế trình lãnh đạo kí duyệt, thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ.

- Đối với doanh nghiệp cần kiển tra trước khi hoàn thuế (Doanh nghiệp

mới thành lập, doanh nghiệp đã có hành vi gian lận về thuế, doanh nghiệp có

xuất khẩu hàng hóa theo đường biên giới đất liền…) thì ra quyết định kiểm tra

trực tiếp tại doanh nghiệp. Căn cứ kết quả kiểm tra sẽ hoàn thuế cho doanh

nghiệp, thời gian không quá 60 ngày.

Hiện nay công tác hoàn thuế tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa được thực

hiện theo Quyết định số 905/QĐ-TCT ngày 01/7/2011 của Tổng cục Thuế về

việc ban hành Quy trình hoàn thuế.

Bảng 2.9: Kết quả kiểm tra hoàn thuế và số thuế thu hồi

Đơn vị tính: triệu đồng

Năm tài chính Số doanh nghiệp kiểm tra Số tiền hoàn thuế bị thu hồi

2010 43 5.647

2011 65 8.688

70 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

2012 71 6.229

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Qua số liệu trên cho thấy, số tiền thuế GTGT đã bị các doanh nghiệp đề

nghị hoàn không đúng qui định của luật pháp và các doanh nghiệp lừa đảo

chiếm đoạt từ ngân sách là không nhỏ. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền từ ngân

sách nhà nước không những gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước mà

còn gây bức xúc trong dân chúng, đặc biệt gây bất bình trong khối doanh

nghiệp.

Các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT chủ yếu xảy ra vào

các năm 2006, 2007 và năm 2008.

2.2.3.4. Công tác kiểm tra thuế

a. Quản lý lĩnh vực kiểm tra nội bộ

Công tác kiểm tra nội bộ áp dụng đối với các Đội quản lý thu tập trung

vào các nội dung sau:

- Việc theo dõi tình hình biến động về đối tượng nộp thuế, số ĐTNT phát

sinh, phá sản, giải thể, sáp nhập, liên doanh, liên kết; việc tham gia lập dự toán

thu, khai thác nguồn thu.

- Việc hướng dẫn ĐTNT về thủ tục kê khai đăng ký thuế, kê khai nộp

thuế, lập hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán thuế; Việc giải

đáp thắc mắc của ĐTNT liên quan đến việc tính thuế, thu nộp tiền thuế; Việc lập

và lưu trữ hồ sơ các ĐTNT.

- Việc kiểm tra các tờ khai tính thuế và thông báo đối tượng nộp thuế để

chỉnh sửa về các chỉ tiêu kê khai trên các tờ khai đăng ký kinh doanh, kê khai

nộp thuế, hồ sơ đề nghị miễn, giảm, hoàn, quyết toán thuế và lập các thủ tục

xem xét theo quy định.

- Việc kiểm tra các báo cáo quyết toán thuế hàng năm của ĐTNT nếu có

dấu hiệu nghi ngờ trên quyết toán thì bộ phận quản lý trực tiếp lập kế hoach

71 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

kiểm tra. Kiểm tra việc ấn định thuế cho các đối tượng có vi phạm như không

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nộp hoặc nộp chậm tờ khai thuế...về sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ mua bán

của các đối tượng có hiện tượng khai man trốn thuế, nợ đọng tiền thuế.

Từ khi thực hiện các luật thuế mới (GTGT, TNDN) đến nay, Chi cục

Thuế Quận Đống Đa công tác kiểm tra nội bộ tập trung chủ yếu vào khối ngoài

quốc doanh kết quả một vài năm:

- Năm 2009-2010: Tập trung kiểm tra nội bộ tại các Đội Thuế theo Quyết

định số 118/QĐ-TCT ngày 26/01/2011 của Tổng Cục Thuế về việc ban hành

Quy trình thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế và thực hiện quy trình quản

lý hộ kinh doanh cá thể theo qui định tại Quyết định số 1201QĐ/TCT-

TCCB ngày 26/01/2004 của Tổng cục Thuế về việc ban hành qui trình

quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể và Công văn số 891/CT-

THNVDT ngày 15/01/2010 của Cục Thuế Hà Nội về việc chấn chỉnh công

tác thu thuế khu vực cá thể; Quy trình kê khai thuế theo qui định tại Quyết

định số 422/QĐ-TCT ngày 22/4/2008 của Tổng Cục Thuế.

- Năm 2011-2012: Kiểm tra nội bộ về việc thực hiện quy trình quản lý

thuế hiện hành:

+ Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo qui định tại Quyết định số

2568/QĐ-TCT ngày 22/12/2010 của Tổng cục Thuế về việc ban hành qui trình

Tiếp công dân, nhận và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại cơ

quan thuế các cấp.

+ Xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ và thanh tra ĐTNT theo thông báo

giao nhiệm vụ của Tổng cục Thuế.

+ Xây dựng kế hoạch phòng chống tham nhũng và kiểm tra việc chấp

hành kỷ luật lao động, công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT...

Qua công tác kiểm tra nội bộ ngành thuế đã chấn chỉnh kịp thời các sai sót

72 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

khiếm khuyết trong quản lý đối tượng nộp thuế cũng như công tác quản lý cán

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

bộ. Những cán bộ vi phạm kỷ luật cũng đã bị xử lý nghiêm khắc. Việc xử lý cán

bộ vi phạm căn cứ vào các hành vi vi phạm xét theo văn bản nhà nước như Luật

cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008

và 10 điều kỷ luật của cán bộ thuế...

Bảng 2.10: Số cán bộ vi phạm qua các năm

Công tác xử lý cán bộ

Hình thức xử lý cán bộ Tổng số Năm cán bộ

bị xử lý Phê bình Khiển trách Cảnh cáo Cách chức Buộc thôi việc Hạ ngạch công chức

2010 7 5 - 1 - - 1

2011 4 3 - 1 - - -

2012 1 1 - - - - -

Tổng số 12 9 - 2 - - 1

b. Quản lý lĩnh vực kiểm tra đối tượng nộp thuế GTGT

Hàng năm, sau khi có sự chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo Chi cục Thuế,

các đội chức năng triển khai phối hợp với đội kiểm tra thuế xây dựng kế hoạch

kiểm tra quyết toán thuế đối với các doanh nghiệp. Việc phối hợp này cố gắng

đảm bảo tránh sự chồng chéo trong công tác kiểm tra ĐTNT. Hiện nay công tác

kiểm tra tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa được thực hiện theo Quyết định số

528/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 của Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình

kiểm tra thuế. Mục đích kiểm tra:

73 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Chống thất thu ngân sách NN

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Tăng cường hiệu quả công tác quản lý thuế của ngành thuế, nâng cao

năng lực của cơ quan thuế trong việc ngăn chặn và xử lý kịp thời các doanh

nghiệp, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế.

- Tôn trọng và phát huy tính tự giác chấp hành và tự chịu trách nhiệm của

doanh nghiệp.

- Thực hiện cải cách và hiện đại hoá công tác thanh tra kiểm tra thuế, góp

phần tăng cường công tác quản lý cán bộ trong nội bộ ngành thuế.

Các biện pháp chống thất thu ngân sách trong quản lý thuế tại Chi cục

Thuế Quận Đống Đa được tập trung trước hết vào công tác kiểm tra quyết toán

thuế, kiểm tra hoàn thuế (nhất là các đơn vị trọng điểm) trên cơ sở kế hoạch

kiểm tra do lãnh đạo duyệt. Đây được coi là khâu quan trọng nhằm nâng cao

hiệu quả quản lý thuế tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa. Để việc quyết toán được

tốt thì các đội quản lý đã tích cực đôn đốc NNT nộp báo cáo quyết toán và kiểm

tra báo cáo quyết toán bước 1. Ngoài ra, việc kiểm tra NNT trên cơ sở các đơn

thư khiếu tố cũng như các dấu hiệu khác cũng góp phần tăng thu cho ngân sách

nhà nước và kịp thời chấn chỉnh các vi phạm về thuế của các ĐTNT.

Bảng 2.11: Kiểm tra quyết toán và số thuế truy thu

Đơn vị tính: triệu đồng

Năm

Số đối tượng kiểm tra Tổng số thuế truy thu tài chính Số thuế GTGT truy thu Tỷ lệ thuế GTGT/tổng số truy thu

2010 117 6.477 2.015 31%

2011 300 18.399 4.599 25%

2012 408 39.511 7.902 20%

Những số liệu ở bảng trên cho thấy hàng năm đã phát hiện, thu hồi hàng

74 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

tỷ đồng tiền thuế, trong đó số thuế GTGT chiếm tỷ trọng khá lớn. Số đối tượng

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

được kiểm tra và phải truy thu thuế nêu trên chỉ chiếm 20% tổng số doanh

nghiệp nên có thể nhận định rằng, số thuế mà thực tế doanh nghiệp đã thực hiện

trốn là không ít. Việc phát hiện và thu hồi được số thuế trốn lậu vào ngân sách là

phần nổi, còn thực tế số thuế các doanh nghiệp đã trốn được mà không bị phát

hiện thì không thể tổng kết được, song theo đánh giá sơ bộ trên cơ sở ước tính

thì số đó là không nhỏ.

Mặc dù Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã rất cố gắng nhưng số NNT hàng

năm được kiểm tra vẫn còn rất nhỏ, bằng khoảng 10% số đối tượng quản lý,

25% số doanh nghiệp do vậy còn tồn tại việc thất thu thuế và nợ đọng tiền thuế.

Đánh giá chung:

- Về cơ bản công tác kiểm tra ĐTNT là nhằm tăng thu để hoàn thành kế

hoạch thu được giao. Tỷ lệ doanh nghiệp được kiểm tra quyết toán thuế còn

thấp.

- Kiểm tra nhằm làm cho ĐTNT sẽ chấp hành pháp luật thuế một cách

nghiêm chỉnh hơn. Hầu như đơn vị nào được kiểm tra cũng phát hiện sai phạm ở

các mức độ khác nhau.

- Số truy thu, sai phạm bình quân về thuế ở các DN ngoài quốc doanh là

cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp Nhà nước. Có không ít DN qua kiểm tra

phải truy thu hàng trăm triệu đồng.

2.3. Phân tích tình hình thu thuế theo các yếu tố ảnh hưởng

2.3.1 Tình hình về nhân lực

* Số lượng và chất lượng công chức: Tổng số cán bộ toàn Chi cục Thuế

(Gồm khối văn phòng và các đội thu thuế) được phân loại theo chất lượng cán

75 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

bộ tại các bộ phân theo bảng:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Chia theo độ tuổi

Giới tính

Chia theo ngạch công chức

Bảng 2.12: Cơ cấu tổ chức tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa

Tổng

Chia theo trình độ lao động

Phân loại

số

lao động

S T T

Nam Nữ

Còn lại

Loại A

Loại B

Dưới 30

30- 50

Trên 50

131

CVC và TĐ 4

CV và TĐ 155

240

81

142

98

29

135

76

109

Tổng cộng

4

144

190

42

131

59

29

118

43

88

10 2

1 Văn phòng Chi cục Thuế

4

3

1

4

1

4

3

Lãnh đạo Chi cục

26

17

9

17

9

5

18

14

12

3

Đội TTHT&AC

29

20

9

20

9

11

16

10

19

2

Đội Kê khai - kế toán và tin học

21

13

13

10

12

8

8

6

5

9

Đội HC-NS-TV

12

1

9

2

10

2

7

9

3

5

Đội KT nội bộ

10

7

3

7

3

4

5

3

7

1

Đội THNVDT

10

9

1

9

1

3

5

4

6

2

Đội quản lý nợ và CCNT

12

7

5

7

5

6

7

5

6

Đội trước bạ và thu khác

22

22

16

6

19

7

15

3

Đội kiểm tra 1

21

21

16

5

18

9

12

3

Đội kiểm tra 2

23

23

17

6

18

9

14

5

50

11

11

17

29

39

39

33

21

Đội kiểm tra 3 2 Các Đội thuế liên phường

- Chất lượng công chức: Qua bảng trên cho thấy nhiệm vụ quản lý tại văn

phòng Chi cục chủ yếu đối với doanh nghiệp đòi hỏi cán bộ phải có trình độ

chuyên môn cao loại A (thạc sỹ, đại học), ít loại B (cao đẳng, trung cấp) còn tại

các đội thuế phường thì trình độ cán bộ còn hạn chế. Số cán bộ công chức ở độ

tuổi trên 50 chiếm đa số đảm bảo có kinh nghiệm thực tế nhưng sẽ kém năng

76 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

động do vậy xu hướng cần phải trẻ hoá cán bộ. Theo phân cấp quản lý, văn

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

phòng Chi cục Thuế Quận Đống Đa thực hiện theo dõi quản lý thu của các

doanh nghiệp, các Đội thuế phường thực hiện theo dõi quản lý thu thuế của các

hộ cá thể theo phương pháp trực tiếp trên GTGT. Số thu ngân sách được tập

trung phần lớn tại văn phòng Chi cục chiếm khoảng 75%, bình quân hàng năm

số đối tượng quản lý chiếm khoảng 60%, trong đó số cán bộ theo dõi quản lý thu

của các doanh nghiệp là chủ yếu. Tại các Đội thuế số thu ngân sách chiếm

khoảng 25%, số đối tượng quản lý chiếm 80% và số cán bộ chiếm 25%. Theo

đánh giá thì phân bổ công chức hiện tại là hợp lý, nhưng tương lai do cải cách

quy trình quản lý thì chất lượng sẽ không đảm bảo cần có kế hoạch đào tạo tiếp.

