Tác dng chữa bệnh từ củ nghệ
vàng
Không chtốt trong trị bỏng, làm lin sẹo, củ nghệ vàng còn chữa viêm đường mật,
đái ra máu nhất là an thai khi ph nữ thai bị ra máu, đau bụng.
Cnghệ vàng còn các tên gọi như khương hoàng, uất kim… Theo y học cổ truyền,
khương hoàng (thân rcủ nghệ) vị cay, đắng, tính bình m, can, tỳ, tác dụng hành
khí, hoạt huyết, làm tan máu và giảm đau, bụng trướng đầy, cánh tay đau, bế kinh, sau
đẻ đau bụng do ứ trệ, vấp ngã, chấn thương, ung thũng…
Trong nhân dân, nghệ dùng bôi lên các mụn nhọt sắp khỏi để mụn mau liền miệng, lên da
non và không để lại sẹo xấu.
Mới đây, các nhà khoa học nghiên cứu và xác định được nghệ còn có tác dụng hưng phấn
và co bóp tcung; chống viêm loét ddày do c dụng tăng bài tiết chất nhày mucin; li
mật, thông mật, kích thích tế bào gan và co bóp túi mật; làm gim lượng cholesterol trong
máu; tác dụng kháng sinh ctrên vi khun gram (+); c dụng kháng vm tương đương
hydrocortison và phenylbutazon. Tác dụng giảm tỷ lệ mắc ung thư như ung thư vú, tuyền
tiền liệt, phổi và ruột kết nếu chế độ dinh dưỡng có nhiều chất nghệ.
Chữa bỏng nhẹ, thông thường: Lá chè tươi 100g, nghệ vàng 50g, đem lá chè tươi rửa
sạch bằng nước đun sôi để nguội rồi vò lấy nưc đặc. Củ nghệ rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy
nước. Trộn lẫn hai thứ với nhau thành một dung dịch sền sệt, chấm thuốc bôi nhẹ lên ch
da bbỏng. Cứ bôi từng lượt như vậy cho đến khi chỗ bỏng hết đau rát, lấy gạc sạch che
vết bỏng lại. Những ngày sau, bôi thuốc mỗi ngày 2 – 3 lần. Nếu vết bỏng nhẹ, chỉ 2 – 3
ngày chỗ bị bỏng sẽ tróc vảy, lên da non. Lấy nghệ tươi chấm vào chỗ da non để tránh
sẹo.
Phòng và chữa các bệnh sau khi đẻ: Dùng một củ nghệ nước, nhai ăn, uống với rượu
hay đồng tiện (nước tiểu trẻ em khoẻ mạnh). Chữa sau khi đẻ, máu xấu xông lên tim:
Dùng nghệ đốt tồn tính, tán bột, uống 2 đồng cân (8g với giấm).
Chữa đau vai gáy: Khương hoàng, cam thảo, khương hoạt đều 1 lạng, thêm bạch truật 2
lạng. Tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 lạng sắc nước uống.
Chữa bệnh phụ nữ có thai bị ra máu, đau bụng (dọa sẩy thai): Khương hoàng, đương
quy, thục địa, lá ngải cứu sao qua, lộc giác giao (sừng hươu) mỗi vị 1 lạng sao khô vàng.
Tất cả các vị trên đem tán nhỏ, mỗi lần uống 4 đồng cân, thêm gừng tươi nửa phân, táo 3
quả, sắc với nước, bỏ bã uống trước bữa ăn khi uống thuốc còn ấm.