intTypePromotion=1

Tài liệu Đánh giá hiện trạng, xác định các vùng có nguy cơ bồi tụ và xói lở bờ biển cửa sông về khu vực nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng chống

Chia sẻ: Smith Sam | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:9

0
71
lượt xem
5
download

Tài liệu Đánh giá hiện trạng, xác định các vùng có nguy cơ bồi tụ và xói lở bờ biển cửa sông về khu vực nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng chống

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu Đánh giá hiện trạng, xác định các vùng có nguy cơ bồi tụ và xói lở bờ biển cửa sông về khu vực nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng chống được biên soạn với các nội dung: Mở đầu; hiện trạng bồi tụ - xói lở cửa sông, bờ biển; nguyên nhân – các yếu tố ảnh hưởng; giải pháp phòng tránh; kết luận. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tài liệu Đánh giá hiện trạng, xác định các vùng có nguy cơ bồi tụ và xói lở bờ biển cửa sông về khu vực nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng chống

  1. Tài liệu Đánh giá hiện trạng , xác định các vùng có nguy cơ bồi tụ và xói lở bờ biển cửa sông về khu vực nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng chống I. Mở đầu       Thiên nhiên đã dành cho nước ta một ưu đãi rất lớn về biển , với đường  bờ biển dài trên 3260km và gần 300 hòn đảo lớn nhỏ đã đưa nước ta trở  thành nước có tiềm năng to lớn về kinh tế biển . vùng ven biển nước ta có  nhiều cửa sông đổ ra biển mang theo một nguồn dinh dưởng khổng lồ từ lục  địa nên nguồn lợi thuỷ hải sản rất phong phú và đa dạng với nhiều loại quý  hiểm có giá trị kinh tế cao . Bên cạnh đó , do địa hình bị chia cắt mạnh bởi  những dãy núi chạy sát ra tận biển đã tạo cho bờ biển nước ta có nhiều danh  lam thắng cảnh đẹp với những bãi cát dài, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình là  điều kiện lý tưởng cho du lịch và an dưỡng nghỉ mát . Tuy nhiên , bên cạnh  những tiềm năng to lớn mà thiên nhiên bạn tặng đó , hàng năm vùng ven biển  nước ta luôn phải hứng chịu nhiều thiên tai như bão , áp thấp nhiệt đới , gió  mùa , triều cường , nước dâng ... , gây xói lỡ bờ , bồi lấp cửa sông , phá huỷ  nhiều công trình dân sinh kinh tế ven bờ , phá vở cấu trúc hệ sinh thái ven  biển , gây không ít khó khăn cho các hoạt động sản xuất , an ninh quốc phòng  , phát triển kinh tế của đát nước và đời sống của những người dân ven biển .  Trong những năm gần đây các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng  dữ dội với xu hướng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ , cùng với việc  khai thác tài nguyên của con người trên các lưu vực sông tăng mạnh nên 
  2. hượng tượng xói lỡ ­ bồi  tụ ở nhiều ven biển cửa  sông nước ta đang ở mức  báo động      Bờ biển Thừa Thiên  Huế được cấu thành bởi  đá cứng có tỉ lệ chiều dài  nhỏ . Mặc dầu các điều  kiện tự nhiên ở khu vực  rất tối ưu cho quá trình  xâm thực  phá huỷ của  sóng , nhưng do đặc tính  của đá nên nhìn chung  tốc độ mài mòn phá huỷ  của sóng đối với bờ  không đáng kể , bờ biển  biến đổi chậm . Trái ngược với diện phân bố hẹp của bờ đá cứng thì bờ cấu  thành bởi vật liệu cát bở rời chiếm hầu hết chiều dài đường bờ và cùng là  khu vực dể bị biến đổi nhất      Trong những năm qua, bằng nhiều nguồn lực khác nhau tỉnh Thừa Thừa  Thiên Huế đã và đang triển khai chương trình nâng cấp hệ thống đê ven biển  và các công trình chống sạt lở bờ sông và bờ biển nhằm phòng chống thiên tai  thích ứng với biến đổi khí hậu góp phần phát triển kinh kế ­ xã hội của tỉnh  một cách bền vững và phấn đấu sớm đạt mục tiêu xây dựng tỉnh Thừa Thiên  Huế thành thành phố trực thuộc trung ương.  II. Hiện trạng bồi tụ - xói lở cửa sông , bờ biển
  3. 1. Hiện trạng xói lở Thừa Thiên Huế có đường bờ biển dài 127km. Hiện nay hiện nay tình trạng  sạt lở bờ biển và bờ sông ngày càng gia tăng, thường xuyên và phức tạp, đặc  biệt tại khu vực vùng biển Thuận An ­ Hòa Duân và cửa Tư Hiền. Do chịu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu,  ảnh hưởng của nước biển  dâng, tình hình bão và áp thấp nhiệt đới diễn biến bất thường đã làm bờ biển   Thừa Thiên Huế  thường xuyên bị  sạt lở. Hiện nay, có hơn 30km trong tổng  số 127km bờ biển bị sạt lở tập trung ở các khu vực: Phong Hải­ huyện Phong   Điền; Quảng Công, Quảng Ngạn­ huyện Quảng Điền; Hải Dương­ huyện  Hương Trà; Thị  trấn Thuận An, Phú Thuận, Phú Hải, Phú Diên­ huyện Phú  Vang; Vinh Hải và Vinh Hiền­ huyện Phú Lộc. Đặc biệt, gây xói lở hai cửa   biển Thuận An và Tư Hiền gây nguy cơ mất ổn định tự  nhiên khu vực đầm  phá Tam Giang­ Cầu Hai, đe dọa đến tính mạng và tài sản của hơn 1000 hộ  dân cũng như cơ sở hạ tầng, kinh tế­ xã hội khu vực ven biển của tỉnh. 2. Hiện trạng bồi tụ Sự biến đổi bờ biển do bồi tụ ở Thừa Thiên Huế thường xảy ra rất hạn chế  cả về không gian và thời gian. Mặc dù sự biến đổi bờ biển do bồi tụ hạn chế   như vậy nhưng tác nhân tạo bồi tụ rất phức tạp.  III. Nguyên nhân – các yếu tố ảnh hưởng
  4. a) Sóng Năng lượng của sóng rất lớn (độ cao sóng lớn, hướng sóng ưu thế vuông góc   với bờ, có độ  dốc tương đối lớn và đáy biển ven bờ  sâu) lên bờ  có cấu tạo   vật chất dễ  phá hủy và vận chuyển; sự  thiếu hụt vật chất của đới ven bờ  làm tăng cường xâm thực của sóng (mất mát vật chất do dòng di chuyển  ngang của sóng đưa ra sườn bờ  ngầm vào bão lũ, các hoạt động của con  người ven bờ và trên sông ngòi, đầm phá nguyên nhân trực tiếp làm sạt lỡ bờ biển là áp lực sóng lớn trong bão và gió  mùa đông bắc. Sóng có vai trò chính gây sạt lỡ bờ và khuấy đục bùn cát đáy  và vận chuyển dọc bờ và ra khỏi khu bờĐường biên xói sạt và xói mòn đáy ở  độ sâu 4­5m.  b) Dãy bùn cát Cơ chế vận chuyển bùn cát gây thiếu hụt bồi tích dẫn đến xói sạt bờ biển từ  Hải Dương đến Hòa Duân được thể  hiện như  sau: Dòng bùn cát dọc bờ  do  sóng vỡ có lưu lượng không lớn, cân bằng âm đi về phía đông nam gây thiếu   hụt khoảng 45.245m3/năm. Tổng lượng bùn cát thiếu hụt trung bình năm của 
  5. khu bờ là 290.755m3/năm đã gây sạt lỡ nghiêm trọng tại bờ biển Hải Dương  ­Thuận An. Hiện tượng bồi tụ sạt lở bờ biển  ở TT­H diễn ra thường xuyên  và phức tạp. Gần đây sạt lở  xảy ra  ở  những nơi được cho là  ổn định như  thôn Tân Lập, xã Quảng Công, huyện Quảng Điền. Theo kết quả  phân tích  từ  nguồn tư  liệu viễn thám của viện tài nguyên môi trường biển cho thấy:  Các pha bồi xói diễn ra luân phiên. Trong giai đoạn 1983­1991 xói lở  chiếm  ưu thế,giai đoạn 1991­1997, bồi tụ  lại chiếm  ưu thế. Tiếp  đến giai đoạn   1997­2002 xói lở  lại chiếm  ưu thế, nhưng đến giai đoạn 2002­2005 xói lở  chiếm ưu thế về chiều dài nhưng cân bằng về diện tích với bồi tụ. Các đoạn   bờ  trong khu vực bồi xói diễn ra đan xen nhau, đoạn bờ  này bị  bồi xói thì  đoạn bờ kia tiếp rheo sẽ được bồi tụ và ngược lại. Điều này cho thấy nguồn  bùn cát được lấy đi ở đoạn bờ này sẽ tích tụ tại đoạn bờ khác, không đi khỏi   khu vực. c) Địa chất các loại đá có tính chất địa chất công trình khác nhau (mài mòn xảy ra  ở  bờ  cấu thành bởi đá cứng, còn xói lở   ở  bờ  cấu thành bởi vật chất bở  rời).  Ở  Thừa Thiên Huế bờ biển cấu thành bởi đá cứng có tỷ lệ chiều dài nhỏ (đoạn  bờ  biển ban zan phía bắc cửa Tùng và  đoạn bờ  biển granit phía Nam Thừa   Thiên Huế). Mặc dầu các điều kiện tự  nhiên  ở  khu vực rất tối  ưu cho quá  trình xâm thực phá hủy của sóng, nhưng do đặc tính của đá nên nhìn chung  tốc độ  mài mòn phá hủy của sóng đối với bờ  không đáng kể, bờ  biển biến   đổi chậm. Trái ngược với diện phân bố hẹp của bờ đá cứng thì bờ cấu thành  bởi vật liệu cát bở  rời   (thành tạo vật chất dễ  bị  xâm thực phá hủy, vận  chuyển và bồi lắng) chiếm hầu hết chiều dài đường bờ  và cũng là khu vực  bờ dễ bị biến đổi nhất IV. Các vùng có nguy cơ cao Những khu vực xâm thực, xói lở  nhanh và mạnh bao gồm các đoạn bờ  như:  Phú Thuận, Phú Diên, Hải Dương, Điền Hòa, Vinh Hải (Thừa Thiên Huế).  Tại các đoạn bờ biển này tốc độ xói lở trung bình từ 15­20 m/năm, có nhiều  nơi đạt trên 100m/ năm. Sự  vượt trội về  tốc độ  xói lở   ở  các khu vực này 
  6. được quyết định bởi sự hội tụ nhiều điều kiện làm tăng cường xâm thực, phá   hủy của tác nhân sóng Sự  xâm thực xói lở  bờ  biển  ở  đây qua nghiên cứu cho thấy chỉ  xảy ra chủ  yếu và mạnh nhất vào mùa thu đông, cực đại là vào từ tháng X đến tháng XI.  Sự  vượt trội về  cường độ  và tốc độ  xói lở  bờ  biển vào thời kỳ  này được  quyết định bởi độ  lớn của sóng (trung bình độ  cao sóng vào mùa này là 0,8 ­  1,3m còn mùa hè, độ  cao trung bình sóng chỉ  0,3­ 0,6m), hướng sóng Đông  Bắc chiếm tần suất rất lớn.   Ngoài ra, còn có sự  tác động tăng cường của  nước dâng do bão lũ. V. Giải pháp phòng tránh 1) Giải pháp chống xói lở bờ sông a. Giải pháp công trình. Trong những năm qua tỉnh Thừa Thiên Huế đã đầu tư xây dựng trên  73 công trình phòng, chống sạt lở, với tổng chiều dài hơn 58.089m  để bảo vệ bờ sông chủ yếu là kè mái nghiêng có kết cấu đá xây, bê  tông lắp ghép, đá đổ hoặc đá lát khan, trồng cỏ b. Giải pháp phi công trình: - Tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành luật đê điều. - Di dời các hộ dân ra khỏi vùng sạt lở, để tạo hành lang an toàn và hành lang thoát lũ. - Quy hoạch khai thác vật liệu khoáng sản và khai thác cát sạn. - Quy hoạch chi tiết hành lang bảo vệ bờ…..
  7. 2) Giải pháp chống xói lở bờ biển  a. Giải pháp công trình Giải pháp thực hiện chương trình phải đồng bộ, có cơ sở khoa học, kết  hợp chặt chẽ giữa giải pháp công trình và phi công trình, gắn với quy  hoạch sắp xếp lại dân cư ven biển. Nhất là phải chú trọng giải pháp phi  công trình như trồng cây chắn sóng, tạo bãi bồi, bão tồn các khu cồn cát tự  nhiên, dãy cát ven biển hiện có, quản lý và bão vệ công trình sau đầu tư.  + Chỉnh trị luồng lạch cảng Thuận An giai đoạn I:  ­Xây dựng kè chắn cát bờ phía bắc cửa Thuận An dài 642m liên kết  với đê ngầm dài 200m và đê chắn sóng dài 415m  ­Xây dựng kè chắn cát bờ nam cửa Thuận An dài 325m + Xử lý sạt lở bờ biể bằng công nghệ Stabiplage giai đoạn I với chiều  dài 500 m bằng 6 mỏ hàn mềm công nghệ Stabiplage
  8. b. Giải pháp phi công trình:  Trồng cây chắn cát bay, cát lắp. Di dời sơ tán dân, tái định cư. Tuyên  truyền nâng cao nhận thức cộng đồng. Theo dõi quan trắc thường  xuyên diễn biến xói lở , bồi tụ Xây dựng chương trình nghiên cứu tổng  thể tác động lưu vực sông Hương với hệ thống đầm phá trong chiến  lượng phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững . VI. Kết luận  Thừa Thiên Huế  tồn tại 4 loại biến đổi bờ  biển theo nguyên nhân và quá  trình chủ yếu: biến đổi do xâm thực phá hủy trong đó xâm thực xói lở chiếm  ưu thế; biến đổi do bồi tụ; biến đổi do dịch chuyển, xâm thực, bồi tụ  vùng   cửa sông và biến đổi do mở  đóng cửa trên bờ  đầm phá. Trong 4 loại đó thì  loại biến đổi do xâm thực phá hủy đóng vai trò chủ  đạo. Sự  biến đổi bờ  biển nhanh chóng, phức tạp và chủ  yếu theo hướng xâm thực phá hủy đang  là nguy cơ đe dọa đến sự phát triển kinh tế bền vững vùng ven biển của hai 
  9. tỉnh này. Từ thực trạng biến đổi bờ biển như vậy, yêu cầu đặt ra là trong quá  trình khai thác phát triển kinh tế  ­ xã hội vùng ven biển vừa phải một mặt   hướng các hoạt động kinh tế ­ xã hội theo xu thế làm ổn định đường bờ, vừa   phải nắm vững chi tiết bản chất từng loại biến đổi bờ  biển trên từng đoạn   bờ cụ thể để có các dự án phát triển kinh tế ­ xã hội thích hợp. Cần tổng kết lại các đề tài, nghiên cứu đã có, cũng như  có những nghiên cứu  cụ thể hơn cho toàn dải bờ biển. Trên cơ sở đó đưa ra được các giải pháp để  bảo vệ  bờ  biển, nhất là trong điều kiện hiện nay  ảnh hưởng của biến đổi   khí hậu đang là vấn đề phức tạp và rất bức xúc Nguồn : Internet

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản