intTypePromotion=3

Quá trình ứng dụng kỹ thuật tích trữ nước trong quy trình chống hạn hán và sa mạc hóa p4

Chia sẻ: Fasfa Afasf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
51
lượt xem
5
download

Quá trình ứng dụng kỹ thuật tích trữ nước trong quy trình chống hạn hán và sa mạc hóa p4

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mô hình thu trữ nước ngầm tưới cho mô hình nông lâm kết hợp Mô hình được áp dụng tại thôn Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước, Ninh Thuận với các nội dung: - Đào ao thu trữ lượng nước ngầm dưới chân đồi cát để tưới cho cây trồng trong mô hình nông lâm kết hợp trên đồi. Ao có diện tích đáy (2 x 15)m, mở mái m=1, ao có chiều sâu 3m, ao được trải vải lọc và lát khan đá quanh bờ, chiều sâu nước tối thiểu là 1,5m (Hình 2...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quá trình ứng dụng kỹ thuật tích trữ nước trong quy trình chống hạn hán và sa mạc hóa p4

  1. Ứng dụng kỹ thuật thu trữ nước trong phòng chống hạn hán và sa mạc hóa vùng đất cát 4 4.2. Mô hình thu trữ nước ngầm tưới cho mô hình nông lâm kết hợp Mô hình được áp dụng tại thôn Hòa Thủy, Phước Hải, Ninh Phước, Ninh Thuận với các nội dung: - Đào ao thu trữ lượng nước ngầm dưới chân đồi cát để tưới cho cây trồng trong mô hình nông lâm kết hợp trên đồi. Ao có diện tích đáy (2 x 15)m, mở mái m=1, ao có chiều sâu 3m, ao được trải vải lọc và lát khan đá quanh bờ, chiều sâu nước tối thiểu là 1,5m (Hình 2). - Xây dựng hệ thống bơm nước lên đồi: đặt một máy bơm dầu D8 và hệ thống đường ống đẩy chính là ống HDPE mềm Φ60, mỗi đoạn dài 20m trên đường ống chính bố trí một trụ vòi để nối với ống mềm Φ27 để người dân có thể tưới cho cây trồng trên đồi. - Trồng cây theo mô hình nông lâm kết hợp: trên cùng là dải băng rừng với 5 hàng cây neem: mật độ cây cách cây 1,5m hàng cách hàng 2m trồng so le các cây giữa các hàng với nhau; tiếp theo là 24m trồng thuần cây ăn quả (Điều ghép, Xoài); tiếp xuống dưới chân đồi là diện tích trồng cây ăn quả xen canh với cây nông nghiệp
  2. (Mãng cầu+Ớt, Dưa...); diện tích phía thấp nhất dưới chân đồi dùng để canh tác nông nghiệp (1ha), trồng hành, tỏi, đậu phộng hoặc dưa.. Hình 2. Cắt dọc ao thu nước ngầm Việc tưới cho các loại cây trồng này trong mùa khô (6 tháng: từ tháng 12 đến tháng hết tháng 5 năm sau) tưới vào buổi chiều mát. Cây lâm nghiệp được tưới trong 3 năm, kể từ năm thứ 4 có thể dùng nước mở rộng canh tác nông nghiệp. Qua tính toán cân bằng nước cho thấy lượng nước trong ao 86m3 có thể đảm bảo tưới cho 2000 cây Neem, 1000 cây ăn quả (Xoài, Điều, Mãng Cầu) và 1ha cây nông nghiệp canh tác quanh năm. 4.3. Mô hình thu trữ nước mưa trên đồi cát Đây là mô hình thu trữ nước mưa phục vụ phòng chống hạn hán và sa mạc hoá được áp dụng tại xã Hồng Phong, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Hệ thống thu trữ nước mưa được thiết kế như sau: Hệ thống thu gom nước: Do đặc điểm đất vùng duyên hải Nam Trung Bộ - chủ yếu là đất cát có tính thấm mạnh, lượng mưa lại nhỏ nên lượng dòng
  3. chảy mặt rất nhỏ, cần phải có biện pháp gia cố bề mặt hứng nước để tăng lượng nước thu trữ. Hai hình thức gia cố thích hợp cho khu vực này là sân xi măng đất và sân phủ bạt HDPE. Hệ thống trữ nước: bao gồm các bể trữ nước trên sườn dốc, dung tích của - bể được tính toán đảm bảo đủ cung cấ p bổ sung nước cho cây trồng trong mùa khô; bể được che đậy để tránh bốc hơi gây tổn thất nước. Vị trí các bể được bố trí phù hợp với bố trí mặt bằng tổng thể của hệ thống thu gom nước, tăng khả năng tưới tự chảy và không gây cản trở cho các hoạt động canh tác. Một số loại bể chứa đã được thử nghiệm trong đó bể bằng HDPE và bể xi măng đất có những ưu điểm nổi trội như giá thành rẻ, dễ xây dựng, dễ bảo quản. Hệ thống phân phối nước: Sử dụng các ống nhựa PVC, ống được chôn - xuống đất để tránh lão hoá. Việc phân phối nước được thực hiện nhờ trọng lực hoặc sử dụng các loại bơm nhỏ tại những vị trí không thể tưới tự chảy. Hệ canh tác nông lâm nghiệp bao gồm các thành phần: - Ngoài cùng trồng cây dầu lai làm hàng rào, vừa chống cát xâm nhập vừa ngăn súc vật vào phá. Dầu lai là một loài cây bản địa nên khả năng chống chịu hạn rất lớn, chỉ cần tưới nước trong 3-4 tháng đầu sau khi trồng. Khi cây đã phát triển, bộ rễ ăn sâu xuống tầng cát ẩm thì không cần phải tưới. - Trong hàng dầu lai bố trí 2-3 hàng cây neem chắn gió, mục đích là để giảm tốc độ gió trong khu canh tác, hạn chế xói mòn do gió. Neem là một loại cây chịu hạn nhập nội, có sức chống chịu với điều kiện khô nóng ở khu
  4. vực Nam Trung Bộ. Trong khoảng 2 năm đầu cần phải tưới nước liên tục trong mùa khô để đảm bảo cây sống phà phát triển. Từ năm thứ 3 trở đi bộ rễ của cây phát triển, sức chống chịu tăng lên thì không cần phải tưới. - Phía trong cây neem bố trí trồng các loại cây lâu năm có thu hoạch nh ư cây ăn quả, cây công nghiệp. Các loại cây này cần phải tưới trong mùa khô. - Trong cùng bố trí đất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày. Tuỳ thuộc vào mùa vụ và nhu cầu thị trường mà bố trí loại cây thích hợp. Trong mùa mưa có thể trồng toàn bộ diện tích, trong mùa khô chỉ trồng một phần diện tích theo lượng nước thu trữ được. 4.4. Đánh giá hiệu quả của hệ thống thu trữ nước Trước đây, tại các khu đồi cát xây dựng mô h ình người dân chỉ canh tác được một trên một phần diện tích vào mùa mưa với năng suất thấp, bấp bênh; còn trong mùa khô nơi đây là bãi cát trắng bị bỏ hoang, gần như không có cây cỏ mọc. Đất khô, thảm phủ thực vật bị héo rụi cùng với gió mạnh dẫn đến hiện tượng cát bay, cát nhảy thường xuyên diễn ra, gió mạnh đã bào mòn tầng đất canh tác mỏng manh phía trên, gây suy thoái đất và hoang mạc hoá. Hiện nay tại khu vực mô hình, hình thức canh tác nông lâm kết hợp được cấp nước từ hệ thống thu trữ nước đã phát huy hiệu quả tích cực, có thể nói là đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo của khu mô hình. Trong khu mô hình, nhờ có nước và bố trí các vành đai cây phù hợp, cây cối phát triển quanh năm, hạn chế tối đa hiện tượng cát bay, ngăn chặn quá trình sa mạc hoá. Sự phát triển của loại cây trồng vật nuôi trong khu mô hình như sau: các
  5. - Cây Dầu lai: do cây này có sức chống chịu cao nên mặc dù trong giai đoạn sau ít được tưới cây vẫn phát triển. Hiệu quả tưới nước phát huy rõ ràng nhất ở thời kỳ mới trồng, giúp nâng cao tỷ lệ cây sống so với những vùng không được tưới. - Cây Xoan chịu hạn (neem): Cây neem do ít được tưới nên tốc độ phát triển chậm. Sau 2 năm, chiều cao trung bình của cây mới đạt 1,2 m. Việc tưới nước tuy ít nhưng đã rất có tác dụng trong giai đoạn mới trồng, giúp cây con tồn tại được trong điều kiện khô nóng khắc nghiệt để phát triển mạnh hơn trong mùa mưa. - Cây Trôm: do đây là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao nên được người dân quan tâm tưới nước, bón phân thường xuyên theo đúng hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Sau năm đầu tiên cây đã đạt được chiều cao trung bình là 1,2m; đường kinh tán 80cm và đường kính thân cây khoảng 4cm. Giữa năm thứ 2 cây có chiều cao trung bình khoảng 1,4m, đường kính thân cây khoảng 6cm. - Cây nông nghiệp ngắn ngày: các loại cây chủ yếu là đậu phộng, đậu hạt, dưa, canh tác chủ yếu trong mùa mưa, các cây trồng này cho năng suất tương đối ổn định. Hiện nay các hộ bắt đầu trồng cỏ nuôi bò, sử dụng nước để tưới cỏ trong mùa khô. Cá: việc nuôi cá ban đầu không có trong kế hoạch, nhưng sau khi hệ thống - trữ được nước, một số hộ dân đã kết hợp nuôi cá chép và cá trê phi trong bể. Cá nuôi trong khu mô hình sinh trưởng phát triển tốt, góp phần cải thiện bữa ăn của các gia đình.
  6. Ngoài hiệu quả kinh tế, mô hình đã có tác dụng cải thiện môi trường sinh - thái khu vực. Từ khi hệ thống thu trữ nước đưa vào hoạt động, vào mùa khô có nhiều sinh vật (chim, ếch, côn trùng...) đến tụ tập quanh các bể trữ n ước. Hệ thống cây xanh cùng với các loài sinh vật đến trú ngụ đã tạo ra một tiểu hệ sinh thái kiểu ốc đảo sa mạc tại khu mô hình. Theo người dân trong khu vực thì đã lâu rồi, kể từ khi rừng bị tàn phá cho canh tác nông nghiệp, họ thấy tiếng ếch kêu trong mùa khô như hiện nay. không Mô hình đã làm thay đổi được nhận thức của cộng đồng. Sống trong điều kiện khí hậu khô hạn, không có n ước trong suốt mùa khô, người dân ở đây đã hình thành tập quán chỉ canh tác vào mùa mưa, mùa khô thì bỏ mặc các khu đồi cát dưới nắng cháy và gió mạnh. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho tình trạng sa mạc hoá thêm trầm trọng. Hiện nay, người dân đã tin tưởng rằng có thể tăng thu nhập từ các khu đồi cát bằng biện pháp canh tác nông lâm kết hợp, trong đó hệ thống thu trữ nước là nền tảng để phát triển canh tác các loại cây trồng. V. Kết luận & kiến nghị Vấn đề mấu chốt để có thể khai thác bền vững có hiệu quả các vùng đất khô hạn các tỉnh miền Trung là giải quyết vấn đề nước tưới và nước sinh hoạt cho người dân kết hợp với các biện pháp canh tác như đưa vào tập đoàn cây bản địa, cây du nhập có khả năng chịu hạn và nhằm hạn chế xói mòn, bốc hơi... Các giải pháp thu trữ nước đã được nhiều nước nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi, được quốc tế đánh giá là mang lại hiệu quả phòng chống hạn hán rất cao,
  7. nhiều nước - đặc biệt là các nước châu Phi, vùng Tây và Nam Á - coi đây là công cụ chiến lược để đối phó với hạn hán. Thu trữ nước - một biện pháp vừa có thể giải quyết được vấn đề nước tưới vừa góp phần hạn chế xói mòn thoái hoá đất - sẽ là giải pháp hữu hiệu để phòng chống hạn hán và sa mạc hoá tại các vùng đất cát Nam Trung Bộ. Kết quả của việc ứng dụng thử nghiệm các mô hình thu trữ nước đã chứng tỏ giải pháp công nghệ thu trữ n ước phù hợp với điều kiện tự nhiên khu vực, mang lại hiệu quả cao. Hiện nay hàng năm các tỉnh Nam Trung Bộ đều triển khai các hoạt động trồng rừng chống sa mạc hoá, nhưng nhiều khi kết quả đạt thấp do thiếu nước. Nếu kết hợp việc áp dụng các biện pháp trồng rừng, canh tác nông lâm nghiệp với các giải pháp thu trữ nước thì hiệu quả đạt được sẽ cao và bền vững hơn. Các giải pháp thử nghiệm hoàn toàn có thể áp dụng ra toàn khu vực đất cát duyên hải Nam Trung Bộ, góp phần phòng chống hạn hán, ổn định sản xuất và ngăn chặn tình trạng sa mạc hoá trong khu vực.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản