VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Cn nuôi - S 25-Tng 8-2010
14
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA ĐÀN LN RỪNG THÁI LAN NHẬP NỘI VÀ
LỢN RỪNG VIỆT NAM
ng Xuân Lưu1,Trần Thị Loan1, Võ Văn Sự2,
Nguyễn Văn Thành3 Trịnh Phú Ngọc2
1Trung tâm nghiên cứu bò và Đồng cỏ Ba Vì , 2B môn động vật quý hiếm và đa dạng sinh học-VCN
3Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kthuật chan nuôi TP HCM
*Tác giả liên h:ng Xuân Lưu 1Trung tâm nghiên cứu bò và Đồng cỏ Ba Vì
Tel: 0912124291; Email: luuhanhbavi@gmail.com
ABSTRACT
Several biological characteristics of imported Thai and Vietnamese wild pigs
One study aiming at describing several biological characteristics of imported Thai and Vietnamese wild pigs was
conducted. The results of the stusy showed that: behaviors of imported Thai and Vietnamese wild pigs were
similar to local pigs of Vietnam. They were very active, omnivorous and prolific. The age at first oestrus of Thai
and Vietnamese wild swines were 73.5 and 94.4 days, respectivly. The first mating of Thai and Vietnamese wild
swines occurred at 229.5 and 251.5 days of age, respectively. The oestrous cycle of Thai and Vietnamese wild
swines was 21 days and the cycle lasted for 2.5 days in both. The pregnancy length was 110-118 days for both.
The weight at birth of Thai and Vietnamese wild pig was 0.49 and 0.41kg, respectively. The average time from
the farrowing to the next sexual cycle of Thai and Vietnamese sown were 75 and 83 days, respectively.
Keywords: wild pigs (Linnaeus), like activities, like soaking, diverse food, oestrous cycle, pregnant period
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lợn rừng tên khoa học là Sus Scrofa, n có tên khác là lợn lòi, kun bíu. Ln rừng mặt
khắp mọi nơi trên thế giới. Nó chính là t tiên của các giống lợn nhà, có 21 loại ph sống trên
phạm vi rất rộng bao gồm nhiều khu vực cu Âu và bắc châu Á, cũng như miền Nam và
miền Bắc châu Phi.
Việt Nam lợn rừng hầu hết các vùng rừng của các tỉnh, đặc biệt là vùng rng i phía
Bắc và dc dãy i Trường sơn. Việc thuần hóa và nuôi dưỡng chúng đtrthành một con
vật nuôi thì hoàn toàn mới lViệt Nam. Thái Lan và Trung Quc ln rừng cũng đã
được thuần hóa và lai với ln bản địa đtrở thành con vật nuôi trong hệ thống chăn nuôi từ
12-18 năm nay.
Mt số quy trình chăm c nuôi dưỡng lợn rng ng đã được đcập nhưng về tập tính
ca nthế nào trong quá trình nuôi dưỡng thì ít tng tin công b. Việt Nam trong
nhng năm gần đây cũng đã bt đầu nuôi giống lợn rng. Nguồn gc của thì bng
nhiều con đường n: nhập khẩu tthái Lan, Trung Quốc theo con đường cnh ngạch và
tiểu ngạch và n mt số ng đã xut phát t thun a lợn rừng ca rng Việt Nam.
Nng tt cả c i nuôi lợn rừng cũng chỉ là theo kinh nghiệm và mt phần từ tài liệu
đơn giản, sài của những trang tri Ti Lan, hay mt vài bài báo viết dưi dng cảm
tính hoc chủ quan mà thôi. Vmặt sinh hc và tập nh của n thế nào thì ít có tài
liu i đến. Đối với các nhà khoa hc Việt Nam thì hoàn toàn mi hoc có đ cập ti
dưới dng tng tin ngắn.
vy, để có những thông tin và số liệu khoa học cụ thể về chăn nuôi lơn rừng, chúng tôi tiến
hành đtài: Nghiên cứu mt sđặc điểm sinh học của đàn lợn rừng Thái Lan nhập nội và
lợn rừng Việt Nam”.
TĂNG XUÂN LƯU Một số đặc điểm sinh học của đàn ln rừng ...
15
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Lợn rừng Thái Lan và lợn rừng Việt Nam bao gồm: Lợn t1 ngày tui, lợn choai, lợn hậu bị,
lợn sinh sản (Đực và cái).
Ngun gốc: Lợn nguồn gốc từ Thái Lan nhập khẩu vào Việt Nam và lợn rừng được thuần
dưỡng từ rừng vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An vi giống mõm dài
Địa điểm nghiên cứu
ng ty Khánh Gia- Bình Dương, Trang trại Bảy ng- Bình Phước với 120 nái sinh sản
ng ty Ging động vật quý Hà Khánh Nha Trang: 25 nái sinh sản
Trang trại Xương m Bắc Giang: với 20 nái sinh sản
Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì và mt số trại vùnga Lạc- Hà Nội: với 45 nái
sinh sản.
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1 2007 đến tháng 6 năm 2009
Phương pháp nghiên cu
Phương pháp trực quan: quan sát theo dõi và mô tả. Ghi chép các thông tin s liệu theo
phiếu được lập sẵn từng thqua các ch tiêu các m vào chương trình Vitpig đtheo
dõi theo hồ sơ cá thể
Ni dung nghiên cứu
tả đặc điểm ngoại hình: của lợn rừng Thái Lan và Lợn rừng Việt Nam
Tập nh sinh học của lợn rừng: Tập tính sinh hot: vận động, đi lại, ngủ nghỉ, tìm kiếm thức
ăn, nước uống, sử dng thức ăn, lựa chọn thức ăn, tập tính sinh dc: triệu chứng đng dục,
biểu hiện động dục, thời gian động dục, tập tính bầy đàn, tập nh gia đình, tập tính tự vệ và
phòng vệ: được quan sát, theo dõi hàng ngày.
Khnăng sinh sản: Tuổi động dục lần đầu (đực và cái), tui phối ging lần đầu, thời gian
động dục, chu kỳ động dục, thời gian phi ging thích hp, thời gian mang thai, thời gian
động dục lại sau khi đẻ.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
t ngoại hình của lợn Rừng
Đặc điểm lợn giai đoạn theo mẹ
Bảng 1. Khi lượng (kg) sơ sinh của lợn rừng Việt Nam và Thái Lan
Chỉ tiêu n Mean ± SE Max Min
Rừng Việt Nam 48 0,41 ± 0,03 0,54 0,34
Rừng Thái Lan 312 0,49±0,01 0,68 0,28
Khi lượng sơ sinh
Lợn rừng Việt Nam: Có khi lượng sinh dao động từ 0,34 - 0,54 kg bình quân 0,41kg/con
Lợn Rừng Thái Lan: khối lượng sinh giao động từ 0,28 - 0,68 kg, bình qn 0,49
kg/con. Nvậy lợn rừng Việt Nam có khối ng sinh nhỏ hơn lợn rừng tái lan. Theo
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Cn nuôi - S 25-Tng 8-2010
16
chúng tôi lợn Thái thể được nuôi thích nghi lâu n lợn Rừng Việt nên khnăng nh
hưởng của Stress trong quá trình nuôi dưỡng ít hơn n ít ảnh ng đến sinh trưởng phát
triển của con trong thi k bào thai. Khi lượng sinh phụ thuộc rất nhiều vào chế đ chăm
c nuôi dưỡng lợn mẹ trong thời k mang thai cũng như các yếu tố khác.
Đặc điểm chung
Khi ra khi cơ thể mẹ, lợn con đã có phản xạ đứng dậy ngay. Trong thời gian 2-4 phút lợn con
ttìm đến mẹ và phản xạ ngay: động tác mẹ là va vừa thúc vú. Trong q
trình tìm vú tranh bú thường những con khi lượng lớn (khe) sẽ tranh nhng vú
phía trước, còn con nh thường phải bú sau cùng. Con sinh ra đầu tiên thường là nhng
con khối ng sơ sinh nh nhất trong đàn. Sau khi bú sa đầu, lợn con thường tìm chkín
ấm đnằm thường nằm chung, tụm vào một nơi. Về mùa lạnh lợn thường chui vào rác
hoặc vật khác miễn là phkín mình nằm thành “đống”.Khi tiếng động hoặc tiếng khua
mạnh thì lợn con phản xrất nhanh phát ra tiếng kêu đồng thanh, chy nhanh vphía mẹ và
tập trung thành cm. Đặc biệt khi thấy con vật lạ thì lợn con thường quay đầu ra phía trước đ
quan sát và phòng thủ tự vệ “tập thể”
Màu lông
Lợn rừng màu ng không đồng nhất trên cơ thể, được phân chia theo từng vùng khác
nhau thay đổi theo tháng tuổi, đặc biệt giai đoạn nhỏ khác hoàn toàn vi giai đoạn trưởng
thành. Gai đoạn nh: toàn thân nhiu màu vàng thâm, đen, bạc, hung như màu rụng (
vàng,đen, khô, thâm), tương tự như báo cáo của Đỗ Kim Tuyên (2006), Võ Văn Sự (2008).
Màu lông sơ sinh
Hai bên mình cách dc sng ng 1-1,5 cm là sc đầu tiên chy liên tục từ phía sau mông cho
tới sau hốc tai. Mỗi bên bao gồm 6 sọc : 3 sọc đậm thường là màu vàng sc dưa bvà 3 sọc
màu nâu đen. Hai n đi xng nhau, riêng 2 sc đối xứng gần sống lưng sọc liên tc còn
lại là sọc ngắt quãng làm 2 hoc 4 đoạn có xen k. Phần dưới bng là màu trắng bạc. Các sọc
y đậm t từ ngày th10 đến ngày th60, từ ngày 61 tr đi bắt đu chuyển màu nhạt dần
cho ti khi được 4 tháng và trthành màu hung bạc hoặc nâu đen từ tháng th6-7 .
Màu lông giai đoạn trưởng thành
Hai bên màu bạc, vùng bng màu trắng đục, còn lại toàn thân màu nâu hung hoặc đen
hung. Lông dựng đứng, chĩa ra và cứng (Trong trường hợp màu nâu hung hoặc màu vàng
cháy lông dày, mượt là lợn mọi hoặc lợn Ba Xuyên Việt Nam hoặc ln mọi của đồng bào dân
tộc Mèo, Thái Lan nuôi phía Bắc, loại ln này cũng lông chụm 3 phía lưng, khác
nhau giữa lợn rng Việt Nam và lợn Rừng Thái Lan. Khi trưởng thành toàn thân lợn được
chia làm 3 loại màu đặc trưng đó là loi nâu hung, loại đen và loại m đen cả hai giống
Việt và Thái.
Mật độ lông: Lợn rừng Việt Nam bộ ng dài hơn, rậm hơn cứng hơn, đối với màu sắc
thì lợn rừng Việt Nam màu sắc đậm và rõ nét hơn của thái lan. Khi trưởng thành toàn thân ln
được chia làm 3 loại màu đặc trưng đó loại u hung, loại đen và loại xám đen cả hai
giống Việt và Thái.
Phn đầu: Đầu dài, thon, mõm dài hơn ln nhà ối với lợn đưa trừng về thường là mõm
dài). Má gọn, không phệ. Đặc biệt màu lông phần đầu đều là một màu bạc hoặc màu đen sáng,
hai bên má là hoàn toàn màu bạc má (chiếm 86%-88 % trong tng số lông má). Lợn rừng Việt
Nam đầu dài, mõm dài, thon, gọn hơn ln rừng Thái Lan.
TĂNG XUÂN LƯU Một số đặc điểm sinh học của đàn ln rừng ...
17
ng: m răng dưới bố trí 4: 4: 4 (bốn răng cửa, 4 răng nanh 4 răng hàm). ng hàm
trên:2: 4: 4 (hai ng cửa, 4 răng nanh 4 răng hàm) Răng nanh hàm trên phát triển n 2
răng nanh hàm dưới và chìa ra ngoài, 4 răng cửa trước dưới và 2 răng cửa trước trên chụm
thành hình máng nhọn chìa ra phía trước như hình mũi tên.
