VIÊM DẠ DÀY
Th.s Nguyễn văn Thái
NỘI DUNG
Thuật ngữ bệnh dạ dày dùng để chỉ tình trạng tổn thương biểu mà
không có viêm, còn viêm ddày dùng để chỉ những tình trạng viêm có bng chứng
vbệnh học. Trong thực hành m ng, thuật ngữ viêm ddày được áp dụng
phbiến cho 3 trường hợp sau: (1) viêm trợt và chảy máu dạ dày (Bệnh dạ dày);
(2) viêm không trợt và không chuyên biệt (về mô học); (3) viêm dạ dày thật sự với
hình ảnh rõ ràng về nội soi và mô học.
1.“VIÊM DẠ DÀY” TRỢT VÀ CHẢY MÁU
1.1. Những yếu tố cần thiết cho chẩn đoán
*Gặp phổ biến các bệnh nhân uống rượu, bệnh nặng, hoặc những bệnh
nhân dùng NSAIDs.
*Thường không có triệu chứng; có thể có đau thượng vvà nôn ói.
*Có thgây ra ói máu; thường là chảy máu không đáng kể.
1.2. Những điểm cần c ý.
Những nguyên nhân thường gặp của bệnh dạ dày trt là thuốc (đặc biệt
NSAIDs), rượu, stress, do bệnh nội khoa hoặc bệnh phải phẫu thuật nặng, và do
tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Những nguyên nhân không phổ biến bao gồm uống các
chất ăn mòn và chất phóng xạ. Bệnh dạ dày trợt và chảy máu được chẩn đoán bằng
nội soi, thường được chỉ định do bệnh nhân bị rối loạn tiêu hhoặc chảy máu
tiêu hoá trên. Những dấu hiệu nội soi bao gồm chảy máu trên bmặt niêm mạc,
chấm xuất huyết và những vết trt. Những tổn thương y thường nông, nhiều
kích thước khác nhau, thể khu trú hoặc lan toả. Thường không dấu hiệu
viêm rkhi làm xét nghiệm vmô bệnh học.
1.3. Các biểu hiện lâm sàng và cn lâm sàng.
1.3.1. Những dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng
Bệnh dạ dày trt thường không triệu chứng. Những triệu chứng nếu
bao gồm chán ăn, đau thượng vị và nôn ói. Các triệu chứng y thường không
tương quan với số lượng cũng như mức độ bất thường trên nội soi. Biểu hiện m
sàng thường gặp của viêm trợt dạ dày là chảy máu tiêu hoá trên, với triệu chứng ói
ra máu hoặc đi tiêu ra máu như bả cà phê, hoặc đặt sonde dạ dày hút có máu, hoặc
tiêu phân đen. Do viêm trợt thường là nông, vậy chảy máu ít khi m thay đổi
huyết động.
1.3.2. Xét nghiệm máu
Thường không chuyên biệt, hồng cầu dung ch thấp nếu chảy máu nhiều,
có thcó thiếu sắt.
1.3.3. Nội soi
Nội soi tiêu hoá trên phương pháp tốt nhất để chẩn đoán. Mặt dù chảy
máu do vm ddày thường không nhiều, tuy nhiên không thdựa vào m sàng
để phân biệt với các tổn thương nặng hơn như loét dạ dày tràng hoặc dãn v
tĩnh mạch thực quản. Vì vậy, nội soi nên thực hiện trong vòng 24 giđầu chảy
máu tiêu hoá trên để xác định nguyên nhân chảy máu.
1.4. Chẩn đoán phân biệt
Đau thượng vị thể do loét ddày tràng, trào ngược dạ dày thực quản,
ung thư dạ dày, bệnh đường mật, ngộ độc thức ăn, viêm ddày ruột do virus, và
rối loạn chức năng dạ dày. Trong những trường hợp đau nặng, nên chú ý loét
thủng hoặc thủng bịt, bệnh lý tuỵ, v thực quản, vở phình động mạch chủ, xoắn dạ
dày và đau do nhồi máu cơ tim.
Những nguyên nhân chảy máu tiêu hoá trên bao gm loét dạ dày tràng,
vở dãn tĩnh mạch thực quản, rách Mallory-Weiss, và các dị dạng động tĩnh mạch.
1.5. Điều trị chuyên biệt theo nguyên nhân
1.5.1. Viêm ddày do stress
1.5.1.1 Phòng ngừa
Những vết trợt niêm mạc và chảy máu dưới biểu do stress phát triển
trong vòng 72 gichủ yếu những bệnh nhân bệnh nặng. Chảy máu biểu hiện rõ
trên lâm sàng xy ra trong 6% các trường hợp, chảy máu nặng ít n 3%. Chảy
máu làm tăng nguy cơ tử vong cho bệnh nhân nhưng ít khi chảy máu làm cho bệnh
nhân chết. Những yếu tố nguy cơ chính bao gồm thở máy, rối loạn đông u,
chấn thương, bỏng, shock, nhiễm trùng huyết, tổn thương mạch máu não, suy gan,
suy thận và suy đa quan. Nuôi dưỡng qua đường tiêu hoá m gim nguy
chảy máu do stress.
Phòng ngừa bằng các thuốc kháng thụ thể H2 hoặc sucralfate cho những
bệnh nhân bệnh nặng cho thấy làm giảm tần suất chảy máu biểu lộ rỏ trên lâm
sàng đến 50% trường hợp. Phòng ngừa nên thực hiện thường quy đối vi các bệnh
nhân nặng nhập viện những yếu tố nguy cơ chảy máu rõ. Hai trong những yếu
tnguy chảy máu rõ nhất là suy hấp phải thở máy trong vòng 24 givà ri
loạn đông máu. Nếu không có sự hiện diện của 2 yếu tnguy này thì kh năng
chảy máu chỉ chiếm 0.1% các trường hợp.
Truyền tĩnh mạch thuốc kháng thụ thể H2 với liều đủ duy trì pH trong lòng
ddày trên 4 được khuyến cáo cho những bệnh nhân yếu tố nguy cơ chảy máu
niêm mạc do stress. Cimetidine (900-1200 mg), ranitidine (150mg), hoặc
famotidine (20mg) truyền tĩnh mạch liên tục trong 24 giờ là đủ kiểm soát pH ở hầu
hết bệnh nhân. Sau 4 giờ truyền tĩnh mạch, pH nên được kiểm tra bằng cách hút
dịch dạ dày qua sonde s tăng liều gấp đôi nếu như pH vẫn còn dưới 4.
Sucralfate nên sdụng cho những bệnh nhân không dung nạp với thuốc kng thụ
thể H2.
Sucralfate dạng lỏng (1g uống mỗi 4-6 giờ) cũng hiệu quả phòng ngừa
chảy máu do stress, và ít bviêm phổi nhiễm trùng bệnh viện hơn nếu so vi thuốc
kháng ththể H2. Tuy nhiên, một tần suất cao hơn về chảy máu tiêu hoá trên
nhóm dùng sucralfate (4%) so với nhóm sử dụng thuốc kháng thụ thể H2 (2%)
các nghiên cứu gần đây lại không cho thấy skhác biệt về viêm phổi nhiễm trùng
bệnh viện. hầu hết các khoa ICU người ta thích tiêm tĩnh mạch các thuốc kháng
thụ thể H2 hơn vì nó dsử dụng.
Tiêm tĩnh mạch các thuốc ức chế bơm proton thể tốt hơn thuốc kháng
ththể H2 trong việc duy trì pH trên 4. Chúng được sử dụng ngày càng nhiều tại
các khoa ICU đphòng nga chảy máu do stress dù không bằng chứng nào v
stốt hơn so với những tác nhân ít mắc tiền. Các thuốc ức chế bơm proton dạng
uống không được dùng tại các khoa ICU để phòng ngừa bởi vì người ta không biết
được sự hấp thu cũng như sinh khả dụng của chúng trong các trường hợp này.
1.5.1.2. Điều trị
Khi chảy máu xảy ra, bệnh nhân nên được truyền tĩnh mạch liên tục thuốc
kháng ththể H2 hoặc thuốc ức chế bơm proton (pantoprazole 80mg tiêm tĩnh
mạch, sau đó truyền tĩnh mạch duy tri liều 8mg/giờ) dung dịch sucralfate. Do
chảy máu thường lan toả, vì vậy cầm máu qua nội soi thường không hữu ích. Tuy
nhiên, nội soi thường được thực hiện những bệnh nhân như vậy để tìm những
nguyên nhân xuất huyết tiêu hoá trên khác có thđiều trị. những bệnh nhân