Lưu ý dùng thuốc trầm cảm ở người già

Chia sẻ: Bi Bo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:3

0
31
lượt xem
4
download

Lưu ý dùng thuốc trầm cảm ở người già

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trầm cảm là một bệnh lý thường gặp và là một bệnh lý về tâm thần phổ biến hay gặp nhất ở người già. Tuy nhiên, đặc điểm trầm cảm ở người già có những khác biệt so với với người trẻ, chính vì vậy mà để chẩn đoán trầm cảm ở người già thường khó khăn hơn so với người trẻ. Tỷ lệ tự sát ở người già mắc trầm cảm tương đối cao, vì vậy việc phát hiện, điều trị trầm cảm ở người già có vai trò rất quan trọng. Trong điều trị, việc sử dụng thuốc...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lưu ý dùng thuốc trầm cảm ở người già

  1. Lưu ý dùng thuốc trầm cảm ở người già Trầm cảm là một bệnh lý thường gặp và là một bệnh lý về tâm thần phổ biến hay gặp nhất ở người già. Tuy nhiên, đặc điểm trầm cảm ở người già có những khác biệt so với với người trẻ, chính vì vậy mà để chẩn đoán trầm cả m ở người già thường khó khăn hơn so với người trẻ. Tỷ lệ tự sát ở người già mắc trầm cảm tương đối cao, vì vậy việc phát hiện, điều trị trầm cảm ở người già có vai trò rất quan trọng. Trong điều trị, việc sử dụng thuốc chống trầm cảm là cần thiết nhưng cầ n phải lưu ý một số đặc điểm sinh lý của người già. Việc đáp ứng với thuốc điều trị ở người già thường lâu hơn so với người trẻ. Người già thường nhạy cảm với thuốc hơn so với người trẻ, sự chuyển hoá thuốc và đào thải thuốc cũng chậm hơn, do vậy liều dùng thuốc với người già cần phải thấp hơn so với người trẻ khi mới bắt đầu điều trị. Một số tác dụng phụ của thuốc có thể nguy hiểm hơn so với người trẻ. Ví dụ như đối với loại thuốc amitriptylin có thể gây tụt huyết áp tư thế khi người bệnh thay đổi tư thế đột ngột. Thông thường đối với người cao tuổi, việc sử dụng thuốc chống trầm cảm thường ưu tiên loại thuốc thế hệ mới SSRI ít tác dụng phụ. Liệu pháp tâm lý là một cách điều trị quan trọng đối với trầm cảm ở người có tuổi, vì người già rất cần có sự trợ giúp của bạn bè, gia đình và sự nâng đỡ về mặt xã hội. Liệu pháp tâm lý thường kết hợp với việc dùng thuốc nhưng tâm lý liệu pháp rất có giá trị trong những trường hợp người bệnh không muốn dùng thuốc hoặc phải ngừng thuốc vì tác dụng phụ của thuốc.
  2. Việc điều trị và theo dõi như thế nào cần phải có sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Chi dưới: gãy cổ xương đùi (do ngã đập hông, đập mông), xương bánh chè (do ngã đập gối), ngón chân (do đi vấp ngã, va quệt bậc thang, chân bàn, chân ghế). Đặc biệt là gãy nền xương bàn 5 do lật nhẹ bàn chân hay cổ chân, sau đó thấy đau hoặc sưng mu bàn chân, cảm giác khó chịu dọc theo bờ ngón út. Nhiều người ban đầu tưởng bong gân nên xức dầu nóng, bó thuốc, nắn trật. Sau nhiều ngày không hết mới đến đi phim X-quang và phát hiện gãy xương. - Cột sống và khung chậu: gãy đốt sống thắt lưng thứ 3, 4, 5 hoặc xương tọa khi bị ngã ngồi đập mông xuống đất. Cũng có khi ngã ngả lưng ra sau cấn trúng vật cứng như cạnh bàn, cạnh tủ, bậc thang, lan can... gây chấn thương trực tiếp vào cột sống thắt lưng. Rất đau và không thể cử động bình thường phần chi bị gãy, nhức xương về khuya. - Dấu hiệu bầm máu thường không xuất hiện ngay mà nửa ngày sau mới phát hiện. - Gãy xương nhiều nơi nhưng chỉ đau ở một nơi nặng nhất, những nơi còn lại sẽ đau khi nơi kia được điều trị ổn. Cần kiểm tra X-quang toàn diện và kiểm tra lại sau đó vài ngày để chắc chắn không bị bỏ sót tổn thương. - Một số trường hợp gãy xương nhưng không di lệch nhiều, nên có thể cử
  3. động được phần chi bị đau. Người nhà và bác sĩ có thể không phát hiện ra. Nếu bệnh nhân tiếp tục cử động, ổ gãy sẽ bị vỡ ra và di lệch, bắt buộc phải phẫu thuật thay khớp nhân tạo vì chỏm xương đùi bị hư.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản