intTypePromotion=1

Nghiên cứu tính an toàn và hiệu qủa của chọc dò tiền phòng trong điều trị glôcôm góc đóng cấp nguyên phát

Chia sẻ: ViHinata2711 ViHinata2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
8
lượt xem
1
download

Nghiên cứu tính an toàn và hiệu qủa của chọc dò tiền phòng trong điều trị glôcôm góc đóng cấp nguyên phát

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết đánh giá tính hiệu quả và an toàn của phương pháp chọc dò tiền phòng phối hợp dùng thuốc để kiểm soát nhãn áp và giảm ngay triệu chứng trong glôcôm góc đóng cấp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu tính an toàn và hiệu qủa của chọc dò tiền phòng trong điều trị glôcôm góc đóng cấp nguyên phát

NGHIÊN CỨU TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU QỦA CỦA CHỌC<br /> DÒ TIỀN PHÒNG TRONG ĐIỀU TRỊ GLÔCÔM GÓC ĐÓNG<br /> CẤP NGUYÊN PHÁT<br /> PHẠM THỊ THỦY TIÊN, NGUYỄN THỊ NGỌC LIÊN<br /> <br /> Bệnh viện Mắt TP. Hồ Chí Minh<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Đánh giá tính hiệu quả và an toàn của phương pháp chọc dò tiền phòng<br /> phối hợp dùng thuốc để kiểm soát nhãn áp và giảm ngay triệu chứng trong glôcôm góc<br /> đóng cấp. Đối tượng và Phương pháp: nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc, có nhóm<br /> chứng, một loạt ca. Có 19 bệnh nhân(BN) bị glôcôm góc đóng cấp với nhãn áp trên<br /> 40mmHg được chọn vào nghiên cứu. BN được điều trị tại chỗ và toàn thân kết hợp với<br /> chọc dò tiền phòng. Những thông số về nhãn áp triệu chứng, thị lực, nhãn áp, phù giác<br /> mạc, tình trạng góc tiền phòng, kích thước đồng tử được ghi nhận.Kết quả: 12 mắt<br /> được chọn cho mỗi nhóm. Trong nhóm bệnh chọc dò tiền phòng và dùng thuốc phối<br /> hợp, nhãn áp trung bình giảm từ 47,9 ± 7,4mmHg còn 22,5 ± 10,2mmHg ngay sau khi<br /> chọc dò, và 15,4 ± 11,4mmHg sau 3 giờ. Không biến chứng nào được ghi nhận. Kết<br /> luận: Qua nghiên cứu này, chọc dò tiền phòng có hiệu quả và an toàn cho BN glôcôm<br /> góc đóng cấp nhằm kiểm soát tốt hơn nhãn áp và giảm ngay triệu chứng đau đớn.<br /> <br /> I.<br /> <br /> nội mô giác mạc [2]. Vì thế mục đích của<br /> việc hạ nhãn áp lập tức không những làm<br /> giảm ngay các triệu chứng đau đớn cho BN<br /> đồng thời bảo vệ các tế bào lớp sợi thần<br /> kinh [3].<br /> Quan sát trên lâm sàng trong<br /> glôcôm góc đóng cấp nguyên phát nếu<br /> điều trị bằng thuốc có kết hợp đường<br /> toàn thân tích cực thì phải mất 3 giờ đến<br /> nhiều giờ sau đó các triệu chứng mới<br /> giảm và nhãn áp từ từ hạ đến 20mmHg.<br /> Trong thời gian đó, với nhãn áp tăng cao<br /> như vậy, các tế bào nhãn cầu tiếp tục tổn<br /> thương và BN phải chịu đau đớn ở mắt.<br /> Nhằm giúp kiểm soát hạ nhanh hơn và<br /> lấy đi các triệu chứng đau đớn cho BN,<br /> chúng tôi tiến hành chọc dò tiền phòng<br /> để điều trị glôcôm góc đóng cấp nguyên<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> <br /> Glôcôm góc đóng cấp nguyên phát là<br /> do tắt nghẽn đột ngột đường dẫn lưu thủy<br /> dịch tại vùng bè làm tăng nhãn áp cấp. Tăng<br /> nhãn áp cấp gây ra triệu chứng thật rầm rộ<br /> như đau nhức mắt, mờ mắt, thấy quầng xanh<br /> đỏ, và kèm theo nhức đầu dữ dội, buồn nôn<br /> và nôn [12].<br /> Theo phác đồ điều trị glôcôm góc<br /> đóng cấp thường quy [11] BN được hạ<br /> nhãn áp bằng thuốc bằng thuốc nhỏ và hay<br /> phối hợp với điều trị toàn thân. Khi nhãn áp<br /> điều chỉnh, giác mạc trong hơn BN được<br /> soi góc tiền phòng và có chỉ định cắt mống<br /> mắt chu biên bằng laser hay cắt bè củng<br /> mạc. Nếu trong trường hợp nhãn áp cao kéo<br /> dài, các tế bào lớp sợi thần kinh thị sẽ bị tổn<br /> thương không thể phục hồi cũng như tế bào<br /> <br /> 67<br /> <br /> phát. Nghiên cứu này đánh giá tính an<br /> toàn và hiệu quả của việc chọc dò tiền<br /> phòng kết hợp với điều trị thuốc tại chỗ<br /> và toàn thân nhằm giảm lập tức nhãn áp<br /> trong glôcôm góc đóng cấp.<br /> II. PHƯƠNG<br /> CỨU:<br /> <br /> PHÁP<br /> <br /> trúc và chức năng của góc tiền phòng, và<br /> chưa cắt mống mắt chu biên bằng laser.<br /> Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm BN<br /> không hợp tác và không đồng ý tiến hành<br /> thủ thuật, BN đã dùng thuốc điều trị hạ<br /> nhãn áp trước đó. BN đã có phẫu thuật<br /> nội nhãn trước đó, có một mắt độc nhất,<br /> hoặc dị ứng với thuốc nhỏ mắt hay thuốc<br /> hạ nhãn áp Manitol cũng không được<br /> chọn. BN sẽ được rút thăm chọn ngẫu<br /> nhiên phương pháp điều trị. Nhóm đầu<br /> tiên áp dụng phương pháp chọc dò tiền<br /> phòng kết hợp sử dụng thuốc hạ nhãn áp.<br /> Nhóm đối chứng là áp dụng phương<br /> pháp cổ điển dùng thuốc hạ nhãn áp bao<br /> gồm thuốc nhỏ và thuốc uống.<br /> <br /> NGHIÊN<br /> <br /> Đây là nghiên cứu tiến cứu, nghiên<br /> cứu dọc, có nhóm chứng được tiến hành<br /> từ 2-2005 đến 12-2006. BN bị cơn<br /> glôcôm cấp đầu tiên xảy ra trong vòng<br /> 48 giờ và còn trong đợt cấp đến nhập<br /> viện tại khoa Glôcôm, Bệnh viện Mắt<br /> TP. HCM. Nhãn áp đo bằng Goldmann<br /> trên 40 mmHg. Ngoài ra BN không có<br /> bệnh mắt nào khác ảnh hưởng đến cấu<br /> <br /> Bảng 1: Tiêu chuẩn đánh giá phù giác mạc<br /> Độ 0: Không phù giác mạc<br /> Độ 1: chỉ mờ giác mạc nhẹ<br /> Độ 2: những chi tiết mống mắt bị mờ.<br /> Độ 3: những chi tiết mống mắt mất không nhìn rõ<br /> Độ 4: không thấy những chi tiết mống mắt<br /> BN có chỉ định chọc dò tiền phòng<br /> được nhỏ tê tại chỗ bằng Dicain 1% một<br /> giọt/ mỗi phút trong 3 phút, nhỏ tại chỗ<br /> 1 giọt Ciprofloxacine 0,3%, 1 giọt<br /> Pilocarpine 2%, 1 giọt Timolol Maleate<br /> 0,5%, sát trùng mắt và quanh mắt bằng<br /> Povidone iodine 2% trong 3 phút. Thủ<br /> thuật chọc dò tiền phòng được thực hiện<br /> vô trùng và dưới kính lúp phóng đại.<br /> Dùng vành mi cố định mi mắt, sử dụng<br /> ống tiêm 1ml với kim 26 vô trùng đâm<br /> vào tiền phòng mặt vát ngửa lên trên ở<br /> rìa giác mạc phía thái dương ngoài vào<br /> tiền phòng, rút nhẹ kim ra từ từ khi cho<br /> đến khi một phần mặt vát kim ở ngoài.<br /> Thủy dịch sẽ chảy ra theo kim khoảng<br /> 0,05ml dịch [6,10]. Sau khi chọc dò tiền<br /> <br /> phòng, BN được nhỏ Ciprofloxacine<br /> 0,3% 1 giọt mỗi 2 giờ trong ngày đầu và<br /> 6 lần ngày trong 5 ngày kế tiếp.<br /> BN cả hai nhóm được dùng thuốc<br /> nhỏ mắt co đồng tử Pilocarpine 2% 4 lần/<br /> ngày và Timolol 0,5% 2 lần/ ngày [1].<br /> Thuốc uống gồm Acetazolamide 0,25mg<br /> 4 viên/ ngày, và BN sẽ được truyền<br /> Manitol 20% (Osmofuldine) 100 giọt/<br /> phút.<br /> Tất cả BN của hai nhóm đều ghi<br /> nhận nhãn áp trước và sau khi can thiệp<br /> bằng thuốc hay chọc dò ở thời điểm 15<br /> phút, 30 phút 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ, 12 giờ,<br /> và 24 giờ. Các thông số thị lực, độ trong<br /> giác mạc, kích thước đồng tử đo bằng<br /> đèn khe được đánh giá 1 giờ, 12 giờ và<br /> <br /> 68<br /> <br /> 24 giờ sau. BN sẽ được soi góc tiền<br /> thiệp điều trị đến khi giảm cơn đau mà<br /> phòng bằng kính 4 gương Zeiss cả hai<br /> BN chịu được (giảm đau khoảng 50%).<br /> mắt 24 giờ sau điều trị [8]. Từ đó chỉ<br /> Các số liệu được thống kê và xử lý bằng<br /> định phẫu thuật laser cắt mống mắt chu<br /> phần mềm SPSS 10.5.<br /> biên hay cắt bè cũng mạc sẽ được xem<br /> III. KẾT QUẢ<br /> xét [11]. Các biến chứng cần được theo<br /> Mỗi nhóm nghiên cứu có 12 mắt.<br /> dõi sau chọc dò tiền phòng như xuất<br /> Dịch tễ học của hai nhóm được liệt kê<br /> huyết tiền phòng, bong hắc mạc do hội<br /> trong bảng 1.<br /> chứng giải áp, nhiễm trùng. Ngoài ra BN<br /> còn được đánh giá thời gian từ lúc can<br /> Bảng 2: Dịch tễ học của hai nhóm điều trị<br /> Nhóm điều trị<br /> Số mắt<br /> Số BN<br /> Tuổi trung bình (năm ± 1SD)<br /> Độ tuổi<br /> Nam/ Nữ<br /> Mắt phải/ trái<br /> <br /> Chọc dò tiền phòng + điều trị thuốc<br /> 12<br /> 9<br /> 60,42 ± 9,5<br /> 48-77<br /> 1:3<br /> 7:5<br /> <br /> Điều trị thuốc<br /> 12<br /> 10<br /> 53,17 ± 7,9<br /> 45-73<br /> 1:3<br /> 8:4<br /> <br /> 27,25 ± 14,5<br /> <br /> 28,17 ± 12,7<br /> <br /> 0,34 ± 0,52<br /> <br /> 1,54 ± 1,2<br /> <br /> Thời gian từ lúc đau đến lúc<br /> nhập viện (giờ)<br /> Thời gian từ lúc điều trị đến<br /> lúc giảm đau 50%<br /> Thời gian từ lúc BN bắt đầu đau<br /> đến khi nhập viện ở nhóm chọc dò từ 6<br /> đến 48 giờ (trung bình 27,25 ± 14,5 giờ).<br /> <br /> chịu đựng cơn đau (P = 0,88) và nhãn áp lúc<br /> nhập viện (P = 0,36).<br /> <br /> Theo phép kiểm T (t-test) cho thấy<br /> không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa<br /> hai nhóm theo lứa tuổi (P = 0,75), thời gian<br /> <br /> 69<br /> <br /> 0.4<br /> <br /> khi nhập viện<br /> <br /> 12<br /> <br /> 24<br /> <br /> giờ<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0.3<br /> <br /> Độ trong giác mạc<br /> <br /> Thị Lực<br /> <br /> 0.5<br /> <br /> 0.2<br /> <br /> 1<br /> <br /> 1.5<br /> <br /> Dùng thuốc<br /> Chọc dò<br /> <br /> 0.1<br /> <br /> 2<br /> <br /> giờ<br /> <br /> Dùng thuốc<br /> Chọc dò<br /> <br /> 2.5<br /> <br /> 0<br /> Khi nhậpviện<br /> <br /> 1<br /> <br /> 24<br /> <br /> Hình 1: Biểu đồ so sánh thị lực của<br /> hai nhóm sau khi điều trị<br /> Thị lực BN lúc nhập viện từ 4/10<br /> đến bóng bàn tay (hình 1). Mặc dầu nhóm<br /> chọc dò tiền phòng có thị lực khi nhập viện<br /> thấp hơn nhưng sau 24 giờ điều trị thì kết<br /> quả thị lực nhóm này cao hơn nhóm dùng<br /> thuốc đơn thuần.<br /> Độ phù giác mạc của hai nhóm<br /> không khác biệt có ý nghĩa thống kê.<br /> Đồng tử dãn trung bình của nhóm chọc<br /> dò trước khi điều trị từ 3,0 – 5,0mm (4,0<br /> ± 0,5) và nhóm đối chứng 2,5- 6,0mm<br /> <br /> Hình 2: Biểu đồ so sánh độ phù giác<br /> (3,6 ±mạc<br /> 0,4)của<br /> (bảng<br /> Sau điều<br /> khi điều<br /> hai5).<br /> nhóm<br /> trị trị 12<br /> giờ và 24 giờ sau sự đáp ứng của đồng tử<br /> với Pilocarpine chênh lệch nhau không<br /> có ý nghĩa thống kê (P> 0,5).<br /> Nghiên cứu này dựa trên nghiên<br /> cứu thử nghiệm của Lam [8] chọc dò tiền<br /> phòng trên 10 BN góc đóng cấp. Kết quả<br /> các thông số trên của nghiên cứu này<br /> không khác gì với nghiên cứu được tiến<br /> hành<br /> tại<br /> Hồng<br /> Kông.<br /> <br /> Bảng 3: Kích thước đồng tử của hai nhóm điều trị<br /> Đồng tử lúc nhập<br /> 12 giờ<br /> viện<br /> Nhóm chọc dò + dùng<br /> thuốc<br /> 1p<br /> 5,0<br /> 3,0<br /> 2p<br /> 3,0<br /> 2,0<br /> 3p<br /> 4,5<br /> 4,0<br /> 4p<br /> 4,0<br /> 3,0<br /> 5p<br /> 3,5<br /> 2,5<br /> 6p<br /> 4,0<br /> 3,5<br /> 7p<br /> 4,0<br /> 3,5<br /> <br /> 70<br /> <br /> 24 giờ<br /> <br /> 3,0<br /> 2,0<br /> 3,0<br /> 2,0<br /> 2,5<br /> 2,0<br /> 3,0<br /> <br /> 8p<br /> 9p<br /> 10p<br /> 11p<br /> 12p<br /> Nhóm dùng thuốc<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> 7<br /> 8<br /> 9<br /> 10<br /> 11<br /> 12<br /> <br /> 3,5<br /> 4,0<br /> 4,0<br /> 4,0<br /> 4,0<br /> <br /> 3,5<br /> 3,0<br /> 3,0<br /> 3,5<br /> 3,5<br /> <br /> 3,5<br /> 2,5<br /> 2,5<br /> 3,5<br /> 3,0<br /> <br /> 4,5<br /> 4,0<br /> 3,0<br /> 3,0<br /> 4,0<br /> 3,5<br /> 4,0<br /> 2,5<br /> 3,0<br /> 6,0<br /> 3,0<br /> 3,0<br /> <br /> 3,0<br /> 2,0<br /> 3,0<br /> 2,5<br /> 3,0<br /> 3,0<br /> 3,5<br /> 2,5<br /> 2,0<br /> 4,0<br /> 2,5<br /> 2,0<br /> <br /> 2,5<br /> 2,0<br /> 3,0<br /> 2,5<br /> 2,5<br /> 3,0<br /> 3,0<br /> 2,0<br /> 2,0<br /> 4,0<br /> 2,0<br /> 1,0<br /> <br /> Soi góc tiền phòng cho 24 mắt ở hai<br /> nhóm điều trị cho thấy chỉ có 1 BN thuộc<br /> nhóm dùng thuốc là góc còn mở độ 2,<br /> đồng tử co nhỏ và kiểm soát nhãn áp tốt<br /> nên chúng tôi quyết định tiến hành cắt<br /> mống mắt chu biên bằng laser. Tất cả mắt<br /> còn lại có góc tiền phòng bị đóng nên<br /> phải chỉ định cắt bè củng mạc và laser cắt<br /> mống mắt chu biên ở mắt đối bên. Chọc<br /> dò tiền phòng chỉ có tác dụng hạ nhãn áp<br /> chứ không có chức năng làm mở góc.<br /> <br /> chọc dò tiền phòng đều cho biết những<br /> triệu chứng đau nhức mắt, buồn nôn,<br /> nhức đầu giảm gần một nửa trong vòng<br /> 20 phút (0,5-4 giờ, 0,34 ± 0,52) (bảng 2).<br /> Nếu so sánh với nhóm chỉ dùng thuốc thì<br /> thời gian này kéo dài hơn 1giờ 30 phút<br /> (1-2 giờ, 1,54 ± 1,17) vì đây là thời gian<br /> thuốc bắt đầu có tác dụng. Dấu hiệu này<br /> mang tính chủ quan nhưng có ý nghĩa<br /> trên lâm sàng rất nhiều, BN cảm thấy dễ<br /> chịu hơn. Theo như chúng tôi được biết<br /> hiện nay vẫn chưa có thuốc nào có thể hạ<br /> nhãn áp nhanh bằng chọc dò tiền phòng.<br /> Dụng cụ cần thiết để thực hành chọc dò<br /> tiền phòng cũng đơn giản, và có thể trang<br /> bị cấp cứu ngay tại khoa lâm sàng.<br /> Chọc dò tiền phòng kết hợp điều trị<br /> thuốc làm giảm nhãn áp nhanh giúp làm<br /> giác mạc phù mau trong hơn và BN có<br /> chỉ định điều trị cắt mống mắt chu biên<br /> <br /> VI. BÀN LUẬN<br /> Trong glôcôm góc đóng cấp, sự<br /> phối hợp chọc dò tiền phòng và dùng<br /> thuốc trong nghiên cứu này giúp hạ nhãn<br /> áp tức thì đồng thời duy trì kiểm soát<br /> nhãn áp kéo dài. Sự phối hợp hai phương<br /> pháp giúp BN giảm đau ngay lập tức và<br /> tránh được những biến chứng tổn thương<br /> gai thị do thiếu máu. Tất cả BN được<br /> <br /> 71<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản