BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG - THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
LÊ THỊ THÖY
VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ LAO ĐỘNG - THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
LÊ THỊ THÖY
VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 8760101
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, chƣa đƣợc công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Các
số liệu, nội dung đƣợc trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và
đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả
Lê Thị Thúy
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các
thầy, cô giáo Khoa Công tác xã hội, Trƣờng Đại học Lao động - Xã hội đã tận
tình giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn
thạc sĩ này.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Bình
đã tận tình hƣớng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Sau đại học,
Trƣờng Đại học Lao động - Xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
thời gian học tập và thực hiện luận văn tại trƣờng.
Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ, giúp
đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn Ngƣời có công với cách mạng, đội
ngũ cán bộ chính sách, cán bộ lãnh đạo địa phƣơng trên địa bàn nghiên đã
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu.
Dù đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu để hoàn thành luận văn
nhƣng cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận đƣợc sự
đóng góp ý kiến của quý thầy, cô giáo để luận văn của tôi đƣợc hoàn chỉnh.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................ I
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... II
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ......................................................... IV
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 8
6. Những đóng góp mới của luận văn ............................................................. 10
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 11
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG
TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO
NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ....................................................... 12
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài .......................................................... 12
1.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe ngƣời có công với cách mạng................................................................. 20
1.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng. ....................... 28
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .................................................................................. 39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ
HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CÓ
CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH
HÓA ................................................................................................................ 40
2.1. Khái quát chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu .............................. 40
2.2. Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm
sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh
Hóa .................................................................................................................. 46
2.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
việc chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa,
tỉnh Thanh Hóa ................................................................................................ 70
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .................................................................................. 81
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA
NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC
SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ....................... 82
3.1. Một số giải pháp ....................................................................................... 82
3.2. Một số khuyến nghị .................................................................................. 88
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 92
PHỤ LỤC
I
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
NCCVCM Ngƣời có công với cách mạng 1
CTXH Công tác xã hội 2
NVCTXH Nhân viên công tác xã hội 3
TB Thƣơng binh 4
BB Bệnh binh 5
CĐHH Chất độc hóa học 6
MVNAH Mẹ Việt Nam anh hùng 7
LĐ - TB&XH Lao động - thƣơng binh và xã hội 8
UBND Ủy ban nhân dân 9
HĐND Hội đồng nhân dân 10
BHYT Bảo hiểm y tế 11
CSSK Chăm sóc sức khỏe 12
II
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại Ngƣời có công với cách mạng ở 05 xã tại huyện Thiệu
Hóa, tỉnh Thanh Hóa ....................................................................................... 42
Bảng 2.2: Thống kê độ tuổi của ngƣời có công với cách mạng tại 05 xã trong
mẫu nghiên cứu ............................................................................................... 42
Bảng 2.3: Tình trạng sức khỏe ngƣời có công với cách mạng ....................... 43
Bảng 2.4: Thông tin nhân viên công tác xã hội ở 05 xã nghiên cứu tại huyện
Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ............................................................................. 45
Bảng 2.5: Đánh giá thái độ của nhân viên công tác xã hội khi thực hiện vai trò
kết nối .............................................................................................................. 52
Bảng 2.6 : Một số kết quả của hoạt động vận động nguồn lực ....................... 53
Bảng 2.7 : Mức độ hài lòng của ngƣời có công về hoạt động vận động nguồn
lực tại địa phƣơng ............................................................................................ 55
Bảng 2.8 : Nội dung công tác tuyên truyền về chính sách chăm sóc sức khỏe
đối với ngƣời có công với cách mạng: ............................................................ 62
Bảng 2.9: Đánh giá mức độ thực hiện vai trò tuyên truyền của nhân viên công
tác xã hội trong tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công ....... 64
Bảng 2.10: Nội dung tƣ vấn về chăm sóc sức khỏe ngƣời có công ................ 65
Bảng 2.11: Tỷ lệ đánh giá về thái độ của nhân viên công tác xã hội trong vai
trò ngƣời tƣ vấn chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công ............................... 67
Bảng 2.12: Đánh giá mức độ thực hiện vai trò tƣ vấn của nhân viên công tác
xã hội trong tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công ............. 69
Bảng 2.13: Bảng tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với
cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa .......................................... 70
III
Bảng 2.14: Khó khăn khi thực hiện vai trò kết nối của nhân viên công tác xã
hội .................................................................................................................... 79
Bảng 2.15: Các yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội
......................................................................................................................... 80
IV
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1: Mức độ ngƣời có công đƣợc nhân viên công tác xã hội kết nối về
chế độ chăm sóc sức khỏe ............................................................................... 48
Biểu đồ 2.2: Kết quả đánh giá việc thực hiện vai trò kết nối của nhân viên
công tác xã hội trong việc tuyên truyền chính sách chăm sóc sức khỏe cho
NCC ................................................................................................................. 50
Biểu đồ 2.3: Kết quả đánh giá việc thực hiện vai trò vận động nguồn lực của
nhân viên công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe cho NCC ............... 56
Biểu đồ 2.4: Mức độ cần thiết của vai trò tuyên truyền trong chăm sóc sức
khỏe cho NCC ................................................................................................. 60
Biểu đồ 2.5: Mức độ tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe cho NCC của nhân
viên công tác xã hội ......................................................................................... 63
Biểu đồ 2.6: Mức độ hài lòng về vai trò tƣ vấn của nhân viên công tác xã hội
......................................................................................................................... 67
LỜI MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử 4000 năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, dân tộc ta đã trải qua
những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và Mỹ, đã có những ngƣời cống hiến, hy sinh vì đất nƣớc, những
ngƣời may mắn sống sót trở về đang phải gánh chịu những nỗi đau cả về thể
xác lẫn tâm hồn do chiến tranh để lại. Những ngƣời đang sống trong thời bình
nhƣ chúng ta hiện nay, không thể không thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ
cha anh - những ngƣời có công với cách mạng.
Chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng vừa là trách
nhiệm lớn lao, vừa là tình cảm sâu sắc và là đạo lý cao cả, trở thành truyền
thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Uống nƣớc nhớ nguồn”; “ Ăn quả nhớ
kẻ trồng cây”; “Đền ơn đáp nghĩa”.
Chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống cho ngƣời có công với cách
mạng là một trong những chính sách đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm,
chú trọng. Để việc thực hiện chính sách ƣu đãi ngƣời có công đặc biệt là
chính sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng đáp ứng đƣợc
nhu cầu thực tiễn thì vai trò của nhân viên công tác xã hội là rất quan trọng.
Nhân viên công tác xã hội là những ngƣời đƣợc đào tạo và trang bị các
kiến thức, kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối
tƣợng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề trong cuộc
sống; tạo cơ hội để các đối tƣợng tiếp cận các nguồn lực cần thiết, thúc đẩy sự
tƣơng tác giữa các cá nhân, giữa các cá nhân với môi trƣờng tạo ảnh hƣởng
tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình,
nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn.
Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chăm sóc
2
sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng: Vai trò vận động nguồn lực, vai
trò kết nối, vai trò giáo dục, vai trò tƣ vấn tham vấn, vai trò chăm sóc trợ
giúp…
Huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là một huyện có bề dày lịch sử
trong sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ đất nƣớc, biết bao ngƣời con của mảnh
đất này may mắn đƣợc trở về từ chiến trƣờng nhƣng họ lại mang trong mình
những vết thƣơng mà vĩnh viễn không thể chữa lành đƣợc, thậm chí các thế
hệ con cháu sau này của họ cũng bị ảnh hƣởng. Toàn huyện có 3.597 ngƣời
có công với cách mạng Những năm qua, công tác “ Đền ơn đáp nghĩa” và các
chính sách chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng đã đƣợc đẩy
mạnh và đạt đƣợc một số kết quả. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đƣợc giao, nhân
viên công tác xã hội phải tuân thủ và hoàn thành chức trách, nhiệm vụ và thực
hiện tốt vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
Đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu về hoạt động chăm sóc
sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng và vai trò của nhân viên công tác
xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng
nhƣng các bài viết cũng nhƣ đề tài nghiên cứu này ít quan tâm hoặc chƣa đi
sâu nghiên cứu về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “ Vai trò của nhân viên công
tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách
mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”.
3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua nƣớc ta cũng nhận thức một cách đúng đắn, đầy
đủ về tầm quan trọng của sức khỏe đối với mỗi cá nhân. Đảng và Nhà nƣớc
đã rất chú ý quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với
cách mạng. Đã có rất nhiều văn kiện, các đề tài, công trình nghiên cứu cũng
nhƣ sách báo viết về công tác chăm sóc sức khỏe của ngƣời có công.
Tác giả Nguyễn Hiền Phƣơng (2004) có bài viết về “Một số vấn đề về
pháp luật ưu đãi xã hội”, Tạp chí Luật học số 4/2004. Qua nghiên cứu này,
tác giả đã đƣa ra và phân tích một số khái niệm và nội dung cơ bản của Pháp
luật Ƣu đãi ngƣời có công (Khái niệm ngƣời có công, tiêu chuẩn xác nhận
ngƣời có công…) luận bàn và đánh giá về những thành tựu cũng nhƣ phân
tích chỉ rõ những điểm còn hạn chế trong những chính sách với ngƣời có công
(chế độ trợ cấp hàng tháng, ƣu đãi về giáo dục, y tế, việc làm, tín dụng, nhà ở,
đất đai…). Đồng thời, đƣa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
chính sách ƣu đãi với ngƣời có công [13]
Bà Nguyễn Thị Hằng (2005), có bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản
số 7/2005 “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với
thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng”. Tác giả nêu
những nét khái quát những thành tựu đạt đƣợc trong việc thực hiện ƣu đãi xã
hội đối với thƣơng binh, bênh binh, gia đình liệt sỹ và ngƣời có công trong 10
năm từ 1995 đến 2005, qua đó đúc kết những kinh nghiệm và đề ra những
giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ƣu đãi xã hội [6]
Tại Hội thảo Công tác điều dƣỡng, chăm sóc sức khoẻ ngƣời có công,
đƣợc Cục ngƣời có công (Bộ Lao động-TBXH) tổ chức ngày 15/4/2010, tại
thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã khẳng định “Công tác điều dưỡng và
chăm sóc sức khỏe, được xem như là một yêu cầu bức thiết vì rất nhiều đối
tượng người có công đã bày tỏ nguyện vọng và mong muốn được đi thăm
4
quan, nghỉ ngơi điều dưỡng sức khoẻ dù chỉ là một lần”. Trên thực tế, nhu
cầu đƣợc điều dƣỡng và chăm sóc sức khỏe của ngƣời có công với cách mạng
tại các cơ sở chăm sóc ngƣời có công là rất cao nhƣng số lƣợng đƣợc đi điều
dƣỡng hàng năm rất ít, còn lại đa số điều dƣỡng tại nhà [7]
Trong đề tài “ Thực trạng công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe người
có công tại phường Đề Thám, thị xã Cao Bằng” do tác giả Hoàng Thúy Hằng
(2011) thực hiện đã chỉ ra đƣợc thực trạng và những hạn chế của công tác này.
Kết quả cho thấy có 56,7% ý kiến cho rằng 5 chƣơng trình chăm sóc ngƣời có
công tại địa phƣơng đã đƣợc thực hiện tốt; 26,7% ngƣời có công cho rằng
các chƣơng trình chƣa đƣợc thực hiên tốt. Từ đó đề ra những giải pháp để
nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe đối với ngƣời có
công tốt hơn tại địa phƣơng [5]
Cũng trong năm 2011, Hồ Thị Vân Kiều đã nghiên cứu về “Chăm sóc
sức khỏe người có công cách mạng: Thực trạng và giải pháp (điển cứu tại
trung tâm Hoài Ân, tỉnh Bình Định)”. Tác giả đã nghiên cứu tại huyện Hoài
Ân hiện nay nguồn nhân lực trong chăm sức khỏe ngƣời có công thì có 36,9%
ý kiến cho rằng bác sĩ, y tá, thiếu trách nhiệm, 13,8% cho là có tôn trọng bệnh
nhân. Theo đánh giá của ngƣời có công, đội ngũ y, bác sĩ, có thái độ ân cần,
chu đáo, có trách nhiệm chiếm 50% của bệnh viện tỉnh, 21,6% của phòng
khám tƣ, 4,4% của trạm y tế xã. Tình trạng thiếu trách nhiệm, thiếu tôn trọng
bệnh nhân cao nhất là ở trạm y tế 62,5%, 16,2% là ở phòng khám tƣ, ở bệnh
viện tỉnh chiếm 20%.Tác giả cũng chỉ ra hầu hết ngƣời có công cách mạng ở
huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã và đang đƣợc chăm sóc sức khỏe theo
chính sách của Đảng và Nhà nƣớc. Đề tài đã cho thấy đa số ngƣời có công với
cách mạng ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định có nhu cầu cao về chăm sóc sức
khỏe nhƣng chất lƣợng và hiệu quả của công tác này chƣa cao do rất nhiều
khó khăn mang lại, nhất là thiếu thốn về tài chính, về đội ngũ y, bác sĩ, cơ sở
5
vật chất nghèo nàn, lạc hậu. Từ đó tác giả cũng đề ra những giải pháp nâng
cao chất lƣợng, hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công [8]
Trần Thị Hồng Thƣ (2012) cũng có nghiên cứu về “ Vai trò của nhân
viên công tác xã hội trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu
đãi đối với người có công với cách mạng tại xã Vĩnh Lại – Lâm Thao – Phú
Thọ”. Tác giả đã tìm hiểu thực trạng việc thực hiện các chính sách ƣu đãi cho
ngƣời có công trong thực tiễn. Từ đó đề xuất mô hình công tác xã hội đối với
việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có công với
cách mạng tập trung vào vai trò của nhân viên công tác xã hội [17]
Tác giả Đinh Thị Hằng Nga, (2015), “Công tác chăm sóc sức khỏe đối
với người có công và vai trò của nhân viên công tác xã hội (Nghiên cứu tại
Trung tâm nuôi dưỡng và Điều dưỡng người có công ở Hà Nội)”. Tác giả mô
tả thực trạng về cuộc sống của những ngƣời có công tại trung tâm, một bộ
phận lớn ngƣời có công khi đến Trung tâm điều dƣỡng đã đƣợc chăm sóc về
sức khỏe thể chất lẫn tinh thần. Trung tâm có một đội ngũ nhân viên có hiểu
biết về y tế đã thực hiện tốt những công việc của nhân viên công tác xã hội.
Thông qua đó thể hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội trong quá trình
trợ giúp xã hội đối với những ngƣời có công tại Trung tâm .
Tuy nhiên trƣớc nhu cầu, nguyện vọng cao của ngƣời có công về sự hỗ
trợ, nhân viên công tác xã hội còn gặp nhiều khó khăn, chƣa đáp ứng đƣợc
những đòi hỏi của đối tƣợng phục vụ [4]
Tác giả Lê Thị Thanh Vân (2016), với đề tài “Thực hiện chính sách ưu
đãi cho người có công trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội” đã
mô tả thực trạng về việc thực hiện chính sách ƣu đãi với ngƣời có công trên
địa bàn quận, nêu lên các yếu tố ảnh hƣởng và vai trò của nhân viên công tác
xã hội trong việc thực hiện chính sách. Từ đó, đƣa ra một số giải pháp nhằm
6
thực hiện tốt hơn các chính sách ƣu đãi cho ngƣời có công trên địa bàn quận
Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội [23]
Nghiên cứu của tác giả Đậu Thị Tình (2016) về “Đánh giá nguồn lực
cộng đồng trong việc chăm sóc người có công với cách mạng (Nghiên cứu tại
xã Quỳnh Văn – Quỳnh Lưu, Nghệ An)”. Tác giả đã mô tả thực trạng về vai
trò của cộng đồng trong việc chung tay chăm sóc cho ngƣời có công với cách
mạng. Không chỉ có sự trợ giúp, ƣu đãi xã hội từ phía Nhà nƣớc mà các
nguồn lực từ cộng đồng là một trong những nguồn lực quan trọng giúp cho
ngƣời có công tạo lập cuộc sống để cuộc sống của họ tốt hơn cả về đời sống
tinh thần và vật chất. Những nhu cầu về vật chất, tinh thần, các mối quan hệ
xã hội, sự tôn trọng của xã hội đối với họ cũng đƣợc phân tích trong nghiên
cứu này [16]
Ngoài ra trong các trang báo: Dân trí, Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân… cũng có một số bài viết phản ánh thực trạng cuộc sống của ngƣời
có công với cách mạng. Chẳng hạn bài viết “ Người bệnh binh già trong căn
nhà xiêu vẹo” trên báo Dân trí (thứ tƣ ngày 12/1/2011). Bài báo này viết về
cuộc sống gia đình ngƣời bệnh binh Nguyễn Anh Thập (xã Song Lộc – Can
Lộc – Hà Tĩnh) vô cùng khó khăn: bản thân ông bị bệnh tật hành hạ, vợ con
gặp nạn, ốm đau liên miên, nuôi con cái học hành, gia đình ông lại cƣu mang
hai cụ già không có con. Họ phải sống trong một căn nhà xiêu vẹo đe đọa đến
tính mạng bất cứ lúc nào. Qua đó phản ánh thực trạng vẫn còn một số ngƣời
có công với cách mạng chƣa đƣợc quan tâm, chăm sóc đúng mức, cuộc sống
của họ còn chứa đựng vô vàn khó khăn, thách thức và ẩn hiện những nguy cơ
[1]
Từ những phân tích trên cho thấy, đã có một số nghiên cứu cũng nhƣ
bài viết về chăm sóc ngƣời có công với cách mạng. Tuy nhiên những công
trình đó chủ yếu nghiên cứu về thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe ngƣời
7
có công ở các Trung tâm nuôi dƣỡng ngƣời có công hoặc ở các xã, phƣờng.
Hầu nhƣ rất ít có những nghiên cứu về vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với
cách mạng. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của
nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có
công với cách mạng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về vai trò của nhân viên công tác
xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng
để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài.
- Khảo sát thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc
hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng và các yếu tố ảnh
hƣởng tới thực trạng trên.
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của
nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có
công với cách mạng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
8
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm:
- 120 nguời là Ngƣời có công với cách mạng (thƣơng binh, bệnh binh,
ngƣời nhiễm chất độc hóa học, Mẹ Việt Nam anh hùng)
- 05 Cán bộ Lao động - thƣơng binh và xã hội thực hiện chính sách
cho ngƣời có công với cách mạng (Nhân viên Công tác xã hội)
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung:
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe cho ngƣời có công với cách mạng. Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu vào
04 vai trò của nhân viên công tác xã hội là:
+ Vai trò kết nối
+ Vai trò vận động nguồn lực
+ Vai trò tuyên truyền
+ Vai trò tƣ vấn
Phạm vi không gian:
05 xã của huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa: Thiệu Hợp, Thiệu
Quang, Thiệu Thịnh, Thiệu Duy, Thiệu Giang.
Phạm vi thời gian: Từ năm 2018 – 2020
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Mục đích: hệ thống hóa và khái quát hóa các tài liệu, các công trình
nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
Cách tiến hành: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo các giáo
trình, tài liệu có liên quan: Nhập môn CTXH, Ƣu đãi xã hội, các công trình
nghiên cứu, bài viết, sách, báo ... từ đó phân tích, tổng hợp, khái quát về vai
9
trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho
ngƣời có công nhằm mang lại cái nhìn tổng quát nhất về vấn đề nghiên cứu.
5.2. Phương pháp quan sát
Mục đích: thu thập thêm các thông tin để bổ sung cho kết quả nghiên
cứu từ phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Cách tiến hành: Quan sát về cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ y tế trong
hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ngƣời có công. Quan sát thái
độ, hành vi, cử chỉ của cán bộ Lao động - thƣơng binh và xã hội ( Nhân viên
công tác xã hội), cán bộ y tế đối với ngƣời có công với cách mạng trong các
hoạt động tại địa phƣơng...
5.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Thu thập thông tin để làm rõ thực trạng và các yếu tố ảnh
hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc
sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
Cách tiến hành: xây dựng một bảng hỏi gồm 26 câu (Xem Phụ lục số
01) với 120 ngƣời có công với cách mạng đang sinh sống tại 05 xã trên địa
bàn huyện Thiệu Hóa.
5.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích: nhằm tìm hiểu thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng ở địa
phƣơng. Các kết quả phỏng vấn sâu giúp cho ngƣời đọc hiểu rõ hơn, chi tiết hơn
về các vấn đề liên quan và là minh chứng cụ thể, sinh động cho các số liệu
nghiên cứu định lƣợng.
Số lƣợng ngƣời phỏng vấn:
- Đại diện lãnh đạo Phòng Lao động - thƣơng binh và xã hội huyện : 02
ngƣời
10
- Cán bộ Lao động - thƣơng binh và xã hội (Nhân viên công tác xã hội):
05 ngƣời
- Đại diện lãnh đạo địa phƣơng: 02 ngƣời
- Ngƣời có công: 01 ngƣời
Nội dung phỏng vấn:
- Phó chủ tịch huyện; Trƣởng phòng Lao động - thƣơng binh và Xã hội
huyện: Phỏng vấn nhằm tìm hiểu việc thực hiện chính sách ƣu đãi đối với
ngƣời có công với cách mạng; đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
- Cán bộ LĐ - TB&XH: Phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu vai trò cán bộ
chính sách trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng.
- Ngƣời có công: Phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu ngƣời có công đang
đƣợc hƣởng chính sách chăm sóc sức khỏe.
5.5. Phương pháp thống kê toán học
Trong nghiên cứu việc sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học nhằm
xử lí, phân tích và tổng hợp các số liệu thu thập đƣợc. Qua đó đánh giá về mặt
định lƣợng các kết quả thu đƣợc.
Luận văn có sử dụng phần mềm Excel để xử lý các bảng và biểu đồ.
6. Những đóng góp mới của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận
về công tác xã hội, lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc
hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công; khái niệm CTXH, vai trò của nhân
viên CTXH, một số yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã
hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công.
11
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua nghiên cứu vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe ngƣời có công trên địa bàn huyện Thiệu Hóa để đánh giá
đƣợc thực trạng vai trò nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe ngƣời có công, các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhân viên
CTXH trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công.
Thông qua đề tài nghiên cứu để thấy đƣợc tầm quan trọng của nhân
viên CTXH trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công.
Có thể làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu về
vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe NCC.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng
Chƣơng 2: Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc
hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng tại huyện Thiệu
Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Chƣơng 3: Giải pháp và khuyến nghị nâng cao vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với
cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC
SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1. Một số khái niệm cơ ản của đề tài
1.1.1. Khái niệm Vai tr
Vai trò là một hoặc nhiều chức năng mà cá nhân ấy phải đảm trách
trƣớc xã hội. Theo Robertsons, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi,
quyền lợi và nghĩa vụ đƣợc gắn liền với một vị thế xã hội nhất định.
( Nguồn: Wikipedia.org)
Trong cuốn iáo trình ã hội học hai tác giả là Phạm Tất Dong và Lê
Ngọc Hùng quan niệm: Vai trò xã hội là mô hình hành vi đƣợc xác lập một
cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định,
để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tƣơng ứng với các vị thế đó.[4]
Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có
bấy nhiêu vai trò xã hội. Vị thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn
từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các
giai cấp và các nhóm xã hội khác mà quy định nên. Mỗi cá nhân có nhiều vị
thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội… và tùy theo vai trò của
mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tƣơng ứng
với vai trò mà cá nhân đảm trách.
Nhƣ vậy, vai trò là một hoặc nhiều chức năng mà cá nhân phải đảm
trách, để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ tƣơng ứng với một vị thế nhất định.
Để cá nhân có thể thực hiện tốt các vai trò, một mặt, các đòi hỏi chuẩn
mực do xã hội đặt ra phải rõ ràng. Mặt khác, cá nhân phải học hỏi về các vai
13
trò trong quá trình xã hội hóa, tức là học hỏi về những yêu cầu, đòi hỏi mà họ
cần phải thực hiện khi họ tiếp nhận một vị thế xã hội nhất định.
1.1.2. Khái niệm Hỗ trợ
Theo Từ điển tiếng Việt thì hỗ trợ là: giúp đỡ nhau, giúp thêm vào; hỗ
trợ bạn bè, hỗ trợ cho đồng đội kịp thời.
Hỗ trợ về khía cạnh xã hội là sự tƣơng trợ giữa ngƣời với ngƣời, những
ngƣời biết hỗ trợ cho những ngƣời chƣa biết. Kẻ mạnh có thể hỗ trợ cho
những kẻ yếu thế để tạo ra mối quan hệ tốt đẹp cùng phát triển, tiến tới xã hội
văn minh hơn.
Hỗ trợ về khía cạnh kinh tế là ngƣời có tiền sẽ hỗ trợ cho ngƣời không
có tiền, ngƣời có tiềm lực kinh tế hỗ trợ cho ngƣời có trí tuệ để cùng nhau
phát triển phục vụ mục tiêu chung.
Do vậy có thể hiểu hỗ trợ là sự giúp đỡ nhau, trợ giúp kịp thời khi cá
nhân, gia đình và cộng đồng gặp phải một số vấn đề, khó khăn không thể tự
giải quyết được; hoặc hướng dẫn họ làm việc gì đó.
1.1.3. Khái niệm Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe
* Sức khỏe:
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về sức khỏe.
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO thì: “Sức khoẻ là một trạng thái
thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ không có bệnh hay
thương tật”.[18]
Nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khoẻ thể chất,
sức khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội.
- Sức khoẻ thể chất : Sức khoẻ thể chất đƣợc thể hiện một cách tổng
quát sự sảng khoái và thoải mái về thể chất. Càng sảng khoái, thoải mái, càng
chứng tỏ bạn là ngƣời khoẻ mạnh.
Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái thể chất là:
14
Sức lực: Khả năng hoạt động của cơ bắp mạnh, có sức đẩy, sức kéo,
sức nâng cao…do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái nhƣ mang
vác, điều khiển máy móc, sử dụng công cụ…
Sự nhanh nhẹn: Khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, đi lại,
chạy nhảy, làm các thao tác kỹ thuật một cách nhẹ nhàng, thoải mái.
Sự dẻo dai: Làm việc hoặc hoạt động chân tay tƣơng đối lâu và liên tục
mà không cảm thấy mệt mỏi.
Khả năng chống đỡ được các yếu tố gây bệnh: ít ốm đau hoặc nếu có
bệnh cũng nhanh khỏi và chóng hồi phục.
Khả năng chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường:
Chịu nóng, lạnh, hay sự thay đổi đột ngột của thời tiết.
- Sức khoẻ tinh thần : Sức khoẻ tinh thần là hiện thân của sự thoả mãn
về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần. Nó đƣợc thể hiện ở sự sảng
khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tƣơi, thanh thản; ở những ý nghĩ lạc
quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả
năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh.
Có thể nói, sức khoẻ tinh thần là nguồn lực để sống khoẻ mạnh, là nền
tảng cho chất lƣợng cuộc sống, giúp cá nhân có thể ứng phó một cách tự tin
và hiệu quả với mọi thử thách, nguy cơ trong cuộc sống. Sức khoẻ tinh thần
cho ta khí thế để sống năng động, để đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra trong cuộc
sống và tƣơng tác với ngƣời khác với sự tôn trọng và công bằng.
Sức khoẻ tinh thần chính là sự biểu hiện nếp sống lành mạnh, văn minh
và có đạo đức. Cơ sở của sức khoẻ tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong
hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm.
- Sức khoẻ xã hội :
Sự hoà nhập của cá nhân với cộng đồng đƣợc gọi là sức khoẻ xã hội
nhƣ câu nói của Mác: "Con ngƣời là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội”.
15
Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt,
phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trƣờng, bạn bè, xóm làng, nơi công
cộng, cơ quan. Nó thể hiện ở sự đƣợc chấp nhận và tán thành của xã hội.
Càng hoà nhập với mọi ngƣời, đƣợc mọi ngƣời đồng cảm, yêu mến càng có
sức khoẻ xã hội tốt và ngƣợc lại.
Cơ sở của sức khoẻ xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi
cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những ngƣời khác; là sự
hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội.
Ba yếu tố sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội có
liên quan chặt chẽ với nhau. Nó là sự thăng bằng, hài hoà của tất cả những
khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con ngƣời. Nó là cơ sở quan trọng tạo
nền tảng cho hạnh phúc con ngƣời.
Nhƣ vậy có thể hiểu một ngƣời hoàn toàn khỏe mạnh phải là một ngƣời
có đầy đủ sức khỏe về thể chất, tinh thần và có các mối quan hệ xã hội tốt
đẹp. Cụ thể: Một ngƣời đƣợc xem là có sức khỏe thể chất không những không
có thƣơng tật, bệnh tật mà các hoạt động về thể lực cũng nhƣ tất cả các hoạt
động sống đều ở trạng thái tốt nhất và phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh,
lứa tuổi...
Có đƣợc một cơ thể khỏe mạnh là mơ ƣớc - mục tiêu - mục đích mà
mọi ngƣời hƣớng đến và cố gắng thực hiện mọi biện pháp để đạt đến cái
ngƣỡng đó. Tất cả những yếu tố về sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần,
quan hệ xã hội đƣợc kết hợp một cách hài hòa và đảm bảo sẽ làm nên vẻ đẹp
sáng ngời của một con ngƣời, nhƣ cha ông ta đã từng khẳng định “Bàn tay ta
làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.
Các yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại, ảnh
hƣởng mạnh mẽ đến nhau, nếu thiếu một trong các thành tố trên sẽ không làm
nên sức khỏe con ngƣời. Vì vậy, mỗi chúng ta cần có sự chăm lo phát triển
16
một cách hợp lý, hài hòa cân đối giữa các yếu tố để đạt đến một trạng thái sức
khỏe tốt và có cuộc sống lý tƣởng nhất.
Định nghĩa trên đã chỉ cho chúng ta thấy rõ trạng thái sức khỏe cần đạt
đƣợc để từ đó mỗi cá nhân hƣớng đến và vạch ra mục tiêu, phƣơng pháp để
đạt đƣợc. Tuy nhiên, định nghĩa trên cũng gặp phải hạn chế là chƣa đƣa ra
đƣợc mục tiêu, phƣơng pháp, kế hoạch thực hiện cho các lực lƣợng tham gia
vào quá trình chăm sóc sức khỏe.
* Chăm sóc sức khỏe:
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chăm sóc sức khỏe.
Theo tác giả Hoàng Đình Cầu trong cuốn: “ Quản lý chăm sóc sức khỏe
ban đầu”, NXB y học Hà Nội năm 1995 thì: "Chăm sóc sức khỏe là việc làm
thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể
chất, tinh thần, xã hội của mỗi thành viên trong xã hội".[2, tr.55]
Theo WHO thì nâng cao sức khỏe chính là sự hỗ trợ mà trong đó quan
trọng nhất là tạo khả năng cho ngƣời dân kiểm soát và nâng cao sức khỏe của
mình. Có rất nhiều ý kiến, cách thức và những yêu cầu đặt ra cho mỗi cá nhân
cũng nhƣ cộng đồng trong việc chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe.
Trong nghiên cứu này, chăm sóc sức khỏe là việc làm thỏa mãn các
nhu cầu về thể chất, tinh thần và xã hội cho ngƣời có công với cách mạng.
1.1.4. Khái niệm Người có công với cách mạng
Theo nghĩa rộng:
" Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng,
dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự
nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ có những đóng góp,
những cống hiến xuất sắc, phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc". [9]
17
Theo nghĩa hẹp:
" Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng,
dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong
thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến
giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền công nhận".[9]
Nhƣ vậy, dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì ngƣời có công là ngƣời
có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc. Những cống hiến
đóng góp của họ có thể là trong thời kỳ trƣớc cách mạng tháng Tám năm
1945, trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho tổ quốc và cũng có
thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc, đƣợc các cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền công nhận.
* Phân loại người có công:
Theo pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH 13 ngày 16/7/2012 của Ủy ban
thƣờng vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ƣu đãi ngƣời
có công với cách mạng.[14]. Có 12 nhóm đƣợc công nhận là ngƣời có công
với cách mạng, bao gồm:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước
Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945
- Liệt sĩ;
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
- Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
- Bệnh binh;
- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;
18
- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù
đày;
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và
làm nghĩa vụ quốc tế;
- Người có công giúp đỡ cách mạng.
Nhƣ vậy, ngƣời có công với cách mạng bao gồm ngƣời tham gia hoặc
giúp đỡ cách mạng mà hy sinh xƣơng máu hoặc một phần thân thể của mình
hoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và đƣợc các cơ
quan tổ chức có thẩm quyền công nhận.
Ngƣời có công với cách mạng đƣợc hƣởng sự ƣu đãi của xã hội và
cộng đồng bởi họ là những ngƣời có thành tích hoặc đóng góp đặc biệt xuất
sắc cho đất nƣớc, cho dân tộc.
1.1.5. Khái niệm Chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng
Chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng là xây dựng cộng
đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra và phát triển
một môi trƣờng kinh tế - xã hội lành mạnh cho các hoạt động chăm sóc sức
khỏe ngƣời có công với cách mạng.
Ở mỗi địa phƣơng đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, chính
quyền và các đoàn thể quần chúng, của từng công dân. Đây cũng là trách
nhiệm, nghĩa vụ, tình cảm của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp hỗ trợ
cho sự nghiệp phát triển công tác đền ơn đáp nghĩa. Công tác chăm sóc sức
khỏe ngƣời có công với cách mạng rất đa dạng các hình thức chăm sóc, giúp
đỡ. Bên cạnh các chính sách chế độ của Nhà nƣớc, phải phát triển rộng rãi các
hình thức chăm sóc ngƣời có công với cách mạng ở cộng đồng để mọi ngƣời
dân chủ động tham gia.
Chăm sóc sức khỏe ngƣời có công còn là đa dạng hóa các nguồn đầu tƣ
cho sự nghiệp phát triển, khai thác các nguồn lực đang tiềm ẩn trong cộng
19
đồng xã hội. Cùng với tăng dần ngân sách Nhà nƣớc, huy động và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo thêm điều kiện cho các hoạt động
chăm sóc ngƣời có công phát triển cao hơn, có chất lƣợng hơn.
Chăm sóc sức khỏe Ngƣời có công, huy động nguồn lực trong nhân dân
không nên hiểu chỉ là biện pháp tạm thời, là giải pháp tình thế trƣớc mắt do
Nhà nƣớc thiếu kinh nghiệm cho hoạt động này. Sau này khi đất nƣớc đã phát
triển, ngân sách Nhà nƣớc đã dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hóa, bởi vì
chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có công với cách mạng là một chính sách lớn
và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của đất nƣớc.
1.1.6. Khái niệm Nhân viên công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội (Social Worker) đƣợc Hiệp hội các nhà
Công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc Tế - IASW năm 2005 định nghĩa: “
Nhân viên công tác xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức, kỹ
năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao
khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để
các đối tượng tiếp cận các nguồn lực cần thiết, thúc đẩy sự tương tác giữa
các cá nhân, giữa các cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách
xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng
đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”.
Nhân viên công tác xã hội là những nhà chuyên nghiệp làm chủ những
nền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển các kỹ năng cần thiết,
tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội.
(DuBois and Miley, 2005: 5)
1.1.7. Khái niệm Nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe cho người có công với cách mạng
Từ những khái niệm trên, tác giả đƣa ra một khái niệm chung nhất về
nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có
20
công với cách mạng: Là những người được đào tạo, trang bị kiến thức và kỹ
năng công tác xã hội để hỗ trợ những người có công với cách mạng về chăm
sóc sức khỏe, cùng họ giải quyết những vấn đề khó khăn, giúp họ tiếp cận
được các chính sách, nguồn lực xã hội, đáp ứng nhu cầu cơ bản nhằm nâng
cao đời sống cho người có công với cách mạng.
Nhân viên công tác xã hội là những ngƣời đƣợc đào tạo chuyên nghiệp,
đƣợc cung cấp tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp,
phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có hiểu biết về pháp luật, giáo dục học, xã
hội học, tâm lí học, đời sống xã hội, môi trƣờng...
1.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe ngƣời có công với cách mạng
Theo quan điểm của Feyerico (1973), Nhân viên công tác xã hội có 13
vai trò: Vai trò là ngƣời vận động nguồn lực; Vai trò là ngƣời kết nối; Vai trò
là ngƣời biện hộ; Vai trò là ngƣời tuyên truyền;Vai trò là ngƣời vận động/hoạt
động xã hội; Vai trò ngƣời tạo sự thay đổi; Vai trò là ngƣời tƣ vấn; Vai trò là
ngƣời tham vấn; Vai trò là ngƣời trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch
cộng đồng; Vai trò là ngƣời chăm sóc, ngƣời trợ giúp; Vai trò là ngƣời xử lý
dữ liệu; Vai trò là ngƣời quản lý hành chính; Vai trò là ngƣời tìm hiểu, khám
phá cộng đồng.
Khi nhân viên công tác xã hội ở những vị trí khác nhau thì vai trò của
họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối tƣợng mà họ làm
việc. Ở vị trí là ngƣời hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách
mạng thì nhân viên công tác xã hội có 04 vai trò sau đây:
1.2.1. Vai tr k t nối
Một ngƣời môi giới có thể giúp kết nối các khách hàng (cá nhân, nhóm,
tổ chức hay cộng đồng) với những dịch vụ hay nguồn lực cộng đồng. Một
ngƣời môi giới cũng giúp đặt những phần khác nhau của cộng động trong mối
21
quan hệ với một phần khác để dẫn đến những lợi ích lẫn nhau giữa họ
(Barker, 1995).
Trong hệ thống vi mô và trung mô, nó đòi hỏi nhân viên công tác xã hội
phải quen thuộc với các dịch vụ cộng đồng, có kiến thức hiểu biết chung về
yêu cầu, thích hợp và nhạy cảm với những nhu cầu của khách hàng (Zastrov
and - Ashman, 1997).
Nhân viên công tác xã hội là ngƣời có đƣợc những thông tin về các
chính sách, dịch vụ và giới thiệu đối tƣợng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài
nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những
nguồn lực, chính sách, tài chính… để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn
đề.
Trong đời sống hàng ngày, ngƣời có công có mối quan hệ với nhiều hệ
thống xã hội là cơ quan, tổ chức đoàn thể và cá nhân có liên quan. Cho nên để
giúp đỡ ngƣời có công vƣợt qua những ốm đau, bệnh tật, nhân viên công tác
xã hội phải kết nối họ với cán bộ, nhân viên y tế trong việc chăm sóc sức
khỏe. Bằng các kiến thức kỹ năng của mình, nhân viên công tác xã hội sẽ can
thiệp, tác động để ngƣời có công và cán bộ, nhân viên y tế hiểu và gần gũi
nhau hơn.
Để có thể hỗ trợ đƣợc các đối tƣợng yếu thế trong giải quyết vấn đề của
bản thân thì việc nhân viên xã hội cần nắm bắt rõ những thông tin, chính sách,
dịch vụ, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc cũng nhƣ các chƣơng trình của
các tổ chức, cá nhân bên ngoài sẽ là một việc vô cùng quan trọng và cần thiết,
bởi lẽ không nắm rõ những điều nêu trên thì quyền lợi của đối tƣợng cũng sẽ
bị ảnh hƣởng, vấn đề sẽ khó khăn hơn do họ không có kiến thức và thông tin
liên quan đến bản thân mình, chính vì vậy nhân viên xã hội nhƣ là một "cầu
nối" truyền tải thông tin đến cho đối tƣợng cũng nhƣ giới thiệu đối tƣợng đến
các tổ chức, cá nhân đang triển khai các chƣơng trình. Đây là vai trò vô cùng
22
quan trọng để các tổ chức, cá nhân giúp đỡ đƣợc đúng ngƣời và kịp thời, giúp
các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc hỗ trợ đƣợc chính xác và nắm bắt đầy
đủ những thông tin về các đối tƣợng.
Cán bộ chính sách (nhân viên công tác xã hội) là những ngƣời trực tiếp
thi hành, thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với ngƣời có
công. Tuy nhiên muốn việc chăm sóc ngƣời có công đem lại hiệu quả cao,
ngoài việc thực hiện đầy đủ và đúng hiện các chính sách của Đảng và Nhà
nƣớc, họ cần kết nối ngƣời có công với các cơ quan, ban ngành, tổ chức, đoàn
thể xã hội, cộng đồng tổ chức thêm các hoạt động trợ giúp, hỗ trợ, chăm sóc
sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế, tâm lý của ngƣời có công tại địa
phƣơng. Không những trợ giúp, hỗ trợ phần nào cho ngƣời có công với cách
mạng mà nó còn thể hiện tinh thần, trách nhiệm của địa phƣơng đối với ngƣời
có công.
Trƣớc hết, là kết nối ngƣời có công với ngƣời thân khi họ không có
đƣợc sự quan tâm, chăm sóc từ phía gia đình. Nhân viên CTXH giúp ngƣời
thân trong gia đình hiểu đƣợc vai trò của mình đối với ngƣời có công . Hơn ai
hết, ngƣời thân phải là những ngƣời luôn ở bên cạnh để quan tâm, động viên,
an ủi, chi trả tài chính cho việc chăm sóc sức khỏe của ngƣời cao tuổi, là chỗ
dựa tinh thần và vật chất quan trọng của ngƣời có công khi ốm đau, bệnh tật.
Vì vậy, kết nối ngƣời có công với ngƣời thân, gia đình là một việc làm hết sức
cần thiết. Khi nhận đƣợc sự quan tâm của gia đình, ngƣời có công sẽ cảm thấy
mình đƣợc yêu thƣơng, chăm sóc, đƣợc tôn trọng, từ đó có động lực và cố
gắng hơn trong cuộc sống. Kết nối ngƣời thân gia đình với ngƣời có công
không chỉ giúp họ yên tâm điều trị bệnh tật mà còn tạo cho họ một niềm tin
để chiến đấu với bệnh tật, niềm tin vào một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
Tiếp theo là kết nối ngƣời có công với cán bộ, nhân viên y tế trong việc
chăm sóc sức khỏe. Bằng các kiến thức và kỹ năng của mình, nhân viên
23
CTXH sẽ can thiệp, tác động để ngƣời có công và cán bộ, nhân viên y tế hiểu
và gần gũi nhau hơn. Nhân viên CTXH giúp cán bộ, nhân viên y tế hiểu rõ
đƣợc hoàn cảnh, điều kiện sống, những tâm tƣ, nguyện vọng, đặc điểm tâm lý
của ngƣời có công , giúp ngƣời có công cách sử dụng thuốc, thời gian uống
thuốc theo chỉ dẫn của y bác sĩ...
Cuối cùng là kết nối ngƣời có công với các cơ quan, tổ chức đoàn thể,
cộng đồng. Thông qua việc kết nối này, nhân viên CTXH sẽ giúp ngƣời có
công và gia đình ngƣời có công hiểu đƣợc các chế độ, chính sách, những quy
định, thủ tục liên quan đến chăm sóc sức khỏe ở các cơ quan, tổ chức để từ đó
họ có thể tìm đến các cơ quan, tổ chức khi cần thiết. Hơn nữa, việc kết nối
này còn giúp cho các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trong đó có Hội Cựu chiến
binh, Hội thanh niên xung phong, cộng đồng để có sự quan tâm, động viên,
chia sẻ về vật chất và tinh thần với ngƣời có công và gia đình ngƣời có công
khi ốm đau, bệnh tật.
Thông qua việc kết nối này, nhân viên công tác xã hội sẽ giúp ngƣời
có công và gia đình ngƣời có công hiểu đƣợc các chế độ, chính sách, quy định
thủ tục liên quan đến chăm sóc sức khỏe; giúp cho các cơ quan, tổ chức đoàn
thể có sự quan tâm, chia sẻ, động viên về vật chất và tinh thần, tăng cƣờng
tính đoàn kết, gắn bó trong tổ chức và cộng đồng khi họ gặp khó khăn, hoạn
nạn. Góp phần tăng cƣờng và củng cố truyền thống “ tƣơng thân tƣơng ái”, “
lá lành đùm lá rách” tốt đẹp đƣợc di dƣỡng bao đời nay của dân tộc ta.
NVXH có vai trò tiến hành, phối hợp với các ngành, các cấp, các đoàn
thể xây dựng và phát triển các hình thức trợ giúp xã hội; hƣớng dẫn và tổ
chức các phong trào “ Đền ơn đáp nghĩa”, quản lý và sử dụng quỹ “ Đền ơn
đáp nghĩa” ở các cơ sở cộng đồng dân cƣ theo quy định Chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nƣớc.
24
Đối với lĩnh vực triển khai thực hiện chính sách, NVCTXH còn đóng
vai trò trong việc kết nối các ban - ngành - tổ chức đoàn thể từ các cấp tới cơ
sở vì làm tốt điều đó sẽ là động lực để đƣa chính sách về lĩnh vực thƣơng binh
và xã hội vào trong cuộc sống, thể hiện sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống
chính trị của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Nhƣ vậy, để triển khai thực hiện chính sách dành cho ngƣời có công
với cách mạng trong thực tiễn không bị sai lệch với chủ trƣơng, đƣờng lối của
Đảng và Nhà nƣớc thì vai trò của NVCTXH rất quan trọng. Họ không chỉ đơn
thuần là ngƣời đƣa những chính sách vào trong thực tế mà còn là sợi dây kết
nối mọi nguồn lực với nhau, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nƣớc và
nhân dân ta dành cho những ngƣời có công với cách mạng.
Từ đó, có thể thấy kết nối là điều kiện, là cơ sở để thực hiện vai trò vận
động nguồn lực.
1.2.2. Vai tr vận động nguồn lực
Có thể nói, vận động nguồn lực là một vai trò không thể thiếu và đóng
vai trò cơ bản đối với cá nhân của ngƣời làm nghề công tác xã hội. Đặc biệt,
trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng , vận động
nguồn lực là một trong những vai trò quan trọng đối với nhân viên công tác xã
hội để giúp ngƣời có công tiếp cận đƣợc các nguồn lực để nâng cao đời sống.
Để thực hiện tốt công tác này, nhân viên công tác xã hội cần thực hiện
tốt vai trò là ngƣời vận động nguồn lực. Khi tiến hành điều tra và khảo sát,
nhân viên công tác xã hội sẽ nắm đƣợc những nhu cầu, mong muốn, nguyện
vọng của ngƣời có công về các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe để có thể vận
động nguồn lực ( nội lực, ngoại lực) để họ giải quyết đƣợc các vấn đề họ đang
gặp phải.
Trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn về các nguồn lực của địa phƣơng
cũng nhƣ bản thân ngƣời có công thì việc tăng cƣờng, bổ sung các nguồn lực
25
để chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công là rất cần thiết. Nguồn lực cho chăm
sóc sức khỏe bao gồm nguồn lực: về con ngƣời, tài chính, cơ sở vật chất,
trang thiết bị y tế...
Để tăng cƣờng các nguồn lực đòi hỏi phải có sự tham gia của nhân viên
công tác xã hội với vai trò là ngƣời huy động, tìm kiếm nguồn lực. Với vai trò
này nhân viên công tác xã hội sẽ phối hợp với chính quyền địa phƣơng, các
ban ngành đoàn thể, cơ sở y tế, các tổ chức cá nhân trên địa bàn huyện đóng
góp, ủng hộ về tài chính, cơ sở vật chất cho các hoạt động chăm sóc sức nhƣ:
Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, phụng dƣỡng thƣơng binh nặng và Mẹ Việt Nam anh
hùng còn sống, đóng góp, ủng hộ bằng tiền để mua phƣơng tiện tợ giúp, dụng
cụ chỉnh hình, xây mới hoặc sửa chữa nhà ở, trạm y tế, mua giƣờng bệnh
nhân, bàn ghế làm việc, tủ thuốc hoặc đóng góp, ủng hộ bằng hiện vật nhƣ:
Bên cạnh đó, vai trò tìm kiếm nguồn lực của nhân viên CTXH còn
giƣờng bệnh nhân, bàn ghế làm việc, tủ thuốc, tủ tài liệu…
đƣợc thể hiện trong việc trợ giúp cho ngƣời có công tiếp cận hoặc có đƣợc
các nguồn lực cần thiết để chữa bệnh. Đó là việc, nhân viên CTXH kêu gọi
các tổ chức, cá nhân trợ giúp về tài chính, cơ sở vật chất cho các hoạt động
chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công nhƣ: khám cấp thuốc miễn phí, hoặc
cho cá nhân ngƣời có công khi họ ốm đau, bệnh tật nhƣng không có đủ khả
năng về tài chính để giải quyết khó khăn về sức khỏe, bệnh tật gặp phải.
1.2.3. Vai tr tuyên truyền
Liên quan đến việc cung cấp thông tin, dạy các kỹ năng cho khách
hàng và các hệ thống khác. Nhân viên công tác xã hội cần phải có kiến thức.
Thêm vào đó nhân viên công tác xã hội phải là những ngƣời giao tiếp để
thông tin đƣợc truyền tải rõ ràng và dễ hiểu với khách hàng hay hệ thống vĩ
mô (Zastrov and Kirst - Ashman, 1997) [11].
26
Thông qua và thực hiện 02 vai trò kết nối và vận động nguồn lực thì
nhân viên công tác xã hội hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công không
chỉ khi họ gặp phải khó khăn về sức khỏe, bệnh tật mà còn hỗ trợ từ xa, khi
họ còn khỏe mạnh và chƣa gặp phải các vấn đề có tác động tiêu cực đến sức
khỏe bản thân… thông qua các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức
cho ngƣời có công với cách mạng.
Với vai trò là ngƣời tuyên truyền, nhân viên CTXH sẽ tuyên truyền các
chủ trƣơng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc về chăm sóc sức
khỏe cho ngƣời có công; các kiến thức và kỹ năng để phòng tránh các bệnh
liên quan đến ngƣời có công, đặc biệt vào những lúc chuyển mùa hay có sự
thay đổi về thời tiết; chế độ ăn uống đầy đủ dinh dƣỡng, cách thức tự chăm
sóc sức khỏe cho ngƣời có công.
Việc tuyên truyền, có thể thực hiện trực tiếp cho ngƣời có công hoặc
gián tiếp bằng các tin, bài, chuyên đề hƣớng dẫn… thông qua các hội nghị,
các buổi sinh hoạt của Hội Cựu chiến binh, Hội thanh niên xung phong...
hoặc thông qua các phƣơng tiện thông tin đại chúng nhƣ: loa truyền thanh của
xã và xóm, panô, áp phích, băng rôn khẩu hiệu tuyên truyền… hoặc thông qua
các câu lạc bộ có sự tham gia của ngƣời có công.
Bên cạnh đó, có thể phối hợp cơ quan, đơn vị tổ chức các buổi tập
huấn có sự tham gia của ngƣời có công liên quan đến các nội dung kiến thức
nêu trên.
Thực hiện tốt vai trò tuyên truyền sẽ nâng cao đời sống về thể chất và
tinh thần của ngƣời có công, giảm các nguy cơ mắc bệnh, đồng thời làm giảm
gánh nặng cho công tác chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công ở các địa
phƣơng.
Đồng thời nhân viên công tác xã hội cũng thể hiện vai trò là ngƣời
tuyên truyền với cán bộ, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp: Chính sách
27
ngƣời có công là trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ của cả cộng đồng; tuyên
truyền với những ngƣời có liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe cho ngƣời
có công: nhân viên y tế, các tổ chức, cộng đồng, ngƣời thân….
Với vai trò tuyên truyền, nhân viên công tác xã hội là ngƣời cung cấp
cho các đối tƣợng ngƣời có công những kiến thức pháp luật, những chính
sách ƣu đãi trong các buổi gặp mặt, tọa đàm, mít tinh, hội nghị, buổi tập huấn
đƣợc tổ chức tại các tiểu khu dân cƣ, trụ sở UBND huyện, xã. Họ còn góp
phần động viên, giúp đỡ các đối tƣợng chính sách phát huy tinh thần tự lực,
tự cƣờng, nỗ lực vƣơn lên trong cuộc sống. Thông qua đó, ngƣời có công sẽ
nắm đƣợc những kiến thức về các chính sách ƣu đãi, các hoạt động nâng cao
sức khỏe.
Để thực hiện tốt vai trò này, nhân viên công tác xã hội (cán bộ chính
sách) phải tham gia các buổi tập huấn, tọa đàm tại UBND tỉnh Thanh Hóa, Sở
LĐ - TB & XH tỉnh Thanh Hóa để nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ.
Các buổi tập huấn thƣờng đƣợc tổ chức từ 1 - 3 ngày, tùy vào nội dung của
buổi tập huấn.
Nhân viên công tác xã hội sau khi học hỏi đƣợc các kiến thức chuyên
môn về các chính sách cũng nhƣ các hoạt động liên quan đến chăm sóc sức
khỏe, cung cấp các kiến thức truyền đạt cho ngƣời có công để họ hiểu biết về
tầm quan trọng của sức khỏe, các chế độ chính sách mà họ đƣợc hƣởng.
Bên cạnh đó, bản thân ngƣời nhân viên công tác xã hội cũng phải tự
giáo dục mình: khiêm tốn, kiên trì, đi vận động nguồn lực là để giúp ngƣời
yếu thế chứ không phải xin cho mình.
Vai trò tuyên truyền phải đƣợc thực hiện một cách thƣờng xuyên và nội
dung truyền đạt phải thật ngắn gọn, dễ hiểu thì mới thu hút đƣợc sự tham gia
của ngƣời có công.
28
1.2.4. Vai trò tư vấn
Tƣ vấn chăm sóc sức khỏe đó là việc nhân viên công tác xã hội cung
cấp các thông tin: các chế độ, chính sách và quy trình thủ tục thực hiện các
chế độ, chính sách liên quan đến chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công, trong
đó có các chính sách bảo hiểm y tế; đăng kí khám chữa bệnh ở các cơ sở:
Bệnh viện tuyến Trung ƣơng, bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện tuyến huyện;
kiến thức kỹ năng phòng tránh các bệnh thƣờng gặp của ngƣời có công khi về
già: xƣơng khớp, tim mạch, huyết áp, tiêu hóa…; các hoạt động bổ trợ cho
việc giữ gìn và nâng cao sức khỏe.
Nhân viên công tác xã hội tƣ vấn về giới thiệu việc làm, chính sách bảo
hiểm y tế, tuyên truyền về chính sách chăm sóc sức khỏe. Nhân viên công tác
xã hội cần phải sử dụng nhiều kỹ năng để truyền tải nội dung và giúp đỡ các
đối tƣợng hiểu đƣợc vấn đề mình đang gặp phải và giải quyết vấn đề đó nhƣ
thế nào.
Tƣ vấn chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công đƣợc thực hiện bằng
nhiều hình thức khác nhau, có thể tƣ vấn trực tiếp qua các buổi gặp mặt, tọa
đàm, mít tinh hoặc trên các phƣơng tiện khác nhƣ loa phát thanh, tivi, báo, tờ
rơi…. Nhân viên công tác xã hội chủ động tƣ vấn các nội dung liên quan đến
chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công.
Để thực hiện vai trò này, đòi hỏi nhân viên CTXH phải có đầy đủ các
kiến thức và kỹ năng. Do vậy, nhân viên CTXH phải đƣợc đào tạo chuyên sâu
về chuyên môn, nghiệp vụ đồng thời phải đƣợc rèn luyện các kỹ năng xã hội.
Có nhƣ vậy mới thực hiện tốt vai trò tƣ vấn chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có
công.
1.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng.
29
1.3.1. Y u tố thuộc về đội ng nhân viên công tác xã hội
Yếu tố thuộc về đặc điểm nhân viên công tác xã hội có ảnh hƣởng rất
lớn tới hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công vì họ là
những ngƣời làm việc trực tiếp với ngƣời có công, kết nối các nguồn lực
chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công. Trình độ chuyên môn và kỹ năng cơ
bản của nhân viên công tác xã hội những yếu tố chủ quan có ảnh hƣởng nhiều
nhất đến hiệu quả của việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công.
* Kiến thức và trình độ chuyên môn:
Nhân viên công tác xã hội phải có cái nhìn tổng quan và sự hiểu biết về
ngƣời có công và nắm đƣợc các vấn đề họ đang gặp khó khăn để đƣợc hỗ trợ.
Nhân viên công tác xã hội đòi hỏi là những ngƣời đƣợc đào tạo bài bản
về công tác xã hội cơ bản và nâng cao, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ,
có tầm hiểu biết rộng không chỉ hiểu về nghề, hiểu về luật pháp, chế độ chính
sách, về môi trƣờng xã hội mà còn có truyền thống tƣơng thân tƣơng ái, uống
nƣớc nhớ nguồn, biết sử dụng kiến thức đó vào việc giúp đỡ, hỗ trợ đối tƣợng
trong việc giải quyết các vấn đề họ đang gặp phải và áp dụng, sử dụng kiến
thức đó phải phù hợp với hoàn cảnh, với đối tƣợng cụ thể. Vậy nên, chính sự
hiểu biết rộng của nhân viên công tác xã hội sẽ giúp họ gần gũi với ngƣời có
công, đội ngũ nhân viên y tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội… để hiểu
rõ hơn tâm tƣ nguyện vọng, tìm đƣợc cách liên kết với họ chặt chẽ hơn…
giúp nhân viên công tác xã hội thực hiện tốt các vai trò của mình, đặc biệt vai
trò hỗ trợ ngƣời có công với cách mạng đòi hỏi phải có kiến thức về chuyên
môn nghiệp vụ CTXH, cần có phông kiến thức phổ rộng: chính sách xã hội,
tâm lý học, hiểu biết văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo... nhân viên công
tác xã hội cần đƣợc học tập, tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng và nhận
thức về chuyên môn công tác xã hội, đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn nghề
nghiệp công tác xã hội theo quy định của pháp luật.
30
* Về kỹ năng nhân viên công tác xã hội:
Kỹ năng lắng nghe:
Lắng nghe trong công tác xã hội là một quá trình lắng nghe tích cực,
đòi hỏi ngƣời cán bộ xã hội phải biết quan sát hành vi của đối tƣợng một cách
tinh tế, phải tập trung chú ý cao độ và phải tôn trọng, chấp nhận đối tƣợng và
vấn đề của họ, đổng thời giúp họ nhận biết là đang đƣợc quan tâm và chia
sẻ. Kỹ năng lắng nghe thể hiện ở khả năng tập trung cao độ tới điều đối tƣợng
trình bày và thể hiện qua hành vi, cử chỉ. Nghe không chỉ bằng tai, mà còn
bằng mát và cả bằng tâm của ngƣời nhân viên xã hội.
Kỹ năng quan sát:
Quan sát là chú ý đến những đặc điểm của ngƣời, vật hay tinh huống
trong bối cảnh của công tác xã hội cá nhân, mục đích là sử dụng những dữ
kiện quan sát đƣợc dể hiểu đối tƣợng và hoàn cảnh của đối tƣợng. Trong hoạt
động nghề nghiệp của mình thì không chỉ lời nói (ngôn ngữ) đem lại cho cán
bộ xã hội những thông tin về đối tƣợng, mà ngay cả những cử chỉ không lời
của đối tƣợng cũng có thể mang lại cho cán bộ xã hội những manh mối quan
trọng về nội dung chuyển tải của đối tƣợng.
Để kỹ năng quan sát đƣợc thực hiện tốt thì ngƣời cán bộ xã hội phải có
khả năng nhận thức tinh tế về các vấn đề của đối tƣợng, phải biết cách quan
sát từ tổng thể về hành vi, diện mạo bên ngoài của đối tƣợng, đến những đặc
điểm tâm lý, đặc biệt là những sắc thái tình cảm xảy ra giữa đối tƣợng với
ngƣời khác và với chính cán bộ xã hội.
Kỹ năng giao tiếp:
Kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức, hiểu
biết về quá trình giao tiếp, các yếu tố tham gia và ảnh hƣởng tới quá trình
giao tiếp cũng nhƣ sử dụng có hiệu quả các phƣơng tiện giao tiếp, phối hợp
31
hài hoà toàn bộ hành vi, ứng xử, cử chỉ... để giúp chủ thể đạt đƣợc mục đích
nhất định của hoạt động giao tiếp đó.
Một ngƣời cán bộ xã hội chuyên nghiệp thì phải có kỹ năng giao tiếp
tốt thể hiện qua việc nhận thức đƣợc vấn đề mình đang giao tiếp; giao tiếp
đƣợc thực hiện trên cơ sở kế hoạch đó định trƣớc; giao tiếp luôn thực hiện
nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định và có định hƣớng cho mỗi cuộc giao
tiếp... Để thực hiện đƣợc kỹ năng này thì cán bộ phải xã hội phải có khả năng
thiết lập các mối quan hệ, biết cách lắng nghe tích cực, biết phản hồi cảm xúc
và nội dung của đối tƣợng giao tiếp và biết cách thu thập và xử lý thông tin
qua việc đặt câu hỏi...
Kỹ năng tham vấn:
Tham vấn là quá trình cán bộ xã hội sử dụng những kiến thức, kỹ năng
chuyên môn để giúp đối tƣợng giải quyết hoặc tăng cƣờng khả năng tự giải
quyết vấn đề, tăng cƣờng chức năng xã hội của họ.
Mục tiêu của kỹ năng này là giúp đối tƣợng hiểu đƣợc cảm xúc, suy
nghĩ của chính họ, hoàn cảnh vấn đề, khám phá và sử dụng những tiềm năng
nguồn lực vào giải quyết vấn đề, giúp đối tƣợng nâng cao khả năng đối phó
với vấn đề trong cuộc sống.
Để thực hiện đƣợc kỹ năng này thì ngƣời cán bộ xã hội phải biết phối
hợp và sử dụng nhuẫn nhuyễn các kỹ năng cụ thể nhƣ lắng nghe, đặt câu hỏi,
thấu hiểu và phản hồi (cảm xúc và nội dung)...
Kỹ năng ghi chép:
Khi thực hiện kỹ năng ghi chép, một điều quan trọng là cần phải ghi lại
tất cả những gì xảy ra trong tiến trình đó - một nhiệm vụ bắt buộc mà cán bộ
xã hội phải lƣu tâm. Cán bộ xã hội chuyên nghiệp giúp đối tƣợng giải quyết
đƣợc vấn đề khó khăn của họ trong đó có phần là nhờ những ghi chép lại tất
cả những gì xảy ra trong quá trình trợ giúp đối tƣợng.
32
Mục đích của việc ghi chép là giúp cán bộ xã hội làm cơ sở đánh giá
kết quả của sự tƣơng tác giữa cán bộ xã hội và đối tƣợng, sự thay đổi và tiến
bộ hoặc không) của đối tƣợng trong quá trình giúp đỡ; giúp cán bộ xã hội
nhận thức đƣợc trình độ, kỹ năng trong công việc chuyên môn của họ; làm cơ
sở cho các cơ quan xã hội ra các quyết định về các dịch vụ có liên quan. Vì
vậy, để thực hiện kỹ năng này thì cán bộ xã hội phải có trình độ chuyên môn
cao; phải có kiến thức, hiểu biết về cá nhân và phải có kỹ nãng giao tiếp tốt.
Các kỹ năng nghề nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp của ngƣời cán
bộ xã hội không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ cho
nhau. Ngƣời cán bộ xã hội phải biết kết hợp các kỹ năng một cách nhuần
nhuyễn để đạt hiệu quả công việc cao nhất.
Với những nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp, họ sẽ làm việc
một cách bài bản, thông suốt theo một tiến trình với các bƣớc hoạt động cụ
thể với mục tiêu đƣợc xác định.
* Về phẩm chất đạo đức: Các phẩm chất của nhân viên công tác xã hội
đƣợc quy định tại Thông tƣ 01/2017/TTBLĐTBXH (Xem Phụ lục 06).
Các tiêu chuẩn đạo đức chung của các nhân viên công tác xã hội đƣợc
dựa trên Quy tắc Đạo đức Quốc tế dành cho nhân viên công tác xã hội chuyên
nghiệp đƣợc IFSW thông qua vào năm 1976. ISFW đƣa ra Các tiêu chuẩn
Đạo đức Quốc tế theo năm hạng mục chung:
- Các tiêu chuẩn chung về ứng xử đạo đức
- Các tiêu chuẩn công tác xã hội ứng xử với thân chủ
- Các tiêu chuẩn công tác xã hội ứng xử tại các cơ quan và các tổ chức
- Các tiêu chuẩn công tác xã hội ứng xử với các đồng nghiệp
- Các tiêu chuẩn ứng xử nghề nghiệp.
* Kinh nghiệm:
33
NVCTXH cần phải có nhiều trải nghiệm thực tế, kinh nghiệm trong
hoạt động trợ giúp ngƣời có công.
Có trách nhiệm trong công việc. Có khả năng tham vấn ý kiến đồng
nghiệp và đối tƣợng.
Có khả năng tạo lập mối quan hệ trong xã hội, uy tín.
1.3.2. Y u tố thuộc về chính quyền, lãnh đạo, cá nhân, tổ chức, cơ quan,
đoàn thể
Việc chính quyền địa phƣơng hiểu đúng và đầy đủ về vai trò của nhân
viên công tác xã hội sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới công tác chăm sóc sức khỏe
ngƣời có công tại địa phƣơng.
Chính quyền địa phƣơng phải liên kết, hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện
cho nhân viên công tác xã hội thực thi vai trò, nhiệm vụ của mình đối với
ngƣời có công.
Có trách nhiệm quản lý, phân công công việc, luôn quan tâm nâng cao
chất lƣợng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở; tạo điều kiện
thuận lợi cho cán bộ học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị cũng nhƣ
chuyên môn nghiệp vụ. Tạo mọi điều kiện để họ hoàn thành các nhiệm vụ
đƣợc giao.
Liên kết với nhân viên công tác xã hội, thƣờng xuyên kiểm tra, đôn
đốc, đánh giá cũng nhƣ phải động viên, khen thƣởng những cán bộ làm tốt,
hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ đƣợc giao.
Chính quyền địa phƣơng là đơn vị trực tiếp thi hành, thực hiện các
chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với ngƣời có công. Tuy nhiên, muốn
việc chăm sóc ngƣời có công đem lại hiệu quả cao, ngoài việc thực hiện đầy
đủ và đúng các chính sách của Nhà nƣớc, chính quyền địa phƣơng cần ý thức
đƣợc nhiệm vụ, trách nhiệm, lƣơng tâm của mình, phối hợp với các ban
ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội tổ chức thêm các hoạt động trợ giúp, hỗ
34
trợ, chăm sóc sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế, tâm lý của ngƣời có
công tại địa phƣơng.
1.3.3. Y u tố thuộc về người có công với cách mạng
Có thể nói, ngƣời có công với cách mạng là chủ thể của quá trình chăm
sóc sức khỏe và là yếu tố quyết định tình trạng sức khỏe của mình.
Mặc dù đa phần NCC đã có tuổi nhƣng họ rất ý thức và quan tâm đến
việc chăm sóc sức khỏe của bản thân. Nhƣng có một thực tế là trình độ học
vấn của NCC còn thấp, họ thiếu hụt kiến thức và kỹ năng chăm lo cho sức
khỏe, hơn nữa điều kiện kinh tế của NCC và gia đình họ còn nhiều khó khăn
khi họ không có việc làm ổn định, nguồn thu nhập thấp, phần lớn trang trải
cuộc sống đều là từ số tiền trợ cấp hàng tháng nên họ ít khi đi khám sức khỏe
tổng quát chỉ khi nào có đợt khám miễn phí hoặc có bệnh nặng mới đi khám
chữa bệnh. Không có điều kiện về kinh tế cũng làm hạn chế sự tiếp cận về các
dịch vụ y tế: Bệnh viện, phòng khám, trạm y tế... của NCC.
Đa phần ngƣời có công mong muốn nhận đƣợc trợ giúp để có cuộc
sống ổn định từ đó có điều kiện để chăm sóc sức khỏe của bản thân. Họ luôn
mong muốn đƣợc tiếp cận với các chính sách xã hội của Nhà nƣớc, đƣợc
chính quyền địa phƣơng cũng nhƣ cộng đồng dân cƣ và gia đình quan tâm,
giúp đỡ.
Việc chủ động khám chữa bệnh, chủ động tìm hiểu và tiếp cận chính
sách chăm sóc sức khỏe cũng nhƣ các nguồn lực trợ giúp thông qua nhân viên
công tác xã hội sẽ giúp ngƣời có công đƣợc hƣởng tối đa quyền lợi, tránh bị
bỏ sót, sơ suất trong quá trình thực hiện từ phía chính quyền… và cũng tạo
điều kiện thuận lợi cho cán bộ chính sách hoàn thành công việc nhanh chóng,
khoa học hơn.
Tuy nhiên, hiện nay lại có tình trạng khi địa phƣơng tổ chức khám chữa
bệnh nhiều NCC không đến khám, họ yêu cầu cán bộ chính sách và nhân viên
35
y tế đến khám tận nhà. Chính điều đó cho thấy rõ nét hơn tâm lý của NCC.
Họ luôn cho rằng bản thân đã hy sinh cho đất nƣớc, giờ khi đất nƣớc hòa bình
hơn ai hết họ xứng đáng đƣợc đền đáp, bù đắp cho những hy sinh, mất mát
của bản thân.
Bên cạnh những đối tƣợng ngƣời có công luôn ý thức chăm sóc sức
khỏe bản thân vẫn có những đối tƣợng có tƣ tƣởng “công thần” đòi hỏi, dựa
dẫm, ỷ lại vào sự quan tâm, giúp đỡ của chính quyền địa phƣơng, vào hệ
thống chính sách của Nhà nƣớc. Chính những suy nghĩ đó của ngƣời có công
đã gây ra khoảng cách giữa họ và nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe cho NCC.
Nhƣ vậy, có thể thấy ngay thái độ bất hợp tác của NCC cũng là một
khó khăn lớn gây trở ngại cho nhân viên công tác xã hội trong việc thực hiện
chính sách, đặc biệt là trong chăm sóc sức khỏe NCC. Ngƣời có công luôn
mong muốn nhận đƣợc sự quan tâm, bù đắp từ Nhà nƣớc và từ toàn dân. Với
những hy sinh, mất mát của bản thân và ngƣời thân, các đối tƣợng ngƣời có
công mong muốn đƣợc bù đắp, giúp đỡ nhằm hạn chế những khó khăn trong
cuộc sống, cải thiện đời sống kinh tế và nâng cao sức khỏe của bản thân. Đây
là nhu cầu chính đáng, cần đƣợc tôn trọng.
Sự thiếu hiểu biết và thiếu các kiến thức kỹ năng cũng gây cản trở cho
nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe của ngƣời có
công với cách mạng.
1.3.4. Một số y u tố khác
Trong quá trình thực hiện các chính sách hỗ trợ về chăm sóc sức khỏe
cho ngƣời có công thì các khía cạnh của chính sách pháp luật cũng ảnh hƣởng
đến vai trò của nhân viên công tác xã hội nhƣ: các chính sách ban hành thiếu
đồng bộ; công tác giám sát, triển khai, đánh giá thực hiện chính sách có vấn
36
đề ở cấp cơ sở; sự thực thi chính sách; ban hành và chỉ đạo cấp cơ sở khi thực
hiện chính sách...
Ngày 25/3/2010 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số
32/2010/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn
2010-2020 (gọi tắt là Đề án 32), trong đó có các mục tiêu quan trọng liên
quan nhƣ phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, cộng tác viên CTXH trong cả
nƣớc đến năm 2020 tăng 50%; xây dựng và ban hành mã ngạch, chức danh,
tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH; phấn đấu tới năm 2020 có
100% số cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đƣợc đào tạo
và bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Mục tiêu chung: Phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt
Nam. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng
đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về
số lƣợng, đạt yêu cầu về chất lƣợng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung
cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh
xã hội tiên tiến.
Kết quả: Sau 10 năm thực hiện triển khai, Đề án 32 nhƣ một cú hích
quan trọng cho phát triển nghề CTXH. Theo đánh giá chung, ba hƣớng phát
triển đã và đang đạt đƣợc những thành quả quan trọng hình thành và phát
triển đội ngũ cán bộ CTXH các cấp, đó là: Đào tạo đội ngũ cán bộ CTXH có
trình độ cao; Triển khai cụ thể Thông tƣ 07/2013/TT-BLĐTBXH hƣớng dẫn
tiêu chuẩn cộng tác viên CTXH cấp xã, phƣờng đã giúp hình thành đội ngũ
cộng tác viên CTXH ở nhiều địa phƣơng; Trong chƣơng trình đề án, mục tiêu
xây dựng các khung khổ luật pháp và các qui định liên quan đến phát triển
nghề CTXH, để chuẩn hoá đội ngũ CTXH, ngày 19/8/2015 liên Bộ Lao động
- Thƣơng binh và Xã hội và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tƣ số
30/2015/BLĐTBXH-BNV Quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề
37
nghiệp viên chức chuyên ngành CTXH, với 3 chức danh: CTXH viên chính
(hạng II, mã số: V.09.04.01), CTXH viên (hạng III, mã số: V.09.04.02) và
nhân viên CTXH (hạng IV, mã số: V.09.04.03). Hiện nay, Bộ LĐTBXH cũng
đang trong quá trình xây dựng luật CTXH, giúp hình thành khung khổ luật
pháp phát triển CTXH một cách bài bản, chuyên nghiệp ở Việt Nam.
Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên công tác xã hội làm việc
trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng đƣợc mở rộng. Đó là những ngƣời
làm việc trong các lĩnh vực nhƣ chăm sóc ngƣời có công với cách mạng.
Các văn bản pháp luật quy định về thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của nhân viên công tác xã hội, phân công công việc; chế độ lƣơng, thƣởng,
phụ cấp đƣợc ban hành.
Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào
tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức, viên chức:
Mục tiêu: Trang bị kiến thức, kỹ năng, phƣơng pháp thực hiện nhiệm
vụ trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức và hoạt động nghề nghiệp
của viên chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và năng lực,
đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nƣớc.
Nguyên tắc:
- Đào tạo, bồi dƣỡng phải căn cứ vào tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản
lý; vị trí việc làm; gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên
chức, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng và nhu cầu xây dựng, phát
triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị.
- Thực hiện phân công, phân cấp trong tổ chức bồi dƣỡng theo tiêu
chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức, tiêu
38
chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; kết hợp phân công và cạnh tranh trong tổ
chức bồi dƣỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm.
- Đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chƣơng trình bồi dƣỡng theo
yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức.
- Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả.
39
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Qua nghiên cứu lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng, chúng ta có cái
nhìn tổng quan chung về tầm quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe cho
ngƣời có công với cách mạng - đó là trách nhiệm, là đạo lý " Đền ơn đáp
nghĩa" của toàn dân tộc và vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ
trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
Các khái niệm: vai trò, hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với
cách mạng (sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội), nhân viên công tác xã hội,
vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho
ngƣời có công với cách mạng.
Vai trò của NVCTXH gồm 13 vai trò, trong đó đề tài đi sâu vào phân
tích 04 vai trò: kết nối, vận động nguồn lực, tuyên truyền và tƣ vấn.
Đồng thời đƣa ra các yếu tố ảnh hƣởng nhƣ: Yếu tố thuộc về nhân viên
công tác xã hội; Yếu tố thuộc về hệ thống chính sách; Yếu tố sự quan tâm của
chính quyền địa phƣơng; Yếu tố thuộc về bản thân ngƣời có công để có góc
nhìn biện chứng về vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ chăm sóc
sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
Từ đó giúp chúng ta hiểu đƣợc tầm quan trọng của NVCTXH trong
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công là quá trình chuyên nghiệp mà
NVCTXH sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tƣợng
nâng cao nhận thức, phát huy tiềm năng nội lực của bản thân; giúp đối tƣợng
đƣợc tiếp cận các nguồn lực cần thiết, nhằm trợ giúp tốt nhất cho các đối
tƣợng ngƣời có công tham gia vào các hoạt động nâng cao sức khỏe và đời
sống
40
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG
TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC
KHỎE CHO NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI
HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA
2.1. Khái quát chung về địa àn và khách thể nghiên cứu
2.1.1. Vài nét khái quát về huyện Thiệu Hóa – tỉnh Thanh Hóa
Vị trí địa lý:
Thiệu Hóa là một huyện đồng bằng có vị trí địa lý thuận lợi, cách
thành phố Thanh Hóa 15km về phía Tây - Bắc. Nằm ở trung tâm các huyện
đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa và có ranh giới giáp với nhiều huyện: Phía
Đông giáp Thành phố Thanh Hóa và huyện Hoằng Hóa; Phía Tây giáp huyện
Triệu Sơn và huyện Thọ Xuân; Phía Nam giáp huyện Đông Sơn và huyện
Triệu Sơn; Phía bắc giáp huyện Yên Định.
Huyện Thiệu Hóa có 25 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm
thị trấn Thiệu Hóa và 24 xã. Diện tích: 160,68 km2.
Tính đến năm 2018 dân số toàn huyện là 183.560 ngƣời, chủ yếu là dân
tộc Kinh, ngƣời dân trong huyện chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nƣớc và
các nghề thủ công…
Địa hình huyện Thiệu Hóa tƣơng đối bằng phẳng, không quá phức tạp,
đại đa số các xã đều là đồng bằng, ít hoặc không có đồi núi, thuận lợi cho việc
hình thành các vùng chuyên canh tập trung có diện tích tƣơng đối lớn
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với mùa hè nóng, mƣa nhiều (gió bão
chịu ảnh hƣởng tƣơng đối mạnh) có gió Tây khô nóng; có mùa đông lạnh.
41
Tổng quỹ đất toàn huyện quản lý sử dụng là 17.547,52 ha, trong đó đã
sử dụng 14.842,83 ha (chiếm 84,6% tổng diện tích). Diện tích đất chƣa sử
dụng là 2.704,69 ha (chiếm 10% diện tích).
Đất đai của huyện Thiệu Hóa chủ yếu là nhóm đất phù sa có đặc tính lý
hóa tốt, phù hợp với sự sinh trƣởng và phát triển của nhiều loại cây trồng.
Điều kiện kinh tế - xã hội:
Năm 2019 tốc độ tăng trƣởng giá trị sản xuất trên toàn huyện đạt
14,02%, vƣợt kế hoạch đề ra; Thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt 39,5 triệu
đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,5%.
Trong năm qua, huyện có thêm 5 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, đƣa số
xã đạt chuẩn lên 19 trên tổng số 24 xã, trung bình đạt 18,56 tiêu chí/xã, huyện
đạt 5/9 tiêu chí Nông thôn mới. Lĩnh vực văn hóa xã hội có chuyển biến tích
cực.
Năm 2020, huyện Thiệu Hóa đề ra 27 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó đáng
chú ý là tốc độ tăng trƣởng giá trị sản xuất phấn đấu đạt 14,5% trở lên; thu
nhập bình quân đầu ngƣời từ 42,6 triệu đồng trở lên; giảm 0,7% tỷ lệ hộ
nghèo. Trong 2 tháng đầu năm, huyện đã tập trung triển khai thực hiện các
nhiệm vụ đề ra, đồng thời hoàn thành tốt công tác tuyển quân, phòng chống
dịch bệnh Covid - 19.
2.1.2. Vài nét khái quát về khách thể nghiên cứu
2.1.2.1. Người có công với cách mạng
Trong luận văn này, mẫu nghiên cứu của tôi đƣợc triển khai ở 05 xã:
42
Bảng 2.1: Phân loại Ngƣời có công với cách mạng ở 05 xã tại
huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đối Thiệu Thiệu Thiệu Thiệu Thiệu Tỷ lệ
STT tƣợng Hợp Quang Giang Duy Thịnh Tổng %
TB 1 29 8 10 07 30 70 84
BB 2 10 05 09 20 24
CĐHH 3 04 04 01 7,5 09
4 MVNAH 02 01 2,5 03
120 100
(Nguồn: Phòng LĐ - TB & XH huyện Thiệu Hóa năm 2020)
Số liệu ở bảng trên cho thấy, chiếm tỷ lệ nhiều nhất là Thƣơng binh và
ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh là 84 ngƣời chiếm 70%, tiếp đến là
Bệnh binh có 24 ngƣời chiếm 20%. Ngƣời hoạt động kháng chiến bị nhiễm
chất độc hóa học là 9 ngƣời chiếm 7,5%. Mẹ Việt Nam anh hùng và những
ngƣời nhiễm chất độc hóa học bị ảnh hƣởng nặng không có ý thức và không
tự chăm lo đƣợc cho cuộc sống của mình mà luôn cần sự giúp đỡ của ngƣời
thân trong việc chăm sóc sức khỏe, chăm lo cho sinh hoạt cá nhân cũng nhƣ
các hoạt động khác.
Về độ tuổi:
Bảng 2.2: Thống kê độ tuổi của ngƣời có công với cách mạng tại 05 xã
trong mẫu nghiên cứu
Nhóm tuổi Số lƣợng (ngƣời) Tỷ lệ (%)
Từ 60 – 69 tuổi 52 43,3
Từ 70 – 79 tuổi 63 52,5
Từ 80 tuổi trở lên 5 4,2
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
43
Số liệu ở bảng trên cho thấy: độ tuổi ngƣời có công với cách mạng chủ
yếu từ 60 đến 80 tuổi, đa số đều là những ngƣời đã cao tuổi, trong đó nhóm
70 - 79 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 52,5%, ở độ tuổi này là lúc sức khỏe yếu
kém và xuất hiện nhiều căn bệnh, họ gặp phải nhiều khủng hoảng về tâm lý.
Nhóm 60 – 69 tuổi chiếm 43,3%, ở độ tuổi này phần lớn là những thƣơng
bệnh binh có mức độ thƣơng tật nhẹ, họ vẫn còn khả năng lao động sản xuất,
làm một số công việc để tăng thu nhập, trang trải cuộc sống.
Về giới tính: Có 114 ngƣời là nam (chiếm 95%), còn lại 6 ngƣời là nữ
(chiếm 5%).
Về tình trạng sức khỏe :
Bảng 2.3: Tình trạng sức khỏe ngƣời có công với cách mạng
STT Tình trạng sức khỏe Số ngƣời Tỷ lệ (%)
1 Tốt 15 12,5
2 Bình thƣờng 85 70,8
3 Yếu 20 16,7
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Số liệu ở bảng trên cho thấy: Ngƣời có công với cách mạng có sức
khỏe bình thƣờng chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 70,8% là những thƣơng bệnh
binh có tỷ lệ mất sức lao động 41 - 60%, ngƣời nhiễm chất độc hóa học, tuy
sức khỏe của họ có giảm sút nhƣng vẫn ở mức khỏe hơn so với ngƣời có
công khác. Đánh giá sức khỏe tốt chiếm tỷ lệ 12,5% hầu hết là những
thƣơng binh thƣơng tật 21 - 60%, họ vẫn có khả năng tham gia lao động.
Ngƣời có công với cách mạng có sức khỏe yếu gồm những Thƣơng binh,
Bệnh binh có tỷ lệ mất sức lao động trên 81% và các Bà mẹ Việt Nam anh
hùng là những ngƣời hầu hết sức khỏe ngày càng giảm, không thể tham gia
lao động sản xuất. Những thƣơng tật khiến họ yếu đi, các hoạt động chăm
44
sóc hàng ngày cần sự trợ giúp. Phần lớn những ngƣời có công có sức khỏe
không tốt, thƣờng xuyên ốm đau. Một số bệnh thƣờng mắc là: Xƣơng khớp,
tim mạch, hô hấp, huyết áp, tiêu hóa...
Về trình độ học vấn:
Phần lớn ngƣời có công ở huyện Thiệu Hóa đều có trình độ học vấn
thấp bởi ngƣời có công sinh ra và lớn lên trong thời chiến tranh, điều kiện và
hoàn cảnh không cho phép họ học cao hơn. Khi đất nƣớc hòa bình thì họ tuổi
đã cao nên không muốn đi học nữa.
Học vấn thấp cũng là một khó khăn khi Ngƣời có công đi tuyển dụng
lao động ở các cơ quan, tổ chức. Điều này cũng là một khó khăn cho những
ngƣời làm chính sách, đòi hỏi phải có biện pháp, cách thức phù hợp để có
thông tin đến với họ một cách chính xác nhất, tránh hiểu lầm, gây thắc mắc.
Về một số đặc điểm tâm lý và nhu cầu cơ bản của ngƣời có công với
cách mạng:
Mỗi ngƣời có công với cách mạng đều có tâm lý chung là luôn tự hào
với những cống hiến, đóng góp và cả sự hy sinh của mình cho quê hƣơng, đất
nƣớc. Họ luôn cố gắng giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc để làm
gƣơng cho con cháu, cho thế hệ tƣơng lai. Ngoài những đặc điểm tâm lý
chung ấy, họ còn có những đặc điểm tâm lý riêng, khác biệt ở từng thời kỳ
kháng chiến, cụ thể là:
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp:
Khi đất nƣớc khó khăn họ phải chịu nhiều thiếu thốn, gian khổ, phải “
thắt lƣng buộc bụng”, họ ít đƣợc học hành nên học vấn thấp nhƣng họ lại có ý
chí kiên cƣờng, lạc quan, tin tƣởng ở cách mạng. Ngƣời có công ở độ tuổi tầm
70 - 80. Với họ nhu cầu vật chất là cần thiết nhƣng nhu cầu tinh thần đƣợc coi
trọng cao hơn. Ở nhóm này, ngƣời có công luôn mong muốn đƣợc sống quây
quần bên con cháu để bù đắp những thiếu thốn về tình cảm trong suốt những
45
năm tháng chiến đấu xa gia đình. Bên cạnh đó, họ thích đọc sách báo, xem
tivi,theo dõi các chƣơng trình thời sự...
Trong thời kì kháng chiến chống Mỹ:
Ngƣời có công ở thời kỳ này chiếm số lƣợng lớn và có độ tuổi từ 60
đến 70 tuổi. Thời kỳ này, ngƣời có công vẫn giữ đƣợc truyền thống cách
mạng, là tấm gƣơng sáng ở địa phƣơng. Họ đƣợc học hành, có trình độ văn
hóa vì vậy ít nhiều họ hiểu đƣợc về các chính sách liên quan đến ngƣời có
công nên một số ít có tƣ tƣởng công thần, thái độ ỷ lại, lợi dụng danh nghĩa để
làm trái pháp luật.
Đối với gia đình ngƣời có công với cách mạng: Bản thân họ luôn tự
hào về những cống hiến, đóng góp sức ngƣời, sức của cho cách mạng, họ luôn
có mong muốn đƣợc chính quyền, xã hội quan tâm giúp đỡ nhiều hơn đến
mọi mặt đời sống của họ.
2.1.2.2.Nhân viên công tác xã hội
Bảng 2.4: Thông tin công chức Văn hóa - xã hội ở 05 xã nghiên cứu tại
huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
STT Họ và tên Năm Trình Ngành đào tạo Đơn vị công
sinh độ tác ( Xã )
Đỗ Thị Thủy 1986 Đại học Xã hội học Thiệu Hợp 1
Dƣơng Thị Hạnh 1984 Đại học Quản lý văn hóa Thiệu Thịnh 2
Hoàng Thị Hồng 1982 Đại học Quản lý văn hóa Thiệu Quang 3
Nguyễn Thu Hằng 1988 Đại học Định hƣớng CTXH Thiệu Duy 4
Lê Thị Dịu 1987 Đại học Quản lý văn hóa Thiệu Giang 5
(Nguồn: Phòng LĐ - TB & XH huyện Thiệu Hóa năm 2020)
46
Ở 05 xã mà đề tài nghiên cứu: Nhân viên công tác xã hội bao gồm đội
ngũ cán bộ làm chính sách tại địa phƣơng, cán bộ xã, văn hóa... có làm các
hoạt động liên quan đến công tác xã hội nhƣng chƣa đƣợc công nhận về mặt
pháp lý, họ là những cán bộ chính sách làm việc trong Ban Chính sách xã hội
có nhiều năm kinh nghiệm làm việc về mảng Ngƣời có công. Tuy nhiên, đội
ngũ cán bộ - nhân viên - cộng tác viên CTXH ở địa phƣơng còn mỏng, chƣa
đƣợc đào tạo chuyên nghiệp, đa số đƣợc đào tạo từ ngành nghề khác : Xã hội
học; Quản lý văn hóa... do yêu cầu công việc nên họ đƣợc điều chuyển từ các
phòng ban, đơn vị khác sang, hoặc một số ít thậm chí không đƣợc đào tạo
chuyên môn, nghiệp vụ, chƣa dựa vào cộng đồng. Vì vậy, hàng năm họ đƣợc
đi học đào tạo, tham gia các lớp tập huấn để làm công tác xã hội.
2.2. Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng huyện Thiệu Hóa,
tỉnh Thanh Hóa
2.2.1. Vai trò k t nối
Có thể nói, kết nối là một vai trò không thể thiếu và đóng vai trò cơ bản
đối với cá nhân của ngƣời làm nghề công tác xã hội. Đặc biệt, trong việc hỗ
trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng, kết nối là một trong
những vai trò quan trọng đối với nhân viên công tác xã hội để giúp cho ngƣời
có công với cách mạng tiếp cận đƣợc các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và
Nhà nƣớc về chăm sóc sóc sức khỏe.
Theo kết quả khảo sát thì 100% ngƣời có công đều đƣợc cấp thẻ bảo
hiểm y tế miễn phí, không có đối tƣợng nào không đƣợc cấp thẻ. Phần lớn họ
đã nắm đƣợc cách sử dụng thẻ bảo hiểm để hƣởng đúng đủ quyền lợi của
mình, một số đối tƣợng chƣa nắm rõ cách sử dụng đã đƣợc cán bộ chính sách
giúp đỡ để giải đáp những thắc mắc bởi vậy việc khám chữa bệnh trở nên
thuận lợi hơn.
47
Nhu cầu về việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh tại các
cơ sở lại khác nhau: ngƣời có công trên địa bàn huyện có xu hƣớng khám
chữa bệnh tại Trung tâm y tế tuyến Huyện nhiều hơn là tuyến Tỉnh và tuyến
Trung ƣơng. Lý giải cho thực trạng này, do thủ tục chuyển viện phức tạp,
đƣờng xá di chuyển từ nơi ở cách bệnh viện tuyến trên xa xôi, đi lại tốn kém.
Bởi vậy, NCC thƣờng chỉ khám chữa bệnh tại bệnh viện huyện, ngƣời có
công đăng ký khám bệnh tại bệnh viện tuyến trung ƣơng là chỉ có những đối
tƣợng bệnh nặng, đƣợc bệnh viện tuyến dƣới chuyển lên tuyến trên họ mới
chuyển viện để đảm bảo việc thăm, khám bệnh.
Ngƣời có công thƣờng khám chữa các bệnh xƣơng khớp; bệnh hô hấp;
bệnh tim mạch; bệnh tiêu hóa; bệnh huyết áp; đau khớp chân tay… . Nguyên
nhân là do tuổi tác của ngƣời có công ngày càng cao nên thƣờng mắc các
bệnh trên, đối với nhóm ngƣời có công do điều kiện cuộc sống còn gặp khó
khăn và việc hạn chế tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng dẫn tới tình
trạng bệnh tật nặng hơn nhiều.
Nhân viên công tác xã hội luôn tạo mọi điều kiện và kết nối NCC với
các chính sách để NCC đƣợc chăm lo sức khỏe một cách toàn diện. Tuyên
truyền hƣớng dẫn cách phòng chống các bệnh mà các đối tƣợng hay gặp phải
nhằm nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe ngày càng tốt hơn. Đợt khám ngoại
viện cũng là dịp đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và góp phần giúp đỡ về
kinh tế cho một số hộ gia đình khó khăn của các gia đình chính sách.
48
Biểu đồ 2.1: Mức độ ngƣời có công đƣợc kết nối về chế độ chăm sóc sức
khỏe
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Qua biểu đồ trên ta thấy về mức độ đƣợc kết nối các chính sách chế độ
chăm sóc sức khỏe của ngƣời có công với cách mạng, có tới 60% NCC
thƣờng xuyên đƣợc kết nối về các chế độ chăm sóc sức khỏe, có 30% NCC
thỉnh thoảng đƣợc hỗ trợ kết nối và chỉ có 10% NCC là chƣa đƣợc kết nối.
Mỗi NCC có nhu cầu hỗ trợ khác nhau: Cấp thẻ bảo hiểm y tế; khám
chữa bệnh miễn phí; hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở; điều dƣỡng, cấp phƣơng
tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình... vì thế để có kết nối hỗ trợ họ một cách đầy
đủ và đảm bảo quyền lợi nhất thì nhân viên công tác xã hội phải nắm rõ đƣợc
các chính sách và pháp luật, các đơn vị hỗ trợ cũng nhƣ hiểu rõ từng nhu cầu
củaNCC.
Chia sẻ về việc vận dụng vai trò kết nối của nhân viên công tác xã hội,
chị Dƣơng Thị H, công chức Văn hóa xã hội xã Thiệu Thịnh :“ Hàng năm,
chúng tôi được tham gia các lớp tập huấn về kỹ năng công tác xã hội mà sở
LĐTB H tổ chức nhờ đó tôi có thêm nhiều kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm
hơn khi làm việc với người có công. Tôi đã đem đến cho người có công những
49
nguồn thông tin về cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí hàng năm để họ được tiếp
cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bản thân, các thông tin về chính sách
pháp luật, hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ học nghề, giới thiệu và tạo việc làm ưu tiên
cho lao động chính sách…"
NVCTXH còn đóng vai trò trong việc kết nối các ban ngành tổ chức
đoàn thể từ các cấp tới cơ sở vì làm tốt điều đó sẽ là động lực để đƣa chính
sách về lĩnh vực thƣơng binh và xã hội vào trong cuộc sống, thể hiện sức
mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Ông Lê Thanh T - Bệnh binh 41% ở xã Thiệu Hợp cho biết: " Ở xã tôi
các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao diễn ra sôi nổi lắm: sáng thì tập
dưỡng sinh, chiều đánh bóng chuyền, tối thì tập văn nghệ, ai cũng hào hứng
tham gia"
Thấy đƣợc tình hình trên nhân viên công tác đã trực tiếp đến từng thôn
xã để tuyên truyền, vận động NCC tham gia các hoạt động VHVNTT, về lợi
ích khi tham gia các hoạt động này, kết quả là thu hút đƣợc đông đảo NCC
tham gia hơn. NVCTXH đã kết nối với đoàn Thanh niên huyện tổ chức thi
đấu các hoạt động thể dục thể thao: bóng chuyền, cầu lông, cờ tƣớng, hội thơ,
hội diễn văn nghệ, kể chuyện về Bác Hồ… cho ngƣời có công tạo ra không
khí vui tƣơi, phấn khởi, tâm lý thi đấu, lôi cuốn mọi ngƣời tích cực tham gia
mở rộng các mối quan hệ xã hội, tăng sức khỏe tinh thần, xã hội cho ngƣời có
công.
Các hoạt động VHVNTDTT ở địa phƣơng chủ yếu do NCC tự lo kinh
phí, tìm mƣợn địa điểm, ít đƣợc các cơ quan, đoàn thể quan tâm, giúp đỡ
chính vì vậy nhân viên công tác xã hội đã vận động các tổ chức tặng một số
dụng cụ thể thao nhƣ: lƣới, bóng chuyền, vợt cầu lông, bàn cờ tƣớng, sách
báo... cho các câu lạc bộ.
50
Vai trò kết nối của nhân viên công tác xã hội có tầm quan trọng chiến
lƣợc trong công tác hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho NCC. Phƣơng pháp để kết
nối trong hoạt động truyền thông về chính sách và dịch vụ chăm sóc sức
khỏe, kết nối NCC với các chính sách của Nhà nƣớc thông qua hệ thống loa
phát thanh, tivi, báo, các buổi tọa đàm, các trang web...
Trong quá trình khảo sát thông qua phiếu hỏi ngƣời có công đánh giá
về hiệu quả vai trò kết nối của cán bộ chính sách trong việc tuyên truyền
chính sách chăm sóc sức khỏe NCC, kết quả cho thấy:
Biểu đồ 2.2: Kết quả đánh giá việc thực hiện vai trò kết nối của nhân
viên công tác xã hội trong việc tuyên truyền chính sách chăm sóc sức khỏe cho
NCC
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
51
Qua biểu đồ trên ta thấy, đánh giá việc thực hiện vai trò kết nối của
nhân viên công tác xã hội ở mức độ tốt chiếm 65,7% kết quả này cho thấy cán
bộ chính sách đã cung cấp đầy đủ thông tin, nội dung về chăm sóc sức khỏe
và nhiệt tình giải thích những thắc mắc, giúp đối tƣợng hiểu đƣợc nội dung
chính sách, 30% kết quả ở mức độ bình thƣờng, có 4,3% kết quả ở mức độ
chƣa tốt (Cung cấp thông tin thiếu, không thƣờng xuyên, không nhiệt tình giải
đáp thắc mắc khi đƣợc hỏi).
Nhờ việc đƣợc kết nối với đầy đủ các thông tin liên quan đến chính
sách và pháp luật trong chăm sóc sức khỏe mà NCC có thêm hiểu biết về
chính sách pháp luật, quyền lợi của họ đƣợc thụ hƣởng, về những nguồn lực
có sẵn để giúp họ ổn định, vƣơn lên trong cuộc sống, cho thấy hiệu quả công
tác chăm sóc sức khỏe NCC thông qua vai trò kết nối của nhân viên công tác
xã hội.
Mặc dù trong quá trình tổ chức triển khai công tác tuyên truyền về
chăm sóc sức khỏe cho NCC còn có một số tồn tại, khó khăn nhất định.
Chị Nguyễn Thu H - Cán bộ chính sách xã Thiệu Duy cho biết: " Trong
quá trình thực hiện, cũng gặp phải những khó khăn, vướng mắc như: phát
sinh số đối tượng khó khăn về nhà ở không nằm trong danh sách đã phê
duyệt; sai sót trong việc tổng hợp danh sách; đăng ký ban đầu là sửa chữa
nhưng thực hiện lại làm mới hoặc ngược lại; một số hộ đã tiến hành sửa
chữa, xây dựng mới từ những năm về trước đến nay nhà đã cũ, gây khó khăn
trong việc thẩm định…"
Trong câu hỏi yêu cầu ngƣời có công đánh giá trực tiếp về thái độ của
nhân viên công tác xã hội trong vai trò kết nối tại địa phƣơng, kết quả cho
thấy:
52
Bảng 2.5: Đánh giá thái độ của nhân viên công tác xã hội khi thực hiện
vai trò kết nối
STT Thái độ của cán bộ chính sách Số lƣợng Tỷ lệ (%)
1 Nhiệt tình, chu đáo 60 50
2 Bình thƣờng 45 37,5
3 Chƣa nhiệt tình 15 12,5
TỔNG 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Có 50% NCC cho rằng thái độ của cán bộ thực hiện chính sách trong
hoạt động chăm sóc sức khỏe ngƣời có công nhiệt tình chu đáo là do khi đến
gặp, làm hồ sơ thủ tục hay nhận trợ cấp đều đƣợc cán bộ chính sách tận tình
hƣớng dẫn, thái độ cởi mở. Có 37,5% NCC cho rằng cán bộ thực hiện chính
sách ở mức bình thƣờng có nghĩa là cán bộ thực hiện chính sách có tinh thần
trách nhiệm nhƣng chƣa thực sự quan tâm, nhiệt tình. Có 12,5% NCC cho
rằng cán bộ chính sách chƣa nhiệt tình khi đến làm việc phải chờ lâu, mất thời
gian dẫn đến tình trạng ngƣời có công không hài lòng về thái độ làm việc của
cán bộ thực hiện chính sách.
2.2.2. Vai tr vận động nguồn lực
Thực hiện Nghị định 45/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc ban hành
Điều lệ quản lý và sử dụng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, công tác đền ơn đáp
nghĩa và huy động Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” đã đem lại hiệu quả tích cực. Từ
nguồn quỹ này, góp phần chăm lo, nâng cao đời sống các đối tƣợng chính
sách và ngƣời có công với cách mạng ngày một tốt hơn.
Sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kỳ
phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, hƣớng tới mục tiêu dân giàu, nƣớc
53
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Chăm lo tốt hơn đối với các gia
đình chính sách và những ngƣời có công, kết hợp ba nguồn lực: Nhà nƣớc,
cộng đồng, cá nhân tự vƣơn lên.
Các hoạt động vận động nhân dân đóng góp quỹ “đền ơn đáp nghĩa”,
xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm, hỗ trợ NCC khó khăn về nhà ở,
chăm sóc, phụng dƣỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, hỗ trợ phƣơng tiện trợ
giúp, dụng cụ chỉnh hình... đều là các các hoạt động mang tính nhân văn cao,
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thế hệ cha anh đã cống hiến xƣơng máu cho
dân tộc đã, đang đƣợc triển khai và đạt đƣợc một số kết quả sau:
Bảng 2.6 : Một số kết quả của hoạt động vận động nguồn lực
STT Hoạt động Kết quả
1
Quỹ Đền ơn đáp nghĩa 282 triệu dồng
2
Hỗ trợ xây mới và sửa chữa nhà ở 65 nhà
3
Sổ tiết kiệm 50 sổ
4
Phụng dƣỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng 08 mẹ
(Nguồn: Phòng LĐ - TB & XH huyện Thiệu Hóa 2018 )
Ông Đào Hồng Q - Trƣởng Phòng Lao động Thƣơng binh và Xã hội
huyện Thiệu Hóa cho biết: " Sau khi triển khai hỗ trợ nhà ở cho người có
công, trên địa bàn huyện còn gần 100 hộ phát sinh. Hướng giải quyết của
huyện tiếp tục rà soát, hộ nào xuống cấp huyện sẽ nghiên cứu hỗ trợ từ nguồn
Đền ơn đáp nghĩa. Bên cạnh đó huyện đẩy mạnh phong trào chăm sóc người
có công, làm sao đến năm 2020 phấn đấu đạt được kế hoạch đề ra là 100%
hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn bình quân chung".
Chế độ điều dƣỡng phục hồi sức khỏe, cung cấp phƣơng tiện trợ giúp,
dụng cụ chỉnh hình hỗ trợ chăm sóc sức khỏe Ngƣời có công:
Chiến tranh đi qua đã để lại không ít những vết thƣơng làm ảnh hƣởng
lớn đến cuộc sống của ngƣời có công. Bởi vậy, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn chú
54
trọng quan tâm chăm sóc, tạo mọi điều kiện cũng nhƣ trang bị đầy đủ phƣơng
tiệp trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình nhằm giúp đỡ ngƣời có công vƣợt qua
những mất mát về thể xác.
Thông tƣ liên tịch 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC hƣớng dẫn chế độ
điều dƣỡng phục hồi sức khỏe, cấp phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình
đối với ngƣời có công với cách mạng và thân nhân; quản lý công trình ghi
công liệt sĩ do Bộ trƣởng Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội và Bộ Tài
chính ban hành (Xem Phụ lục 05).
Theo đó, căn cứ vào tình trạng thƣơng tật, bệnh tật ghi trong hồ sơ của
đối tƣợng và chỉ định của cơ sở chỉnh hình phục hồi chức năng thuộc ngành
Lao động - Thƣơng binh và Xã hội hoặc của bệnh viện cấp tỉnh trở lên. Mỗi
đối tƣợng khác nhau, sẽ đƣợc hƣởng các quyền lợi về phƣơng tiện và dụng cụ
chỉnh hình khác nhau. Công việc này cũng đã đƣợc tiến hành ở 05 xã mà tôi
điều tra. Kết quả cho thấy việc cung cấp phƣơng tiện và dụng cụ chỉnh hình
còn quá chậm trễ do hồ sơ chậm trễ, chƣa đủ giấy tờ…
Ông Lê Hữu H - Phó Chủ tịch xã Thiệu Thịnh cho biết: “Chúng tôi
cũng rất muốn tặng cho các đối tượng chính sách có nhu cầu sử dụng phương
tiện trợ giúp. Nhưng do nguồn quỹ còn hạn chế nên việc hỗ trợ phương tiện
trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình hiện nay phải chọn lọc và phải thông qua hội
đồng họp xét mới có thể quyết định tặng ai chứ không phải tự ý quyết định.
Việc tặng quà cho đối tượng trước hết sẽ được cán bộ thôn, xã sau khi họp xét
gửi danh sách lên huyện xét xem đối tượng đó có đủ các yêu cầu về : tình
trạng bệnh tật ở mức nặng không tự đi lại được, hoàn cảnh gia đình khó khăn
không có khả năng tự mua dụng cụ hỗ trợ".
55
Bảng 2.7 : Mức độ hài lòng của ngƣời có công về hoạt động vận động
nguồn lực tại địa phƣơng
STT Mức độ Số gƣời Tỷ lệ (%)
1 Rất hài lòng 10 8,3
2 Hài lòng 65 54,2
3 Chƣa hài lòng 45 37,5
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Qua bảng trên có thể thấy rằng ở mức độ hài lòng của ngƣời có công
chiếm tỷ lệ 54,2%, tỷ lệ ngƣời có công chƣa hài lòng với hoạt động của địa
phƣơng khá cao chiếm 37,5%. do việc tuyên truyền vận động chƣa đƣợc thực
hiện thƣờng xuyên, nguồn quỹ quyên góp chƣa cao, chƣa hỗ trợ đƣợc nhiều
các đối tƣợng có công.
Ngoài các hình thức chăm sóc sức khỏe nhƣ chế độ bảo hiểm y tế, điều
dƣỡng sức khỏe, hỗ trợ phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình và thăm
khám - phát thuốc miễn phí tại địa phƣơng luôn tuyên truyền vận động các
gia đình, đặc biệt là các hộ gia đình chính sách chung sống hòa thuận, gƣơng
mẫu – gia đình văn hóa cho con cháu và hàng xóm noi theo, đồng thời thành
lập các hội nhóm vận động NCC tham gia các hoạt động văn hóa – văn nghệ,
thể thao nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần cho ngƣời có công.
Mỗi năm đến Ngày Thƣơng binh Liệt sĩ (27/7) và Tết cổ truyền dân
tộc, toàn huyện Thiệu Hóa lại dấy lên nhiều hoạt động thiết thực, chăm sóc,
tri ân các thƣơng binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình ngƣời có công với
cách mạng. 100% Mẹ Việt Nam anh hùng khi còn sống đều đƣợc các cơ
quan, ban, ngành, doanh nghiệp trên địa bàn nhận trực tiếp chăm sóc phụng
dƣỡng suốt đời; con thƣơng binh, bệnh binh, con liệt sỹ, con ngƣời hoạt động
kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học đang học tập ở các bậc học từ mầm
56
non đến cao đẳng, đại học đều đƣợc hƣởng đẩy đủ các chế độ ƣu đãi trong
giáo dục đào tạo.
Việc phối hợp giữa chính quyền địa phƣơng và các đoàn thể trong vận
động nguồn lực và tuyên truyền trong nhân dân về “Đền ơn đáp nghĩa”, “
Uống nƣớc nhớ nguồn”, “ Chăm sóc gia đình ngƣời có công” tại địa phƣơng
chƣa thật sự hiệu quả. Vận động nguồn lực trợ giúp ngƣời có công còn hạn
chế, kết quả đem lại chƣa cao. Các đợt tuyên truyền, phổ biến chính sách đến
toàn dân chƣa đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục.
Hiện nay các câu lạc bộ về văn hóa văn nghệ thể thao tại địa phƣơng
ngày càng thu hút đông đảo ngƣời có công. Các hoạt động văn hóa - thể dục,
thể thao ở địa phƣơng chủ yếu do ngƣời có công tự lo kinh phí, tìm mƣợn
địa điểm, ít đƣợc cơ quan chuyên môn quan tâm, giúp đỡ. Vì vậy, hoạt động
văn hóa, thể dục, thể thao của ngƣời có công vẫn đang gặp nhiều khó khăn
về kinh phí và cơ sở vật chất.
Biểu đồ 2.3: Kết quả đánh giá việc thực hiện vai trò vận động nguồn lực của
nhân viên công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe cho NCC
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
57
Qua biểu đồ trên ta thấy: đánh giá việc thực hiện vai trò vận động
nguồn lực của cán bộ chính sách ở mức độ tốt chiếm 16,7%; có 50% NCC trả
lời ở mức độ bình thƣờng; có tới 33,3% kết quả đánh giá cho rằng vai trò vận
động nguồn lực của cán bộ chính sách chƣa tốt.
Kết quả thực hiện chính sách chăm sóc ngƣời có công tại địa phƣơng
trong những năm qua cũng đã đạt nhiều kết quả, đây là trách nhiệm của các
cấp, các ngành, các tổ chức… và là nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội: cần
có sự vận động, kết nối các tổ chức, các lực lƣợng. Tuy nhiên chƣa có nhiều
hoạt động thực tiễn mà mới chỉ dừng lại ở việc thực hiện các chính sách của
Nhà nƣớc và thực hiện một vài hoạt động nhỏ trong vận động nguồn lực trợ
giúp phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình và hoạt động nâng cao sức
khỏe tinh thần cho ngƣời có công.
NVXH có vai trò tiến hành, phối hợp với các ngành, các cấp, các đoàn
thể xây dựng, hƣớng dẫn và tổ chức vận động nhân dân đóng góp quỹ “Đền
ơn đáp nghĩa” để tri ân gia đình chính sách, ngƣời có công với cách mạng.
Nhà nƣớc đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện xây dựng nhà tình
nghĩa cho ngƣời có công và gia đình chính sách, đây là trách nhiệm của Nhà
nƣớc và cũng chỉ có nhà nƣớc mới có thể đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt
động này.
Bên cạnh đó, cộng đồng dân cƣ, các doanh nghiệp đơn vị trong hoạt
động xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa cho Ngƣời có công trên địa bàn chủ
yếu là đóng góp ngày công lao động, nguyên vật liệu và hỗ trợ cùng Nhà nƣớc
xây dựng nhà tình nghĩa cho ngƣời có công.
Tuy nhiên, hoạt động này triển khai rất hạn chế ở địa phƣơng trong thời
gian qua gây lãng phí nguồn lực của cộng đồng.
Trƣớc thực trạng đó, nhân viên công tác xã hội cùng với Lãnh đạo
Phòng Lao động - thƣơng binh và xã hội đã gặp gỡ một số cơ quan, tổ chức,
58
doanh nghiệp trên địa bàn để tuyên truyền, vận động họ chung tay đóng góp
để cùng chính quyền xây dựng nhà tình nghĩa cho một số ngƣời có công đang
gặp khó khăn. Không dừng ở đó, các cán bộ chính sách ở địa phƣơng vận
động các tổ chức xã hội, các đơn vị lực lƣợng vũ trang trên địa bàn nhận
phụng dƣỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Kết quả là đã làm dấy lên phong
trào phụng dƣỡng, giúp đỡ Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở nhiều xã.
Trao đổi với tôi, anh Nguyễn Hoàng N - Phó Trƣởng phòng Lao động
- Thƣơng binh và Xã hội huyện Thiệu Hóa cho biết: “Trong số các mẹ VNAH
còn sống, Ban CHQS huyện nhận phụng dưỡng mẹ Lại Thị , ở xã Thiệu
Duy. Thường xuyên có cán bộ, nhân viên LLVT huyện đến thăm mẹ. Hàng
tháng, ngoài trích 500.000 đồng/tháng từ quỹ đơn vị, cán bộ, nhân viên còn
thường xuyên đến quét dọn, làm vườn giúp mẹ. Không chỉ đồng hành cùng
địa phương phụng dưỡng, chăm sóc các Bà mẹ VNAH, các anh còn có nhiều
đóng góp vào các hoạt động đền ơn đáp nghĩa như tham gia xây nhà tình
nghĩa; tu bổ, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ… Những việc làm đó đã để lại
trong nhân dân huyện nhà nhiều tình cảm tốt đẹp đối với Bộ đội Cụ Hồ”.
Chính quyền địa phƣơng kết hợp với các tổ chức đoàn thể huy động các
tập thể, cá nhân cán bộ công chức - viên chức, các doanh nghiệp và các hộ gia
đình trên địa bàn huyện đóng góp bằng nhiều hình thức trong đó hình thức
chính là đóng góp tiền mặt để giúp NCC có thêm các phƣơng tiện trợ giúp,
dụng cụ chỉnh hình nhằm đảm bảo các hoạt động trong cuộc sống sinh hoạt
hằng ngày.
Hoạt động vận động nguồn lực cung cấp phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ
chỉnh hình hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công tại địa phƣơng đã đƣợc
nhân viên công tác xã hội triển khai thực hiện và đem lại những hiệu quả nhất
định. Thông qua việc tuyên truyền, vận động sự đóng góp bằng tiền mặt.
59
Bên cạnh sự hỗ trợ từ Nhà nƣớc, cần vận động các tổ chức khác tham
gia công tác trợ giúp ngƣời có công, ngày càng xã hội hóa công tác chăm sóc
ngƣời có công nhất là về mặt vật chất.
Để triển khai thực hiện chính sách dành cho NCCVCM không bị sai
lệch với chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc thì vai trò của
NVCTXH rất quan trọng. Họ không chỉ đơn thuần là ngƣời đƣa những chính
sách vào trong thực tế mà còn là sợi dây kết nối mọi nguồn lực với nhau, thể
hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân ta dành cho những ngƣời
có công với cách mạng.
Có thể nói, vận động và kết nối nguồn lực là một vai trò cơ bản không
thể thiếu và đóng vai trò cơ bản đối với cá nhân của ngƣời làm nghề công tác
xã hội. Đặc biệt, trong việc thực hiện chính sách, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe
NCC, vận động và kết nối nguồn lực là một trong những vai trò quan trọng
làm nên thành công trong công việc của nhân viên công tác xã hội.
2.2.3. Vai trò tuyên truyền
Ngƣời có công với cách mạng đa số là những ngƣời có trình độ học vấn
thấp và đều đã cao tuổi nên khả năng nắm đƣợc những kiến thức về các chính
sách ƣu đãi, các hoạt động nâng cao sức khỏe bị hạn chế.
Với vai trò tuyên truyền, nhân viên công tác xã hội là ngƣời cung cấp
cho các đối tƣợng ngƣời có công những kiến thức pháp luật, những chính
sách ƣu đãi thông qua hình thức tuyên truyền trong các buổi gặp mặt, tọa
đàm, mít tinh, hội nghị, buổi tập huấn đƣợc tổ chức tại các tiểu khu dân cƣ,
trụ sở UBND huyện, xã.
60
Biểu đồ 2.4: Mức độ cần thiết của vai trò tuyên truyền trong chăm sóc
sức khỏe cho NCC
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Biểu đồ trên cho thấy mức độ quan trọng của tuyên truyền cho NCC, có
59,2% NCC cho rằng đây là một hoạt động rất cần thiết bởi nhân viên công
tác xã hội có cung cấp thông tin về các chủ trƣơng, chính sách về chăm sóc
sức khỏe thì họ mới biết để đƣợc hƣởng, 35% cho rằng cần thiết và 5,8% cho
rằng không cần thiết.
Do điều kiện sức khỏe không cho phép hoặc một số ngƣời có công đời
sống vật chất còn nhiều khó khăn nên không thể tham gia vào các hoạt động
văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao, các hoạt động xã hội.
Thấy đƣợc tình hình trên, nhân viên công tác xã hội đã trực tiếp xuống
một số địa bàn thôn xã để tuyên truyền về lợi ích của việc tham gia vào các
hoạt động văn hóa văn nghệ thể thao, vận động ngƣời có công tham gia các
hoạt động văn hóa văn nghệ thể thao.
61
NCC tham gia các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể thao là những
ngƣời có công ở nhóm này hầu nhƣ con cái họ đã trƣởng thành, đời sống gia
đình ổn định nên họ không có những vƣớng bận về kinh tế, thoải mái về tâm
lý nên có nhiều thời gian để tham gia các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể
thao; Những NCC không thƣờng xuyên tham gia đƣợc bởi phần lớn là thƣơng
bệnh binh suy giảm khả năng lao động ở mức nhẹ, hoặc là những thân nhân
ngƣời có công có sức khỏe ở mức trung bình, họ vẫn có khả năng tham gia
nhƣng do cuộc sống gia đình, họ vẫn là những lao động chính trong việc kiếm
thu nhập bởi vậy, phần lớn thời gian phải lao động nên họ ít có thời gian tham
gia.
Để thực hiện tốt vai trò là ngƣời tuyên truyền, cán bộ chính sách (nhân
viên công tác xã hội) phải tham gia các buổi tập huấn, tọa đàm tại UBND tỉnh
Thanh Hóa, Sở LĐ - TB & XH tỉnh Thanh Hóa để nâng cao kiến thức chuyên
môn nghiệp vụ. Các buổi tập huấn thƣờng đƣợc tổ chức từ 1 - 3 ngày, tùy vào
nội dung của buổi tập huấn.
Nhân viên công tác xã hội sau khi học hỏi đƣợc các kiến thức chuyên
môn về các chính sách cũng nhƣ các hoạt động liên quan đến chăm sóc sức
khỏe, thực hiện vai trò là ngƣời tuyên truyền, cung cấp các kiến thức truyền
đạt cho ngƣời có công để họ hiểu biết về tầm quan trọng của sức khỏe, các
chế độ chính sách mà họ đƣợc hƣởng.
Các hoạt động tuyên truyền phải đƣợc thực hiện một cách thƣờng
xuyên và nội dung truyền đạt phải thật ngắn gọn, dễ hiểu thì mới thu hút đƣợc
sự tham gia của ngƣời có công.
Để thực hiện tốt vai trò là tuyên truyền viên của mình, nhân viên công
tác xã hội xây dựng riêng cho mình bản kế hoạch hoạt động tuyên truyền cụ
thể về thời gian, nội dung tuyên truyền, hình thức tuyên truyền để ngƣời có
công hiểu đƣợc các chính sách về chăm sóc sức khỏe của Đảng, Nhà nƣớc và
của địa phƣơng.
62
Các hình thức tuyên truyền mà nhân viên công tác xã hội thực hiện nội
dung tuyên truyền nhƣ tổ chức buổi tập huấn, tọa đàm, phát thanh trên hệ
thống loa truyền thanh về các văn bản chính sách của nhà nƣớc trong công tác
chăm sóc sức khỏe.
Bảng 2.8 : Nội dung công tác tuyên truyền về chính sách chăm sóc sức
khỏe đối với ngƣời có công với cách mạng:
STT Nội dung Số ngƣời Tỷ lệ (%)
Đƣờng lối, quan điểm của Đảng và Nhà 20 16,7 1
nƣớc về chính sách CSSK NCC
Ý nghĩa, vai trò của chính sách CSSK 33 27,5 2
NCC
Ý thức, trách nhiệm của các cá nhân đối 15 12,5 3
với công tác CSSK NCC
Biện pháp, cách thức tổ chức thực hiện 20 16,7 4
chính sách CSSK NCC
Tất cả các phƣơng án trên 32 26,6 5
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Việc tuyên truyền đƣờng lối, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về
chính sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng thể hiện đƣợc
các cán bộ xã hội cũng đã rất nỗ lực trong công tác chăm sóc sức khỏe đối với
ngƣời có công với cách mạng. Luôn tìm hiểu và nhanh chóng phổ biến các
phƣơng thức để mọi ngƣời trong cộng đồng biết đến chính sách của Đảng,
Nhà nƣớc chung tay nhau chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công một cách
hiệu quả nhất. Bên cạnh việc tuyên truyền đƣờng lối, quan điểm của Đảng và
Nhà nƣớc về chính sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng thì
biện pháp, cách thức thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có công
với cách mạng chƣa cao, việc nắm chắc các chủ trƣơng của Đảng luôn cần
63
song hành các biện pháp thực hiện để chủ trƣơng chăm sóc sức khỏe ngƣời có
công với cách mạng của Đảng và Nhà nƣớc mới thực sự có ý nghĩa, hiêu quả
thiết thực.
Đặc biệt, đối với những ngƣời có công với cách mạng đôi khi họ luôn
cảm thấy mặc cảm tự ti và không muốn tham gia các hoạt động xã hội tại
cộng đồng. Điều này dẫn đến việc thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe cho
ngƣời có công với cách mạng bỏ qua những quyền lợi và cơ hội tham gia của
mình. Với vai trò này, nhân viên công tác xã hội là ngƣời tuyên truyền, nâng
cao năng lực nhận thức cho họ, thúc đẩy họ tham gia bằng lời nói và kiến
thức.
Biểu đồ 2.5: Mức độ tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe cho NCC của
nhân viên công tác xã hội
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Qua biểu đồ cho thấy, số NCC trả lời rằng mức độ tuyên truyền về
chăm sóc sức khoẻ tại địa phƣơng thƣờng xuyên chiếm 60%, mức độ tuyên
truyền chăm sóc sức khỏe cho NCC tại địa phƣơng thỉnh thoảng mới đƣợc
tuyên truyền chiếm tỷ lệ 30%, không bao giờ chiếm 10%. Điều đó cho thấy
64
hoạt động tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ phổ biến kiến thức về chăm sóc
sức khoẻ tại địa phƣơng gần nhƣ đƣợc thực hiện một cách có tổ chức, có kế
hoạch, giúp NCC nắm bắt đƣợc nhiều thông tin hơn về các chủ trƣơng, chính
sách của Đảng và Nhà nƣớc về chăm sóc sức khỏe cho NCC.
Có thể thấy rõ vai trò tuyên truyền của cán bộ chính sách trong việc
thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng
thông qua hình thức loa phát thanh và tọa đàm là do đa số ngƣời có công với
cách mạng đều đã cao tuổi, trình độ học vấn lại thấp. Có thể nói, tuyên truyền
vận động là một trong các giải pháp quan trọng trong việc nâng cao nhận thức
và khả năng tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe của ngƣời có
công.
Bảng 2.9: Đánh giá mức độ thực hiện vai trò tuyên truyền của nhân viên
công tác xã hội trong tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công
STT Mức độ thực hiện Số ngƣời Tỷ lệ %
1 Tốt 72 60
2 Bình thƣờng 43 35,8
3 Chƣa tốt 5 4,2
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Qua bảng trên ta thấy, đánh giá việc thực hiện vai trò tuyên truyền của
nhân viên công tác xã hội ở mức độ tốt chiếm 60% kết quả này cho thấy cán
bộ chính sách đã cung cấp đầy đủ thông tin, nội dung về chăm sóc sức khỏe
và nhiệt tình giải thích những thắc mắc, giúp đối tƣợng hiểu đƣợc nội dung
chính sách, 35,8% kết quả ở mức độ bình thƣờng, có 4,2% kết quả ở mức độ
chƣa tốt.
Bên cạnh những mặt đạt đƣợc trong việc thực hiện vai trò tuyên truyền
trong quá trình triển khai, thực hiện nhiệm vụ vẫn còn bộc lộ hạn chế, khó
khăn nhất định: Các hoạt động tuyên truyền còn mang tính hình thức; nội
65
dung tuyên truyền chƣa phong phú; đội ngũ tuyên truyền hầu hết là cán bộ
đoàn thể chƣa có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực Công tác xã hội; chất
lƣợng tuyên truyền chƣa đáp ứng yêu cầu; phƣơng pháp và hình thức tuyên
truyền còn hạn chế, do đó các hoạt động tuyên truyền chƣa thu hút đƣợc
đông đảo NCC tham gia...
2.2.4. Vai tr tư vấn
Nguyên nhân ngƣời có công cần đến nhân viên công tác xã hội để tƣ
vấn là do mức độ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe của ngƣời có công còn
thấp, phải đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe.
Một nguyên nhân khác cũng khiến cho việc tiếp cận với các dịch vụ
khám chữa bệnh của ngƣời có công hạn chế đó là phƣơng pháp xử lý chữa
bệnh và thái độ phục vụ của nhân viên y tế.
Bảng 2.10: Nội dung tƣ vấn về chăm sóc sức khỏe ngƣời có công
STT Nội dung Số ngƣời Tỷ lệ %
1 Cách sử dụng thẻ BHYT 45 37,5
2 tránh một số bệnh 15 12,5
Cách phòng thƣờng mắc
3 Nơi khám chữa bệnh 25 20,8
4 Hồ sơ, thủ tục hỗ trợ nhà ở 20 16,7
5 Khác 15 12,5
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Cán bộ chính sách tận tình tƣ vấn, tham vấn cho những đối tƣợng ngƣời
có công không hiểu đƣợc chính sách chế độ bảo hiểm y tế, từ việc cấp thẻ
BHYT đảm bảo đúng tên tuổi, tƣ vấn trong việc quản lý và sử dụng thẻ
BHYT đúng mục đích, hạn chế tình trạng một đối tƣợng nhiều thẻ BHYT, mã
quyền lợi ghi trên thẻ BHYT, tƣ vấn cho ngƣời có công đăng ký nơi khám
66
bệnh ban đầu đảm bảo đúng quy định, đem quyền lợi tối ƣu nhất cho đối
tƣợng đƣợc thụ hƣởng chính sách.
Ngoài ra, nhân viên xã hội còn tƣ vấn cho họ khi đau ốm nên đến khám
ở các Trung tâm y tế chính sách, chuyển tuyến bệnh viện... để có sự lựa chọn
tốt nhất cho bản thân mình trong quá trình điều trị bệnh tại các bệnh viện.
Không dừng ở việc tƣ vấn sức khỏe, nhân viên công tác xã hội còn
thực hiện tƣ vấn giới thiệu, tạo việc làm, chính sách bảo hiểm y tế cho ngƣời
có công.
Tƣ vấn về giới thiệu việc làm, tạo việc làm, chính sách bảo hiểm y tế
luôn đƣợc nhân viên công tác xã hội chú trọng quan tâm vì đây là một trong
những chính sách an sinh xã hội ƣu việt giúp cho ngƣời có công có cơ hội
đƣợc hƣởng thụ và là động lực để họ tham gia tích cực vƣơn lên trong cuộc
sống.
Hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ về nhà ở: Trên cơ sở chính sách về nhà ở
cho ngƣời có công, nhân viên xã hội sẽ tƣ vấn, giúp đỡ, hỗ trợ cho họ tiếp cận
chính sách về nhà ở, tƣ vấn cho họ về tính ƣu việt của chính sách nhà và
những đóng góp của gia đình nhƣ: Giúp họ làm giấy tờ thủ tục để đƣợc nhận
hỗ trợ về nhà ở, tƣ vấn cho gia đình kết nối với Ngân hàng chính sách để vay
thêm nguồn vốn để xây dựng căn nhà kiên cố hơn. Mặt khác tƣ vấn cho họ vệ
sinh nhà cửa và khuôn viên sinh sống, sắp xếp trang trí trong nhà sạch đẹp và
gọn gàng.
67
Biểu đồ 2.6: Mức độ hài lòng về vai trò tƣ vấn của Cán ộ chính sách
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Qua biểu đồ trên có 55% đánh giá ở mức độ bình thƣờng vai trò tƣ vấn
của Cán bộ chính sách, 30% NCC đánh giá ở mức độ hài lòng, 10% đánh giá
ở mức độ rất hài lòng về hoạt động tƣ vấn của cán bộ chính sách, 5% NCC
chƣa hài lòng về vai trò tƣ vấn của cán bộ chính sách.
Bảng 2.11: Tỷ lệ đánh giá về thái độ của nhân viên công tác xã hội trong
vai trò ngƣời tƣ vấn chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công
STT Chỉ số Số NCC chọn Tỷ lệ (%)
1 Tốt 45 37,5
2 Bình thƣờng 60 50
3 Chƣa tốt 15 12,5
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Qua bảng số liệu ngƣời có công đánh giá thái độ của nhân viên công
tác xã hội khi tƣ vấn về chăm sóc sức khỏe cho thấy: Có 37,5% kết quả
đánh giá cho rằng nhân viên công tác xã hội có thái độ tốt trong vai trò tƣ
vấn về chính sách chăm sóc sức khỏe, cán bộ chính sách nhiệt tình giải thích
68
những thắc mắc, cung cấp đầy đủ thông tin và nội dung về chính sách chăm
sóc sức khỏe; có 50% kết quả ở mức độ bình thƣờng đối với cán bộ chính
sách thực hiện vai trò tƣ vấn; 12,5% đánh giá nhân viên công tác xã hội có
thái độ chƣa tốt là do thiếu sự nhiệt tình, khi cần trợ giúp còn phải chờ lâu,
một vài nhân viên có hành vi chƣa đƣợc tốt trong cử chỉ giao tiếp.
Điều đó cho thấy ngƣời có công vẫn chƣa nhận đƣợc sự quan tâm giúp
đỡ thƣờng xuyên từ phía nhân viên công tác xã hội. Đây cũng là một trong
những khó khăn mà những nhân viên công tác xã hội gặp phải.
Nguyên nhân do thiếu đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên
nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc ngƣời có công, trợ giúp ngƣời có công.
Nhân viên công tác xã hội còn thiếu kinh nghiệm, cá biệt, cán bộ khi đi trợ
giúp với đối tƣợng chƣa thực sự tâm huyết, gắn bó thực sự với công việc
chuyên môn của ngành. Đội ngũ nhân viên công tác xã hội chƣa nắm đƣợc
hết tâm lý cũng nhƣ tâm tƣ nguyện vọng ngƣời có công. Hơn nữa tinh thần
trách nhiệm trong công việc chƣa cao.
Nhân viên công tác xã hội cần làm tốt công tác tƣ vấn, phổ biến chính
sách ngƣời có công với quần chúng nhân dân, kịp thời giải đáp những
vƣớng mắc, bức xúc để ngƣời dân hiểu và làm đúng theo chính sách. nhân
viên công tác xã hội cũng cần quan tâm tới việc tƣ vấn, hỗ trợ về thủ tục, hồ
sơ để ngƣời có công biết và tránh những vƣớng mắc trong quá trình làm thủ
tục giấy tờ, nhanh chóng đƣợc tiếp cận với sự hỗ trợ từ các chính sách ƣu đãi
của Nhà nƣớc.
Từ đó đặt ra yêu cầu từ phía nhân viên đó là không chỉ cần đến kiến
thức mà cần có kỹ năng trong quá trình giao tiếp ban đầu đối với ngƣời có
công mà còn hiểu đƣợc tâm sinh lý ngƣời có công, những khó khăn mà họ
cần trợ giúp. Nhân viên công tác xã hội sẽ phát huy đƣợc khả năng tham vấn,
69
tƣ vấn cho đối tƣợng ngƣời có công giúp họ có niềm tin vƣơn lên trong cuộc
sống.
Chia sẻ với tôi, chị Hoàng Thị H - Cán bộ chính sách xã Thiệu Quang:
“Tôi sẽ nỗ lực cố gắng học tập, rèn luyện để nâng cao kỹ năng, kiến thức
trong việc thực hiện tốt vai trò là người tư vấn và tham vấn cho các đối tượng
là người có công. Vì đôi khi chính việc thiếu kiến thức về chính sách pháp
luật của nhân viên công tác xã hội sẽ là một trong những nguyên nhân khiến
cho NCC và thân nhân người có công không có cơ hội được tiếp cận và
hưởng thụ các dịch vụ ưu đãi”.
Vai trò là ngƣời tƣ vấn, tham vấn rất quan trọng và khi tƣ vấn, tham
vấn nhân viên CTXH cần phải sử dụng nhiều kỹ năng để truyền tải nội dung
và giúp các đối tƣợng hiểu đƣợc vấn đề mình đang gặp phải và tự giải quyết
vấn đề của mình theo hƣớng tích cực.
Bảng 2.12: Đánh giá mức độ thực hiện vai trò tƣ vấn của nhân viên công tác
xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công
STT Mức độ thực hiện Số ngƣời Tỷ lệ %
1 Tốt 75 62,5
2 Bình thƣờng 41 34,2
3 Chƣa tốt 4 3,3
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành những chính sách, chế độ đối với
thƣơng binh, gia đình liệt sĩ. Các chính sách, chế độ ấy đã đƣợc cơ quan
Nhà nƣớc và nhân dân quan tâm. Phƣơng hƣớng tổng quát là cải thiện công
tác chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công và phát huy vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong công tác chăm sóc sức khỏe đối với ngƣời có công
trên địa bàn huyện.
70
Trên địa bàn huyện Thiệu Hóa tình hình thực hiện Pháp lệnh ƣu đãi
Ngƣời có công với cách mạng đƣợc thực hiện tƣơng đối có hiệu quả. Để có
đƣợc kết quả đó những cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách với vai trò là
một nhân viên công tác xã hội, họ có vai trò hết sức quan trọng trong việc
thực hiện chăm sóc sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần cho ngƣời có công
với cách mạng.
Bảng 2.13: Bảng tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện vai trò của nhân
viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với
cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Mức độ thực hiện( %)
STT Các vai trò Thứ ậc Tốt Bình Chƣa
thƣờng tốt
1 Vai trò kết nối 65,7 30 4,3 1
2 Vai trò vận động nguồn lực 16,7 50 33,3 4
3 Vai trò tuyên truyền 60 35,8 4,2 3
4 Vai trò tƣ vấn 62,5 34,2 3,3 2
(Nguồn: Kết quả khảo sát năm 2020)
Từ bảng tổng hợp trên ta thấy: Nhân viên công tác xã hội đã làm tốt vai
trò kết nối và vai trò tƣ vấn những thông tin, chính sách về ƣu đãi và chăm
sóc sức khỏe đã đến đƣợc với ngƣời có công với cách mạng. vai trò vận động
nguồn lực và vai trò tuyên truyền tại địa phƣơng vẫn chƣa tốt, nhân viên công
tác xã hội chƣa phát huy đƣợc khả năng cũng nhƣ thực hiện có hiệu quả cho
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
Nhƣ vậy cùng với hệ thống chính sách ƣu đãi của Nhà nƣớc, việc huy
động toàn dân chăm sóc sức khỏe Ngƣời có công đã góp phần chăm lo tốt hơn
đời sống mọi mặt của những thƣơng binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và ngƣời
có công đúng với quy định trong Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công với cách
71
mạng: Việc quan tâm chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời có công
và gia đình họ là trách nhiệm của Nhà nƣớc và của toàn xã hội. Để làm tốt
công tác chăm sóc sức khỏe Ngƣời có công với cách mạng, nhân viên công
tác xã hội (Cán bộ chính sách) có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tuyên
truyền, phổ biến, thực hiện các chính sách ƣu đãi cũng nhƣ các chính sách
chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
2.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng tại huyện
Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
2.3.1. Y u tố thuộc về nhân viên công tác xã hội
Một trong những nhân tố quan trọng để hoàn thành tốt công việc,
nhiệm vụ và vai trò của mình chính là việc bản thân cán bộ chính sách hiểu rõ
đƣợc vai trò, chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao của chính mình.
Sau khi triển khai Đề án 32, nhận thức, hiểu biết về nghề CTXH đã có
bƣớc chuyển biến căn bản, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cốt cán của ngành LĐ -
TB&XH, các hội, đoàn thể đã có nhiều hiểu biết về CTXH.
Trình độ chuyên môn, năng lực của cán bộ chính sách đã tác động trực
tiếp đến hiệu quả của việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công. Nếu
nhân viên CTXH đƣợc đào tạo chuyên nghiệp, có kỹ năng hành nghề, có tinh
thần trách nhiệm cao, có sự đồng cảm sâu sắc với đối tƣợng yếu thế... thì họ
sẽ thực hiện đƣợc và thực hiện tốt ở các mức độ khác nhau các vai trò của
mình, ảnh hƣởng tốt, đạt kết quả cao trong công việc và ngƣợc lại nếu không
đƣợc đaò tạo chuyên nghiệp, thiếu kiến thức, chuyên môn, kỹ năng nghề
nghiệp, thiếu hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý của đối tƣợng thì sẽ gây ảnh
hƣởng tiêu cực dẫn đến chất lƣợng và hiệu quả kém.
Cán bộ chính sách đƣợc đào tạo chính quy, công việc phù hợp với lĩnh
vực đào tạo, họ sẽ gặp đƣợc rất nhiều thuận lợi trong công việc đƣợc giao,
72
đồng thời họ nắm đƣợc các kiến thức cơ bản, nâng cao, và có kinh nghiệm để
xử lý tốt đƣợc các công việc mà lãnh đạo giao cho.
Khi triển khai nhiệm vụ của ngành Lao động- thƣơng binh & xã hội, cán
bộ chính sách đã chủ động tham mƣu tốt công việc đƣợc giao, thực hiện chính
sách ƣu đãi đảm bảo đúng, đủ, kịp thời.
Để việc thực hiện chính sách ƣu đãi ngƣời có công đặc biệt là chính
sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có công đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tiễn cũng
nhƣ để chính sách có thể đến đƣợc với ngƣời có công và gia đình họ thì cán
bộ chính sách - ngƣời trực tiếp thực hiện chính sách là một trong những yếu
tố tác động không nhỏ. Lực lƣợng làm công tác này phải nhiệt tình, có trình
độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ vững vàng để có thể đƣa các chính sách
trên lý thuyết đi vào thực tiễn.
Qua tìm hiểu, cán bộ chính sách của huyện Thiệu Hóa cũng đã đƣợc
đào tạo về chuyên môn thông qua các buổi tập huấn và đƣợc sắp xếp vị trí
việc làm về mảng ngƣời có công. Đây là một trong yếu tố thuận lợi trong việc
thực hiện tốt việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công trên địa bàn
huyện Thiệu Hóa.
Ông Lê Hữu H cho biết: "9 năm qua xã thiếu cán bộ được đào tạo
chuyên môn về mảng chính sách, bởi vậy trong những năm qua đều phân
công cho cán bộ tốt nghiệp ngành Quản lý văn hóa làm việc ở Ban Văn hóa
chính sách đảm nhiệm luôn cả mảng chính sách người có công. Phần lớn các
xã trong huyện nếu thiếu cán bộ văn hóa chính sách đều như vậy. Bởi chưa
tuyển dụng được cán bộ được đào tạo đúng chuyên môn nên đành phải như
vậy thôi". (PVS, Lãnh đạo UBND xã Thiệu Thịnh)
Thực tế, việc cán bộ thực hiện chính sách đƣợc đào tạo đúng trình độ
chuyên môn sẽ tác động rất lớn đến việc triển khai và thực hiện các chính
sách chăm sóc ngƣời có công, đặc biệt là việc tham mƣu, tổ chức thực hiện
73
các hoạt động chăm sóc sức khỏe ngƣời có công tại địa phƣơng... Nếu đƣợc
đào tạo đúng chuyên môn, cán bộ thực hiện chính sách tại địa phƣơng cũng
chính là một nhân viên công tác xã hội, bởi vậy họ đƣợc đào tạo, có trình độ
chuyên môn sẽ thực hiện đúng các vai trò của một nhân viên công tác xã hội
trong việc thực hiện chính sách nói chung và thực hiện các hoạt động công tác
xã hội trong chăm sóc sức khỏe nói riêng.
Tại địa phƣơng việc triển khai và thực hiện các chính sách ƣu đãi, chăm
sóc ngƣời có công hiện nay phần lớn dựa vào kiến thức, kỹ năng mà cán bộ
thực hiện chính sách tích lũy qua quá trình làm việc và bồi đắp từ các lớp tập
huấn của Sở Lao động - thƣơng binh & xã hội tổ chức. Bên cạnh đó là tinh
thần nhiệt huyết với nghề, sự nhiệt tình và lòng biết ơn đối với ngƣời có công
với cách mạng.
Chị Đỗ Thị T - Cán bộ thực hiện chính sách xã Thiệu Hợp:“ Mọi người
nhìn vào thì nghĩ cán bộ chính sách xã chắc nhàn và ít việc, nhưng thực tế
mảng chính sách không chỉ thực hiện chính sách đối với người có công mà
chúng tôi còn phải phụ trách về giảm nghèo; bảo trợ với trẻ em, người khuyết
tật, người già, bảo hiểm y tế cho nhân dân cả xã... nên nhiều lúc NCC đến hỏi
về thẻ bảo hiểm y tế hay hỏi chế độ chúng tôi chưa giải đáp kịp thời, chậm
rãi, kĩ càng cho các bác hiểu hơn"
Thái độ của cán bộ chính sách khi làm việc với ngƣời có công phần lớn
đã thể hiện đƣợc sự quan tâm, nhiệt tình chu đáo nhƣng đôi khi vẫn để các đối
tƣợng phải chờ lâu dẫn đến tình trạng ngƣời có công không hài lòng về thái
độ làm việc của cán bộ thực hiện chính sách.
74
2.3.2. Y u tố thuộc về chính sách và pháp luật
Thực chất của nghề CTXH là cung cấp dịch vụ cho ngƣời dân, nhân
viên xã hội là ngƣời phục vụ chứ không phải là ngƣời chủ. Đối tƣợng đƣợc
chăm sóc, phục vụ đều là những đối tƣợng có hoàn cảnh đặc biệt, là những
ngƣời cần chăm sóc sức khỏe, đƣợc bảo vệ, che chở… Chính vì vậy, ngoài
kiến thức, chuyên môn nhân viên CTXH cần phải đƣợc đào tạo nhiều về kỹ
năng. Mặt khác, do đối tƣợng đƣợc chăm sóc, phục vụ là những đối tƣợng đặc
biệt, yếu thế… nên cũng rất cần các nhân viên làm CTXH có đạo đức nghề
nghiệp.
Ở Việt Nam nghề CTXH mới chỉ ở bƣớc đầu hình thành, chƣa đƣợc
phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh. Thực tế cho
thấy, đa phần nhân viên làm CTXH chƣa đƣợc đào tạo bài bản. Đội ngũ nhân
viên này phát triển có tính tự phát chủ yếu là của các tổ chức đoàn thể nhƣ
Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Ngƣời cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, cán
bộ phƣờng, xã đôi khi là những ngƣời dân tự nguyện. Họ làm việc chủ yếu
theo kinh nghiệm, chƣa đƣợc đào tạo các kỹ năng xã hội, kỹ năng nghề cần
thiết về CTXH. Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá
nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng dân cƣ không cao, thiếu tính bền vững.
Hơn nữa ở 5 xã nơi tôi đến nghiên cứu mới chỉ có cán bộ chính sách mà chƣa
có nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp. Cán bộ chính sách này đã đƣợc
đào tạo, bồi dƣỡng về công tác xã hội và có kinh nghiệm làm việc về công tác
xã hội.
Đặt mục tiêu phát triển CTXH thành một nghề ở Việt Nam, Thủ tƣớng
Chính phủ đã quyết định dành kinh phí 2.347,4 tỉ đồng để thực hiện Đề án
phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 (Quyết định 32/2010/QĐ-TTg),
còn gọi là Đề án 32.
75
Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật về phát triển nghề
CTXH:
Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, Bộ Lao động- TBXH đã
hƣớng dẫn các Bộ, ngành và địa phƣơng triển khai Đề án 32; phê duyệt Kế
hoạch thực hiện Đề án giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016 -2020. Đồng
thời chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng, trình ban hành nhiều
văn bản quy phạm pháp luật quy định chức danh, mã số, tiêu chuẩn các chức
danh nghề nghiệp viên chức CTXH; tiêu chuẩn cộng tác viên CTXH cấp xã;
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trung tâm CTXH; chế
độ tiền lƣơng đối với đội ngũ viên chức công tác xã hội. Tính đến nay đã có
04 Nghị định; 4 Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ; 06 Thông tƣ Liên tịch;
04 Thông tƣ đƣợc ban hành nhằm thúc đẩy, phát triển nghề CTXH.
Bộ Lao động- TBXH và các cơ quan của Quốc hội, Bộ, ngành có liên
quan cũng đã hoàn thành nghiên cứu, rà soát, báo cáo làm rõ vai trò, nhiệm vụ
của cán bộ, viên chức và cộng tác viên CTXH, trên cơ sở đó đề xuất sửa đổi,
bổ sung một số Luật, Bộ luật liên quan phát triển nghề CTXH nhƣ: Bộ luật
Lao động, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Dân sự, Luật
Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng
giới. Các Bộ, ngành liên quan cũng đã chủ động xây dựng, ban hành nhiều
văn bản quy phạm pháp luật về CTXH. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật này đã tạo tiền đề pháp lý quan trọng để các Bộ, ngành, địa phƣơng từng
bƣớc phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp tại Việt Nam.
Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên CTXH làm việc trong
lĩnh vực công tác xã hội ngày càng đƣợc mở rộng.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển, cơ chế chính sách còn chƣa đồng
bộ và cụ thể nên vẫn xảy ra hiện tƣợng chồng chéo về chức năng nhiệm vụ
của nhân viên công tác xã hội và cán bộ chính sách xã hội ở các cấp nên rất
76
khó để chính quyền, cán bộ chính sách thực hiện đƣợc vai trò của một ngƣời
nhân viên công tác xã hội.
Trao đổi về vấn đề này, ông Lê Xuân Đ - Phó chủ tịch UBND huyện
cho biết: “Việc đánh giá vai trò của nhân viên công tác xã hội rất khó đối với
lãnh đạo địa phương và người thụ hưởng chính sách vì họ chưa có căn cứ pháp
lý nào để đánh giá cụ thể vai trò của nhân viên công tác xã hội mà chỉ đánh giá
vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của cán bộ công chức”.
Nhƣ vậy nghị định, quyết định, thông tƣ liên tịch về nghề Công tác xã hội
đã có, đã đƣợc ban hành, nhƣng chƣa đƣợc thực hiện ở cấp xã, phƣờng khiến
nhiều ngƣời dân, trong đó có ngƣời có công với cách mạng và cả lãnh đạo cơ
sở… vẫn chƣa biết đến vai trò của nhân viên công tác xã hội điều đó làm hạn
chế hoạt động nghề nghiệp, hạn chế vai trò của của nhân viên công tác xã hội.
Vì vậy cần tăng cƣờng công tác tuyên truyền, tập huấn cho cán bộ cơ sở về
nghề công tác xã hội, về vai trò của nhân viên công tác xã hội.
2.3.3. Y u tố thuộc về chính quyền, lãnh đạo, các cá nhân, tổ chức, cơ
quan, đoàn thể
Chính quyền huyện Thiệu Hóa luôn chú trọng, quan tâm đến công tác
chính sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có công. Đƣợc sự quan tâm chỉ đạo,
hƣớng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Lao động - thƣơng binh & xã
hội tỉnh Thanh Hóa, sự chỉ đạo sâu sát, trực tiếp và toàn diện của Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh. Trong những năm qua lãnh đạo và cán bộ Ủy
ban nhân dân huyện cùng với các đoàn thể luôn đoàn kết, thống nhất và thể
hiện trách nhiệm đối với công tác ƣu đãi, chăm sóc sức khỏe ngƣời có công.
Đội ngũ cán bộ công tác lâu năm, có kinh nghiệm công tác, gắn bó, tâm huyết
với các hoạt động của địa phƣơng.
Chính quyền địa phƣơng đã tạo điều kiện cho cán bộ công chức tham
gia các lớp học về công tác xã hội, các lớp tập huấn về chính sách ƣu đãi
ngƣời có công nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các cán bộ tại địa
phƣơng. Từ đó, giúp cán bộ thực hiện chính sách có thêm kiến thức và trình
77
độ trong việc thực hiện chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có công với cách
mạng và kiến thức, kỹ năng trong việc tổ chức, thực hiện các hoạt động công
tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe ngƣời có công.
Bên cạnh đó, ngoài các đợt thanh - kiểm tra về chính sách ngƣời có
công của Sở, của tỉnh. Lãnh đạo địa phƣơng thƣờng xuyên kiểm tra, đôn đốc
cán bộ thực hiện chính sách thực hiện đúng, đủ các chính sách ƣu đãi ngƣời
có công theo hƣớng dẫn của Đảng và Nhà nƣớc quy định trong các Nghị định,
thông tƣ,…tránh tình trạng làm sai, bỏ sót các đối tƣợng, nếu có sai sót thì kịp
thời điều chỉnh để đảm bảo đúng quy định, tạo sự công bằng cho các đối
tƣợng trên địa bàn xã.
Nhận thức đúng đắn của lãnh đạo về vai trò của nhân viên công tác xã
hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe là vô cùng quan trọng. Nếu lãnh đạo
có cái nhìn tổng quan, tích cực, luôn lắng nghe ý kiến của nhân viên thì việc
thực hiện chính sách sẽ rất hiệu quả, ngƣợc lại, nếu lãnh đạo không có cái
nhìn tổng thể, bào thủ mang tính áp đặt thì sẽ ảnh hƣởng đến hiệu quả công
việc của cấp dƣới.
Qua trao đổi với ông Lê Xuân Đ - Phó chủ tịch UBND huyện Thiệu
Hóa cho thấy: lãnh đạo UBND huyện có cái nhìn tổng quan về việc thực hiện
chính sách xã hội, luôn lắng nghe ý kiến của nhân viên, tôn trọng nhân viên
cấp dƣới, và đánh giá cao về vai trò của cán bộ chính sách trong việc hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng: “Vai trò lớn nhất của cán
bộ chính sách xã hội là cung cấp đầy đủ thông tin về chính sách cho người
dân, đồng thời cán bộ phải tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn cho người dân thực
hiện chính sách. Khi người có công gặp vấn đề khó khăn, cần giúp đỡ họ, kết
nối các nguồn lực cho họ để họ có cơ hội được giải quyết các vấn đề khó
khăn. Ngoài ra, để thưc hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho người có
công trên địa bàn huyện, cần sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền địa phương
và hoạt động tích cực của các ban ngành đoàn thể”.
78
Có thể nói, nhãn quan lãnh đạo luôn gắn liền với lý thuyết vai trò. Nếu
nhƣ trong lý thuyết vai trò đƣa ra rằng mỗi con ngƣời có nhiều vi trí khác
nhau, thể hiện những vai trò khác nhau thì việc nhận diện lý thuyết này là một
điều cần thiết đối với lãnh đạo. Lãnh đạo là ngƣời quản lý, nếu luôn áp đặt
cán bộ chính sách thực hiện rập khuôn những yêu cầu của cấp trên thì kìm chế
sự sáng kiến trong việc thực hiện vai trò của ngƣời làm chính sách.
Do vậy nhãn quan lãnh đạo đúng đắn, có nhìn tổng quan tích cực sẽ
góp phần đẩy mạnh việc thực hiện tốt vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng.
Có thể thấy rõ đƣợc vai trò của nhân viên CTXH thông qua các hoạt
động chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng cùng với chính
quyền địa phƣơng và các đoàn thể đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện
chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có công, đặc biệt là trong hoạt động chăm sóc
sức khỏe ngƣời có công với cách mạng tại địa phƣơng. Tuy nhiên, vai trò của
nhân viên công tác xã hội trong việc phối hợp giữa chính quyền địa phƣơng
và các đoàn thể trong vận động nguồn lực và tuyên truyền trong nhân dân về
“Đền ơn đáp nghĩa”, “ Uống nƣớc nhớ nguồn”, “ Chăm sóc gia đình ngƣời có
công” tại địa phƣơng chƣa thật sự hiệu quả. Vận động nguồn lực trợ giúp
ngƣời có công còn hạn chế, kết quả đem lại chƣa cao. Các đợt tuyên truyền,
phổ biến chính sách đến toàn dân chƣa đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục.
Để thực hiện những buổi tham vấn hay hội nghị tƣ vấn sức khỏe, tƣ
vấn trợ giúp pháp lý cần có nhiều thời gian và kinh phí thực hiện, do đó muốn
thực hiện vai trò tƣ vấn, tham vấn tốt nhân viên CTXH phải kết nối đƣợc
nhiều nguồn hỗ trợ để thực hiện, trong khi đó nguồn lực về kinh phí thực hiện
lại rất khó khăn, cán bộ phối hợp thực hiện nhiệm vụ hạn chế về kỹ năng giao
tiếp nên kết quả đạt đƣợc vẫn chƣa cao.
79
Bảng 2.14: Khó khăn khi thực hiện vai trò kết nối của nhân viên
công tác xã hội
STT Khó khăn Số lƣợng Tỷ lệ ( %)
1 Kiến thức, kỹ năng của NVCTXH 25 20,8
về các thông tin chủ trƣơng, chính
sách
2 Các chế độ, chính sách chƣa cụ 15 12,5
thể rõ ràng
3 Sự khó khăn từ phía cá nhân, cơ 60 50
quan, tổ chức và cộng đồng
4 Tất cả các khó khăn trên 20 16,7
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
2.3.4. Y u tố thuộc về người có công với cách mạng
Ngƣời có công với cách mạng luôn tự hào với quá khứ của mình, với
những hy sinh, những đóng góp của họ và đồng đội trong sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc. Bởi vậy, họ đòi hỏi nhận đƣợc nhiều hơn nữa sự quan tâm, đền
đáp từ Nhà nƣớc cũng nhƣ chính quyền và ngƣời dân địa phƣơng.
Thái độ bất hợp tác của ngƣời có công cũng là một khó khăn lớn gây
trở ngại cho việc thực hiện chính sách, đặc biệt là trong chăm sóc sức khỏe
ngƣời có công.
Cán bộ văn hóa chính sách xã Thiệu Quang cho biết:“ Chúng tôi làm
chính sách nhiều khi cũng rất áp lực, đối tượng NCC thuộc hộ nghèo được hỗ
trợ làm nhà ở - khi ủy ban yêu cầu đối tượng ra xã làm hồ sơ thủ tục đối
tượng cũng không ra chúng tôi lại phải đến tận nhà để hỗ trợ NCC làm thủ
tục, nhiều người không đủ điều kiện, thiếu hoặc sai thủ tục giấy tờ chúng tôi
lại phải thông báo họ đến để làm lại hồ sơ”.
80
Nhiều ngƣời có công khi địa phƣơng tổ chức khám chữa bệnh không
đến khám đƣợc họ mong muốn đƣợc khám tận nhà. Chính điều đó cho thấy rõ
nét hơn tâm lý của ngƣời có công. Họ luôn cho rằng bản thân đã hy sinh cho
đất nƣớc, giờ khi đất nƣớc hòa bình hơn ai hết họ xứng đáng đƣợc đền đáp,
bù đắp cho những hy sinh, mất mát của bản thân.
Bảng 2.15: Các yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội
STT Các yếu tố ảnh hƣởng Số ngƣời Tỷ lệ %
Nhân viên công tác xã hội 60 50 1
Chính sách và pháp luật 20 16,7 2
Chính quyền, lãnh đạo, tổ chức, đoàn thể
15 12,5 3
Ngƣời có công với cách mạng 25 20,8 4
Tổng 120 100
(Nguồn: Kết quả khảo sát 2020)
Theo kết quả điều tra của tác giả, yếu tố có ảnh hƣởng lớn nhất là yếu
tố năng lực của nhân viên công tác xã hội tại địa phƣơng, bởi trong tất cả các
yếu tố tác động tới thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ
trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công thì yếu tố năng lực của nhân viên
công tác xã hội tại địa phƣơng là yếu tố quan trọng và tác động qua lại tới các
yếu tố còn lại. Có thể thấy, nhân viên công tác xã hội là ngƣời trực tiếp thực
hiện chính sách; là ngƣời tiếp nhận những phản hồi của ngƣời có công, thêm
vào đó họ là những ngƣời có kỹ năng trong việc thực hiện vai trò: vận động,
kết nối, tƣ vấn... Vì tất cả những lý do đó mà nhân viên công tác xã hội tại địa
phƣơng trở thành yếu tố có tác động lớn nhất trong việc hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe cho ngƣời có công với cách mạng huyện Thiệu Hóa.
81
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2
Có thể nói từ thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công cho thấy hoạt động này
đƣợc nhân viên công tác xã hội thực hiện tƣơng đối hiệu quả và thƣờng xuyên
trên địa bàn huyện. Trong đó vai trò kết nối thực hiện tốt nhất, cán bộ chính
sách đã cung cấp thông tin, nội dung về chăm sóc sức khỏe và đƣợc ngƣời có
công đánh giá là có thái độ nhiệt tình, chu đáo. Tuy nhiên hoạt động vận động
nguồn lực tại địa phƣơng triển khai rất hạn chế và hiệu quả chƣa cao.
Thực trạng các yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã
hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công: Yếu tố thuộc về đội
ngũ nhân viên công tác xã hội, yếu tố chính sách và pháp luật, yếu tố chính
quyền địa phƣơng, yếu tố ngƣời có công với cách mạng. Trong đó trình độ
chuyên môn, năng lực của nhân viên công tác xã hội tác động trực tiếp đến
hiệu quả của việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công với cách mạng.
82
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO VAI TRÕ
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ
TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI
CÁCH MẠNG
3.1. Một số giải pháp
3.1.1. Đội ng nhân viên công tác xã hội
Có đội ngũ nhân viên công tác xã hội làm việc về Ngƣời có công đƣợc
đào tạo đúng chuyên ngành sẽ giúp cho việc quản lý đối tƣợng đƣợc thực hiện
tốt hơn, giảm những sai sót trong quá trình thực hiện chính sách từ việc tiếp
nhận hồ sơ đến giải quyết chế độ cho đối tƣợng, đồng thời giảm đi những tiêu
cực trong việc thực hiện chính sách. Bên cạnh đó, với kiến thức chuyên môn,
nhân viên công tác xã hội sẽ tham mƣu về các hoạt động chăm sóc sức khỏe
ngƣời có công, giúp hoạt động này ngày càng phát triển và đem lại hiệu quả
cao. Với các đối tƣợng gặp khó khăn, nhân viên công tác xã hội sẽ kịp thời
trợ giúp các đối tƣợng, giúp họ tự tin và tự lực vƣơn lên trong cuộc sống.
Nhân viên công tác xã hội có chuyên môn và hiểu biết về các chính
sách của Đảng và Nhà nƣớc, nhiệt tình trong công việc sẽ giúp giải quyết
đúng ngƣời, đúng việc, mang lại công bằng cho các đối tƣợng chính sách,
thực hiện tốt những chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta dành cho ngƣời có
công với cách mạng. Họ không chỉ làm tốt chuyên môn của mình mà con phát
huy khả năng tham vấn, tƣ vấn cho các đối tƣợng ngƣời có công giúp họ có
thêm niềm tin và sức mạnh về tinh thần để vƣợt qua những khó khăn trong
cuộc sống.
Tăng cƣờng, bổ sung đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp
cho các huyện, xã, phƣờng.
83
Đào tạo lại, bồi dƣỡng cho cán bộ chính sách về nghề công tác xã hội.
Bồi dƣỡng theo chuyên đề.
Cần xây dựng, tuyển dụng nhân viên công tác xã hội tốt nghiệp đúng
chuyên ngành, trang bị kiến thức cho đội ngũ nhân viên công tác xã hội.
Cần tạo điều kiện để nhân viên công tác xã hội đƣợc thƣờng xuyên bồi
dƣỡng, nâng cao kiến thức chuyên môn thông qua các lớp tập huấn giúp cho
họ thấy rõ vai trò, trách nhiệm công việc của mình, để từ đó có cái nhìn đúng
đắn hơn về nghề nghiệp. Qua đó, cung cấp các kiến thức, kỹ năng cơ bản của
công tác xã hội nhằm giúp các cán bộ làm việc khoa học và chuyên nghiệp
hơn trong lĩnh vực này.
Cần quan tâm đến chế độ đãi ngộ đối với nhân viên công tác xã hội
để họ tận tâm trong công việc, gắn bó trong công việc.
Nhân viên công tác xã hội không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ
chuyên môn và bồi dƣỡng phẩm chất trong công tác để phục vụ tốt nhất cho
ngƣời có công
Tạo môi trƣờng và điều kiện thuận lợi cho nhân viên công tác xã hội
hoạt động để họ phát huy đƣợc vai trò của mình trong công tác trợ giúp ngƣời
có công.
Ngoài ra nhân viên công tác xã hội còn là ngƣời hiểu biết về chính sách
nên họ còn phát huy đƣợc khả năng tham vấn, tƣ vấn cho đối tƣợng ngƣời có
công giúp họ có niềm tin vƣơn lên trong cuộc sống.
Thực hiện tốt vai trò của nhân viên công tác xã hội sẽ giúp cán bộ
chính sách bớt đi gánh nặng công việc và quan trọng hơn là nắm bắt đƣợc tình
trạng của đối tƣợng, tâm tƣ, nguyện vọng của họ để kịp thời trợ giúp một cách
toàn diện.
Cần có giải pháp trong việc tổ chức các lớp tập huấn để đa dạng về nội
dung trong việc phổ biến các chính sách xã hội, công tác xã hội cá nhân,
84
nhóm, cộng đồng nhằm phù hợp với trình độ của các học viên trong lớp. Cụ
thể, đối với lãnh đạo tổ trƣởng tổ dân phố, trƣởng ban công tác mặt trận dân
cƣ,hội chữ thập đỏ, hội phụ nữ, đoàn thanh niên… cần giúp họ hiểu đƣợc
công tác xã hội là gì, vai trò của công tác xã hội trong việc, cung cấp cho họ
những kiến thức cơ bản để nắm đƣợc đối tƣợng của công tác xã hội là những
ai, cách tiếp cận ban đầu, xử lý thông tin nhƣ thế nào. Báo cáo viên truyền đạt
trong hội nghị, lớp tập huấn là những ngƣời có trình độ, chuyên môn về ngành
công tác xã hội của các trƣờng đại học, lãnh đạo của Trung tâm cung cấp dịch
vụ công tác xã hội, hay là lãnh đạo các phòng ban chuyên môn của các sở,
ban, ngành liên quan đến lĩnh vực tập huấn.
Cần mở các lớp đào tạo chuyên sâu về công tác xã hội cho các cán bộ
chính sách địa phƣơng, từ kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề, cho đến các
bƣớc tiến trình cụ thể khi thực hiện một ca theo cách chuyên nghiệp. Cán bộ
chính sách địa phƣơng, cộng tác viên ở cấp xã, phƣờng cần có trình độ và
đƣợc đào tạo cơ bản những lý thuyết công tác xã hội đơn thuần và tổ chức cho
họ thực hành sắm vai trong các tình huống giả định ngay tại lớp đào tạo hay
buổi tập huấn để họ hiểu rõ hơn về lý thuyết, có kinh nghiệm để thực hành.
Sau các lớp tập huấn, cần có những bài khảo sát về kiến thức để xác định xem
chất lƣợng của buổi tập huấn nhƣ nào và học viên có nắm đƣợc các kiến thức
hay không. Nhân viên công tác xã hội phải tích cực tự bồi dƣỡng nâng cao
trình độ, mở rộng tầm hiểu biết…
Đẩy mạnh hơn nữa công tác phối hợp giữa các ngành có liên quan và
các đoàn thể đặc biệt là Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, cán bộ làm công tác
mặt trận ở cấp xã, phƣờng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có
công với cách mạng. Đồng thời cần có phƣơng thức xây dựng và kiện toàn
mạng lƣới CTXH các cấp; tăng số lƣợng cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH
85
làm việc ở cấp cơ sở đảm bảo thực hiện tốt các chính sách xã hội, nhiệm vụ
của ngành lao động đặt ra.
+ Nhân viên CTXH khi tƣ vấn cho ngƣời có công với cách mạng, cần
trang bị đầy đủ những kiến thức về chính sách ƣu đãi, chăm sóc sức khỏe cho
ngƣời có công với cách mạng.
+ Nhân viên CTXH cần phối hợp với trung tâm y tế huyện, trạm y tế
các xã để tƣ vấn, giúp đỡ, hỗ trợ cho ngƣời có công tiếp cận chính sách về y
tế một cách tốt nhất trong việc đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu khi đƣợc
cấp thẻ BHYT bảo đảm đúng thông tin cá nhân, quản lý và sử dụng thẻ
BHYT đúng mục đích, hƣớng dẫn mã quyền lợi, các thủ tục chuyển tuyến
theo quy định của Luật BHYT.
+Nhân viên CTXH cần tăng cƣờng sự phối hợp với ngành y tế, mạng
lƣới cơ sở chăm sóc sức khỏe ở các địa phƣơng, tham vấn, cung cấp các
thông tin về sức khỏe và các vấn đề liên quan để phát triển mạng lƣới hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe trên địa bàn huyện, tăng độ bao phủ tiếp cận các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe sức khỏe ban đầu.
3.1.2. Cơ ch , chính sách
Ngày 25/3/2010 Thủ tƣớng chính phủ đã ban hành quyết định số 32/
2010/ QĐ- TTg phê duyệt Đề án phát triển công tác xã hội giai đoạn 2010-
2020 và ngày 25/8/2010 Bộ Nội vụ đã ban hành thông tƣ số 08/2010/TT-
BNV về Ban hành chức danh, mã số ngạch viên chức, và công tác xã hội đã
đƣợc công nhận là một nghề chính thức tại Việt Nam.
Để công tác xã hội đƣợc bao phủ rộng rãi hơn, cần ban hành các văn
bản quy định cụ thể về việc thực hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong lĩnh vực ngƣời có công, đồng thời tổ chức các lớp tập huấn phổ biến
rộng rãi tới cán bộ, nhân dân để tạo hành lang pháp lý và môi trƣờng xã hội
86
thuận lợi để ngƣời thực hiện vai trò nhân viên xã hội có thể thuận lợi cung cấp
các dịch vụ công tác xã hội cho đối tƣợng.
Cần nghiên cứu các phƣơng án để xây dựng một hệ thống hành lang
pháp lý vững chắc cho nghề công tác xã hội và các hoạt động hỗ trợ chăm sóc
sức khoẻ ngƣời có công. Rà soát lại toàn bộ hệ thống các văn bản liên quan
đến chính sách đảm bảo các thủ tục hành chính liên quan đến chăm sóc sức
khỏe một cách đơn giản, gọn nhẹ đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện cho nhân
viên công tác xã hội thực hiện tốt vai trò của mình.
Bộ LĐTB&XH cần có chính sách đào tạo và bố trí nhân viên CTXH
làm việc ở các cấp một cách đồng bộ và mang tính chuyên nghiệp cao. Đồng
thời có giải pháp chính sách hỗ trợ họ trong công tác thực thi công vụ.
Thực tế những cán bộ chính sách làm việc ở Ban chính sách xã hội nói
chung và về mảng Ngƣời có công nói riêng ở phƣờng, xã, thị trấn hầu hết là
những cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm và thƣờng xuyên luân chuyển, vì vậy
gặp một số khó khăn nhất định khi thực hiện vai trò của mình.
Truyền thông, phổ biến về nghề CTXH nhằm nâng cao nhận thức và
hiểu biết về công tác xã hội trong cộng đồng. Việc tuyên truyền có thể kết
hợp trong các buổi họp ở xã, thôn nhằm giúp ngƣời dân hiểu đƣợc mục đích
và vai trò của nghề CTXH hiện nay, giúp họ hiểu đƣợc họ có quyền lợi gì,
cần làm gì trong việc sử dụng các dịch vụ liên quan đến CTXH. Thông qua
tuyên truyền, ngƣời dân có sự chuyển biến trong định hƣớng nghề nghiệp
cho con cái của họ, đồng thời giúp họ hiểu đƣợc ngành nghề mà con cháu họ
đang học có ý nghĩa nhƣ thế nào trong thực tiễn.
3.1.3. Chính quyền địa phương
Cán bộ lãnh đạo địa phƣơng phải đƣợc tập huấn để nâng cao hiểu biết
về nghề công tác xã hội để biết chức năng, nhiệm vụ của nhân viên công tác
xã hội.
87
Không ngừng đổi mới nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công tác quản lý,
chỉ đạo, hƣớng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách đối với ngƣời có công;
đẩy mạnh công tác quản lý hành chính gắn với việc nâng cao hiệu quả quản lý
đối tƣợng ngƣời có công ở các đơn vị, địa phƣơng. Để thực hiện tốt nội dung
này, cần có tổng thể các biện pháp nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực của
đội ngũ cán bộ, nhân viên công tác xã hội từ Trung ƣơng đến địa phƣơng.
Do vậy, các cấp phải tạo điều kiện cho họ đƣợc học tập, bồi dƣỡng, tập
huấn… để nâng cao trình độ, bắt kịp yêu cầu của công việc đặt ra. Mỗi cán
bộ, nhân viên làm công tác chính sách phải không ngừng nêu cao tinh thần tự
học tập, tự rèn luyện để nâng cao trình độ và phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ.
Để tránh những hạn chế, tiêu cực có thể xảy ra, các cấp cần thực hiện
nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt, học tập của tổ chức đảng, chính quyền theo
quy chế, quy định của tổ chức. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay phải tích
cực thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh
học tập và làm theo tƣ tƣởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với
thực hiện Nghị quyết Trung ƣơng 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Đồng thời, thực hiện Quy định 08-QĐi/TW của Hội nghị Trung ƣơng 8 (khóa
XII) về “Trách nhiệm nêu gƣơng của cán bộ, đảng viên, trƣớc hết là Ủy viên
Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thƣ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ƣơng”.
Thông qua đó chống suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, nhân viên chính sách nói
chung và đối với cán bộ, nhân viên đảm nhiệm chính sách đối với ngƣời có
công với cách mạng nói riêng.
Ban lãnh đạo cần tạo môi trƣờng thuận lợi cho nhân viên xã hội phát
huy vai trò của mình trong các lĩnh vực: có thể tạo điều kiện cho họ có phòng
làm việc để thực hiện trợ giúp qua việc tiếp cận đối tƣợng, nói chuyện với đối
88
tƣợng để họ có thể tìm hiểu đƣợc tâm tƣ nguyện vọng của ngƣời có công tại
địa phƣơng. Qua đây nhân viên xã hội hiểu đƣợc công tác chăm sóc sức khỏe
tại các địa phƣơng tác động tới ngƣời có công và ngoài ra nhân viên xã hội
còn tìm hiểu đƣợc NCC có những mong muốn gì từ những chính sách ƣu đãi
về chăm sóc sức khỏe.
3.1.4. Nâng cao nhận thức cho người có công với cách mạng
Nâng cao nhận thức cho ngƣời có công với cách mạng về chăm sóc sức
khỏe ban đầu, nhân viên CTXH cần tƣ vấn, tham vấn để họ nhận thấy tầm
quan trọng sức khỏe đối với việc phát triển sản xuất nâng cao thu nhập gia
đình và giảm gánh nặng cho cộng đồng xã hội đồng thời hỗ trợ họ lập hồ sơ
theo dõi sức khỏe thành viên gia đình để kịp thời phát hiện bệnh, giảm chi phí
chữa bệnh, nâng cao sức khỏe, phòng chống dịch bệnh.
3.2. Một số khuyến nghị
3.2.1. Khuy n nghị với Ph ng Lao động thương binh và xã hội huyện
Thiệu Hóa
Thƣờng xuyên tổng kết, biểu dƣơng khen thƣởng những đơn vị, cá
nhân làm tốt công tác chăm sóc ngƣời có công.
Đào tạo và bồi dƣỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công
chức, viên chức để nâng cao trình độ, tạo khả năng giải quyết các nghiệp vụ
chăm sóc ngƣời có công với cách mạng.
Thƣờng xuyên kiểm tra, đôn đốc cán bộ thực hiện chính sách thực hiện
đúng, đủ các chính sách ƣu đãi ngƣời có công theo hƣớng dẫn của Đảng và
Nhà nƣớc quy định trong các Nghị định, thông tƣ,…tránh tình trạng làm sai,
bỏ sót các đối tƣợng, nếu có sai sót thì kịp thời điều chỉnh để đảm bảo đúng
quy định, tạo sự công bằng cho các đối tƣợng trên địa bàn xã. Tiếp đó, khi có
văn bản điều chỉnh, bổ sung và hƣớng dẫn về việc thực hiện chính sách đối
89
với các đối tƣợng ngƣời có công cần kịp thời cập nhật và triển khai đến ngƣời
có công để ngƣời có công nắm bắt và biết về các ƣu đãi mà mình đƣợc hƣởng.
Tuyển dụng nhân viên công tác xã hội đã đƣợc đào tạo đúng ngành
nghề. Đối với những ngƣời không đúng ngàng nghề thì cử họ đi học bồi
dƣỡng chuyên môn, nghiệp vụ công tác xã hội, bồi dƣỡng ngắn hạn hoặc dài
hạn, bồi dƣỡng theo chuyên đề...
Tạo điều kiện về thời gian, kinh phí, các chế độ... thuận lợi để nhân
viên công tác xã hội yên tâm công tác, tích cực cống hiến.
3.2.2. Khuy n nghị với nhân viên công tác xã hội
Chính sách ƣu đãi xã hội đối với NCC nói chung và chăm sóc sức khỏe
NCC nói riêng là một chính sách lớn, có ý nghĩa quan trọng. Ngày nay cùng
với sự tăng trƣởng của kinh tế, chính sách ƣu đãi đối với NCC ngày càng
đƣợc mở rộng số lƣợng NCC ngày càng nhiều, với những đặc điểm tâm lý,
thƣơng tật khác nhau bởi vậy để công tác thực hiện chính sách ƣu đãi xã hội
nói chung và công tác XHH chăm sóc NCC nói riêng đòi hỏi phải có một đội
ngũ các cán bộ có năng lực, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp đáp ứng những
nhu cầu hiện nay nhƣ:
Toàn tâm toàn ý phục vụ đối tƣợng, tận tình, chu đáo với đối tƣợng,
yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, tích cực hỗ trợ chăm
sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng.
Thƣờng xuyên, tích cựcbồi dƣỡng kiến thức, rèn luyện kỹ năng giao
tiếp, lắng nghe, đồng cảm, thấu hiểu đối với đối tƣợng, tuyên truyền..., không
ngừng học hỏi trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ để mở rộng tầm hiểu biết đầy
đủ về luật pháp,chủ trƣơng chính sách chế độ đối với NCC. Tích cực tìm
hiểu, cập nhật các chủ trƣơng chính sách đảm bảo thực hiện đúng theo qui
định của Nhà nƣớc, giải quyết các thủ tục hành chính nhanh chóng thuận tiện
cho đối tƣợng tránh làm mất thời gian, tiền bạc và ảnh hƣởng đến quyền lợi
90
của NCC. Đồng thời thái độ làm việc phải nhiệt tình, không gây khó khăn cho
các đối tƣợng, đặc biệt cần tránh thái độ ban ơn.
Có hiểu biết rộng về các vấn đề xã hội, có khả năng nắm bắt tình hình
kinh tế - xã hội, tình hình đời sống, sức khỏe của ngƣời có công tại địa
phƣơng, đề xuất với chính quyền địa phƣơng những giải pháp phù hợp để đƣa
hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe NCC ở địa phƣơng phát
triển và đạt đƣợc những mục tiêu đề ra.
Có khả năng phối hợp với các ngành các đoàn thể triển khai thực hiện
các chính sách, chế độ của nhà nƣớC trong chăm sóc sức khỏe NCC.
Có khả năng phối hợp với các ngành các đoàn thể triển khai thực hiện
các chính sách, chế độ của nhà nƣớc trong chăm sóc sức khỏe NCC.
3.2.2. Khuy n nghị với người có công với cách mạng
Ngƣời có công cần có ý chí tự lực tự cƣờng, chủ động vƣơn lên, có ý
thức tự chăm lo cho sức khỏe bản thân, không phụ thuộc, dựa dẫm đó chính là
yếu tố quyết định để ổn định cuộc sống và chăm sóc sức khỏe tốt nhất. Những
sự trợ giúp của Nhà nƣớc và cộng đồng chỉ là sự giúp đỡ tƣơng đối, bởi vậy
chỉ có bản thân NCC mới có khả năng để tự giải quyết vấn đề của mình một
cách triệt để và có ý nghĩa lâu dài nhất.
Ngƣời có công cần chủ động tìm hiểu và nắm bắt các chính sách mới
của Đảng và Nhà nƣớc trong trợ giúp ngƣời có công.
Ngƣời có công cần có thái độ tích cực trong việc phối hợp với cán bộ
địa phƣơng để thực hiện các thủ tục, chế độ hƣởng các chính sách ƣu đãi
NCC.
91
KẾT LUẬN
Trong luận văn này, tác giả đã nghiên cứu lý luận về vai trò của nhân
viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công
với cách mạng trên địa bàn huyện Thiệu Hóa. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn
phân tích những yếu tố ảnh hƣởng và đƣa ra giải pháp, khuyến nghị nhằm
khắc phục những hạn chế, khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Trên cơ sở phân tích các kết quả nghiên cứu của đề tài về thực trạng vai
trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho
ngƣời có công trong những năm qua của huyện, tôi đƣa ra một số kết luận
sau:
Nhân viên công tác xã hội có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chăm
sóc sức khỏe cho ngƣời có công: kết nối, vận động nguồn lực, tƣ vấn, tuyên
truyền. Trong đó, nhân viên công tác xã hội đã làm tốt vai trò kết nối, tƣ vấn,
tuyên truyền.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công: Yếu tố thuộc về đội ngũ nhân
viên công tác xã hội, yếu tố chính sách và pháp luật, yếu tố chính quyền địa
phƣơng, yếu tố ngƣời có công với cách mạng. Trong đó, yếu tố nhân viên
công tác xã hội là yếu tố ảnh hƣởng nhiều nhất đến thực trạng vai trò nhân
viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công.
Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công: giải pháp về nâng cao chất lƣợng
đội ngũ cán bộ nhân viên công tác xã hội, giải pháp cơ chế chính sách, giải pháp
đối với chính quyền địa phƣơng, giải pháp nâng cao nhận thức cho ngƣời có công
với cách mạng. Và đề xuất một số khuyến nghị với Phòng Lao động - Thƣơng
binh & Xã hội huyện Thiệu Hóa, với nhân viên công tác xã hội, với ngƣời có công
với cách mạng.
92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo Dân trí, Người bệnh binh già trong căn nhà xiêu vẹo (thứ tƣ
ngày 12/1/2011).
2. Hoàng Đình Cầu (1995), Quản lí chăm sóc sức khỏe ban đầu, NXB
Y học Hà Nội.
3. Cổng thông tin điện tử huyện Thiệu Hóa: thieuhoa.gov.vn
4. Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng (2008), iáo trình ã hội học,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội.
5. Hoàng Thúy Hằng (2011), Thực trạng công tác xã hội hóa chăm
sóc sức khỏe người có công tại phường Đề Thám, thị xã Cao Bằng.
6. Nguyễn Thị Hằng (2005), Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính
sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với
cách mạng, Tạp chí Cộng sản số 7/2005.
7. Hội thảo Công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khoẻ người có công,
đƣợc Cục ngƣời có công (Bộ Lao động-TBXH) tổ chức ngày 15/4/2010, tại
thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
8. Hồ Thị Vân Kiều ( 2011), Chăm sóc sức khỏe người có công cách
mạng: Thực trạng và giải pháp (điển cứu tại trung tâm Hoài Ân, tỉnh Bình
Định).
9. Đặng Thị Phƣơng Lan, Phạm Hồng Trang (2012), Giáo trình Ưu
đãi xã hội, Nhà xuất bản lao động – xã hội, Hà Nội.
10. Bùi Thị Xuân Mai (2010), iáo trình Nhập môn công tác xã hội,
Nhà xuất bản Lao động – xã hội, Hà Nội.
11. Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Lê Trang và Nguyễn Thị Thái Lan
(2010), Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, Nhà xuất bản lao động – xã
hội, Hà Nội.
93
12. Đinh Thị Hằng Nga, (2015), Công tác chăm sóc sức khỏe đối với
người có công và vai trò của nhân viên công tác xã hội (Nghiên cứu tại
Trung tâm nuôi dưỡng và Điều dưỡng người có công ở Hà Nội).
13. Nguyễn Hiền Phƣơng (2004), Một số vấn đề về pháp luật ưu đãi xã
hội, Tạp chí Luật học số 4/2004.
14. Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH 13 ngày 16/7/2012 của Ủy ban
thƣờng vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ƣu đãi ngƣời
có công với cách mạng.
15. Quyết định 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công
tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 do Thủ tƣớng Chính phủ ban hành.
16. Đậu Thị Tình (2016), Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong việc
chăm sóc người có công với cách mạng ( Nghiên cứu tại xã Quỳnh Văn –
Quỳnh Lưu, Nghệ An).
17. Trần Thị Hồng Thƣ ( 2012), Vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ƣu đãi đối với ngƣời có
công với cách mạng tại xã Vĩnh Lại – Lâm Thao – Phú Thọ.
18. Thông tƣ liên tịch số 17/2006/TTLT-BLĐTB&XH-BTC-BYT,
ngày 21/11/2006 của Liên Bộ Lao động – thƣơng binh & xã hội, Bộ tài chính,
Bộ y tế: Quy định, hƣớng dẫn chế độ chăm sóc sức khỏe đối với ngƣời có
công với cách mạng
19. Thông tƣ 01/2017/TT-BLĐTBXH quy định về tiêu chuẩn đạo đức
nghề nghiệp đối với ngƣời làm công tác xã hội do Bộ Lao động - Thƣơng
binh và Xã hội ban hành.
20. Tổ chức Y tế thế giới WHO – Word Health Organization, Định
nghĩa về sức khỏe.
21. Ủy ban nhân dân huyện Thiệu Hóa (2018), Báo cáo kết quả thực
hiện công tác Lao động – Thƣơng binh & Xã hội
94
22. Ủy ban nhân dân huyện Thiệu Hóa (2018), Báo cáo nguồn kinh phí
quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”
23. Ủy ban nhân dân huyện Thiệu Hóa (2019), Báo cáo tình hình phát
triển kinh tế - xã hội
24. Lê Thị Thanh Vân (2016), Thực hiện chính sách ưu đãi cho người
có công trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 01: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN
(Dành cho đối tƣợng Ngƣời có công với cách mạng)
Xin kính chào Quý Ông (Bà)!
Nhằm góp phần thu thập thông tin về thực trạng " Vai trò của
nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho
ngƣời có công với cách mạng trên địa àn huyện Thiệu Hóa - tỉnh
Thanh Hóa", từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe Ngƣời có công. Tôi tiến hành lập
bảng hỏi này, rất mong Ông (bà) giúp đỡ trả lời các câu hỏi bảng khảo sát
dƣới đây bằng cách khoanh tròn vào đáp án mà Ông (bà) cho là đúng.
Những ý kiến đóng góp của Ông (bà) rất quan trọng và tôi xin đảm
bảo những thông tin Ông (bà) đƣa ra chỉ nhằm mục đích nghiên cứu cho đề
tài.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ông (bà) !
I. Thông tin chung
Họ và tên:.................................................................................
Tuổi:.........................................................................................
Giới tính:..................................................................................
Quê quán: Xã……………., huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
II. Nội dung:
Câu 1: Ông ( à) thuộc đối tƣợng ngƣời có công nào dƣới đây?
A. Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc ngày 01/01/1945
B. Ngƣời hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trƣớc Tổng
khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945
C. Liệt sỹ
D. Bà mẹ Việt Nam anh hùng
E. Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân
F. Anh hùng lao động trong thời kì kháng chiến
G. Thƣơng binh, ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh
H. Bệnh binh
I. Ngƣời hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học
J. Ngƣời hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch
bắt, tù đày
K. Ngƣời hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ
quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
L. Ngƣời có công giúp đỡ cách mạng
Câu 2: Tình trạng sức khỏe của Ông ( à) hiện nay nhƣ thế
nào?
A. Tốt
B. Bình thƣờng
C. Yếu
Câu 3: Ông ( à) có đƣợc cấp phát thẻ BHYT miễn phí không?
A. Có
B. Không
Câu 4: Ông ( à) thƣờng dùng thẻ BHYT để khám chữa ệnh ở
cơ sở nào?
A. Bệnh viện tuyến Trung ƣơng
B. Bệnh viện tuyến tỉnh
C. Bệnh viện tuyến huyện
Câu 5: Ông ( à) có đƣợc nhân viên công tác xã hội kết nối với
các chính sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có công không?
A. Có
B. Không
Câu 6: Ông ( à) đánh giá mức độ kết nối hỗ trợ với các chính
sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có công của nhân viên công tác xã hội?
A. Thƣờng xuyên
B. Thỉnh thoảng
C. Không bao giờ
Câu 7: Ông ( à) vui lòng đánh giá hiệu quả vai trò kết nối của
nhân viên công tác xã hội trong việc tuyên truyền chính sách chăm
sóc sức khỏe cho ngƣời có công tại địa phƣơng?
A. Rất tốt
B. Tốt
C. Bình thƣờng
D. Không tốt
Câu 8: Ông ( à) vui lòng đánh giá thái độ phục vụ của nhân
viên công tác xã hội khi thực hiện vai trò kết nối tại địa phƣơng?
A. Nhiệt tình, chu đáo
B. Bình thƣờng
C. Chƣa nhiệt tình
Câu 9: Theo Ông ( à) nhân viên công tác xã hội gặp phải
những khó khăn gì khi thực hiện vai trò kết nối?
A. Kiến thức, kỹ năng của NVCTXH về các thông tin chủ trƣơng,
chính sách
B. Các chế độ, chính sách chƣa cụ thể rõ ràng
C. Sự khó khăn từ phía cá nhân, cơ quan, tổ chức và cộng đồng
D. Tất cả các khó khăn trên
Câu 10: Nội dung của công tác vận động nguồn lực tại địa
phƣơng ông ( à)?
A. Hỗ trợ phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình
B. Hỗ trợ NCC khó khăn về nhà ở
C. Chăm sóc, phụng dƣỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng
D. Vận động đóng góp xây dựng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa
E. Khác
Câu 11: Tại địa phƣơng Ông ( à) những cá nhân, tổ chức nào
tham gia vào công tác vận động nguồn lực chăm sóc sức khỏe ngƣời
có công?
A. Nhân viên công tác xã hội
B. Cán bộ lãnh đạo
C. Các cá nhân, tổ chức, cơ quan, đoàn thể
D. Tât cả các phƣơng án trên
Câu 12: Ông ( à) đánh giá mức độ hài lòng về vai trò vận động
nguồn lực của nhân viên công tác xã hội tại địa phƣơng nhƣ thế nào?
A. Rất hài lòng
B. Hài lòng
C. Bình thƣờng
D. Chƣa hài lòng
Câu 13: Ông (bà) đánh giá mức độ thực hiện vai trò vận động
nguồn lực của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
ngƣời có công tại địa phƣơng?
A. Tốt
B. Bình thƣờng
C. Chƣa tốt
Câu 14: Ông bà có nhận đƣợc nội dung tuyên truyền kiến thức
chăm sóc sức khỏe không?
A. Có
B. Không
Câu 15: Ông (bà) vui lòng cho biết mức độ cần thiết của vai trò
tuyên truyền trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công?
A. Rất cần thiết
B. Cần thiết
C. Không cần thiết
Câu 16: Nội dung công tác tuyên truyền về chính sách chăm sóc
ngƣời có công đƣợc triển khai trong những năm gần đây là gì?
A. Đƣờng lối quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về chính sách
chăm sóc sức khỏe Ngƣời có công với cách mạng.
B. Ý nghĩa, vai trò của chính sách chăm sóc sức khỏe ngƣời có
công với cách mạng.
C. Ý thức trách nhiệm của mọi cá nhân trong chăm sóc sức khỏe
ngƣời có công với cách mạng.
D. Biện pháp, cách thức thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe
ngƣời có công với cách mạng.
E. Tất cả các phƣơng án trên
Câu 17: Ông (bà) vui lòng cho biết mức độ tuyên truyền trong
việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công đƣợc tiến hành ở địa
phƣơng ông ( à) nhƣ thế nào?
A. Thƣờng xuyên
B. Thỉnh thoảng
C. Không bao giờ.
Câu 18: Ông (bà) đánh giá mức độ thực hiện vai trò tuyên
truyền của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe ngƣời
có công tại địa phƣơng?
A. Tốt
B. Bình thƣờng
C. Chƣa tốt
Câu 19: Ông ( à) vui lòng cho iết những khó khăn trong việc
tiếp nhận thông tin tuyên truyền?
A. Không có đủ thiết bị để tiếp nhận thông tin từ các kênh khác
nhau, phƣơng pháp và hình thức tuyên truyền còn hạn chế
B. Nội dung thông tin truyền đạt dài dòng, khó hiểu, chƣa phong phú
C. Cán bộ cung cấp thông tin chƣa đầy đủ, không nhiệt tình giải
thích khi cần, chƣa có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực Công tác xã
hội
D.Khác
Câu 20: Ông ( à) có đƣợc nhân viên công tác xã hội tƣ vấn về
chăm sóc sức khỏe cho Ngƣời có công với cách mạng không?
A. Có
B. Không
Câu 21: Nội dung hoạt động tƣ vấn về chính sách chăm sóc
ngƣời có công?
A. Cách sử dụng thẻ BHYT
B. Cách phòng tránh một số bệnh thƣờng mắc
C. Nơi khám chữa bệnh
D. Hồ sơ, thủ tục hỗ trợ nhà ở
E. Khác
Câu 22: Ông ( à) đánh giá mức độ hài lòng về vai trò giáo dục
của nhân viên công tác xã hội tại địa phƣơng nhƣ thế nào?
A. Rất hài lòng
B. Hài lòng
C. Bình thƣờng
D. Chƣa hài lòng
Câu 23: Ông ( à) đánh giá thế nào về thái độ của nhân viên
công tác xã hội khi thực hiện vai trò tƣ vấn với các đối tƣợng Ngƣời
có công?
A. Nhiệt tình, chu đáo
B. Bình thƣờng
C. Chƣa nhiệt tình
Câu 24: Ông (bà) đánh giá mức độ thực hiện vai trò tƣ vấn của
nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe ngƣời có công tại
địa phƣơng?
A. Tốt
B. Bình thƣờng
C. Chƣa tốt
Câu 25: Theo Ông (bà), nhân viên công tác xã hội gặp phải
những khó khăn gì khi thực hiện vai trò tƣ vấn?
A. Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của NVCTXH
B. Sự tham gia của ngƣời có công
C. Thời gian hạn chế
Câu 26: Theo Ông ( à) yếu tố nào ảnh hƣởng nhiều nhất đến
vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe ngƣời
có công tại địa phƣơng?
A. Yếu tố thuộc về đội ngũ nhân viên công tác xã hội
B. Yếu tố thuộc về chính sách và pháp luật
C. Yếu tố thuộc về chính quyền địa phƣơng, các cơ quan, đoàn thể
D. Yếu tố thuộc về ngƣời có công
Cảm ơn Ông (bà) đã dành thời gian để giúp đỡ tôi hoàn thành
phi u khảo sát./.
PHỤ LỤC 02:
CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
( Dành cho nhân viên công tác xã hội)
1. Hàng năm anh (chị) có đƣợc tham gia các lớp tập huấn về kỹ
năng công tác xã hội mà Sở LĐ – TB & XH tỉnh Thanh Hóa tổ chức
không? Anh (chị) đã áp dụng các kiến thức, kỹ năng đã đƣợc học vào
công việc của mình nhƣ thế nào?
2. Xin anh (chị) vui lòng cho biết trong quá trình thực hiện hỗ trợ
nhà ở cho ngƣời có công với cách mạng,anh (chị) có gặp khó gì không?
3. Để làm tốt vai trò là ngƣời tƣ vấn, anh (chị) cần phải làm gì?
4. Xin anh (chị) vui lòng cho biết công tác tuyên truyền về chính
sách chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng bao gồm
những nội dung gì?
5. Anh (chị) gặp khó khăn gì trong quá trình thực hiện các vai trò
của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời
có công?
in cảm ơn Anh (chị) đã tham gia phỏng vấn.
PHỤ LỤC 03:
CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
( Dành cho đại diện lãnh đạo địa phƣơng và ngƣời có công)
1. Ông (bà) cho biết vai trò của cán bộ chính sách trong việc triển
khai hỗ trợ nhà ở cho ngƣời có công trên tại địa phƣơng diễn ra nhƣ thế
nào?
2. Ông (bà) cho biết việc nhận phụng dƣỡng mẹ VNAH còn sống
tại địa phƣơng hiện nay đƣợc thực hiện nhƣ thế nào?
3. Ông (bà) cho biết khó khăn của nhân viên công tác xã hội khi
thực hiện vai trò vận động nguồn lực: phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh
hình tại địa phƣơng?
4. Ông (bà) cho biết việc đánh giá vai trò của nhân viên công tác
xã hội ở địa phƣơng có gặp khó khăn gì không?
5. Ông (bà) cho biết cái nhìn tổng quan về vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe ngƣời có công?
6. Ông (bà) cho biết yếu tố nào ảnh hƣởng đến vai trò của nhân
viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe ngƣời có công tại địa
phƣơng?
7. Ông (bà) có đề xuất gì nhằm nâng cao vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe ngƣời có công tại địa phƣơng
không?
8. Là một nguời có công với cách mạng, hiện đang hƣởng trợ cấp
hàng tháng ông (bà) cho biết các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục,
thể thao tại địa phƣơng diễn ra nhƣ thế nào?
Xin cảm ơn Ông (bà) đã tham gia phỏng vấn./.
PHỤ LỤC 04:
Điều 53 Nghị định 31/2013/NĐ-CP hƣớng dẫn Pháp lệnh ƣu đãi
ngƣời có công với cách mạng
1. Ngƣời có công với cách mạng và thân nhân đƣợc Nhà nƣớc mua
bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
2. Ngƣời có công với cách mạng đang đƣợc nuôi dƣỡng tại cơ sở
của ngành Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thì hƣởng chế độ điều trị.
3. Ngƣời có công với cách mạng sống ở gia đình và thân nhân đã
đƣợc quy định tại Pháp lệnh hƣởng mức chi điều dƣỡng nhƣ sau:
a) Điều dƣỡng tập trung là 2.220.000 đồng/ngƣời/lần;
b) Điều dƣỡng tại nhà là 1.110.000 đồng/ngƣời/lần.
Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài
chính điều chỉnh mức chi điều dƣỡng đối với ngƣời có công với cách
mạng căn cứ vào khả năng ngân sách Nhà nƣớc có tính đến yếu tố trƣợt
giá.
4. Ngƣời có công với cách mạng và thân nhân theo quy định của
Pháp lệnh đƣợc phục hồi chức năng lao động, cấp phƣơng tiện trợ giúp,
dụng cụ chỉnh hình.
PHỤ LỤC 05:
Thông tƣ liên tịch 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC hƣớng dẫn
chế độ điều dƣỡng phục hồi sức khỏe, cấp phƣơng tiện trợ giúp, dụng
cụ chỉnh hình đối với ngƣời có công với cách mạng và thân nhân;
quản lý công trình ghi công liệt sĩ do Bộ trƣởng Bộ Lao động -
Thƣơng inh và Xã hội - Bộ Tài chính ban hành.
Mục 1: CHẾ ĐỘ ĐIỀU DƢỠNG PHỤC HỒI SỨC KHỎE
Điều 4. Đối tƣợng đƣợc điều dƣỡng phục hồi sức khỏe
1. Đối tƣợng đƣợc điều dƣỡng phục hồi sức khỏe mỗi năm một lần:
a) Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc ngày 01 tháng 01 năm 1945;
b) Ngƣời hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến
ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
c) Cha đẻ, mẹ đẻ chỉ có một con mà ngƣời con đó là liệt sĩ hoặc cha
đẻ, mẹ đẻ có hai con là liệt sĩ trở lên;
d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
đ) Thƣơng binh, ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh và
thƣơng binh loại B (sau đây gọi chung là thƣơng binh), bệnh binh có tỷ lệ
suy giảm khả năng lao động do thƣơng tật, bệnh tật từ 81% trở lên;
e) Ngƣời hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ
suy giảm khả năng lao động do ảnh hƣởng của chất độc hóa học từ 81%
trở lên;
g) Ngƣời có công giúp đỡ cách mạng đƣợc Nhà nƣớc tặng Kỷ niệm
chƣơng “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nƣớc”.
2. Đối tƣợng đƣợc điều dƣỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần:
a) Cha đẻ, mẹ đẻ của liệt sĩ; ngƣời có công nuôi dƣỡng khi liệt sĩ
còn nhỏ; vợ hoặc chồng của liệt sĩ; con liệt sĩ bị khuyết tật nặng, khuyết
tật đặc biệt nặng;
b) Anh hùng Lực lƣợng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động
trong thời kỳ kháng chiến;
c) Thƣơng binh, bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do
thƣơng tật, bệnh tật dƣới 81%;
d) Ngƣời hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ
suy giảm khả năng lao động do ảnh hƣởng của chất độc hóa học dƣới
81%;
đ) Ngƣời hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch
bắt tù, đày;
e) Ngƣời có công giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến đang
hƣởng trợ cấp hàng tháng.
Điều 5. Chi chế độ điều dƣỡng phục hồi sức khỏe
1. Điều dƣỡng tại nhà:
a) Mức chi: 1.110.000 đồng/ngƣời/lần;
b) Phƣơng thức: chi trực tiếp cho đối tƣợng đƣợc hƣởng.
2. Điều dƣỡng tập trung:
Mức chi: 2.220.000 đồng/ngƣời/lần, bao gồm:
- Tiền ăn sáng và 2 bữa chính;
- Thuốc bổ và thuốc chữa bệnh thông thƣờng;
- Quà tặng đối tƣợng;
- Các khoản chi khác không quá 320.000 đồng (gồm: khăn mặt, xà
phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, tham quan, chụp ảnh, báo, tạp chí và
một số vật phẩm khác).
Mục 2: CHẾ ĐỘ CẤP PHƢƠNG TIỆN TRỢ GIÖP, DỤNG CỤ
CHỈNH HÌNH
Điều 7. Nguyên tắc cấp phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh
hình
1. Cấp tiền để đối tƣợng mua phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh
hình.
2. Mức tiền cấp mua phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình (bao
gồm cả tiền mua vật phẩm phụ, bảo trì phƣơng tiện) theo phụ lục ban
hành kèm theo Thông tƣ này. Trong quá trình thực hiện, Bộ Lao động -
Thƣơng binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính điều chỉnh căn
cứ vào khả năng ngân sách nhà nƣớc có tính đến yếu tố trƣợt giá.
3. Việc cấp tiền mua phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình (bao
gồm cả tiền mua vật phẩm phụ, bảo trì phƣơng tiện) cho cả niên hạn sử
dụng đƣợc thực hiện cùng một lần.
Điều 8. Chế độ cấp phƣơng tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh h nh
1. Thƣơng binh, bệnh binh đƣợc cấp phƣơng tiện trợ giúp và dụng
cụ chỉnh hình căn cứ vào tình trạng thƣơng tật, bệnh tật ghi trong hồ sơ
thƣơng binh, bệnh binh và chỉ định của cơ sở chỉnh hình phục hồi chức
năng thuộc ngành Lao động - Thƣơng binh và Xã hội hoặc của bệnh viện
cấp tỉnh trở lên (sau đây gọi chung là cơ sở y tế), cụ thể nhƣ sau:
a) Tay giả;
b) Máng nhựa tay;
c) Chân giả;
d) Máng nhựa chân;
đ) Một đôi giày hoặc một đôi dép chỉnh hình;
e) Nẹp đùi, nẹp cẳng chân;
g) Áo chỉnh hình;
h) Xe lăn hoặc xe lắc hoặc phƣơng tiện thay thế bằng mức tiền cấp
mua xe lăn hoặc xe lắc;
i) Nạng;
k) Máy trợ thính theo chỉ định của bệnh viện cấp tỉnh trở lên;
l) Lắp mắt giả theo chỉ định của bệnh viện cấp tỉnh trở lên. Tiền lắp
mắt giả thanh toán theo chứng từ của bệnh viện cấp tỉnh trở lên;
m) Làm răng giả đối với thƣơng binh theo số răng bị mất ghi tại hồ
sơ thƣơng binh và chỉ định của bệnh viện cấp tỉnh trở lên; lắp hàm giả đối
với thƣơng binh hỏng hàm do thƣơng tật căn cứ theo hồ sơ thƣơng binh và
chỉ định của bệnh viện cấp tỉnh trở lên;
n) Mua các đồ dùng phục vụ sinh hoạt đối với thƣơng binh, bệnh
binh bị liệt nửa ngƣời hoặc liệt hoàn toàn hoặc bị tâm thần thể kích động;
Trƣờng hợp vừa bị thể tâm thần kích động đồng thời bị liệt nửa
ngƣời hoặc liệt hoàn toàn chỉ đƣợc cấp 01 lần tiền để mua các đồ dùng
sinh hoạt;
o) Trƣờng hợp cấp xe lăn hoặc xe lắc đồng thời cấp chân giả thì
thời hạn sử dụng của mỗi phƣơng tiện là 06 năm.
2. Các đối tƣợng sau đây đƣợc cấp xe lăn hoặc xe lắc hoặc phƣơng
tiện thay thế bằng mức tiền cấp mua xe lăn hoặc xe lắc căn cứ chỉ định
của cơ sở y tế:
a) Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc ngày 01 tháng 01 năm 1945;
b) Ngƣời hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến
ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
c) Thân nhân liệt sĩ đang hƣởng trợ cấp hàng tháng;
d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
đ) Anh hùng Lực lƣợng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động
trong thời kỳ kháng chiến;
e) Ngƣời hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
g) Ngƣời hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch
bắt tù, đày;
h) Ngƣời có công giúp đỡ cách mạng đƣợc tặng Kỷ niệm chƣơng
“Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nƣớc”.
PHỤ LỤC 06
Thông tƣ 01/2017/TTBLĐTBXH: Quy định về tiêu chuẩn đạo
đức nghề nghiệp đối với ngƣời làm công tác xã hội:
Chƣơng II
TIÊU CHUẨN ĐẠO ĐỨC NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Điều 3. Tuân thủ các nguyên tắc cơ ản của công tác xã hội
1. Tôn trọng và phát huy quyền lựa chọn, quyền quyết định mà
không phân biệt giá trị, niềm tin, tƣ tƣởng và cuộc sống của đối tƣợng và
không ảnh hƣởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời khác.
2. Thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của đối tƣợng bằng cách giúp đối
tƣợng tự quyết định và giải quyết các vấn đề có ảnh hƣởng đến cuộc sống.
3. Tập trung vào điểm mạnh, tận dụng các nguồn lực sẵn có của đối
tƣợng để thúc đẩy việc trao quyền.
4. Chịu trách nhiệm đối với các hoạt động nghề nghiệp công tác xã
hội, bảo đảm đối tƣợng đƣợc cung cấp dịch vụ công tác xã hội phù hợp và
chất lƣợng.
5. Thúc đẩy công bằng xã hội, bảo đảm cung cấp nguồn lực một
cách công bằng, minh bạch theo nhu cầu của đối tƣợng.
6. Tôn trọng sự đa dạng, không phân biệt đối xử về khả năng, tuổi
tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế - xã hội, màu da,
chủng tộc, quốc tịch, quan điểm chính trị, tín ngƣỡng tôn giáo và các đặc
điểm sức khỏe của đối tƣợng.
Điều 4. Yêu cầu về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
1. Cần, kiệm, liêm, chính, không đƣợc lạm dụng các mối quan hệ
với đối tƣợng để vụ lợi cá nhân; xác định rõ ranh giới giữa cuộc sống cá
nhân và nghề nghiệp.
2. Tâm huyết, trách nhiệm, chủ động và sáng tạo trong việc cung
cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp cho đối tƣợng.
3. Kiên nhẫn, thấu hiểu, chia sẻ và quan tâm đối với đối tƣợng.
4. Đặt lợi ích của đối tƣợng là quan trọng nhất trong quá trình hoạt
động nghề nghiệp công tác xã hội.
5. Chịu trách nhiệm về các hoạt động nghề nghiệp của mình theo
quy định của pháp luật.
6. Giữ gìn sự đoàn kết với các đồng nghiệp; không lợi dụng, chia rẽ
mối quan hệ giữa các đồng nghiệp.
7. Chăm sóc bản thân và xây dựng hình ảnh phù hợp để đảm bảo
hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp, hiệu quả.
Điều 5. Tuân thủ kỷ luật nghề nghiệp
1. Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị. Hoạt
động nghề nghiệp công tác xã hội trong phạm vi nhiệm vụ đƣợc giao và
không đƣợc từ chối yêu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội phù hợp của
đối tƣợng.
2. Bảo mật thông tin liên quan đến đối tƣợng. Trƣờng hợp chia sẻ
thông tin phải thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc có ý kiến đồng
ý của đối tƣợng và ngƣời quản lý chuyên môn.
3. Tôn trọng quyền đƣợc xem hồ sơ của đối tƣợng. Trƣờng hợp từ
chối, phải lập biên bản nêu rõ lý do cho đối tƣợng.
4. Tôn trọng, chia sẻ, đồng cảm và giúp đỡ đồng nghiệp trong mối
quan hệ công việc và xã hội.
5. Sẵn sàng hợp tác với các đối tác, chuyên gia trong lĩnh vực công
tác xã hội và lĩnh vực khác có liên quan.
6. Sử dụng ngôn ngữ, văn phong chính xác, chuẩn mực trong các
hoạt động truyền thông, giao tiếp với đồng nghiệp và đối tƣợng.
7. Chỉ dừng cung cấp dịch vụ công tác xã hội khi đối tƣợng không
còn nhu cầu. Trong trƣờng hợp bất khả kháng, phải có giải pháp phù hợp
để bảo đảm dịch vụ công tác xã hội đƣợc cung cấp liên tục, không ảnh
hƣởng đến lợi ích của đối tƣợng.
8. Thƣờng xuyên học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng và nhận thức
về chuyên môn công tác xã hội, đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn nghề
nghiệp công tác xã hội theo quy định của pháp luật.
9. Có kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ công tác xã hội, văn hóa,
phong tục, tập quán, tôn giáo để phục vụ cho công việc.
10. Có trách nhiệm và khả năng hợp tác làm việc trong các nhóm
liên ngành. Đóng góp, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức của mình để nhóm
liên ngành hoạt động có hiệu quả.
11. Có khả năng tham vấn ý kiến đồng nghiệp và đối tƣợng để nâng
cao chất lƣợng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác xã hội.
12. Có khả năng tạo lập mối quan hệ trong xã hội, uy tín, liên kết và
giới thiệu những chuyên gia giỏi, tổ chức có uy tín đáp ứng tốt nhất nhu
cầu của đối tƣợng.
13. Luôn yêu nghề và bảo vệ uy tín nghề nghiệp.