Để đáp ứng đòi hỏi tăng cường công tác quản lý, công tác cải cách của

ngành thuế thì việc tổ chức cán bộ phải luôn được chú trọng. Việc tăng cường

nhân lực cả về số lượng và chất lượng là vấn đề được coi là cấp bách. Tuy nhiên

nó lại phụ thuộc vào một số yếu tố như kinh phí, chỉ tiêu... Xem xét thực tế công

tác đào tạo tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa qua bảng thống kê dưới đây.

Năm

Chỉ tiêu đào tạo (người)

Kinh phí đào tạo (triệu đồng)

Tổng

Tổng

ĐH

ĐH

Nghi ệp vụ

QL NN

Tin học

Tin học

Nghiệ p vụ

QL NN

Sau ĐH

10

35

80

250

300

280

935

65

40

Sau ĐH 5

15

15

2011 về trước

1.000

1.000

20

40

145

20

25

40

200

200

2.460

60

Kế hoạch 2012

Bảng 2.13: Chi tiêu và kinh phí đào tạo

Qua số liệu trên cho thấy từ năm 2011 trở về trước công tác đào tạo cũng

chưa được chú trọng nhiều thể hiện con số khiêm tốn về số lượng và eo hẹp về

kinh phí. Tuy nhiên để phù hợp với lộ trình cải cách ngành thuế, từ năm 2012 về

sau này đã có sự thay đổi lớn với số kinh phí được duyệt nhiều hơn, nội dung

77 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

đào tạo được mở rộng và chất lượng đào tạo được nâng cao.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Bảng 2.14: Chế độ tiền lương

Năm Tổng thu nhập năm (triệu đồng) Hệ số bậc bình quân Lương BQ Hệ số lương

3,4 4,35 1,8 75,5 Thưởng năm (triệu đồng) 12,5 2010

3,7 4,75 1,8 72,7 11,7 2011

3,9 5,15 1,8 69,3 9,8 2012

Tổng kinh phí hoạt động của Chi cục Thuế được duyệt khoán chi hàng

năm hiện tại bằng 0,5% trên tổng số thu bao gồm các khoản chi lương, thưởng,

chi thường xuyên và không thường xuyên. Số quỹ lương cuối năm nếu còn hoặc

được duyệt thêm từ tiết kiệm chi sẽ dùng chi thưởng thêm hoặc động viên

khuyến khích các cá nhân xuất sắc, tập thể xuất sắc...

- Đánh giá chung: tiền lương, thưởng công chức hiện nay còn thấp so với

mặt bằng thủ đô Hà Nội (bình quân khoảng 4triệu đồng/người/tháng) và so với

áp lực công việc rất nặng, khối lượng công việc nhiều, cần cải cách để động viên

thích đáng và phù hợp hơn cho NLĐ. Đặc biệt từ năm 2010, Chính phủ yêu cầu

tiết kiệm chi thường xuyên 10%, do đó số thưởng năm cho cán bộ công nhân

viên thấp chỉ bằng 02 tháng lương cơ bản (bình quân năm là 3 tháng). Hiện nay

tại một số thành phố lớn của miền Nam, ngành thuế còn thiếu rất nhiều chỉ tiêu

biên chế do mức lương và đãi ngộ thấp không thu hút được người lao động.

Bảng 2.15: Nhiệm vụ quản lý NNT của công chức thuế

Đơn vị Số cán bộ quản lý Số DN quản lý

Đội kiểm tra số 1 22 4.078 Bình quân (DN/người) 185

Đội kiểm tra số 2 21 3.855 184

78 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Đội kiểm tra số 3 23 4.142 180

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Thực tế, công tác tổ chức vẫn còn vấn đề về phân bố lực lượng quản lý

thuế, hiện tại mỗi cán bộ thuế thực hiện kiểm tra khoảng 100 doanh nghiệp. Với

các nghiệp vụ kiểm tra tờ khai, xác minh hoá đơn, thực hiện đôn đốc thu nộp

đảm bảo kế hoạch thu, làm các báo cáo theo yêu cầu của công tác quản lý thuế...

chủ yếu bằng các phương pháp, phương tiện thủ công là chính. Với khối lượng

công việc lớn như vậy thì cán bộ thuế không có đủ quỹ thời gian để đảm bảo tốt

chất lượng công tác quản lý thuế, khó có thể phát hiện kịp thời tất cả các hành vi

vi phạm pháp luật thuế và do đó việc hoàn thành nhiệm vụ đòi hỏi sự nỗ lực lớn

của cán bộ.

2.3.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin

- Cơ sở vật chất Chi cục Thuế Quận Đống Đa chưa đảm bảo, văn phòng

làm việc của Chi cục Thuế đang phải đi thuê ở nhiều nơi. Diện tích phòng làm

việc rất hẹp, tại văn phòng Chi cục Thuế không đủ chỗ kê cho mỗi cán bộ một

bàn làm việc riêng, các Đội thuế liên phường, Đội TTHT và ấn chỉ, Đội thu thuế

trước bạ và thu khác, Đội kiểm tra nội bộ phải đi thuê địa điểm. Tình trạng đó

gây khó khăn cho công tác và cả cho việc quan hệ với NNT và các cơ quan có

liên quan.

- Việc áp dụng tin học trong công tác quản lý còn hạn chế.

Áp dụng tốt công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý thuế giá trị

gia tăng là một trong những điều kiện để thực hiện thuế GTGT. Công nghệ tin

học sẽ thực hiện loại trừ các vi phạm đơn giản, đồng thời cung cấp các thông số

để có thể quản lý và thực hiện ngăn ngừa, chống các hành vi vi phạm có tính

chất phức tạp.

Bằng công nghệ tin học người ta có thể loại trừ toàn bộ các hành vi kê

khai trùng, kê khai khống và các hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để gian

79 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

lận thuế nếu thực hiện tốt việc lập cơ sở dữ liệu. Hiện nay, do điều kiện của các

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

đối tượng kinh doanh chưa đảm bảo để cơ quan thuế có thể áp dụng các công

nghệ thông tin tiên tiến, trong khi các hành vi gian lận thuế còn diễn ra tương

đối rộng nên khả năng phát hiện thấp.

Bảng 2.16: Trang bị máy tính cho cán bộ công chức thuế

Đơn vị Số người Số máy vi tính Bình quân (người/máy)

Văn phòng 190 160 1,19

Các Đội thuế 50 10 5

Cộng 240 170 1,41

Số lượng máy tính trang bị bình quân đầu người hiện nay còn ít. Mục tiêu

phấn đấu năm 2013 trang bị máy tính cho trên 80% cán bộ công chức trong đó

công chức tại văn phòng là 100%, tại các Đội thuế liên phường là 65%. Thực tế

hiện nay Chi cục Thuế đã đưa vào sử dụng các phần mềm ứng dụng phục vụ

công tác quản lý thuế như: Cấp đăng kí MST (TINCC); Hệ thống quản lý thuế

(QLT); Quản lý ấn chỉ (QLAC); Phân tích tình trạng thuế (QTT); Phân tích Báo

cáo tài chính (BCTC); Quản lý nợ thuế (QLN); Quản lý hồ sơ, văn bản (QHS)

thực trạng các hệ thống này do chính sách thuế thường xuyên thay đổi nên hay

gây tổng hợp sai số liệu trong công tác quản lý thuế. Mặt khác hệ thống mạng

nội bộ (LAN) vẫn trục trặc thường xuyên, chưa có hệ thống mạng đủ mạnh phục

vụ công tác quản lý đối tượng nộp thuế từ khi thành lập đến khi ngừng kinh

doanh.

2.3.3 Phương pháp tổ chức quản lý thu thuế GTGT

Nếu cơ cấu tổ chức bộ máy tốt và nguồn nhân lực có chất lượng sẽ ảnh

hưởng lớn đến hệ thống bộ máy quản lý thuế. Một trong những nguyên nhân dẫn

80 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

đến tình trạng gian lận thuế diễn ra trên phạm vi rộng, phức tạp trong thời gian

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

qua là do bộ máy quản lý thuế còn những yếu kém do có những vấn đề chưa phù

hợp, có thể đưa ra một số vấn đề về tổ chức quản lý, cụ thể là:

+ Tính đến thời điểm 2012 công tác tổ chức bộ máy quản lý là hợp lý và

đã giúp Chi cục Thuế Quận Đống Đa hoàn thành nhiệm vụ trong nhiều năm liên

tiếp. Tuy nhiên đã tiềm ẩn việc không thích ứng của phương pháp quản lý với

nhịp độ tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp và chất lượng doanh nghiệp ra

kinh doanh đồng thời với việc quá tải của cán bộ quản lý trong công việc.

+ Tổ chức bộ máy quản lý thuế theo cơ chế quản lý đối tượng là chính,

chưa coi trọng công tác kiểm tra và tuyên truyền hỗ trợ. Trên địa bàn Quận

Đống Đa trong thời gian trước năm 2010, số lượng cán bộ thực hiện công tác

kiểm tra chỉ chiếm khoảng 5% tổng số cán bộ với trình độ chuyên môn nghiệp

vụ chưa cao. Với thực tế như vậy năng lực công tác kiểm tra còn rất hạn chế. Từ

năm 2010 đến nay, lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra và tuyên truyền hỗ

trợ đã tăng nhanh về số lượng và cả về chất lượng, chiếm khoảng 25%. Tuy

nhiên, nhìn tổng thể cơ quan thuế vẫn còn nặng nề trong công tác quản lý, chưa

thực sự linh hoạt.

+ Công tác thu nợ cưỡng chế thuế, tuyên truyền hỗ trợ đã có kết quả

nhưng thực chất chưa hiệu quả.

+ Quản lý hồ sơ NNT chủ yếu là thủ công con người là chính không có sự

trợ giúp của phương tiện hiện đại nên tốn công sức và không hiệu quả.

Từ những vấn đề nêu trên thấy rằng việc đổi mới, cải cách công tác thuế,

cải cách ngành thuế là cần thiết và tất yếu.

2.3.4 Môi trường pháp lý

Chính sách thuế hay các văn bản pháp quy về thuế và các đạo luật có liên

quan là cơ sở pháp lý để tất cả các thành viên trong xã hội phải tuân thủ theo

81 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

những quy định của nhà nước. Nếu các quy định luật pháp chặt chẽ, phù hợp

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

điều kiện kinh tế, xã hội thì sẽ được thực hiện một cách nghiêm túc. Ngược lại

chính sách, pháp luật không phù hợp thì hiệu lực của chính sách, pháp luật

không cao.

Luật thuế GTGT được chính thức áp dụng ở Việt Nam từ năm 1999 đã

phát huy được những ưu điểm rõ nét của phương pháp tính thuế tiên tiến. Tuy

nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện Luật thuế GTGT cũng đã bộc lộ một số

vấn đề cần quan tâm, đó là:

- Chính sách thiếu chặt chẽ nên đối tượng nộp thuế lợi dụng trốn thuế.

- Luật pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa thực sự rõ ràng.

Trong Luật Thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thuế

GTGT còn một số khái niệm, định nghĩa chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến việc hiểu

và áp dụng thuế suất thuế GTGT gặp nhiều khó khăn như chưa căn cứ vào công

dụng chủ yếu của sản phẩm hàng hóa để quy định thuế nên đối với loại sản

phẩm hàng hóa có nhiều công dụng thì có thể áp dụng các loại thuế suất khác

nhau. Ví dụ két sắt, van, vòi nước theo quy định là sản phẩm cơ khí được áp

dụng thuế suất 5%, nhưng nếu xét ở góc độ hàng tiêu dùng thì bị áp dụng thuế

suất 10%. Với những điểm lẫn lộn, thiếu chính xác như vậy đã gây khó khăn cho

việc áp dụng của đối tượng nộp thuế, đồng thời cũng gây khó khăn cho việc áp

dụng của đối tượng nộp thuế, đồng thời cũng gây khó khăn cho công tác quản lý

thuế.

- Các quy định về xử phạt đối với các hành vi vi phạm về thuế chưa cụ

thể, rõ ràng. Điều 19 Luật Thuế GTGT có quy định mức xử phạt từ 1 đến 5 lần

số thuế khai man, nhưng lại không quy định rõ khái niệm thế nào là khai man,

các hành vi nào là khai man trốn thuế.., dẫn đến việc xử lý gặp nhiều khó khăn,

các biện pháp trừng phạt bị hạn chế, làm giảm tính răn đe, phòng ngừa.