Tai: Tai nh, mng, đứng, hướng về phía trước, không cụp như lợn nhà, phợp với phát
hiện tiếng động từ xa. Đối với lợn rừng Việt Nam tai nh, mỏng đứng hơn lợn rừng Thái
Lan.
Mắt: 2 mắt tròn, u nâu, hàng mi trên phát triển hơn hàng mi dưới, tuyến lệ phát triển
bình thường, phản xạ mắt ban đêm nhanh hơn ban ngày.
ch bố trí và phân vùng lông
Lông được bố trí thành cụm chm 3 lông thành cụm hình tam giác đều: Vùng gáy và chạy dọc
sng lưng tới nửa lưng là lông cứng, chân lông to và tốt tạo thành dọc lông Bờm.
Vùng lông y thường dựng đứng khi có phản xạ tự vệ hoặc khi thực hiện phn x giao phối.
n lại là lông nh và mịn hơn đối với các vùng gn bụng (giao đoạn nhỏ). Càng ln lên thì
lông càng phát triển.
Phn mình
Mình thon hình tr, bụng gọn đặc biệt là lợn đực. con lai hoặc lợn địa phương thì bụng xổ,
da dày tích m.
Chân: Lợn rừng 4 chân cao, 2 chân sau dài hơn 2 chân trước tạo thành thế lao người vphía
trước, phù hợp vi điều kiện phòng vệ bỏ chạy trốn khi nghe, hoặc phát hiện ra một động thái
o cho dù đó là âm thanh hay tiếng động đó là lành hay d. Bốn ng bao gồm 2 móng treo
trên thường kém phát triển, 2 móng tiếp giáp đất chm, nhọn, màu đen chắc: tạo bước đi nhẹ
nhàng, tránh tiếng động và tiếp giáp chắc vào mặt đất, màu lông chân đen hung (mt scon
móng lông lang đen đó là con có máu lai với lợn nhà). Đối vi lợn rừng Việt Nam: chân
nhỏ, móng chụm và đen thẫm hơn lợn rừng Thái Lan.
Vú: Kết qutheo dõi kiểm tra ngẫu nhiên ca 120 lợn nái sinh sản chúng tôi thu được kết quả:
lợn rừng Thái Lan lợn rừng Việt Nam đều từ 8-12 vú: trong đó 97% là 10 vú, 2,5 % 12
vú, 0,2% có 8 vú và 0,3 % có t1-3 vú kẹ.
Đuôi:Lợn rừng đuôi nhỏ vót hình đuôi chut, chùm lông hình dquạt cuối đuôi như
lợn nhà và đuôi kém phát triểnn ln nhà.
Tp tính sinh hoạt của lợn rừng
Tập tính đi lại
Lợn rừng con: t 1-3 ngày tui lợn thích nằm chỗ kín và m (dù mùa thì lợn vẫn thích chui
vào rác hoặc nơi có nhiệt độ cao), hầu hết thời gian dành rng cho ngủ, ngoài thời gian
mẹ. Từ ngày th4 trđi lợn thường chơi đùa ra nơi ánh nắng, đặc biệt khi thời tiết nóng
nực thì chúng thích vy i nước hoặc bùn. Đối với lợn trưởng thành thích người vào
thân cây hoặc bờ tường, bờ rào thích gm vỏ thân cây (động tác màing nanh).
Lợn rừng m: Lợn rừng giống lợn nhà ch, sau khi ăn no đều nằm nghỉ sau đó mới dành
thời gian cho đùa. Thời gian đi lại trong ngày nhiều hơn thời gian ngủ nghỉ, đặc biệt là lợn
trưởng thành lợn đực: Thi gian hoạt động nhiều nhất trong ngày vào lúc t7giờ30 đến
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Cn nuôi - S 25-Tng 8-2010
18
10giờ30, và từ 14giờ30 đến 17 gi. Thời gian nghỉ, ngủ thường tập trung vào trưa từ 11giờ30
đến 13giờ30 và vào ban đêm.
Tìm kiếm thức ăn
Lợn rừng thích đào bới, tìm kiếm thức ăn trong lòng đất, thích ăn những thức ăn cứng như
hạt, củ, qu, gặm thân các loại y, đặc biệt là rất thích ăn mía, gốc cỏ voi non, thân cây ngô
non, bèo y, y cỏ, rau các loại... Chúng thường ăn lai rai cả ngày, không ăn tập trung n
lợn nhà và ăn khô không thích ăn nước (ăn riêng, ung riêng).
Uống nước
Đối với lợn con chúng thích liếm láp những nơi nước (chính do này thi k sữa
mhay mắc chứng ỉa chảy). Lợn choai và lợn trưởng tnh chúng đều thích uống nước tự do,
chúng không thích ung nước vòi, nhưng khi đưa vòi vào thì chúng cũng rất nhanh thích nghi
vì phù hợp vi tính tò mò của chúng.
Tập tính bầy đàn
Đặc điểm chung của lợn con , ln trưng thành là chúng rt thích sống theo bầy đàn đông. Đến
thi kỳ sinh sản thì tính gia đình được bảo thcao. Trong trường hợp nếu một con đẻ trong bầy
đàn thì lập tc bị bầy đàn cắn chết ngay. Vì vy, khi đến ngày sinh con thì lợn mẹ thường tách đàn
để đi làm đẻ nơi khác, trong trường hợp đàn đông thì chúng thường tách xa đàn để đi làm đẻ
khi con lớn mới tham gia nhập đàn, nhằm bảo toàn cho con của chúng. Trong tờng hợp hai
đẻ gần nhau nếu con của con nó sang ổ ca con kia lập tc bị mẹ con khác tấn ng ngay.
Sthích: lợn rừng thích đùa nghịch, thích tắm vũng n n vũng nước, thích ăn nhng thứ
cứng như củ, hạt.
Tập tính tự vệ
Đối với Lợn rừng mới nhập trừng hoang dã vthì tính tvệ rất cao.Trong trường hợp từ
2 con trlên sng chung trong chuồng, khi có người vào hoặc đối th khác đến gần thì chúng
m tụm lại với nhau hướng đầu ra phía đối phương đphòng v, còn trong trường hợp
mt mình thì phn xạ đầu tiên tấn công thẳng vào đối phương đphòng vệ. Đặc biệt khi
mt con trong đàn nhn được tín hiệu lạ từ bên ngoài tkêu lên cđàn khi nhận được
tín hiệu đó thì ngay lp tức cả đàn đều kêu chy loạn lên vy rất khó cho kthù th
tấn công được chúng. Trong trường hợp, khi đi kiếm mồi hay kiếm thức ăn, nếu phát hiện
người lạ đến thì chúng lập tức chy trốn và dn về một nơi.
Tính hoang được thể hiện chỗ khi đang thực hiện việc giao phối mà con đực khác đến,
hoặc người đến làm ảnh đến quá trình giao phối của chúng thì ngay lập tức b tấn công trở lại.
vy trong quá trình chăn nuôi cần chú ý đến đặc tính y đđảm bảo an toàn trong quá
trình lao động.
Tập tính thải phân nước tiểu
Trong trường hợp ni nhốt hay thả ng trong khuôn viên rng thì chúng đều phản xạ là
thải phân và nước tiểu nơi có nước hoặc một khu vực tương đi ổn định và phi là nơi ẩm ướt
nhất khu vực, đặc điểm này giống lợn địa phương.
Tập tính ngủ, nghỉ
Chúng thường ng, nghỉ nơi ít người hoặc ít gia c đi lại (nơi yên tĩnh) đặc biệt rất ít thấy
lợn ngủ có tiếng gáy. Thời gian ngủ ngh thường tập trung vào thi gian trưa từ 11 giờ 30 đến
13 giờ 30 và vào ban đêm.