
Sân khấu truyền thống Nhật Bản
- Tuồng Nô
Tuồng Nô gồm ba nguyên tố : truyện kể bằng lời ca (Utai=Dao), múa (Shimai=Sĩ
Vũ) và âm nhạc diễn tấu kèm theo (Hayashi= Tạp Tử). Nhạc khí dùng cho Nô
thường là ống tiêu (nôkan, ống sáo ngang dài độ 39cm), trống vai (kotuzumi),
trống hông (ôkawa), trống đại (taiko), đàn ba giây (samisen hay shamisen) và
chiêng. Tích của tuồng thường nhuốm màu huyền ảo. Cử động cố tình chậm chạp

để tăng vẻ trang nghiêm. Cao điểm nghệ thuật của Nô nằm ở diễn xuất vốn thiên
về yếu tố tượng trưng với phông cảnh đơn sơ đến mức tối thiểu. Nô đẹp nhờ ở mặt
nạ và y trang.
Hai hình thức Nô lúc đầu chính là Dengaku và Sarugaku vậy. Dengaku (Điền
Nhạc) nguyên là ca vũ nhạc trình diễn trong các dịp tế lễ trong nông vụ ở miền
quê. Bước qua thời Heian (794-1185), Dengaku đã lan rộng và có mặt cả trong các
sinh hoạt văn hóa cung đình. Đến đời Kamakura (1185-1333) và Muromachi
(1333-1568), nó được các Tướng Quân và giới vũ sĩ (samurai) hết sức yêu chuộng
(trong khi kabuki vốnđược giới bình dân yêu chuộng thìlại bị họ đàn áp). Ngoài ra
còn có Sarugaku (viên nhạc, tên mới bao gồm cả sangaku tức tán nhạc và
sarugakucũ hay thân nhạc) tức là hình thức âm nhạc kèm theo trò nhại điệu bộ
người ta (monomane) để chọc cười hay các trò xiếc khéo tay (kyokugei=khúc
nghệ) có tính cách giúp vui, các trò dạy thú, nhào lộn, tung cầu... vốn được trình
diễn cho lớp bình dân vào những dịp như chợ phiên. Sarugaku chủ yếu xuất hiện
dưới bốn hình thức : lời ca của các thầy tăng kể truyện đệm bằng đàn tì bà
(biwahôshi), trò múa rối kugutsu-mawashi (khối lỗi hồi), điệu múa của thầy cúng
(chú sư) và lớp diễu kyôgen (cuồng ngôn). Bốn hình thức đó đều đã đóng góp vào
việc cấu tạo tuồng Nô.Oshikôji Kintada (Áp Tiểu Lộ, Công Trung, 1324-1383)
từng viết trong Gogumaiki (Hậu Ngu Muội Ký) : " Sarugaku là trò của bọn ăn mày
"
Cả Dengaku và Sarugaku sau đó được trình diễn dưới dạng kịch có đối thoại ngắn
và mang tên Dengaku no nô, Sarugakuno nô tùy theo gốc tích đồng quê hay gốc từ
trò lưu diễn ...Chữ Nô (năng) có lẽ đến từ chữ geinô (nghệ năng) [8], tức năng lực
trình diễn nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dân gian. Nô còn có ý nghĩa hoàn
thành, toàn hảo vì nó phối hợp được hầu hết các yếu tố chính yếu của sân khấu : ca,
vũ, nhạc, mặt nạ, trang phục, văn chương.

Dengaku về sau thịnh hành ở đô thị lớn còn Sarugaku ở vùng quê. Nhưng chỉ ít
lâu, có lẽ vì nội dung phong phú và vui nhộn hơn, Sarugaku đã thắng thế trong khi
Dengaku hầu như không để lại dấu vết. Sarugaku là khởi thủy của tuồng Nô hiện
đại vậy.Từ đó những người diễn tuồng bắt đầu xuất hiện, họ lập thành từng đoàn
thể gọi là Za [9](tọa hay tòa). Các za, tạm dịch là rạp, đều trực thuộc vào những
đền chùa có thế thần.