82 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

2.3.5. Đặc điểm của người nộp thuế

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Theo lý thuyết và kinh nghiệm thực tế áp dụng thuế GTGT ở các nước

tiên tiến có nền kinh tế phát triển ổn định, để áp dụng thành công thuế GTGT

nhà nước phải thực sự quản lý được nền kinh tế bằng pháp luật; các cơ sở kinh

doanh phải ghi chép đầy đủ sổ sách kế toán; các quan hệ thanh toán trong nền

kinh tế phải phát triển; trình độ nhận thức của dân cư và các thành phần kinh tế

phải cao; phải có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong quản lý.

Đối chiếu với thực tế kinh tế - xã hội nước ta cho thấy, các điều kiện kinh tế - xã

hội để thực hiện thuế GTGT còn nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện. Những điểm

chưa hoàn thiện, cụ thể là:

- Người dân khi mua hàng hóa tiêu dùng không có thói quen lấy hóa đơn,

thậm chí các trường hợp phải có hóa đơn để thực hiện các quy định của pháp

luật khác thì người mua lại không quan tâm đến các nội dung về giá cả ghi trên

hóa đơn. Tình trạng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực

hiện hành vi báo cáo kế toán sai, thực hiện các hành vi gian lận thuế như giảm

giá bán, giấu doanh thu để giảm thuế GTGT đầu ra, không ký hợp đồng nguyên

tắc nên không xác định được doanh thu phát sinh khi nào… và có thể cung cấp

hóa đơn bất hợp pháp cho đối tượng khác gian lận thuế.

- Hiện tại thanh toán qua tài khoản, qua thẻ của Việt Nam nói chung vẫn

hạn chế. Quan hệ thanh toán thông qua tiền mặt vẫn là chủ yếu, chiếm 70% tổng

mức thanh toán. Thanh toán bằng tiền mặt là điều kiện để các doanh nghiệp thực

hiện các hành vi vi phạm kế toán dẫn đến gian lận thuế như để ngoài sổ sách kế

toán, khai khống các chi phí và thuế GTGT.

- Do nền kinh tế thị trường ở nước ta mới hình thành với nhiều thành phần

kinh tế, các chuẩn mực kế toán đang trong giai đoạn hoàn thiện, nên các vi phạm

về kế toán còn nhiều. Việc quản lý, xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn nên các

hành vi gian lận thuế của đối tượng nộp thuế có thể thực hiện một cách không

83 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

mấy khó khăn.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Thực tế cho thấy, các cơ sở kinh doanh thực hiện ghi chép sổ sách kế toán

chưa tốt, đặc biệt với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Số liệu kiểm tra các

năm cho thấy hầu hết số doanh nghiệp ngoài quốc doanh được kiểm tra đều có

vi phạm về kế toán, thuế.

2.3.6. Môi trường kinh tế xã hội

Từ giữa năm 2011 do sự suy giảm kinh tế toàn cầu nên các DN bị ảnh

hưởng do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa được

giải quyết. Những bất lợi từ sự sụt giảm đó ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản

xuất kinh doanh và đời sống của dân cư trong nước. Thị trường tiêu thụ hàng

hoá bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ nợ xấu

ngân hàng ở mức cao nên nhiều DN nhất là DN nhỏ và vừa phải thu hẹp sản

xuất, ngừng hoạt động hoặc giải thể vì vậy ảnh hưởng lớn đến số thu thuế.

Mặt khác do việc chi ngân sách của chúng ta chưa thật sự hiệu quả và gây

lãng phí lớn bởi các công trình công cộng, phúc lợi nên người dân thiếu sự tin

tưởng vào sự quản lý chi ngân sách do vậy cũng ảnh hưởng đến sự tự giác trong

việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách.

2.4. Kết luận chương 2

Quận Đống Đa là trung tâm chính trị, kinh tế của thủ đô Hà Nội. Hàng

năm Quận Đống Đa đóng góp lớn vào số thu của thủ đô. Trong đó thu thuế

GTGT chiếm từ 15% đến 19% tổng thu ngân sách trên địa bàn Quận Đống Đa.

Nhận rõ tầm quan trọng của thuế GTGT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,

ngay từ những năm đầu áp dụng thuế GTGT, Chi cục Thuế Quận Đống Đa được

sự phối hợp của các cơ quan hữu quan ban ngành của Quận đã tổ chức quản lý

sắc thuế mới này một cách chặt chẽ với hiệu quả ngày càng cao, số thuế GTGT

84 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thu được của năm sau cao hơn năm trước.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Phần lớn các NNT trên địa bàn Quận Đống Đa đã nghiêm chỉnh chấp

hành pháp luật thuế GTGT, góp phần tạo nên những kết quả nói trên. Song,

không ít đối tượng đã vi phạm pháp luật thuế GTGT, gây nên những bức xúc

trong quản lý kinh tế, thách thức các cơ quan quản lý thuế và dư luận xã hội.

Qua nghiên cứu ở phần trên có thể đánh giá kết quả công tác thu thuế tại Quận

Đống Đa như sau:

2.4.1 Những kết quả đạt được

Chi cục Thuế Quận Đống Đa triển khai nhiệm vụ công tác thuế năm 2012

nói riêng và giai đoạn 2009-2011 nói chung bên cạnh những thuận lợi của bối

cảnh kinh tế thế giới và trong nước. Tuy nhiên từ khoảng giữa năm 2011 do suy

giảm kinh tế cũng đã phần nào ảnh hưởng đến số thu vào NSNN. Kết thúc năm

2012, Cục Thuế TP Hà Nội đánh giá Chi cục Thuế Đống Đa hoàn thành trong

nhóm số 1 của khối các Chi cục (có 3 đơn vị là Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và

Đống Đa).

Đạt được kết quả trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự quan tâm

thường xuyên liên tục của lãnh đạo Cục thuế Hà Nội, Quận ủy, Hội đồng nhân

dân, Ủy ban nhân dân quận Đống Đa, sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo Chi cục và sự

cố gắng của cán bộ, công chức chi cục, sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của

các cấp, chính quyền địa phương với Chi cục trong việc tăng cường các biện pháp

quản lý thu, nhất là việc thành lập Ban chỉ đạo thu ngân sách đã góp phần quan

trọng, công tác chống thất thu, hạn chế nợ đọng thuế, kịp thời tăng nguồn thu cho

NSNN... do vậy công tác thuế trong năm 2012 và cả giai đoạn 2009-2011 đã đạt

được những kết quả quan trọng, số thu năm sau cao hơn năm trước.

85 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Bảng 2.17: Kết quả thu thuế giá trị gia tăng qua các năm

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Đơn vị tính: triệu đồng

Năm tài chính Tổng số thu ngân sách Số thuế GTGT Tỷ trọng thuế GTGT/tổng thu (%) Tỷ trọng thuế GTGT so với năm trước (%)

2010 1.768.747 547.731 30,97%

2011 1.860.282 563.821 30,31% 102%

2012 1.617.968 606.507 37,49% 108%

Đạt được những kết quả trên là do:

- UBND Quận đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo đề ra nhiều chủ trương

giải pháp về cơ chế chính sách, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư thúc

đẩy SXKD, kịp thời giải quyết khó khăn và vướng mắc, đồng thời chỉ đạo điều

hành quyết liệt, có hiệu quả thúc đẩy sự phát triển kinh tế tạo tiền đề cho việc

huy động và nuôi dưỡng nguồn thu NSNN.

- Hàng năm Chi cục đã thường xuyên phát động thi đua nêu cao tinh thần

trách nhiệm, tăng cường kỷ cương kỷ luật, đoàn kết nhất trí, quyết tâm phấn đấu,

vượt qua mọi khó khăn thách thức nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu ngân

sách đã được Cục Thuế TP Hà Nội và UBND Quận giao.

- Toàn Chi cục đã chủ động triển khai áp dụng đồng bộ và quyết liệt các

biện pháp quản lý thu, khai thác nguồn thu chống thất thu ngân sách cùng với

thực hiện cải cách thủ tục hành chính cụ thể là:

+ Công tác giao dự toán thu NSNN: Trên cơ sở dự toán Cục Thuế TP Hà

Nội giao và Nghị quyết HĐND Quận phê chuẩn, hàng năm Chi cục Thuế đã chủ

động phối hợp với Phòng Tài chính tham mưu cho UBND Quận giao dự toán

thu cho các Đội thuế xong trước ngày 31/12 năm trước và đảm bảo đúng quy

86 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

định của Luật NSNN. Số giao tăng để phấn đấu trên 5%.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

+ Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế: Được xác định là một

khâu quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế;

giúp người nộp thuế chủ động và chịu trách nhiệm về việc xác định số thuế phải

nộp, hạn chế những vi phạm pháp luật về thuế do thiếu hiểu biết chính sách,

đồng thời hướng dẫn người nộp thuế thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế.

+ Công tác quản lý kê khai, kế toán thuế và tin học: Được xác định là

nguồn dữ liệu đầu vào quan trọng để xác định theo dõi và quản lý thu NS thông

qua việc quản lý số lượng người nộp thuế, tờ khai thuế, chứng từ thu nộp NS...

Chi cục Thuế quận Đống Đa đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong

công tác kê khai kế toán để công tác này ngày càng chặt chẽ, đem lại hiệu quả.

Tăng cường công tác rà soát tờ khai thuế của doanh nghiệp nhằm phát hiện ngay

các lỗi, các sai sót trong tờ khai có thể dẫn đến các hành vi vi phạm thuế như

cộng sai số học, kê trùng, kê sót...

+ Công tác kiểm tra thuế, xác minh hoá đơn: Chi cục đã tăng cường cán

bộ có trình độ, năng lực cho Đội kiểm tra. Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm

tra ngày càng nâng cao. Qua công tác kiểm tra đã phát hiện và chấn chỉnh kịp

thời các sai phạm của đơn vị như: bán hàng không lập hoá đơn, lập hoá đơn ít

hơn so với hàng hoá thực tế bán ra; kê khai sai, kê khai thiếu doanh số, phát hiện

các trường hợp sử dụng hoá đơn bất hợp pháp, đưa chi phí không hợp lý, trích

khấu hao tài sản không phù hợp...Rà soát phát hiện các hóa đơn bất hợp pháp

được thực hiện kê khai thuế trên tờ khai của doanh nghiệp. Thực hiện xác minh

và trả lời xác minh hóa đơn GTGT nhằm phát hiện sớm các vi phạm trong việc

kê khai thuế của các doanh nghiệp.

+ Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Đã thực hiện thành đầu mối

chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc đôn đốc thu nợ. Chi cục đã tập trung phân

loại nợ thuế, xây dựng kế hoạch thu nợ và giao chỉ tiêu thu nợ hàng năm cho các

87 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

Đội. Bám sát tình hình SXKD của các doanh nghiệp nợ đọng lớn để có biện

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

pháp đôn đốc thu nợ. Lập kế hoạch làm việc cụ thể với từng doanh nghiệp nợ

lớn để xác định nguyên nhân nợ và yêu cầu đơn vị cam kết thời gian nộp nợ

đọng.

+ Phối hợp liên ngành trong quản lý thuế GTGT đó là các công tác: Cung

cấp, trao đổi thông tin, tài liệu; Phối hợp thực hiện công tác thanh tra, điều tra.

Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã phối hợp với các cơ quan điều tra công an Quận

thực hiện điều tra các vụ trọng điểm và phối hợp với thanh tra Quận.

Kết quả quan trọng nhất là sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan bảo vệ

pháp luật trong đấu tranh chống các hành vi vi phạm và tội phạm về thuế đã tạo

nên sức mạnh tổng hợp trấn áp tội phạm đồng thời răn đe các đối tượng, hạn chế

các hành vi gian lận thuế.

2.4.2 Hạn chế trong công tác quản lý thu thuế GTGT

Công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa những năm

qua tuy đã đạt được nhiều thành tích quan trọng song nghiêm túc mà xét thì

công tác này vẫn còn một số yếu kém, hạn chế cần sớm khắc phục. Những hạn

chế chủ yếu thể hiện trên những mặt sau:

-Về cơ chế chính sách : Còn có chỗ thiếu chặt chẽ, sơ hở; các văn bản

hướng dẫn chưa rõ ràng, cụ thể, các chính sách thuế hay thay đổi nên gây khó

khăn cho việc thực hiện của cả cơ quan thuế và NNT.

- Hệ thống quản lý còn hạn chế

+ Về tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý thuế còn tỏ ra chưa phù hợp

và chưa linh hoạt.

+ Năng lực và hiệu quả của công tác quản lý thuế nói chung và công tác

thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng còn hạn chế. Trong thời gian từ năm 2006 đến

2010 các vụ việc vi phạm pháp luật thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế diễn ra rất

88 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

nghiêm trọng; một số doanh nghiệp đã được thực hiện thanh tra sau hoàn thuế

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nhưng không thể kết luận được hành vi vi phạm của đối tượng, chỉ sau khi phối

hợp với các cơ quan điều tra thì các vi phạm mới được kết luận.

+ Không quản lý tốt doanh nghiệp nên không nắm được doanh nghiệp sau

khi thành lập có còn hoạt động hay đã ngừng, nghỉ kinh doanh, giải thể, phá sản.

Doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế và cũng là đối tượng gian lận thuế.

Nếu theo dõi chặt chẽ, nắm vững những doanh nghiệp đang hoạt động cũng như

những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, bỏ kinh doanh, giải thể, phá sản…thì

khả năng vi phạm pháp luật sẽ được hạn chế. Hiện nay, thực hiện chủ trương

khuyến khích đầu tư, các doanh nghiệp được thành lập một cách đơn giản. Do

đó đã có rất nhiều doanh nghiệp thành lập ra được một thời gian rất ngắn rồi bỏ

kinh doanh không báo cáo, không thực hiện các qui định của pháp luật; trong đó

có không ít những doanh nghiệp được thành lập ra chỉ với mục đích mua và bán

hóa đơn GTGT bất hợp pháp để kiếm lời.

+ Việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật còn chậm và xử lý không

nghiêm.

Các hành vi vi phạm pháp luật thuế đã và đang diễn biến phức tạp còn do

một nguyên nhân là, việc phát hiện các vi phạm chậm, vi phạm không bị xử lý

nghiêm minh. Theo qui định của Luật Thuế GTGT, việc kê khai được tiến hành

hàng tháng, nhưng trong quá trình quản lý, việc phát hiện sai phạm là rất hạn

chế, khi tiến hành thanh tra, kiểm tra thì các vi phạm đã được thực hiện quá lâu,

hơn nữa việc thanh tra lại kéo dài nên việc xử lý khó khăn dẫn đến tác dụng

ngăn ngừa, răn đe, giáo dục không còn phát huy tác dụng.

+ Không quản lý được hóa đơn là cơ sở để kê khai nộp thuế

Theo quy định hiện hành, hóa đơn đang là chứng từ quan trọng nhất, là

điều kiện để được kê khai khấu trừ thuế. Hầu hết các hành vi gian lận thuế đều

89 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

có liên quan đến vi phạm về hóa đơn. Thực tế, tại địa bàn Quận Đống Đa nói

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

riêng và trên toàn quốc nói chung, các hành vi vi phạm về hóa đơn dẫn đến gian

lận thuế đã và đang diễn ra vô cùng phức tạp, nhưng sự kiểm soát việc sử dụng

hóa đơn còn rất lúng túng, hạn chế. Đặc biệt từ khi Nghị định 51/2010/NĐ-CP

ngày 14/5/2010 của Chính phủ và Thông tư 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010

của Bộ Tài chính quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có hiệu

lực việc kiểm soát hoá đơn ngày càng phức tạp.

- Về công tác kiểm tra.

+ Số lượng NNT được kiểm tra chưa được nhiều.

Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ NNT được kiểm tra quyết toán thuế còn rất

thấp. Thực tế này đương nhiên sẽ dẫn đến tình trạng các vi phạm về thuế chưa

được phát hiện kịp thời. Cho nên, có thể nói hầu như ĐTNT nào bị kiểm tra là

chắc chắn có vi phạm không ít thì nhiều ở một mức độ nào đó. Số liệu về số thuế

truy thu và phạt khá lớn phản ánh nỗ lực chống thất thu của Chi cục Thuế quận

Đống Đa nhưng cũng phản ánh phần nào hậu quả của tỷ lệ số ĐTNT được kiểm

tra còn thấp. Đó là tình trạng ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của các

NNT còn rất hạn chế. Số NNT chậm được kiểm tra quyết toán thuế sẽ làm cho

các vi phạm kéo dài và hậu quả lớn.

+ Cơ chế phối hợp giữa một số bộ phận chức năng chưa được cụ thể hóa.

Việc phối hợp giữa các bộ phận quan trọng quản lý thuế tại Chi cục Thuế

quận Đống Đa chưa được dựa trên một cơ chế rõ ràng thống nhất bằng văn bản.

Thực tế cho thấy hiệu quả phối hợp trong từng trường hợp cụ thể phụ thuộc vào

sự chỉ đạo của lãnh đạo Chi cục và trình độ năng lực của cán bộ trực tiếp thi

hành công vụ. Đôi lúc trong các tình huống giống nhau nhưng trình tự, thủ tục

90 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

xử lý lại khác nhau.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Cơ sở hạ tầng, điều kiện để áp dụng luật thuế GTGT còn yếu kém, chưa

hoàn thiện ở chỗ trình độ nhận thức của dân còn thấp, nền kinh tế còn chủ yếu

dùng tiền mặt, hệ thống ngân hàng, công nghệ thông tin đang phát triển…

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý thu thuế GTGT

Từ thực tế tổ chức thực hiện thuế GTGT trên địa bàn quận Đống Đa

những năm qua có thể rút ra một số nguyên nhân của những hạn chế trong quản

lý thu thuế GTGT, đó là:

- Nguyên nhân chủ quan

Việc phổ biến pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thuế

GTGT đối với NNT, cũng như tuyên truyền trong nhân dân về sắc thuế này còn

nhiều hạn chế. Như việc tuyên truyền các văn bản, chính sách mới ở phạm vi tại

Đội tuyên truyền hỗ trợ chưa phổ biến, tuyên truyền và qua loa phát thanh đến tổ

dân phố, UBND phường và đến từng người dân ở nơi cư trú. Cây kiosk thông tin

bị hỏng không hoạt động được để NNT đến giao dịch và tra cứu những thông tin

cần thiết về văn bản pháp luật, chính sách thuế và thông tin NNT.

NNT là chủ thể cơ bản để thực hiện chính sách thuế. Nếu đối tượng này

được tuyên truyền tốt, nắm vững chế độ, nghiêm túc thực hiện chính sách thì

công tác thuế sẽ thành công. Ngược lại, nếu NNT không tự giác thực hiện ở diện

rộng thì việc thực hiện nhiệm vụ công tác quản lý thu thuế, phòng, chống các

gian lận về thuế và khắc phục hậu quả sẽ rất khó khăn, phức tạp. Do chưa thật

chú trọng đến công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế, và việc tổ chức

tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế chưa đạt hiệu quả nên đã dẫn đến tình

trạng đối tượng nộp thuế vi phạm thuế một cách vô tình hoặc cố ý.

- Do bộ máy thu thuế chưa thật sự hoàn chỉnh, trình độ nghiệp vụ cán bộ

91 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế còn hạn chế, chưa đủ khả năng phát hiện nhanh các vi phạm; khi phát hiện

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

có dấu hiệu vi phạm thì khả năng xác minh, điều tra, kết luận còn hạn chế dẫn

đến tình trạng các vi phạm về thuế không được ngăn chặn, xử lý kịp thời.

Cơ quan thuế là đơn vị có chức năng quản lý thuế trên toàn địa bàn có

nhiệm vụ tổ chức thu thuế và phát hiện,ngăn chặn các vi phạm về thuế. Nếu tổ

chức tốt bộ máy với những cán bộ thuế có đủ năng lực, phẩm chất và được trang

bị các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ sẽ phát hiện kịp thời các vi phạm về thuế, có

biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn các hành vi vi phạm, đảm bảo thực hiện tốt

chính sách thuế. Đồng thời, có khả năng đánh giá, dự báo các vi phạm có thể

xảy ra để có những biện pháp phòng, chống hữu hiệu. Sự quá tải trong nhiệm vụ

quản lý NNT cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý.

- Sự phối hợp giữa các cơ quan, đoàn thể trong quản lý thu thuế tuy đã

được chú trọng nhưng kết quả còn nhiều hạn chế; sự phối kết hợp vẫn còn tính

hình thức, lỏng lẻo ít có ràng buộc trách nhiệm của từng cơ quan, đoàn thể trong

công tác quản lý thu thuế GTGT.

Những năm qua trên địa bàn Quận Đống Đa có hơn 5.000 doanh nghiệp

được thành lập hoạt động bình thường nhưng có nhiều DN sau đó bỏ kinh doanh

bất hợp pháp đã bị cơ quan thuế phát hiện và ra thông báo doanh nghiệp bỏ trốn,

bỏ kinh doanh bất hợp pháp, nhưng ngay sau đó nhiều chủ doanh nghiệp mới vi

phạm luật doanh nghiệp lại được phép thành lập doanh nghiệp khác, thậm chí lại

bỏ kinh doanh bất hợp pháp… Như vậy việc quản lý của cơ quan quản lý nhà

nước đối với việc thành lập doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Đồng thời sự phối hợp

giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý doanh nghiệp còn nhiều lúng túng,

lỏng lẻo, để doanh nghiệp có thể vi phạm pháp luật rồi lại được cơ quan nhà

nước cho phép thành lập doanh nghiệp mới, rồi lại bỏ kinh doanh, hoặc chuyển

địa bàn này sang địa bàn khác.

92 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Nguyên nhân khách quan

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Về cơ chế chính sách: Việc ban hành chính sách, pháp luật thuế chặt chẽ

phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội có tính chất quyết định đến việc chấp

hành Luật Thuế GTGT, ngăn chặn một cách có hiệu quả, xử lý một cách nghiêm

khắc các hành vi gian lận thuế GTGT. Thời gian qua, do chính sách thuế còn

những sơ hở, chưa thật minh bạch, văn bản hướng dẫn nhiều nhưng không đồng

bộ, đã là điều kiện để các hành vi vi phạm luật thuế được thực hiện và phát triển.

Trong các vi phạm về thuế đã được phát hiện trên địa bàn trong thời gian vừa

qua có nhiều vi phạm được xác định là do doanh nghiệp cố tình thực hiện các

hành vi trốn thuế, gian dối để được hoàn thuế trái qui định của pháp luật; ngoài

ra, cũng có nhiều doanh nghiệp do các qui định của pháp luật thuế chưa thật sự

rõ ràng, qui định ở nhiều văn bản khác nhau, mà doanh nghiệp không được

thông tin đầy đủ đã dẫn đến vi phạm hoặc thực hiện không đúng chính sách thuế

gây thất thu thuế. Việc xác định chính xác các vi phạm về thuế là do chủ quan

của doanh nghiệp hay do doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời văn bản chính

sách thuế, là vấn đề rất khó khăn trong công tác quản lý thuế hiện nay. Đây là

một trong các điều kiện để các vi phạm về thuế phát triển và gia tăng.

- Chế tài xử lý đối với các hành vi gian lận thuế chưa đủ mạnh; Việc thực

hiện xử lý với các hành vi vi phạm thuế chưa nghiêm minh đã làm giảm tác

dụng trừng phạt, răn đe phòng ngừa các vi phạm về thuế. Nên cần hơn nữa sự

phối hợp giữa các cơ quan chức năng để giải quyết các vi phạm và truy cứu

trách nhiệm hình sự đối với việc vi phạm pháp luật thuế và gây thất thu NSNN

đối với các trường hợp sử dụng hoá đơn bất hợp pháp, trốn thuế.

- Ý thức giác ngộ của NNT chưa cao, trình độ dân trí còn hạn chế nên

trong hoạt động mua bán, đặc biệt là những người nông dân trực tiếp bán sản

phẩm, hoặc những người tiêu dùng cuối cùng, do vô tình hoặc vì một chút lợi rất

93 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

nhỏ đã tạo điều kiện tiếp tay cho các hành vi gian lận về thuế GTGT.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Cơ sở hạ tầng trong thanh toán của xã hội còn rất thấp, nền kinh tế tiền

mặt còn phổ biến trong xã hội, đây là điều kiện cho những hành vi vi phạm về

chế độ kế toán và cũng để che giấu những hành vi gian lận thuế GTGT.

Từ thực tế công tác quản lý thu thuế GTGT tại Quận Đống Đa, ở chương

2 đã phân tích, đánh giá những mặt được và những hạn chế của công tác quản lý

thu thuế GTGT, chỉ ra những nguyên nhân của sự hạn chế trong công tác quản

lý thu thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa trong những năm qua. Những kết

quả nghiên cứu đó là cơ sở để đề ra những giải pháp thực hiện công tác quản lý

94 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thu thuế GTGT một cách có hiệu quả hơn ở chương 3.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

CHƯƠNG 3:

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC

THU THUẾ GTGT TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA

3.1 Định hướng công tác thu thuế GTGT trong thời gian tới

3.1.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác thu thuế GTGT

Công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa đã đạt được

những thành tích đáng khích lệ trong những năm qua. Để thuế GTGT tiếp tục

phát huy tác dụng tích cực đối với đời sống kinh tế - xã hội thì một mặt phải tổ

chức thực hiện tốt hơn nữa Luật thuế GTGT, mặt khác phải đẩy mạnh công tác

phòng, chống gian lận thuế GTGT nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của luật

thuế này. Yêu cầu đẩy mạnh công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn Quận

Đống Đa còn xuất phát từ những lý do quan trọng sau:

- Góp phần tăng thu cho ngân sách

Việc thực hiện nghiêm chỉnh Luật thuế GTGT vừa là nghĩa vụ vừa là

quyền lợi của mỗi công dân, tổ chức khi tham gia kinh doanh. Hành vi vi phạm

pháp luật thuế cũng như pháp luật khác là hành vi mà xã hội phải thực hiện các

biện pháp ngăn ngừa, phòng, chống và xử lý nghiêm minh.

Vi phạm pháp Luật thuế GTGT có khách thể là ngân sách nhà nước -

nguồn lực chủ yếu cho sự tồn tại của nhà nước; vi phạm pháp luật thuế làm thất

thu, thất thoát ngân sách nhà nước, gây ra những tác hại không nhỏ về kinh tế,

chính trị và xã hội. Việc phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật thuế nói

chung, thuế GTGT nói riêng là rất quan trọng và cấp thiết.

Hầu hết các nước trên thế giới đều phải thực hiện tổ chức công tác quản lý

95 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thu thuế, chống các hành vi gian lận thuế theo các cách khác nhau như tổ chức

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

cảnh sát thuế tại Nhật Bản, Hồng Kông, hay tổ chức cơ quan điều tra thuế tại

New Zealand…

- Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế GTGT hiện còn khá phổ biến và tinh

vi, phức tạp.

Thuế là hình thức phân phối của cải xã hội mà các chủ thể tham gia phân

phối là nhà nước và NNT. Trốn lậu thuế sẽ luôn là nguy cơ thường trực, trong

điều kiện có thể thực hiện được thì trốn lậu thuế sẽ phát sinh và phát triển. Trong

điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay các vi phạm về thuế GTGT còn đang

diễn ra tương đối phức tạp, ở nhiều nơi với các mức độ khác nhau, nhưng thất

thu thuế vẫn là vấn đề mà xã hội rất quan tâm.

Trong thời gian qua, các biện pháp tăng cường quản lý, thực hiện phòng,

chống gian lận thuế, đặc biệt là gian lận thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa

đã được triển khai rất tích cực và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song

hiện tại các vi phạm về thuế vẫn đang diễn ra rất phức tạp, gây thât thu không ít

cho ngân sách nhà nước, đồng thời gây những tác hại không nhỏ, làm ô nhiễm

môi trường kinh doanh, hạn chế tác dụng của chính sách nhà nước về thu hút

đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước.

Xuất phát từ lợi ích kinh tế của các đối tượng nộp thuế, cùng với điều kiện

kinh tế - xã hội, sự hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hoá thương mại khu vực và

toàn cầu; với sự liên doanh liên kết của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài

nước, các hành vi gian lận thuế sẽ ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn, diễn ra trên

phạm vi rộng hơn và ngày càng tinh vi, phức tạp với những phương thức, thủ

đoạn mới. Do đó, việc chủ động tăng cường các biện pháp quản lý nhằm ngăn

ngừa, phòng, chống các hành vi vi phạm về thuế là vô cùng cần thiết.

96 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Tăng cường sự tuân thủ tự nguyện của NNT:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Một nguyên tắc được áp dung rộng rãi trong quản lý thuế và là mục tiêu

cao nhất của bất kỳ cơ quan thuế nào đó là khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện

của NNT (tuân thủ nộp tờ khai đúng hạn và báo cáo đầy đủ thông tin thuế theo

yêu cầu, tự tính đúng số thuế phải nộp và nộp đúng hạn tất cả các khoản thuế mà

không cần hành vi chế tài nào). Để nâng cao sự tuân thủ tự nguyện của NNT thì

cơ quan thuế phải:

+ Tạo điều kiện cho việc tuân thủ: tuyên truyền và thực hiện các dịch vụ

hỗ trợ NNT nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho NNT về hệ thống thuế và nghĩa

vụ thuế của mình;

+ Giám sát việc tuân thủ: duy trì các tài khoản vãng lai của NNT và xây

dựng hệ thống thông tin về NNT;

+ Ngăn chặn việc không tuân thủ: xây dựng hệ thống thanh, kiểm tra có

hiệu quả và hệ thống xử phạt công bằng, nghiêm minh.

3.1.2. Các quan điểm cơ bản trong công tác thu thuế GTGT

Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý để

DN kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với

các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp luật, sự quản lý

của Nhà nước đối với DN là nhằm mục tiêu sắp xếp, đổi mới phát triển, nâng

cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DN để DN góp phần quan trọng đảm bảo các

sản phẩm, dịch vụ công ích cần thiết của xã hội và nhu cầu thiết yếu của quốc

phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền

tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng

XHCN.

Hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT trong giai đoạn tới tại Chi cục

Thuế Quận Đống Đa phải nhằm thực hiện định hướng chiến lược về quản lý

97 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế trong giai đoạn tới đã được xác định là “đổi mới phương thức thu thuế, đơn

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

giản hoá thủ tục hành chính. Đảm bảo thu đúng, thu đủ vào NSNN, chống thất

thu, lạm thu. Cơ quan thuế thực hiện chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm… nuôi

dưỡng nguồn thu và thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật. Hiện đại hoá

công tác quản lý thuế của Nhà nước”.

Xuất phát từ những khó khăn, vướng mắc cụ thể, việc đề ra các giải pháp

hoàn thiện phải xuất phát từ tình hình thực tế, và trên những yêu cầu có tính

nguyên tắc sau đây:

- Nhận thức và vận dụng lý luận về chức năng phân theo quá trình trong

các lĩnh vực quản lý thuế một cách đúng bài bản, đúng với các phương pháp,

nguyên tắc quản lý và quản trị hiện đại trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam.

- Hoàn thiện công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo thi hành đúng pháp luật

của Nhà nước về thuế, trên cơ sở đảm bảo hoàn thành kế hoạch thu được giao.

Phải đưa khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” thành cơ

chế bắt buộc trong cán bộ, công chức thuế.

- Phải làm dần từng bước, nhưng phải kết hợp giữ tính kế thừa và tính đột

biến trong việc sử dụng đội ngũ công chức thuế. Xây dựng công chức thuế tận

tâm và chuyên nghiệp.

- Phải kết hợp giữa mục tiêu trước mắt (giải pháp tình thế) và mục tiêu lâu

dài (giải pháp chiến lược).

- Xây dựng quan điểm “Cơ quan Thuế và doanh nghiệp là bạn đồng hành”

trong công tác quản lý thuế.

- Hoàn thiện công tác quản lý thuế phải quan tâm đến phản ứng của người

nộp thuế trong từng giai đoạn thực hiện.

3.1.3. Định hướng hoàn thiện công tác thu thuế GTGT trong thời gian

98 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

tới.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta và đặc biệt trên địa bàn Quận Đống

Đa, việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu thuế của cơ quan thuế cũng như các cơ

quan bảo vệ pháp luật khác là nhằm chấp hành tốt pháp luật nhà nước, thực hiện

vượt mức kế hoạch thu và tăng thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo khuyến

khích phát triển SXKD, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Với mục tiêu như

vậy, công tác quản lý thu thuế trong thời gian tới cần được tập trung vào các

hướng chủ yếu sau:

- Định hướng trước mắt: Tập trung vào những đối tượng, những khâu,

lĩnh vực hoạt động có phát sinh nguồn thu lớn.

Trên địa bàn Quận Đống Đa hiện có trên 20.000 đối tượng nộp thuế đang

hoạt động, trong đó có hơn 12.000 doanh nghiệp. Những đối tượng đó đều cần

có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước nói chung, cơ quan quản lý

thuế nói riêng. Song cần phải phân loại các đối tượng khác nhau để có biện pháp

quản lý phù hợp, có hiệu quả. Do nguồn lực và kinh phí của cơ quan thuế có

hạn, mà nhiệm vụ quản lý thuế ngày càng nặng nề (tăng về số lượng NNT, phạm

vi quy mô kinh doanh ngày càng phức tap…) nên cơ quan thuế không thể áp

dụng phương pháp truyền thống là kiểm tra tất cả các hồ sơ khai thuế, các

ĐTNT…. Để đảm bảo quản lý thuế công bằng và hiệu lực thì cơ quan thuế vẫn

phải phát hiện được và có biện pháp thích hợp đối với các trường hợp vi phạm

pháp luật về thuế. Cơ quan thuế nhấn mạnh hơn việc hỗ trợ người nộp thuế “làm

đúng” ngay từ đầu và tự nguyện chấp hành thông qua việc giáo dục, hỗ trợ có

trọng điểm và tăng tính rõ ràng của luật, thông qua các công văn hướng dẫn và

đơn giản hóa thì cơ quan thuế sử dụng phương pháp phân chia NNT thành các

nhóm hoặc bộ phận theo nhiều thuộc tính cho phép tập trung tốt hơn vào các

ĐTNT có rủi ro đến số thu thuế khá cao, còn các ĐTNT chấp hành tốt thì cơ

99 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

quan thuế không cần can thiệp nhiều.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, theo xu hướng và chủ trương của Nhà

nước thì đây là khu vực kinh tế có tốc độ phát triển nhanh và ngày càng chiếm tỷ

trọng cao trong thu ngân sách, việc trốn lậu thuế liên quan trực tiếp đến quyền

lợi của cá nhân chủ doanh nghiệp. Do trình độ quản lý chưa tốt, hệ thống sổ sách

kế toán còn yếu kém, ý thức chấp hành pháp luật thuế chưa cao…nên khu vực

này có nhiều điều kiện để trốn lậu thuế GTGT. Do đó, đây là khu vực cần chú

trọng thực hiện quản lý thu thuế GTGT.

Kinh tế nhà nước là khu vực kinh tế hiện đang có số thu về thuế GTGT

cao, với những trình độ quản lý cao hơn, các gian lận thuế không mang lại

quyền lợi trực tiếp cho chủ doanh nghiệp. Nhưng, với cơ chế tự chủ kinh doanh

các doanh nghiệp này sử dụng nhiều hình thức quản lý khác nhau như khoán

quản lý cho từng bộ phận, thu nhập của người lao động được hưởng trên cơ sở

hiệu quả kinh doanh; mặt khác, do còn có những hạn chế trong công tác quản lý

doanh nghiệp, sự cấu kết với các doanh nghiệp tư nhân và nạn tham nhũng…

nên các hành vi gian lận thuế cũng thường xuyên xảy ra, vì vậy đây cũng là khu

vực cần quan tâm trong việc quản lý thu thuế GTGT.

Về những khâu trọng yếu cần giải quyết trước mắt. Thất thu thuế GTGT

trên địa bàn Quận Đống Đ được thể hiện thông qua cả trốn thuế và hoàn thuế.

Tuy nhiên, đến năm 2012, trước sự đấu tranh mạnh của các cơ quan chức năng,

cùng với sự thay đổi chính sách thuế, vấn đề gian lận trong hoàn thuế GTGT cơ

bản đã được ngăn chặn. Hiện tại, việc gian lận thuế được thực hiện chủ yếu ở

dạng trốn thuế bằng việc sử dụng các phương tiện, thủ đoạn: sử dụng hoá đơn

bất hợp pháp, hạch toán kế toán không đúng với các nghiệp vụ kinh tế phát

sinh… do đó công tác quản lý thu thuế GTGT phải được tập trung vào những

khâu này. Phải quản lý chặt chẽ hoá đơn GTGT, tổ chức quản lý chặt chẽ quy

trình khai báo và nộp thuế, nhất là việc kê khai nộp thuế GTGT của doanh

100 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

nghiệp, kịp thời phát hiện các sai sót về kê khai tính toán thuế GTGT mà doanh

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nghiệp phải nộp mỗi kỳ, các vi phạm trong sử dụng hoá đơn chứng từ của doanh

nghiệp. Làm tốt việc này không những đảm bảo thu đúng, thu đủ thu kịp thời

thuế GTGT về Nhà nước mà còn ngăn chặn ý đồ gian lận của đối tượng nộp

thuế

Về các hoạt động, cần khuyến khích các hoạt động SXKD chính đáng

theo pháp luật, đồng thời tích cực đấu tranh chống các hoạt động SXKD bất hợp

pháp, buôn lậu, trốn thuế… Cần có biện pháp theo dõi chặt chẽ việc ngừng nghỉ

hoạt động, phá sản giải thể doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân, nhằm

ngăn chặn, loại trừ mọi kẽ hở mà doanh nghiệp có thể lợi dụng để vi phạm hoặc

tiếp tay cho người khác vi phạm pháp luật thuế.

- Định hướng cơ bản và lâu dài của công tác quản lý thu thuế GTGT phải

là hoàn thiện cơ chế, chính sách thuế và tổ chức quản lý thuế.

Công tác quản lý thu thuế GTGT phải dựa trên và đi đôi với hoàn thiện hệ

thống chính sách thuế, tiến tới doanh nghiệp không thể làm, không dám làm và

không cần phải vi phạm pháp luật thuế.

Công tác quản lý thu thuế GTGT chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi dựa trên

sự quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước với việc áp dụng công nghệ

thông tin tiên tiến vào công tác quản lý thuế, trên cơ sở đối tượng nộp thuế có

nhận thức đúng đắn về thuế, có ý thức chấp hành tốt pháp luật, cơ sở hạ tầng

phát triển, nhân dân đồng tình giúp đỡ các cơ quan bảo vệ pháp luật, quản lý

kinh tế, hành vi và ý nghĩ về gian lận thuế bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ.

Công tác quản lý thu thuế GTGT phải dựa trên sự phối hợp có hiệu quả

của các cơ quan chức năng, cùng với việc áp dụng công nghệ quản lý tiên tiến.

Quản lý thu thuế GTGT là nhiệm vụ chung của toàn xã hội mà lực lượng nòng

cốt là cơ quan thuế, nên cần sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ

101 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

quan bảo vệ pháp luật, cơ quan quản lý doanh nghiệp và sự ủng hộ của các cấp

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

chính quyền, của toàn xã hội. Cùng với sự phát triển của những thành tựu của

khoa học công nghệ thông tin được áp dụng trong quản lý nhà nước với sự phối

hợp chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước và sự ủng hộ của xã hội thì các hành

vi vi phạm pháp luật thuế sẽ được ngăn chặn. Do đó, vấn đề cơ bản là lâu dài

của công tác quản lý thu thuế là phải hoàn thiện cơ chế, chính sách, tổ chức tốt

công tác quản lý thuế và thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục

luật pháp trong nhân dân.

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở Chi cục

Thuế quận Đống Đa.

3.2.1. Giải pháp về cải tiến tổ chức bộ máy quản lý thuế và nâng cao

trình độ cán bộ công chức thuế.

- Cơ sở của giải pháp: Tổ chức bộ máy quản lý thuế đạt hiệu quả là một

đòi hỏi khách quan, vì đây là một vấn đề khó khăn, phức tạp nhưng có vai trò

đặc biệt quan trọng, bởi lẽ đối tượng của nó là những lao động quản lý có trình

độ cao, làm việc trong lĩnh vực quản lý. Mỗi hoạt động của họ gắn liền với quá

trình quản lý thuế và hiệu quả trong công tác thu thuế. Hiện tại số lượng DN trên

địa bàn Quận lớn nhưng đội ngũ cán bộ công chức còn hạn chế về số lượng và

trình độ so với sự phát triển của DN. Mặt khác do chính sách thuế thường xuyên

điều chỉnh bổ sung để phù hợp với sự phát triển của xã hội và sự hội nhập kinh

tế quốc tế nên tổ chức bộ máy quản lý chưa đáp ứng được kịp thời so với sự điều

chỉnh bổ sung. Các văn bản nhà nước về thuế áp dụng tại các địa phương được

hiểu theo cách khác nhau nên việc quản lý chưa đồng nhất. Số cán bộ công chức

ở độ tuổi trên 50 chiếm đa số đảm bảo có kinh nghiệm thực tế nhưng sẽ kém

năng động do vậy xu hướng cần phải trẻ hoá cán bộ công chức thuế và có kế

hoạch đào tạo để phù hợp với lộ trình cải cách qui trình quản lý thuế. Tuy nhiên

102 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

lại phụ thuộc vào một số yếu tố như kinh phí, chỉ tiêu.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Mục tiêu giải pháp: Việc cải tiến tổ chức bộ máy quản lý thuế và nâng

cao trình độ cán bộ công chức thuế để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế

và sự thay đổi của chính sách thuế. Đảm bảo thực hiện các chức năng đạt hiệu

quả: kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm tra. Xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ

thuế có đủ năng lực trình độ, phẩm chất đạo đức, chuyên nghiệp và tận tâm, có

kỹ năng ứng xử, giao tiếp để tạo mọi thuận lợi cho người nộp thuế.

- Nội dung giải pháp:

+ Hoàn thiện bộ máy quản lý thuế cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn của mỗi đội thuế sao cho tối ưu, tinh giảm, gọn nhẹ, tiết kiệm để

mang lại hiệu quả trong công tác thu thuế. `

+ Chuyển toàn bộ công tác phân công quản lý thuế sang mô hình quản lý

theo chức năng.

+ Tuyển dụng, sử dụng và đào tạo cán bộ công chức thuế có trình độ,

năng lực, phẩm chất đạo đức. Đồng thời cử đi học các lớp tập huấn bồi dưỡng về

chuyên môn nghiệp vụ thuế, về công nghệ thông tin và đi học cao học. Điều

động cán bộ công chức thuế có năng lực chuyên môn cho phù hợp với công

việc.

+ Bố trí cán bộ công chức tại các đội kiểm tra thuế, đội tuyên truyền hỗ

trợ người nộp thuế 100% có trình độ đại học, trên đại học và có phẩm chất đạo

đức tốt. Cơ quan thuế có chế độ đãi ngộ phù hợp cho công chức thuế thông qua

chế độ tiền lương hợp lý.

3.2.2. Giải pháp về công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT

- Cơ sở của giải pháp: Công tác tuyên truyền là lĩnh vực rất quan trọng đối

với Chi cục thuế để tuyên truyền hỗ trợ động viên NNT tuân thủ chính sách

pháp luật thuế, thực hiện tốt nghĩa vụ ngân sách nhà nước về thuế và tạo mọi

103 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

điều kiện tốt nhất cho NNT.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Nhưng hiện tại cán bộ công chức thuế tại đội tuyên truyền ở độ tuổi trên

50 chiếm đa số và trình độ còn hạn chế nên cần phải trẻ hoá cán bộ công chức

thuế và có kế hoạch đào tạo để phù hợp với sự phát triển của xã hội và tính đa

dạng, phức tạp của hoạt động kinh doanh đối với thuế GTGT (DN ngoài quốc

doanh).

Ngoài ra các trang thiết bị chưa đáp ứng được cho đội ngũ cán bộ công

chức thuế như máy tính, mạng internet. Cây Kiosk thông tin chưa hoạt động

hiệu quả để NNT tra cứu thông tin về nghĩa vụ thuế, các mẫu biểu báo cáo (do

các phần mềm kê khai thuế thường xuyên điều chỉnh bổ sung) và các chính sách

ưu đãi cho NNT như giãn, giảm.

Việc hỗ trợ NNT chỉ được thực hiện trong giờ hành chính, trong khi

những nghiệp vụ kinh doanh được diễn ra thường xuyên (kinh doanh từng phút,

từng giờ), không thể chậm chễ trong quyết định và mới chỉ hỗ trợ về chính sách

thuế, giải đáp bằng văn bản chủ yếu phục vụ cho công tác kê khai hoặc giải

quyết khi bị xử lý phạt,.. chưa thực sự tư vấn được cho NNT ngay từ khâu lên

phương án và quá trình hoạt động kinh doanh.

- Mục tiêu giải pháp:

NNT là chủ thể quan trọng nhất trong việc thực hiện chính sách pháp luật

thuế nên cần phải tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT để đáp ứng

được nhu cầu nguyện vọng của NNT và đạt hiệu quả cao trong việc thực thi

chức năng nhiệm vụ của công chức thuế. Trên cơ sở đó NNT thực hiện đúng

quy định pháp luật thuế về quyền, nghĩa vụ của mình và hạn chế được hành vi vi

phạm pháp luật. Nên phụ thuộc rất lớn vào công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT và

trực tiếp là cán bộ công chức thuế.

104 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

- Nội dung giải pháp:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

+ Điều động cán bộ công chức thuế còn trẻ, có đủ năng lực trình độ trên

đại học trở lên, có phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và tận tâm phục

vụ công tác tuyên truyền. Bổ sung thay thế máy tính có cấu hình thấp lên cấu

hình cao, nâng cấp đường truyền internet để phục vụ công việc.

+ Cơ quan thuế hỗ trợ NNT ngoài giờ hành chính bằng tổng đài trả lời tự

động và trả lời vướng mắc của người nộp thuế thông qua đường dây nóng, trả

lời trực tiếp, trả lời bằng văn bản (đảm bảo đúng thời hạn quy định), tuyên

truyền về thuế trên hệ thống truyền thanh cơ sở tổ dân phố, phường với thời

lượng 3 buổi/tuần để NNT hiểu rõ, nắm bắt được chính sách, pháp luật thuế và

nghĩa vụ của mình.

+ Phát triển thêm các kênh hỗ trợ mới như: trao đổi toạ đàm theo chuyên

đề, hỗ trợ qua trao đổi thư điện tử, qua các diễn đàn trên Website ngành thuế.

Triển khai thành công ứng dụng Kiosk thông tin tại Chi cục Thuế.

+ Hàng năm tổ chức hội nghị tuyên dương NNT nhằm động viên khích lệ

kịp thời NNT trong việc thực hiện chính sách pháp luật thuế.

3.2.3. Giải pháp về công tác kiểm tra quyết toán thuế

- Cơ sở của giải pháp: Việc kiểm tra quyết toán thuế thực hiện tốt, triệt để

sẽ phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, tăng nguồn thu thuế vào

NSNN. Nhưng hiện tại tỷ lệ và số lượng NNT được kiểm tra quyết toán thuế còn

thấp dẫn đến số thuế truy thu và phạt thu được sẽ ít (chiếm khoảng 10% số đối

tượng quản lý) nên sẽ làm cho các vi phạm kéo dài và gây hậu quả lớn. Lý do

một phần là số lượng DN trên địa bàn Quận nhiều (bình quân 185 DN/công

chức thuế) với nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau mặt khác do trình độ cán

bộ công chức thuế tại các đội kiểm tra thuế còn hạn chế. Bên cạnh đó công chức

thuế phải thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu là kiểm tra tờ khai, công tác xác minh

105 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

hóa đơn, thực hiện đôn đốc thu nộp để đảm bảo kế hoạch thu, làm thủ tục DN bỏ

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

trốn, làm các báo cáo theo yêu cầu của công tác quản lý thuế chủ yếu bằng

phương tiện thủ công nên chiếm nhiều quỹ thời gian.

- Mục tiêu giải pháp: Nhằm phát hiện nhanh, ngăn chặn kịp thời các hành

vi vi phạm pháp luật về thuế, chống thất thu thuế; đồng thời tổng kết các hành vi

vi phạm và nghiên cứu dự báo các hành vi vi phạm về thuế, đề ra các biện pháp

phòng ngừa. Qua đó làm cho NNT sẽ chấp hành pháp luật thuế một cách nghiêm

chỉnh hơn.

- Nội dung giải pháp:

+ Điều động cán bộ kiểm tra quyết toán thuế có trình độ từ đại học trở lên

và phải được đào tạo lại về nghiệp vụ kế toán, phân tích báo cào tài chính doanh

nghiệp và các kỹ năng phân tích các tình huống đã xảy ra trong thực tế; tổ chức

lực lượng trinh sát, có quỹ nghiệp vụ và đội ngũ cộng tác viên; cán bộ kiểm tra

thường xuyên tổ chức thi sát hạch để nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu công tác

kiểm tra và thích ứng với xu thế phát triển của nền kinh tế và sự hội nhập kinh tế

quốc tế.

+ Do số lượng DN trên địa bàn nhiều nên các hành vi vi phạm thuế diễn

ra ở phạm vi rộng và phức tạp. Nên để công tác kiểm tra quyết toán thuế đạt

hiệu quả cao, cần thực hiện kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm vào các đối tượng

có nghi vấn vi phạm và có mức độ rủi ro cao (có số âm thuế GTGT lớn xin

hoàn, doanh thu lớn mà không nộp thuế TNDN, mua hoá đơn bỏ trốn, DN năm

năm chưa kiểm tra quyết toán thuế...).

3.2.4. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế:

- Cơ sở của giải pháp: Hiện tại công nghệ thông tin đã và đang được triển

khai để thực hiện quản lý thuế, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý.

Để có thể quản lý được thuế GTGT trong điều kiện số lượng doanh nghiệp tăng

106 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

nhanh, số lượng cán bộ công chức thuế không thể tăng cùng với số lượng NNT

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

để theo dõi quản lý một cách xát sao và kịp thời được nên Chi cục thuế phải áp

dụng công nghệ tin học.

- Mục tiêu giải pháp: Việc ứng dụng công nghệ thông tin tốt trong quản lý

thuế sẽ tiết kiệm được nhân lực, giảm khối lượng công việc, giảm thời gian làm

việc và dễ tra cứu thông tin về NNT từ đó có thể phân tích, sàng lọc phát hiện

sớm các hiện tượng nghi ngờ vi phạm và thực hiện việc thanh tra, kiểm tra kịp

thời, tạo điều kiện phát hiện nhanh các hành vi vi phạm. Từ việc phát hiện nhanh

các hành vi vi phạm có điều kiện thực hiện các biện pháp cảnh báo, ngăn chặn

chính xác và có hiệu quả.

- Nội dung giải pháp:

+ Hiện đại hóa công nghệ thông tin để quét toàn bộ dữ liệu tờ khai thuế

GTGT trên bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào (Mẫu số 01-2/GTGT) bán ra

(Mẫu số 01-1/GTGT) vào hệ thống quản lý mã vạch để phục vụ công việc xác

minh hoá đơn được nhanh chóng và thuận lợi để chống gian lận thuế và kiểm

soát, phát hiện các hoá đơn bất hợp pháp.

+ Triển khai ứng dụng phần mềm có sự tích hợp cùng hệ thống Đăng ký

kinh doanh của Sở Kế hoạch đầu tư và hệ thống quản lý chứng minh thư của

Công an. Cơ sở thông tin của các ngành hữu quan được kết nối tự động với cơ

quan thuế, các thông tin này được xử lý tập trung tại trung ương và được chia sẻ

trên phạm vi toàn quốc để tăng cường quản lý và theo dõi NNT đối với trường

hợp DN có dấu hiệu vi phạm: trốn thuế, bỏ trốn mang theo hoá đơn.

3.2.5. Giải pháp về công tác cải cách thủ tục hành chính Thuế và hiện

đại hoá công tác quản lý thuế.

- Cơ sở của giải pháp: NNT là chủ thể quan trọng nhất trong việc thực

hiện chính sách thuế. Do đó NNT phải được hiểu rõ các cơ chế phân phối, các

107 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

nguyên lý, đạo lý của việc họ phải thực hiện nộp thuế; trên cơ sở hiểu được rõ

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

chính sách thì họ sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ, cụ thể là sẵn sàng nộp vào ngân

sách nhà nước số tiền mà họ đã hiểu là phải làm nghĩa vụ vì lợi ích chung của

đất nước và của cộng đồng. Như vậy việc cải cách thủ tục hành chính Thuế và

hiện đại hoá công tác quản lý thuế là cần thiết và cấp thiết trong điều kiện nền

kinh tế thị trường tăng trưởng, phát triền và hội nhập hiện nay để NNT có thể

thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách thuận lợi, không mất thời

gian và hiệu quả.

- Mục tiêu giải pháp: Nhằm rà soát các quy trình, thủ tục về thuế để sửa

đổi bổ sung cho phù hợp với thực tế, tạo điều kiện thuận lợi để NNT thực hiện

các quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế.

Tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nghiệp vụ chuyên môn để

tăng cường công tác quản lý thuế.

- Nội dung giải pháp:

+ Thực hiện Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản

lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 ban hành kèm theo Quyết định số 30/QĐ-TTg

ngày 10/01/2007của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Đề án 30) đảm bảo thời hạn

và chất lượng theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính và UBND Thành phố.

Ngày 10/08/2009, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký ban hành Quyết định số

1902/QĐ-BTC về việc công bố bộ thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực thuế bao gồm

330 thủ tục hành chính thuế, trong đó, 5 thủ tục hành chính do cấp Tổng cục Thuế

thực hiện, 172 thủ tục hành chính do cấp Cục Thuế thực hiện và 153 thủ tục hành

chính cấp Chi cục Thuế thực hiện và được công khai tại địa chỉ Website của Bộ Tài

chính là: www.mof.gov.vn, chuyên mục Bộ thủ tục hành chính; địa chỉ của Tổng

cục Thuế là: www.gdt.gov.vn\, chuyên mục Cải cách hành chính thuế .

+ Triển khai thực hiện các đề án thuộc Chiến lược phát triển ngành Thuế

108 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

giai đoạn 2011-2020 theo đúng kế hoạch đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

duyệt, Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 10/11/2011 của UBND TP Hà Nội, đảm

bảo lộ trình và yêu cầu đã đề ra.

+ Triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO

9001:2008 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Thuế, góp phần thúc

đẩy mạnh mẽ công tác cải cách hành chính theo Quyết định số 144/2006/QĐ-

TTg ngày 20/6/2006 của Chính phủ và Công văn số 2838/TCT-VP ngày

15/8/2011 của Tổng cục Thuế về việc triển khai xây dựng, áp dụng ISO

9001:2008.

3.3. Một số đề xuất hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở Chi cục

Thuế quận Đống Đa.

3.3.1. Đề xuất về chính sách, pháp luật thuế

Chính sách thuế GTGT là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế

GTGT trong quá trình hoạt động kinh doanh, cũng là cơ sở để các cơ quan quản

lý nhà nước xác định các hành vi vi phạm pháp luật thuế GTGT. Để đảm bảo

thực hiện công tác thu thuế GTGT đạt được kết quả tốt, khuyến khích sản xuất

phát triển, đảm bảo nguồn thu ngân sách thì chính sách thuế GTGT cần được

điều chỉnh nhằm đạt được các yêu cầu sau:

- Hệ thống chính sách thuế GTGT phải đảm bảo chặt chẽ, đơn giản dễ

hiểu, dễ tính toán và thực hiện, minh bạch, rõ ràng, công khai, và tách hẳn chính

sách thuế GTGT với chính sách xã hội. Chính sách thuế GTGT chặt chẽ, minh

bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ làm sẽ triệt tiêu những điều kiện vi phạm pháp luật

thuế, làm cho các đối tượng nộp thuế không thể thực hiện được các hành vi vi

phạm, cùng với việc tạo các điều kiện thuận lợi cho NNT thực hiện nghĩa vụ thì

các hành vi vi phạm luật thuế GTGT sẽ giảm.

- Chính sách thuế nói chung, thuế GTGT nói riêng phải tạo môi trường

109 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

bình đẳng, công bằng, áp dụng thống nhất, không phân biệt giữa các thành phần

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

kinh tế cũng như doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài. Chính sách thuế phải thể hiện và tạo ra những nội dung cụ thể phù hợp

với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đảm bảo được yêu cầu bảo hộ

có chọn lọc, có thời hạn, có điều kiện một cách hợp lý, tăng cường sức cạnh

tranh của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo lợi ích quốc gia.

- Hệ thống chính sách thuế GTGT phải quy định rõ ràng trách nhiệm,

nghĩa vụ, quyền của các cơ sở kinh doanh, trách nhiệm của cơ quan thuế trong

quản lý thuế cũng như trách nhiệm của các tổ chức cá nhân có liên quan. Việc

quy định rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, của các cơ quan

có liên quan, và các chế tài xử lý cụ thể sẽ tạo nên áp lực tổng hợp của tất cả các

chủ đề liên quan trong thực hiện chính sách thuế. Với sự ràng buộc trách nhiệm

cụ thể thì các chủ thể không dám thực hiện các hành vi vi phạm và công tác

phòng, chống gian lận thuế được thực hiện tốt.

- Chính sách thuế GTGT và các sắc thuế khác phải đảm bảo tỷ lệ động

viên thích hợp vào ngân sách nhà nước, huy động đầy đủ các nguồn thu vào

ngân sách nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước và dành một phần

cho nhu cầu tích luỹ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đảm bảo khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

theo hướng hiện đại để cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, góp phần

ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân. Với định hướng xác định tỷ lệ động

viên hợp lý vào ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo sự phân phối hợp lý giữa đối

tượng nộp thuế và nhà nước, nhà nước đảm bảo quyền lợi thích đáng cho đối

tượng. Trong điều kiện phân phối xã hội công bằng, đời sống nhân dân ngày một

nâng cao thì các đối tượng nộp thuế sẽ không cần thực hiện các hành vi dẫn đến

trốn lậu thuế.

Để thực hiện tốt Luật thuế GTGT cần sớm hoàn thiện chính sách thuế

110 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

GTGT trên những nội dung cụ thể sau:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Cần tiếp tục hoàn thiện Luật thuế GTGT, cụ thể:

Một là, cần phải rà soát sửa đổi các quy định không đúng nguyên lý của

thuế GTGT, là khâu nào tạo ra GTGT thì khâu đó thực hiện kê khai nộp thuế

GTGT và đánh thuế vào loại mặt hàng hoặc nhóm mặt hàng.

Theo quy định của Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thực hiện

hiện nay thì có nhiều trường hợp thuế GTGT quy định khâu nộp thuế không phải

là khâu tạo ra GTGT, như đối với các mặt hàng nông sản, thuỷ sản, sách báo,

đối tượng sản xuất trực tiếp là đối tượng tạo ra GTGT lớn nhất nhưng lại là đối

tượng không chịu thuế GTGT, các doanh nghiệp kinh doanh thương mại các mặt

hàng này thì phải nộp thuế GTGT mà không được khấu trừ thuế đầu vào. Do đó

số thuế phải nộp rất lớn dẫn đến việc kinh doanh thương mại đối với các mặt

hàng này khó phát triển được, và nếu có hoạt động kinh doanh thì họ cũng tìm

mọi biện pháp, thủ đoạn để trốn thuế.

Cũng theo quy định của Luật Thuế GTGT hiện hành và các văn bản

hướng dẫn thi hành, có một số mặt hàng mà các quy định thuế suất vừa theo đối

tượng sản xuất vừa đối tượng tiêu dùng, các mặt hàng máy móc thiết bị nhập

trong nước không sản xuất được nếu nhập khẩu về để làm tài sản cố định hoặc

do trúng thầu thì không chịu thuế, nhưng những mặt hàng đó mua về kinh doanh

thì chịu thuế GTGT 5%. Với những quy định như vậy Luật Thuế GTGT đã trở

nên phức tạp, khó nhớ, khó làm, dễ dẫn đến các vi phạm.

Hai là, cần hạn chế số lượng nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế

GTGT. Theo văn bản thuế hiện hành quy định tại Thông tư 06/2012/TT-BTC

ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính có 26 nhóm mặt hàng thuộc đối tượng không

chịu thuế GTGT như: Sản phẩm trồng trọt, thiết bị máy móc chuyên dùng trong

nước chưa sản xuất được, hàng chuyển khẩu quá cảnh; chuyển giao công nghệ

và phần mềm máy tính… Việc hạn chế số lượng nhóm hàng hoá, dịch vụ không

111 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

chịu thuế GTGT sẽ tạo điều kiện cho việc tính thuế, khấu trừ thuế GTGT được

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

liên hoàn giữa các khâu trong quá trình SXKD, tạo ra sự rõ ràng, minh bạch của

thuế GTGT. Do hệ thống chính sách thuế thời gian qua vừa nhằm mục tiêu đảm

bảo nguồn thu ngân sách, vừa thực hiện chính sách xã hội, vừa đảm bảo ổn định,

không gây xáo trộn lớn khi áp dụng Luật Thuế GTGT phải có nhiều loại hàng

hoá không chịu thuế GTGT; các nhóm hàng hoá không chịu thuế GTGT phụ

thuộc vào đối tượng sử dụng hàng hoá… Với số lượng nhóm hàng hoá, dịch vụ

không chịu chịu thuế GTGT rộng như vậy các doanh nghiệp sản xuất loại hàng

hoá, dịch vụ này sẽ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và khi bán hàng

hoá, dịch vụ không phải kê khai thuế GTGT đầu ra, khi đó các doanh nghiệp này

phải tính toán phân bổ thuế GTGT đầu vào; những doanh nghiệp sử dụng các

loại hàng hoá, dịch vụ này để sản xuất kinh doanh thì không được ke khai khấu

trừ thuế GTGT nhưng khi bán sản phẩm của mình lại phải thực hiện kê khai thuế

GTGT đầu ra. Như vậy, việc thực hiện thuế GTGT đối với các loại sản phẩm

hàng hoá này thường bị đứt đoạn, không liên hoàn, nên số lượng hàng hoá, dịch

vụ không chịu thuế GTGT càng nhiều thì càng gây phức tạp cho Luật thuế, rất

dễ gây sai sót. Mặt khác, có nhiều trường hợp một số nhóm đối tượng không

chịu thuế lại căn cứ vào mục đích của hàng hoá như tài sản cố định trong nước

không sản xuất được mua về đầu tư tài sản cố định, hay hàng hoá chuyên phục

vụ an ninh quốc phòng không phải chịu thuế GTGT. Như vậy, đối với cũng loại

hàng hoá đó doanh nghiệp nhập khẩu về cơ quan quản lý thuế phải xác định có

đảm bảo các điều kiện để không phải chịu thuế hay không trong khi thực tế hàng

hoá đó còn nằm trên đường chưa xác định được cụ thể là có được dùng đúng

mục đích hay không. Như vậy đã gây rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý

thuế, gây ra những kẽ hở cho đối tượng nộp thuế có thể lợi dụng để không phải

nộp thuế khi nhập khẩu hàng hoá. Việc này không cần thiết khi luật thuế đã có

quy định chế độ hoàn thuế. Với những quy định như trên của luật thuế vừa gây

112 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

khó khăn cho công tác quản lý thuế vừa gây tâm lý hy vọng được hưởng ưu đãi

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

thuế khi thực hiện các hoạt động kinh doanh với những hàng hoá có những điều

kiện gần đến mức được ưu đãi thuế.

Ba là, cần sớm giảm bớt loại thuế suất về còn một loại thuế suất (ngoài

thuế suất 0% cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu) để đơn giản trong việc tính thuế,

đơn giản trong quản lý, tránh tình trạng nhầm lẫn và để người nộp thuế dễ chấp

hành. Trong trường hợp còn nhiều thuế suất cần đưa ra phương án phân loại đơn

giản, rõ ràng căn cứ theo đối tượng là hàng hoá dịch vụ (đối tượng đánh thuế);

không xác định thuế suất theo cả đối tượng đánh thuế và đối tượng chịu thuế vì

dễ dẫn đến trùng lắp, nhầm lẫn, khó có thể phân biệt được. Việc giảm bớt thuế

suất tạo ra sự đơn giản, công bằng, các đối tượng dễ nhớ, dễ làm, không có sự

nhầm lẫn sai sót, và cơ quan quản lý thuế cũng dễ phát hiện sai. Khi doanh

nghiệp biết chắc chắn về chính sách và cũng hiểu rõ rằng cơ quan quản lý rất dễ

phát hiện các sai sót về thuế suất thì đối tượng sẽ không thể thực hiện hành vi vi

phạm.

Bốn là, nên thu hẹp đối tượng thực hiện thuế GTGT. Hiện tại, Luật Thuế

GTGT quy định đối tượng nộp thuế là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh có

hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ với hai phương pháp tính thuế GTGT là

phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ. Trên thực tế, phương pháp tính

thuế GTGT trực tiếp chủ yếu áp dụng với cơ sở kinh doanh nhỏ để đảm bảo

nguồn thu ngân sách và đảm bảo ổn định của chính sách thuế trong giai đoạn

đầu mới chuyển đổi từ thuế doanh thu sang thuế GTGT, không gây tâm lý nặng

nề và những xáo trộn lớn đối với các cơ sở kinh doanh nhỏ. Phương pháp tính

thuế GTGT trực tiếp chỉ có tính lý thuyết để chỉ rõ khâu nào tạo ra giá trị tăng

thêm của hàng hoá thì phải nộp thuế GTGT, còn về thực chất quản lý thu thuế

thì hầu hết các đối tượng này được thực hiện trên cơ sở ấn định thuế, khoán

thuế. Trên địa bàn Quận Đống Đa, đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp

113 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

trực tiếp là 8.904 hộ trên tổng số hơn 20.980 đối tượng nộp thuế; số thuế thu

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

được ở khu vực thu theo phương pháp trực tiếp chỉ chiếm khoảng 20% tổng số

thu trên địa bàn và sử dụng 26,3% số cán bộ thuế vào quản lý. Với mô hình thu

thuế như vậy cộng với sự thiếu chính xác của thu thuế khoán đối với đối tượng

này đã làm giảm tính tiên tiến của pháp luật thuế GTGT, gây tâm lý thiếu

nghiêm túc trong việc thực hiện Luật Thuế GTGT của các đối tượng thuộc khu

vực tính thuế theo phương pháp khấu trừ. Để chống gian lận thuế, chính sách

thuế có thể quy định thu thuế khoán đối với đối tượng này để tập trung lực

lượng cán bộ thuế cho các đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu

trừ, hoàn thiện phương pháp tính thuế, tiến tới cơ bản thực hiện một phương

pháp khấu trừ thuế.

Năm là, Quy định về ngưỡng doanh thu để áp dụng hình thức kê khai thuế

giá trị gia tăng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà

nước và thông lệ quốc tế.

- Quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế GTGT cần cụ thể, rõ ràng.

Trong Luật Thuế GTGT hiện hành đã quy định các trường hợp bị xử lý

phạt vi phạm hành chính về thuế, thẩm quyền của cơ quan thuế trong xử lý vi

phạm, nhưng không quy định rõ khái niệm hành vi khai man thuế, hành vi trốn

thuế nên việc xử lý còn tuỳ tiện.

Việc xử lý vi phạm về thuế GTGT được điều chỉnh bởi Luật Thuế GTGT

và pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trong đó có những quy định của hai hệ

thống văn bản pháp luật không thống nhất dẫn đến tình trạng khó khăn trong quá

trình xử lý các vi phạm về thuế GTGT.

Về mức phạt các hành vi trốn thuế thì Luật Thuế GTGT quy định ngoài

việc nộp đủ số thuế trốn còn bị xử phạt từ 1 đến 5 lần số thuế trốn, nhưng Luật

Thuế GTGT không nêu khái niệm trốn thuế và không quy định các hành vi trốn

114 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế đi với mức phạt, do đó việc xử lý rất khó khăn. Việc không xử phạt được

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

nghiêm minh các hành vi vi phạm đã làm mất ý nghĩa của các hình phạt đối với

vi phạm là trừng phạt với vi phạm và răn đe, ngăn ngừa để những người khác

không dám vi phạm. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến các hành vi

vi phạm về thuế GTGT vẫn đang tồn tại.

Cần quy định cụ thể các hành vi vi phạm và mức xử phạt vi phạm của

từng hành vi để việc xử lý phạt được thực hiện một cách nghiêm minh đối với

các vi phạm về thuế, khi đó sẽ có tác dụng răn đe, ngăn ngừa để các đối tượng

kiềm chế không dám vi phạm pháp luật thuế GTGT.

3.3.2. Đề xuất với cơ quan chủ quản

3.3.2.1. Đối với Cục Thuế TP Hà Nội:

- Về công tác tin học: Đề nghị Cục Thuế bổ sung máy tính, hiện nay

cán bộ vẫn thiếu máy làm việc, máy phần lớn đã cũ, cấu hình không cao

nên việc tra cứu, ứng dụng các phần mềm bị hạn chế. Bổ sung máy in

chuyên dụng tốc độc cao để trang bị cho đội Kê khai kế toán thuế, đội

Quản lý nợ do hàng tháng phải in thông báo thuế với số lượng lớn trong

thời gian ngắn.

- Về công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu: Đề nghị Cục Thuế cấp kinh phí

chỉnh lý tài liệu đưa vào lưu trữ từ những năm 2012 trở về trước do khối

lượng tài liệu phát sinh hàng năm lớn.

- Về giao chỉ tiêu kiểm tra quyết toán thuế hàng năm: Đề nghị

Ngành thuế thay đổi phương pháp giao chỉ tiêu kiểm tra quyết toán thuế

tại doanh nghiệp. Nên giao Chi cục đề xuất số lượng cho phù hợp.

- Về nhân sự: Đề nghị Cục thuế bổ sung thêm cán bộ cho Chi cục.

115 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

3.3.2.2. Đối với UBND các phường:

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

- Đề nghị UBND các phường tăng cường công tác tuyên truyền, chỉ đạo

Hội đồng tư vấn thuế đôn đốc thu thuế tháng, không để nợ đọng thuế, đặc biệt

thu thuế môn bài năm và quản lý các hộ mới ra kinh doanh và hoạt động xây

dựng nhà tư nhân.

- Phối hợp, rà soát hộ kinh doanh, đối chiếu với số liệu điều tra thống kê

để xác định nguyên nhân chênh lệch; đồng thời có biện pháp đấu tranh điều

chỉnh doanh thu hộ kinh doanh cho phù hợp thực tế kinh doanh để đảm bảo hoàn

thành dự toán giao.

- Tiếp tục củng cố HĐTVT và đội ngũ UNT để phối hợp thực hiện tốt

116 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

công tác thu nộp ngân sách.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

KẾT LUẬN

Thuế GTGT giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu thu ngân sách và ngày

càng chiếm tỷ trọng cao khi thuế xuất nhập khẩu bị cắt giảm, thuế thu nhập

doanh nghiệp giảm thuế suất (theo lộ trình đến 2015 còn 20%) và mở rộng miễn,

giảm thuế. Chính sách thuế ngày càng hoàn thiện nhằm phục vụ hài hòa lợi ích

của Nhà nước và mọi công dân trong đó Thuế GTGT là một sắc thuế hiện đại,

tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường và nó được lập ra để khắc phục những

nhược điểm của thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế”.

Luật thuế GTGT được áp dụng ở nước ta tuy muộn hơn nhiều so với các

nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới và khu vực, nhưng qua thực tiễn gần

15 năm thi hành, thuế GTGT đã phát huy khá đầy đủ những ưu điểm của một

sắc thuế tiên tiến, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đẩy mạnh

tăng trưởng kinh tế, khuyến khích xuất khẩu, tạo ra nhiều công việc thu hút lao

động trong xã hội và có tác dụng lớn đối với đời sống kinh tế - xã hội, góp phần

hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là đã trở

thành một nguồn thu lớn của ngân sách nhà nước để nhà nước thực hiện tốt chức

năng tổ chức quản lý quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Việc thực hiện Luật thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa những

năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng và có những tác động tích cực cả

về kinh tế, chính trị, xã hội. Song việc áp dụng đòi hỏi nhiều điều kiện đồng bộ

nên trong quá trình triển khai thực hiện đã bộc lộ một số vấn đề phức tạp, đặc

biệt là hiện tượng gian lận thuế GTGT. Chi cục Thuế quận Đống Đa đã có

những biện pháp phòng, chống kịp thời, nhưng do nhiều nguyên nhân khách

quan và chủ quan, hiện tượng vi phạm luật thuế vẫn còn xảy ra ở nhiều lúc,

nhiều nơi, chưa được ngăn chặn kịp thời. Để việc quản lý thu thuế GTGT có

hiệu quả, góp phần thực hiện tốt pháp luật thuế nói chung, thuế GTGT nói riêng,

117 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

cần thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

Luận văn được thực hiện và hoàn thành từ kết quả học tập và trau dồi kiến

thức, kỹ năng về kinh tế, quản trị kinh doanh một cách toàn diện trong quá trình

học tập tại lớp cao học – Ngành quản trị kinh doanh, do các thầy cô giáo khoa

Kinh tế - Quản lý – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội giảng dạy, đặc biệt là sự

- Trường đại học Bách khoa Hà Nội.

hướng dẫn của thầy giáo: PGS.TS. Nguyễn Ái Đoàn - Khoa Kinh tế & Quản lý

Trên đây là toàn bộ nội dung luận văn “Phân tích và đề xuất một số giải

pháp hoàn thiện công tác thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận

Đống Đa – Hà Nội”. Mặc dù có nhiều cố gắng tìm tòi nghiên cứu, song vì trình

độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên đề án tốt nghiệp của tôi sẽ không

tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong thấy giáo hướng dẫn, Lãnh

đạo Chi cục Thuế quận Đống Đa và cùng toàn thể bạn đọc quan tâm, giúp đỡ,

đóng góp ý kiến để luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện.

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo

PGS.TS. Nguyễn Ái Đoàn - Khoa Kinh tế & Quản lý - Trường đại học Bách

khoa Hà Nội và sự giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạo Chi cục cùng toàn thể cán

bộ công nhân viên Chi cục Thuế quận Đống Đa đã tạo điều kiện cho tôi hoàn

118 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thành luận văn tốt nghiệp này.

Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10

(2006), Luật quản lý Thuế số 78/2006/QH11.

Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3 (2008),

Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12.

Chính phủ (2008), Nghị định số 123/2008/NĐ-CP, Quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng.

Chính phủ (2011), Nghị định số 121/2011/NĐ-CP, Sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP.

Bộ Tài chính (2011), Thông tư 28/2011/TT-BTC, Hướng dẫn thi hành

một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày

28/10/2010 của Chính phủ.

Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 06/2012/TT- BTC, Hướng dẫn thi hành

một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, hướng dẫn thi hành Nghị định số

123/2008/NĐ-CP và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP.

Tổng cục Thuế (2008), Qui trình số 528/QĐ-TCT, Qui định về kiểm tra

thuế.

Tổng cục Thuế (2009), Qui trình số 443/QĐ-TCT, Qui định về quản lý

đăng ký thuế.

Tổng cục Thuế (2011), Qui trình số 1864/QĐ-TCT, Qui định về quản lý

khai thuế, nộp thuế.

Tổng cục Thuế (2011), Qui trình số 1395/QĐ-TCT, Qui định về quản lý

nợ thuế GTGT.

Tổng cục Thuế (2011), Qui trình số 905/QĐ-TCT, Qui định về điều kiện,

thủ tục hoàn thuế GTGT.

Tổng cục Thuế (2011), Qui trình số 1444/QĐ-TCT, Qui định về miễn

119 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221

thuế, giảm thuế.