
TÁI PHÁT LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG Ở BUỒNG TRỨNG
SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI BÓC NANG
TÓM TẮT
Mục tiêu: khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự tái phát LNMTC ở buồng
trứng sau phẫu thuật nội soi bóc nang.
Phương pháp: nghiên cứu bệnh-chứng. Tiến hành trên những bệnh nhân
đã phẫu thuật nội soi bóc nang LNMTC ở buồng trứng lần đầu, được thực hiện ở
bệnh viện Từ Dũ từ năm 2002 đến năm 2006. Nghiên cứu bao gồm 60 trường hợp
thuộc nhóm bệnh và 70 trường hợp thuộc nhóm chứng.
Kết quả: Kích thước nang lớn nhất càng lớn thì tỉ lệ tái phát càng cao (OR
= 1,82, 95% khoảng tin cậy = 1,34-2,49 và p= 0,00). Bệnh nhân có thai sau mổ
làm giảm thấp tỉ lệ tái phát bệnh (OR = 0,21, 95% khoảng tin cậy = 0,03-0,45 và p
= 0,021).
Kết luận: Kích thước nang lớn nhất ảnh hưởng khả năng tái phát bệnh.
Mang thai sau mổ là yếu tố tiên lượng tốt.
ABSTRACT
Objective: To survey risk factors that influence the recurrence of ovarian
endometrioma after laparoscopy exision.

Methods: Case-Control study. Eligible for the study were all women
observed the first laparoscopic ovarian endometrioma excision during the period
2002-2006, at Từ Dũ hospital. The study includes 60 cases and 70 controls.
Results: Diameter of the largest cyst is larger, the recurrence of
endometrioma rate is higher (OR = 1,82, 95% CI: 1,34-2,49 and p = 0,000). Post-
operative pregnancy was associated with lower recurrence of endometrioma rate
(OR = 0,21, 95% CI: 0,03-0,45 and p= 0,021).
Conclusion: The largest cyst is a significant factor that is associated with
higher recurrence of the disease. Post-operative pregnancy is a favourable
prognostic factor.
LNMTC là một trong những bệnh lý lành tính thường gặp trong phụ khoa
chiếm tỉ lệ từ 3-45%. Tổn thương ở buồng trứng dưới dạng nang LNMTC là một
trong ba biểu hiện thường gặp của bệnh lý này. Hiện nay, phẫu thuật là phương pháp
điều trị được lựa chọn nhiều nhất vì điều trị nội đơn thuần không đủ hiệu quả. Theo
nhiều nghiên cứu, phẫu thuật nội soi cải thiện khả năng có thai cũng như tỉ lệ tái phát
sau mổ tốt hơn mổ mở 4 ,6. Do đó, hiện nay phương pháp điều trị tốt nhất đối với nang
LNMTC ở buồng trứng là nội soi bóc nang.
Tái phát bệnh sau phẫu thuật nội soi bóc nang là một trong những vấn đề
đáng ngại nhất của việc điều trị 4. Nếu có những thông tin về các yếu tố liên quan
đến sự tái phát LNMTC ở buồng trứng như: thời điểm phẫu thuật, phương pháp

phẫu thuật, kế hoạch điều trị trước và sau phẫu thuật... thì chúng ta sẽ có kế hoạch
cụ thể trên những bệnh nhân có nguy cơ cao.
Tuy nhiên, trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu phân tích các yếu tố tác
động đến sự tái phát LNMTC sau nội soi bóc nang. Hầu hết các nghiên cứu đánh
giá sự ảnh hưởng của từng yếu tố như: hiệu quả điều trị nội trước hoặc sau phẫu
thuật 8,12, các phương pháp trong mổ nội soi LNMTC 9 , vị trí giải phẫu của
LNMTC 7. Và hiện nay, ở trong nước vẫn chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.
Vì thế, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu đánh giá tái phát LNMTC ở
buồng trứng sau phẫu thuật nội soi bóc nang để khảo sát các yếu tố tác động đến
sự tái phát.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu bệnh-chứng trên các đối tượng là những bệnh nhân được phẫu
thuật nội soi bóc nang LNMTC ở buồng trứng lần đầu, có xác định bằng kết quả
giải phẫu bệnh lý, tại bệnh viện Từ Dũ từ năm 2002 đến 2006. Nhóm bệnh là
những bệnh nhân được phẫu thuật lần 2 vì nang LNMTC ở buồng trứng có kết quả
giải phẫu bệnh lý. Nhóm chứng là những người phẫu thuật cùng thời điểm với
nhóm bệnh, được mời trở lại tái khám và thỏa mãn các tiêu chuẩn không tái phát
LNMTC: (1) không tái phát triệu chứng đau vùng chậu, (2) không dấu hiệu
LNMTC khi khám lâm sàng, (3) siêu âm không phát hiện nang ở buồng trứng.
Bảng câu hỏi bao gồm các đặc điểm trước và sau phẫu thuật: chu kỳ kinh
nguyệt, có thai, các triệu chứng cơ năng và thực thể, điều trị nội khoa, phân độ

AFS, thời gian và phương pháp phẫu thuật. Bảng câu hỏi được phỏng vấn trên
nhóm bệnh và nhóm chứng bởi 2 bác sĩ hoàn toàn không biết gì về mục đích
nghiên cứu, thực hiện tại bệnh viện Từ Dũ.
Kết quả nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS 11.05. Tần suất (%)
và trị số trung bình (hay trung vị) được tính tùy theo biến số phân loại hay liên tục.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tái phát LNMTC được đánh giá bằng phân tích hồi qui
đa biến số để khống chế các yếu tố gây nhiễu.
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ tháng 1/2006 đến tháng 11/2006, nghiên cứu trên các bệnh
nhân đã được phẫu thuật lần 1 vì LNMTC ở buồng trứng tại bệnh viện Từ Dũ, chúng
tôi thu thập được 130 trường hợp bao gồm 60 trường hợp tái phát LNMTC và 70
trường hợp không tái phát. Đặc điểm của dân số nghiên cứu được trình bày trong
bảng 1.
Bảng 1: Đặc điểm của dân số nghiên cứu
B
ệnh
(%) n=60
Chứ
ng
(%) n=70
P
T
ỉ số
chênh
(KTC=95%)
TB 35,48
34,16 Tuổi
(năm)
TV 35,50
33
0,167* 1,55
(0,82-

B
ệnh
(%) n=60
Chứ
ng
(%) n=70
P
T
ỉ số
chênh
(KTC=95%)
ĐLC 4,3 6,4 2,92)*
1 bên
40
(66,7)
46
(65,7)
Vị trí
2 bên
20
(33,3)
24
(34,3)
0,909
0,96
(0,48-
1,99)
TB 70,12
55,76
TV 71 56
Kích
thư
ớc nang
lớn nhất
(mm)
ĐLC 16,1 13,1
0,000#
1,98
(1,48-
2,64)#
1 năm
1
(1,7)
2 năm
10
(16,7)
16
(22,9)
1
Thời
gian theo dõi
3 năm
22 17 0,156 2,07