1) Các khuynh hướng
Trong số các rạp nổi tiếng, có bốn rạp chính gọi là Yamato Saruraku Shiza (Đại
Hoà Viên Nhạc Tứ Tòa). Đó là các rạp Emman.i (Viên Mãn Tỉnh) của trường phái
Konparu (Kim Xuân), Yuuzaki (Kết Kỳ) của phái Kanze (Quan Thế), Tobi (Ngoại
Sơn) phái Hôshô (Bảo Sinh), Sakado (Phản Hộ) phái Kongô (Kim Cương). Trong
số soạn giả bản tuồng của 4 rạp nầy, có nhân vật tên gọi Kan.ami Kiyotsugu (Quan
A Di, Thanh Thứ) là người biết đem những tinh hoa đặc sắc của Dengaku lẫn
Sarugaku vùng Ômi (phía đông Kyôto bây giờ) để tạo ra hình thức Sarugaku mới
và nó sẽ trở thành nguồn gốc tuồng Nô hiện đại. Con của Kan.ami là Zeami
Motokiyo (Thế A Di, Nguyên Thanh) được Tướng Quân Ashikaga Yoshimitsu
(1358-1408) yêu mến, tạo điều kiện tốt để làm việc nên đã đưa tuồng Nô lên đến
đỉnh cao với nhiều thành tựu lớn mà điển hình là việc sáng tạo được fukushiki
mugen Nô (Phức Thức Mộng Huyển Năng), một thể loại tuồng Nô u huyền và
thanh nhã lấy ca vũ làm trung tâm.
Trong thể loại nầy, sân khấu được chia làm hai phía: ngoài và trong. Phía ngoài là
thế giới thực, nơi các diễn viên chính (shite) đóng tuồng, phía trong là thế giới
mộng huyễn (maboroshi), nơi các hồn ma xuất hiện. Trong tuồng, các vai chính
(shite), vai cạnh (waki), tùy tùng (tsure hay tomo) múa và hát các bài ji-uta (địa ca,
địa bái) tức là những bài hát gốc vùng Ômi (gần Kyôto), đệm bằng đàn ba giây
(samisen) hay đàn tranh, và hayashi (Tạp Tử), âm nhạc có đánh nhịp và đệm đàn,
tiêu và trống ... Bản tuồng thường dựa vào tình tiết thấy trong các tác phẩm cổ

điển như Truyện Ise, Truyện Yamato hay Truyện Heike cũng như từ các truyền
thuyết lưu hành trong dân gian ghi lại trong các tác phẩm như Kojidan (Cổ Sự
Đàm), Hosshin-shuu (Phát Tâm Tập). Lời ca của những bài nầy có tên là yôkyku
(dao khúc), là những câu làm theo thể 7/5 chữ, dựa vào những bài thơ xưa của
Kokin Waka-shuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập) hay những câu văn đẹp đẽ với các hình
thức tu từ như engo, kakekotoba (phép dùng chữ gây liên tưởng và trò chơi chữ,
thường thấy trong thơ waka). Tất cả những câu hát du dương ấy đã làm sống lại
cái đẹp mộng huyễn của thời đại vương triều nghĩa là trước khi giới quân nhân mở
Mạc Phủ..
2) Kan-ami (Quan A Di)
Về cuộc đời hai soạn giả (lại vừa là diễn viên, nhạc sĩ, ca sĩ, vũ công) nổi tiếng thì
ta biết trước hết Kan.ami Jiyotsugu (1333-1384), nghệ danh là Kanze (dịch từ
pháp danh Kan.amidabutsu vì thời đó nghệ thuật tuồng có liên quan mật thiết với
tôn giáo) người cầm đầu rạpYuuzaki, và con trai ông, Zeami, được Tướng Quân
thứ 3 của Mạc Phủ Muromachi là Ashikaga Yoshimitsu [10] trọng vọng, giúp
phương tiện để phát triển nghệ thuật Nô thành một nghệ thuật tuồng đúng với
danh nghĩa của nó.
Kan-ami , dòng dõi họ Hattori ở Iga, gốc nghề ninja tức loại đặc công hay gián
điệp có vũ nghệ, sau làm con nuôi nhà hát xướng, theo đi diễn tuồng ở những buổi
lễ tiến cúng ở các đền chùa. Ông là tổ sáng lập trường phái Kan-ami. Ông biết kết
hợp những ưu thế của sarugaku là nhạc điệu và cách miêu tả nhân vật với ưu thế
của dengaku (bị xem như một trình độ nghệ thuật thấp kém hơn) là nhịp điệu. Ông
thêm vào sarugaku tính nghệ thuật và cái chất thanh bai mà nó hãy còn thiếu.
Bối cảnh thời đại của Kan.ami là giai đoạn chiến tranh được miêu tả trong tác
phẩm dã sử Taiheiki (Thái Bình Ký), trong đó có đủ mọi hạng người trong xã hội
xuất hiện, biên giới giữa giàu sang bần tiện như bị xóa bỏ. Tương quan xã hội thời

đó hãy còn phức tạp chứ chưa gom lại trong 6 giai cấp (sĩ, nông, công thương, uế
đa, phi nhân) như dưới thời Tokugawa về sau. Hai giai cấp sau cùng ( uế đa = eta
và phi nhân = hinin) là những kẻ làm nghề ô uế như giết súc vật, giải tù, đao phủ,
ăn mày ăn nhặt, chôn người chết tức là hạng tiện dân trong xã hội. Mâu thuẫn
phức tạp đó đã làm phong phú cho tuồng Nô, một loại nghệ thuật muốn nói lên
ước vọng hòa bình trong quan hệ giữa người với người.
Kan.ami đã để lại các bản tuồng Jinen Koji (Tự Nhiên Cư Sĩ), Kayoi Komachi
(Thông Tiểu Đinh-Nàng Komachi đi qua đi lại) và Sotoba Komachi (Tốt Đô Ba
Tiểu Đinh - Cái tháp cúng dường nàng Komachi [11]). Hai vở sau đều nói về ngày
tàn của nàng Ono no Komachi, một chủ đề rất phổ biến của tuồng Nô..
- Jinen Koji (Tự Nhiên Cư Sĩ):
Thầy tăng thuyết giáo Jinen Koji trụ trì ở chùa Ungoji, Kyoto. Có cô gái nhỏ đem
dâng thầy tấm áo mặc cho mát để xin cầu siêu cho cha mẹ. Thực ra, để có tấm áo
làm lễ ra mắt, cô đã bán mình cho bọn buôn người. Biết được chuyện đó, thầy bỏ
chuyến vân du, xuống bến sông, trả áo cho bọn buôn người để giải thoát cho cô
gái có hiếu. Bọn buôn người hành hạ, bắt thầy múa hát đủ trò nhưng thầy vẫn kiên
nhẫn nghe theo để đạt mục đích là đem cô gái trở về.
- Kayoi Komachi (Thông Tiểu Đinh = Nàng Komachi Đi Qua Đi Lại):
Có thầy tăng ngụ trong thảo am vùng núi Yamashiro, mỗi ngày thấy một người
con gái lạ gánh củi và quả rừng " đi qua đi lại ".Thầy mới đón đường hỏi thì nàng
ta cho biết mình người vùng Ichihara, tên là Komachi, sau nói lí nhí... rồi biến
mất.Thầy tăng xem lời ăn tiếng nói mới suy ra nàng là hồn ma của nhà thơ nữ đầu
thời Heian (794-1185) tên là Ono no Komachi (Tiểu Dã,Tiểu Đinh), một mỹ nhân
có một cuộc đời tình ái sóng gió và rất ác với đàn ông. Thầy bèn tụng kinh cầu
siêu cho nàng. Nàng hiện ra xin qui y nhưng sau lưng nàng, vẫn thấy vong linh
ông tướng Fukakusa, một người ngày xưa (tin lời nàng hứa sẽ đáp lại tình yêu nếu

