intTypePromotion=1
ADSENSE

Án lệ ở Cộng hoà Pháp

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

15
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Án lệ (Jurisprudence) được hiểu là bản án đã tuyên hoặc sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như tiền lệ làm cơ sở để các thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự. Án lệ góp phần tích cực vào việc bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm công bằng, công lý, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau. Bài viết tổng quan về án lệ ở quốc gia này trên các phương diện vị trí, khái niệm, chức năng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Án lệ ở Cộng hoà Pháp

  1. ÁN LỆ Ở CỘNG HOÀ PHÁP NCS.ThS. Trần Nguyễn Quang Hạ Trường ĐH Nguyễn Tất Thành ThS. Hồ Trần Bảo Trâm Tóm tắt Án lệ (Jurisprudence) được hiểu là bản án đã tuyên hoặc sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như tiền lệ làm cơ sở để các thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự. Án lệ góp phần tích cực vào việc bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm công bằng, công lý, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau. Tuy nhiên, khác với các quốc gia theo hệ thống Thông luật (Common Law), hệ thống pháp luật Dân luật (Civil Law) đề cao vai trò của luật thành văn cho nên việc công nhận quy chế nguồn luật của án lệ ở các quốc gia này vẫn còn tồn tại nhiều điều mới mẻ cần nghiên cứu. Điển hình là Cộng hòa Pháp - một trong số những quốc gia tiêu biểu trong hệ thống Dân luật. Việc nghiên cứu “Án lệ của Cộng hoà Pháp” sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về án lệ ở quốc gia này trên các phương diện vị trí, khái niệm, chức năng. Từ khoá: Án lệ, cộng hoà Pháp, hệ thống pháp luật dân sự. 1. MỞ ĐẦU Ngày càng nhiều nghiên cứu học thuyết của Pháp, kể từ thế kỷ XX, sử dụng khái niệm án lệ (jurisprudence) để mô tả việc tạo ra các quy phạm chung của các thẩm phán. Thoạt nhìn, khái niệm này được liên kết một cách tự nhiên với hệ thống Thông luật, trong đó các án lệ tư pháp có tính ràng buộc, dưới nguyên tắc stare decisis. Sự thay đổi thuật ngữ này không phải ngẫu nhiên mà là dấu hiệu cho thấy sự thay đổi mô hình trong quy chuẩn quyền lực của các thẩm phán ở Pháp. Mặc dù có thể sử dụng thuật ngữ “án lệ” ở Pháp, nó không phải là kết quả của sự du nhập của án lệ Thông luật, cũng không phải là kết quả của sự hoà trộn giữa Thông luật và Dân luật. Việc xây dựng hệ thống pháp luật của Pháp kể từ cuộc Cách mạng tư sản đã dẫn đến sự hiểu biết nhất định cả về án lệ và thẩm quyền của nó. Án lệ ở Pháp đã được phát triển thông qua văn hóa pháp lý “légicentriste” (tức là tập trung vào luật do Nghị viện ban hành), và đã được tiếp cận một cách có hệ thống thông qua các quy tắc khái niệm về nhận thức của luật. Theo đó, án lệ ở Pháp lần đầu tiên được coi là công thức trở thành tiêu chuẩn chung của một tòa án có thẩm quyền, giống như việc Nghị viện ban hành luật theo luật định. Từ quan niệm sơ khai về án lệ, tương tự như pháp luật, chúng ta dần dần chuyển sang quan niệm tự quản về án lệ, được coi như sự biện minh cho giải pháp đã chọn, làm nền tảng cho những trường hợp tương tự trong tương lai. 2. NỘI DUNG 2.1. Vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Cộng hoà Pháp. 45
  2. Khi bàn về án lệ ở Pháp nói riêng các nước Châu Âu lục địa nói chung, thì luôn có những quan điểm, tranh cãi khác nhau về án lệ. John Merryman đã đưa ra quan điểm từ nhiều năm trước rằng: “Học thuyết thông luật đã quá quen thuộc về stare decisis - tức là quyền lực và nghĩa vụ của tòa án trong việc đưa ra quyết định dựa trên các quyết định trước đó - rõ ràng là không phù hợp với sự phân tách quyền lực như được hình thành trong các quốc gia Dân luật, và do đó bị truyền thống Dân luật bác bỏ. Các quyết định tư pháp không phải là luật… Chức năng của thẩm phán trong truyền thống đó là giải thích và áp dụng ‘luật’ vì nó được xác định về mặt kỹ thuật trong phạm vi quyền hạn của mình”44. Truyền thống Dân luật, dẫn đầu bởi Pháp, quan niệm rằng án lệ không phải là một nguồn luật. Truyền thống thông luật coi đó là điều hiển nhiên rằng án lệ này được và cần được coi như một nguồn luật chính. Nhiều nghiên cứu về luật so sánh lặp lại những “lập trường khuôn mẫu - stereotypical positions” này. Điều này có thực sự có sự trái ngược trong các quy tắc và thực tiễn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau không?45 Ban đầu, các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa cho rằng các thẩm phán không nên tìm cách chiếm đoạt quyền làm luật - quyền lực chỉ thuộc về nhà lập pháp, đây là một chủ đề lặp đi lặp lại trong lịch sử ban đầu ở các nước này. Bên cạnh đó, có những lý do khác khiến cho hai yếu tố thiết yếu và đặc trưng (sự vắng mặt của một bộ luật thống nhất và lý thuyết về án lệ tư pháp) của hệ thống pháp luật Anh – Mỹ chưa được biết đến ở Pháp. Bởi vì, Pháp là một quốc gia nơi luật pháp hoàn chỉnh và thống nhất, và nơi thẩm quyền của vụ việc được quyết định chỉ giới hạn trong trường hợp cụ thể được giải quyết bằng phán quyết46. Các điều kiện thừa nhận án lệ dường như không không có chỗ đứng tại quốc gia này. Khi đề cập đến sự vắng mặt của án lệ ở Pháp thì không thể không nhắc đến các yếu tố lịch sử lập pháp ở quốc gia này. Đầu tiên là tầm quan trọng của bộ pháp điển hoá Napoléon. Việc pháp điển hóa này có tầm quan trọng và ảnh hưởng đáng kể: nó làm cho luật pháp Pháp có sự thống nhất, vốn không tồn tại vào năm 1800. Mặt khác, luật pháp của Napoléon đã phân loại lại tất cả các quy tắc pháp luật một cách rõ ràng là dứt khoát; và nó đã thành công nổi tiếng và mở rộng ra nước ngoài. Điều 5 Bộ luật Dân sự Pháp 1804 đã quy định “Cấm các thẩm phán đặt ra những quy định chung có tính chất quy chế để tuyên án đối với những vụ kiện được giao xét xử”. Điều luật này đã gián tiếp cấm việc sử dụng án lệ trong hoạt động xét xử của các thẩm phán ở Pháp. Có người cho rằng nếu không có công cuộc pháp điển hoá của Napoléon thì án lệ sẽ có vị trí vững chắc hơn bây giờ. Tuy nhiên, chúng ta không thể quên rằng vào thế kỷ XVI, khi François I ra lệnh rằng tất cả các phong tục phải được viết thành văn bản. Kể từ đó, phong tục không còn được tuyên bố hoặc thực thi thông qua quyết định của các thẩm phán: mỗi tỉnh đều có bộ luật riêng và Pháp trở thành vùng đất 44 John Henry Merryman, The Civil Law Tradition: An Introduction to the Legal Systems of Western Europe and Latin America, 2nd ed., Stanford: Stanford University Press, 1985, 22-23 45 John Bell, Comparing Precedent, 82 Cornell L. Rev. 1243 (1997) 46 Marc Ancel, Case Law in France, 16 J. COMP. Legis. & INT'l L. 3D ser. 1 (1934). 46
  3. của luật pháp. Những nỗ lực của Louis XIV vào thế kỷ XVII, và Sắc lệnh của Thủ tướng d'Aguesseau vào thế kỷ XVIII, chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho việc xây dựng các Bộ luật thống nhất vĩ đại vào đầu thế kỷ XIX47. Tất cả điều này có xu hướng làm giảm đáng kể vai trò của thẩm phán. Trong một hệ thống như vậy, thẩm phán không phải, như Blackstone đã nói ở Anh, “nhà tiên tri sống” chịu trách nhiệm xây dựng các quy tắc của pháp luật; anh ta là người phục tùng của văn bản luật thành văn48. Vào năm 1789 xảy ra sự lạm dụng quyền lực của các Tối cao Pháp viện (the Parlements) dưới chế độ Ancien Régime; do đó, các thẩm phán bị cấm can thiệp vào việc thi hành luật; họ cũng không được phép đưa ra các quyết định dưới hình thức chung chung, bằng cách đặt ra một quy tắc phục vụ cho một loại trường hợp riêng biệt, tạo thành cái mà dưới thời Ancien Régime được gọi là “arrêt de règlement”. Bản thân Tòa Phá án trực thuộc Cơ quan lập pháp (Corps législatif), hàng năm nó phải báo cáo về nhiệm vụ của mình. Các thẩm phán Pháp đã gặp rất nhiều trở ngại trong việc áp dụng những nguyên tắc và quy định mang tính chất khái quát trong Bộ luật Dân sự 1804. Các học giả Pháp đã chỉ ra, bên cạnh những ưu việt mà pháp điển hoá đem lại như tính thống nhất, bao quát, tính dễ tiếp cận, pháp điển các bộ luật còn bộc lộ các hạn chế cố hữu như: thiếu tính khả thi do các qui định mang tính chung chung, không rõ; tính lạc hậu do không được cập nhật49. Bản chất và lợi ích của việc thừa nhận án lệ đã được nghiên cứu rất nhiều trong luật học của nước Pháp kể từ khi Bộ luật Dân sự 1804 ra đời. Portalis là một luật gia có công tham gia xây dựng Bộ luật Dân sự năm 1804 đã cho rằng ‘cần phải có án lệ vì luật không thể giải quyết hết mọi vấn đề của Bộ luật Dân sự”50. René David nhận xét: bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, ảo tưởng về giá trị của luật thành văn là nguồn luật thuần nhất đã dần bị xoá bỏ51. Trong điều kiện như vậy, vai trò giải thích pháp luật của thẩm phán đã được đề cao để bổ sung những kẽ hở của pháp luật. Một số học giả cho rằng, về bản chất, việc làm luật của thẩm phán là có thể chấp nhận được. “Thật là không thực tế khi nói rằng thẩm phán tuyên bố pháp luật mà không được tạo ra luật. Chúng ta biết rằng, việc áp dụng pháp luật không thể bỏ qua việc giải thích pháp luật”52. Tuy nhiên, trong một trăm năm qua, chức năng xây dựng luật của các tòa án đã được công nhận rộng rãi hơn ở các quốc gia Dân luật53 và sự quan tâm ngày càng tăng đã được thể hiện trong học thuyết án lệ pháp của thông luật54. Một số nước Châu Âu như 47 Marc Ancel, Case Law in France, 16 J. COMP. Legis. & INT'l L. 3D ser. 1 (1934). 48 Marc Ancel, Case Law in France, 16 J. COMP. Legis. & INT'l L. 3D ser. 1 (1934). 49 Steiner, Eva, French Legal Method, Oxford University Press, 2002.p.p.37-40. 50 Jacques Nunez, ‘Thẩm phán và Bộ luật Dân sự Pháp’ trong Tham luận Hội thảo 200 năm Bộ Luật Dân sự Pháp,Nhà Pháp Luật Việt Pháp, Hà Nội, tháng 11, 2004, trang 87. 51 Hans W. Baade, Stare Decisis In Civil-law Countries: The Last Bastion, in ‘The Themes In Comparative Law In Honour Of Bernard Rudden, Edited by Peter Birks and Arianna Pretto, Oxford University Press, 2000.p.4. 52 Guy Canivet, The Court of Cassation: Looking Into The Future, Law Quarter Review, 2007, 123 (JUL), p.p. 401- 416. 53 Ở Đức, đọc thêm: Esser, Grundsatz und Norm in der richterlichen Fortebildung des Privatrechts (1956); ở Pháp đọc thêm: Gény, Methode d’interpretation et sources en droit priv positif (2nd edn 1954, Mayda transl) 54 Lücke, H.K. (1989) "Ratio Decidendi: Adjudicative Rational and Source of Law," Bond Law Review: Vol. 1: Iss. 1, Article 2; Coing, Zur Ermittlung von Sätzen des Richterrechts (1975) 15 Juristische Schulung 277. 47
  4. Đức, Đan Mạch, Hy Lạp, Italy, Na Uy, Phần Lan, Thụy Điển, Hà Lan tuy về chính thức không coi án lệ là nguồn của pháp luật, tức là không có văn bản nào xác nhận điều đó, nhưng trên thực tế thì án lệ được xây dựng, án lệ tồn tại và án lệ được áp dụng. Tại các quốc gia đó, tòa án tối cao có vai trò lớn trong việc bảo đảm và hướng dẫn áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật và các tòa án cấp dưới vẫn coi các quyết định của tòa án tối cao như là án lệ khi giải quyết những vấn đề pháp lý mà chưa có căn cứ trong pháp luật thực định của nhà nước. Vì thế, trong nhiều trường hợp, án lệ không còn đứng ở hàng “luật thứ yếu” mà đã vươn lên vị trí ngang với pháp luật thực định. Đánh giá sự chuyển biến này, một chuyên gia hàng đầu về luật so sánh ở Pháp - Giáo sư Gené David đã cho rằng: “Không nên vì thấy án lệ ở một số nước Châu Âu không được chính thức thừa nhận chỉ vì nhìn vào pháp luật mà cần phải nhìn vào thực tiễn. Và do đó, đừng vì thế mà vội kết luận rằng, ở các nước Châu Âu lục địa, án lệ không được sử dụng, vai trò của thực tiễn xét xử không lớn”55. Trên thực tế, các thẩm phán Pháp không bao giờ căn cứ rõ ràng các quyết định của họ dựa trên các phán quyết trước đó, mà thay vào đó tuân theo các diễn giải và lập luận trước từ các phán quyết đó và bất kỳ nguyên tắc pháp lý nào. Khi một thẩm phán Pháp đưa ra quyết định, các chuyên gia pháp lý (tức là luật sư và học giả pháp lý) đưa ra các bình luận phân tích quyết định đó. Trong các phiên tòa sau này, luật sư có thể tham khảo các ý tưởng được phát triển trong các quyết định trước đó và sử dụng các bình luận này56. Có nhiều chứng minh rằng không có bộ pháp điển hóa nào, dù được nghiên cứu kỹ lưỡng đến đâu, có thể hoàn chỉnh57. Hơn nữa, Bộ luật Dân sự năm 1804 không còn đáp ứng được những nhu cầu mới của xã hội. Do đó, ở Pháp ngày càng có nhiều trường hợp từ ấn tượng, cảm tính ban đầu các thẩm phán nhận định pháp luật không có điều khoản nào điều chỉnh vấn đề này. Tuy nhiên, các thẩm phán bị ràng buộc phải quyết định những trường hợp này, kể từ Điều 4 của Bộ luật Dân sự quy định: “Một thẩm phán từ chối quyết định một vụ án với lý do luật pháp không quy định, không rõ ràng hoặc không đủ, có thể bị truy tố vì tội từ chối công lý”58. Vì vậy, trừ khi người đó có thể quyết định rằng thiếu thẩm quyền cơ bản, thẩm phán Pháp phải giải quyết vấn đề đang tranh chấp. Do đó, bản thân luật buộc các tòa án phải đưa ra một giải pháp không được pháp luật quy định. Đây là một ngoại lệ đáng chú ý đối với nguyên tắc của Điều 5 Bộ luật Dân sự, cấm thẩm phán tự thay mình làm luật. Trên thực tế, vì lý do không có quy định, các tòa án Pháp trong nhiều trường hợp có 55 René David, Les Grands systèmes de Droit Contemporains “Dalloz”, Paris, 1978, P. 142 56 Cohen-Tanugi, L. and Avocats, T., 2016. Case Law in a Legal System Without Binding Precedent: The French Example | China Guiding Cases Project. [online] China Guiding Cases Project. Available at: [Accessed 17 August 2021]. 57 Marc Ancel, Case Law in France, 16 J. COMP. Legis. & INT'l L. 3D ser. 1 (1934) 58 Article 4 Civil Code: Le juge qui refusera de juger, sous prétexte du silence, de l'obscurité ou de l'insuffisance de la loi, pourra être poursuivi comme coupable de déni de justice. 48
  5. nghĩa vụ xây dựng các học thuyết quan trọng, chẳng hạn như gần như tất cả các học thu- yết của tư pháp quốc tế, hoặc luật về bảo hiểm nhân thọ59. Về điều này, Tiến sĩ F.P. Wal- ton đã nhận định rằng: “Các tòa án đã tìm con đường riêng theo cách của họ… để vượt qua thông qua ‘cơ thể suy tàn’ của Bộ luật”. Một xu hướng gần đây trong luật pháp của Pháp dường như ngụ ý rằng án lệ được dần dần chấp nhận như một nguồn luật. Ví dụ mới nhất về điều này là quyết định từ Tòa án Xung đột (Le Tribunal des conflits) vào ngày 9 tháng 3 năm 201560. Trong quyết định đó, Tòa án đã lật lại án lệ liên quan đến thẩm quyền đối với các tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng giữa người được nhượng quyền khai thác đường ô tô và một tư nhân. Tòa án tiếp tục quyết định rằng chỉ những hợp đồng được ký kết sau khi có quyết định mới phải tuân theo giải pháp pháp lý mới trong khi những hợp đồng được ký kết trước khi có quyết định vẫn phải tuân theo án lệ trước đó. Nói cách khác, Tòa án hạn chế bất kỳ hiệu lực hồi tố nào đối với phán quyết của mình61. Như vậy có thể thấy rằng, án lệ của các tòa án ở Pháp đã và đang được hình thành và phát triển trên cơ sở và trong khuôn khổ các tư tưởng và nguyên tắc do luật thực định xác định. Do đó, chỉ có thể hiểu được chính xác vai trò của án lệ ở các nước này khi ta đặt nó trong mối liên hệ với pháp luật thực định. Chính vì vậy, hoạt động kiến tạo luật của các tòa án được diễn ra thông qua hoạt động giải thích pháp luật thực định, thông qua chức năng giải thích pháp luật của tòa án. 2.2. Khái niệm và tính ràng buộc của án lệ. Án lệ (Jurisprudence) được hiểu là bản án đã tuyên hoặc sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như tiền lệ làm cơ sở để các thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự62. Với những nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (hệ thống pháp luật Dân luật - Civil Law), tiêu biểu một số nước như Pháp, Đức, Ý, Brazil, Nhật Bản… Án lệ được xem như một cách giải thích pháp luật. Những bản án này không được xem là luật, không mang tính ràng buộc pháp lý nhưng tòa cấp dưới phải tham khảo, nếu không nguy cơ bị tòa cấp trên sửa án rất cao. Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Điều 7 của Bộ luật Dân sự Brazil năm 1916: “Trong những trường hợp bất khả kháng, các quy định liên quan đến các trường hợp tương tự sẽ được áp dụng và nếu không có thì áp dụng các nguyên tắc chung của pháp luật”, và Điều 12 Bộ luật Dân sự Ý năm 1942: “... Nếu một vấn đề không thể được giải quyết bằng một điều khoản chính xác, thì việc tham khảo các điều khoản quy định các trường hợp tương tự hoặc các vấn đề tương tự sẽ được thực hiện; nếu câu hỏi vẫn còn 59 Marc Ancel, Case Law in France, 16 J. COMP. Legis. & INT'l L. 3D ser. 1 (1934) 60 Conflit sur renvoi de la cour administrative d’appel de Paris, http://www.tribunal-conflits.fr (Tribunal des conflits March 9, 2015). http://www.tribunal-conflits.fr/PDF/3984_Decision_3984.pdf. 61 Platon, S., 2015. Dr. “Law-Discoverer” and Mr. “Law-Maker”: the Strange Case of Case-Law in France. Verfas- sungsblog. Available at: https://verfassungsblog.de/dr-law-discoverer-and-mr-law-maker-the-strange-case-of-case- law-in-france/ [Accessed November 21, 2021]. 62 Công ty Luật Dương Gia, 2020. Vị trí của án lệ trong các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Civil Law. Luật Dương Gia. Available at: https://luatduonggia.vn/vi-tri-cua-an-le-trong-cac-he-thong-phap-luat-thuoc-dong-ho-civil- law/ [Accessed November 21, 2021]. 49
  6. chưa chắc chắn, quyết định sẽ được dựa trên các nguyên tắc chung của hệ thống pháp lý có hiệu lực tại quốc gia.”63 Khi có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng. Theo từ điển pháp lý được sử dụng rộng rãi nhất trong tiếng Pháp, từ “án lệ” chỉ có nghĩa là trong một tình huống ra quyết định, một quyết định được thực hiện trong quá khứ trong những hoàn cảnh tương tự hoặc trong một trường hợp tương tự. Án lệ được sử dụng với hai nghĩa khác nhau. Theo nghĩa mạnh, đề cập đến quyết định của tòa án cấp cao hơn, không phải là pháp lý, mà là lý lẽ có thẩm quyền, ngụ ý rằng quyết định này, không có tính ràng buộc, phải được tòa án cấp dưới tuân theo; Tòa án cấp dưới không có nghĩa vụ pháp lý phải tuân theo lập luận đó, nhưng hầu như luôn luôn làm vậy, vì những lý do thực tế. Theo nghĩa yếu, đề cập đến một quyết định tương tự của bất kỳ tòa án nào, thậm chí của một tòa án cấp thấp hơn, có thể dùng như một mô hình tích cực hoặc tiêu cực. Việc tuân theo loại án lệ này giúp tòa án phân tích sâu rộng về các sự kiện và vấn đề pháp lý và được chứng minh bởi nguyên tắc bình đẳng giả định trước pháp luật64. Án lệ không bao giờ mang tính ràng buộc như học thuyết stare decisis của truyền thống Thông luật. Nghĩa vụ của tòa án là áp dụng, không phải án lệ, mà là quy định đằng sau án lệ 65. Tòa án sẽ không bao giờ thảo luận rõ ràng về sự giống nhau của các sự kiện giữa vụ việc đang chờ xử lý và án lệ, nhưng sẽ nhất thiết phải xem xét nó trước khi quyết định áp dụng cùng một quy chế (diễn giải theo cách tương tự) hoặc cùng một nguyên tắc. Án lệ ở Pháp bao gồm án lệ hiến pháp, án lệ hành chính và án lệ tư pháp. Án lệ hiến pháp là một lĩnh vực tương đối đặc thù, án lệ hành chính là nguồn chủ yếu của luật hành chính của Cộng hoà Pháp. Hầu hết các chế định quan trọng của pháp luật hành chính của Cộng hoà Pháp đều tồn tại dưới dạng án lệ do Tòa án hành chính tối cao ban hành. Án lệ này có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với các cơ quan Nhà nước và các Toà hành chính cấp dưới. Trái lại, án lệ tư pháp là một hiện tượng phức tạp hơn. Cuộc tranh luận về qui chế nguồn luật của án lệ chủ yếu tập trung vào loại án lệ tư pháp.66 2.3. Chức năng của án lệ ở Pháp Có một khoa học cho các nhà lập pháp thì cũng có khoa học cho các thẩm phán; và chúng không giống nhau. Khoa học của nhà lập pháp bao gồm việc tìm ra trong mỗi lĩnh vực những nguyên tắc có lợi nhất để áp dụng chung; khoa học của thẩm phán là đưa 63 Universalis, E., Jurisprudence. Encyclopædia Universalis. Available at: https://www.universalis.fr/encyclopedie/jurisprudence/1-fonctions-de-la-jurisprudence/ [Accessed November 21, 2021]. 64 Michel Troper, Christophe Grzegorczyk, Precedent in France in INTERPRETING. PRECEDENTS (Ashgate Publishing, 1997), trg.111 65 Michel Troper, Christophe Grzegorczyk, tlđd, trg.127 66 Trần Đức Sơn, 2018. Hệ thống án lệ của cộng hòa pháp. Tạp chí Toà án. Available at: https://tapchitoaan.vn/bai- viet/an-le/he-thong-an-le-cua-cong-hoa-phap [Accessed November 21, 2021]. 50
  7. các nguyên tắc này vào thực tiễn, phân tích chúng, mở rộng chúng bằng cách áp dụng một cách hợp lý và khôn ngoan vào những tình huống đã có67. Án lệ không thể được so sánh với các bộ luật, đạo luật hoặc hiến pháp, về mặt ưu việt hay thấp kém, bởi vì án lệ không có tính ràng buộc, nhưng thẩm quyền tương đối của chúng chỉ có thể xuất phát từ nguồn luật chính thức mà án lệ áp dụng và giải thích68. Về khía cạnh đó, vai trò của án lệ trong hệ thống Pháp có thể được coi là rất nhỏ hoặc rất quan trọng, tùy thuộc vào việc người ta xem xét tài liệu biện minh được trích dẫn hay tài liệu thực tế được tòa án sử dụng. Các tòa án rất hiếm khi viện dẫn các án lệ và không được căn cứ vào các quyết định của mình, bởi vì nguồn luật hợp pháp duy nhất là luật thực định. Ngược lại, nếu người ta nhìn vào tài liệu thực tế được sử dụng; người ta nhận ra rằng án lệ là quan trọng nhất. Người ta thậm chí có thể nói rằng các tài liệu khác chỉ liên quan trong phạm vi mà chúng đã được đề cập và giải thích theo án lệ - ít nhất là đối với các tòa án cấp dưới và tòa phúc thẩm. Bản thân Bộ luật Dân sự chỉ phát huy vai trò thông qua việc giải thích đã được án lệ đưa ra. Một ví dụ nổi tiếng là Điều 1384 của Bộ luật Dân sự, quy định rằng một người phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra bởi “những thứ mà người ta phải bảo vệ69”. Quy định này rất hiếm khi được các tòa án sử dụng cho đến khi Tòa Phá án quyết định rằng “những thứ này” có nghĩa là máy móc gây thương tích cho công nhân nhà máy, do đó chủ sở hữu, người giám hộ máy móc, phải chịu trách nhiệm về những thương tích này. Do đó, Điều 1384 đã trở thành một trong những cơ sở chính của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Mặc dù tầm quan trọng của án lệ có sự khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực luật, nhưng án lệ phục vụ nhiều chức năng trong hệ thống pháp luật của Pháp, bao gồm: diễn giải, thay thế, thích ứng, hài hoà70. Diễn giải: Các thẩm phán giải thích các quy tắc trừu tượng của luật, và các quyết định của họ tạo ra một khoa học luật điều chỉnh luật phù hợp với các trường hợp cụ thể. Trong trường hợp này, các thẩm phán điều chỉnh các quy tắc chung của luật để phù hợp với một tình huống nhất định. Luật mang tính khái quát và khó hiểu, án lệ đảm bảo chuyển từ quy tắc trừu tượng sang trường hợp cụ thể. Ví dụ, Điều 1382 cũ của Bộ luật Dân sự Pháp quy định rằng: “bất kỳ hành vi nào của con người gây thiệt hại cho người khác thì người có lỗi phải đến sửa chữa”71. Bộ luật Dân sự không giải thích rõ về khái niệm thiệt hại (thân thể, tinh thần 67 Universalis, E., Jurisprudence. Encyclopædia Universalis. Available at: https://www.universalis.fr/encyclopedie/jurisprudence/1-fonctions-de-la-jurisprudence/ [Accessed November 21, 2021]. 68 Michel Troper, Christophe Grzegorczyk, tlđd, trg.112 69 things that one has to guard 70 Cohen-Tanugi, L. and Avocats, T., 2016. Case Law in a Legal System Without Binding Precedent: The French Example | China Guiding Cases Project. [online] China Guiding Cases Project. Available at: [Accessed 16 August 2021]. 71 Tout fait quelconque de l'homme, qui cause à autrui un dommage, oblige celui par la faute duquel il est arrivé à le réparer. 51
  8. ...), bồi thường thiệt hại, lỗi và thiệt hại, các thẩm phán phải xác định khái niệm của chúng. Hoặc những khái niệm chung chung với nội dung không được xác định rõ ràng như: đạo đức tốt (Điều 6 Bộ luật Dân sự), trung thực (Điều 1104 Bộ luật Dân sự mới), lợi ích tốt nhất của đứa trẻ... Đây là những khái niệm “tiêu chuẩn”, nội dung của chúng sẽ được thẩm phán phát triển dần dần theo các giải pháp đưa ra cho các tranh chấp được đệ trình. Ưu điểm của các khái niệm tiêu chuẩn này là nội dung của chúng có thể được biến đổi và điều chỉnh tùy theo bối cảnh, hoặc sự phát triển của phong tục tập quán.72 Thay thế: Các thẩm phán có nhiệm vụ ra quyết định trong mọi trường hợp, ngay cả trong những tình huống luật pháp không đề cập tới, không rõ ràng hoặc không đủ để giải quyết các tình huống của một vụ án cụ thể. Nếu thẩm phán từ chối làm như vậy đồng nghĩa với việc từ chối công lý. Do đó, các thẩm phán có thể tạo ra các quy tắc cụ thể để giải quyết một vụ việc riêng lẻ. Thích ứng: Khi luật không rõ ràng hoặc lỗi thời, các thẩm phán có thể điều chỉnh luật cho phù hợp với “nhu cầu của xã hội”. Các quy tắc luật cố định có thể quá cứng nhắc hoặc nghiêm ngặt để phù hợp với nhu cầu của một xã hội đang phát triển. Thách thức chính của luật học là đảm bảo sự phát triển của luật áp dụng, cho phép luật linh hoạt để phù hợp với nhu cầu của xã hội. Chẳng hạn như trường hợp đặc biệt với tai nạn giao thông. Bộ luật Dân sự được ban hành vào năm 1804, lúc đó ô tô chưa có nên nhà lập pháp chưa nghĩ đến loại tai nạn này. Từ những năm 1930, và quá trình dân chủ hóa xe ô tô, các vụ tai nạn tăng lên gấp bội, khiến thẩm phán phải quyết định một vụ tranh chấp mà không có văn bản pháp luật nào tồn tại. Các thẩm phán đã phải điều chỉnh luật để phù hợp với sự phát triển của nó, và phải đến năm 1985, nhờ bản án phúc thẩm của Tòa phá án ngày 21 tháng 7 năm 1982 (Bản án Desmares), nhà lập pháp mới ban hành luật điều chỉnh đối với phương tiện động cơ đường bộ. (Luật Badinter ngày 5 tháng 7 năm 1985: trách nhiệm về tai nạn giao thông). Với bản án này, Tòa phá án buộc nhà lập pháp phải can thiệp để bảo vệ nạn nhân tai nạn giao thông.73 Ngoài ra còn có thể kể đến chức năng sáng tạo của án lệ. Thẩm phán sẽ tạo ra một nguyên tắc luật mới của luật pháp, dựa trên các văn bản khác và các nguyên tắc chung chính của luật. Lịch sử án lệ dân sự cho thấy nhiều công trình có nguồn gốc án lệ hiện nay là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật Pháp: các nguyên tắc chung của pháp luật, lý thuyết làm giàu bất chính, lạm quyền ... Hài hòa: Để đảm bảo rằng các khu vực khác nhau giải thích luật một cách thống nhất, tòa án (nói chung là Tòa giám đốc thẩm) có thể tạo ra một quy tắc luật thực sự, Điều 1382 cũ Bộ luật Dân sự Pháp, Légifrance, https://www.legifrance.gouv.fr/codes/article_lc/LEGIARTI000006438819/1804-02-19, truy cập ngày 21/11/2021. 72 Unjf, Section 1. La jurisprudence. UNJF. Available at: https://cours.unjf.fr/repository/coursefilearea/file.php/105/Cours/05_item/globalprintcom.htm [Accessed November 21, 2021]. 73 Anon, Quel est le rôle de la jurisprudence? Juri'Predis. Available at: https://www.juripredis.com/fr/la- jurisprudence-dossier/comment-definir-la-jurisprudence/quel-est-le-role-de-la-jurisprudence- [Accessed November 21, 2021]. 52
  9. được gọi là một quyết định mang tính nguyên tắc. Quyết định như vậy được các toà án khác công nhận là nguyên tắc chỉ đạo đối với các trường hợp tương tự. Tuy nhiên, Tòa án giám đốc thẩm, là người bảo vệ các nỗ lực hòa hợp đó, luôn có thể đảo ngược các quyết định trước đó của mình. Sự tách biệt quyền lực cho phép sự độc lập của tư pháp, mang lại tính hợp pháp và sức nặng cho các quyết định của thẩm phán. Hiến pháp Pháp hiện nay phân biệt quyền lực của cơ quan lập pháp (Nghị viện), quyền lực của cơ quan hành pháp và quyền tư pháp đơn thuần (autorité judiciaire). 2.4. Cấu trúc của án lệ Pháp Điều 455 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp quy định cơ bản về hình thức và nội dung của bản án: “Bản án phải mô tả ngắn gọn yêu cầu của đương sự và lập luận của đương sự; nghĩa vụ đưa ra lý do cho quyết định của mình;… phải bao gồm những lý lẽ biện minh. Phán quyết thể hiện quyết định dưới hình thức phân xử”. Do đó, phán quyết của toà án Pháp thường tuân theo định dạng sau: Hình 174 Bất kỳ phán quyết nào cũng bao gồm năm yếu tố: 1. Đề cập (mentions): bản án đề cập đến việc nó đã được đọc trước công chúng, tên của các bên, thực tế là một báo cáo đã được đọc và thành phần của tòa án; 2. Căn cứ (visas): là danh sách các tài liệu đã được tòa án kiểm tra: bản tranh luận, tài liệu do các bên xuất trình và căn cứ pháp lý; 3. Lý do đưa ra quyết định (les motifs): chúng là phần quan trọng nhất và (tương đối) dài nhất của bản án. Đây cũng chính là phần thẩm phán có nghĩa vụ đưa ra lý do cho quyết định của mình (de l'obligation de motivation - the obligation to state reasons). Nghĩa vụ này được quy định bởi Điều 455, và phải được chứng minh bởi hai lập luận: bằng chứng cho thấy lập luận của các bên đã được kiểm tra và nó cho phép các tòa án cấp trên thực hiện quyền kiểm soát đối với bản án. Nó thường bao gồm một tuyên bố ngắn gọn về các tình tiết và thảo luận về các lập luận chứng minh cho quyết định. Các thẩm phán Pháp có nghĩa vụ nghiêm ngặt phải chỉ ra các căn cứ pháp lý mà họ dựa trên quyết định của mình. Nếu những điều này không được chỉ ra thì quyết định sẽ bị coi là vô hiệu mục đích nhằm ngăn chặn các quyết định tùy tiện và phiến diện. Hơn nữa, việc dựa vào các nguyên tắc được xét xử trong những bản án khác nhau không được coi là cơ sở đủ để 74 Brigid McArthur, French judicial decisions, 14 V.U.W.L.R. (1984) 53
  10. quyết định. Các quyết định trước đó không bao giờ được coi là có tính ràng buộc mặc dù chúng thường có tính thuyết phục cao. Lập luận biện minh chính thường là một tuyên bố về quy tắc chung được áp dụng cho vụ việc. Quy tắc chung này có thể chỉ đơn giản là một công thức của các điều khoản của đạo luật hoặc một diễn giải về “nội dung thực sự - true content” của đạo luật hoặc tuyên bố về một nguyên tắc. Do đó, sự hình thành này rõ ràng là theo định hướng án lệ, bởi vì, với quy chế, cách giải thích hoặc nguyên tắc này, tòa án có ý định giải quyết; không chỉ trường hợp duy nhất được quyết định, mà là một lớp các trường hợp tương tự75. Đây là lý do tại sao học giả Pháp sử dụng thuật ngữ Toà án ban hành/quy định (Cour régulatrice - ruling court). 4. Quyết định (le dispositif): Phần quyết định thường được bắt đầu bằng cụm từ par ces motifs (vì những lý do này…). Điều này dùng để nhấn mạnh mối liên hệ logic giữa quyết định và những lý do trước đó. Đây là quyết định phù hợp với phán quyết về vấn đề, mệnh lệnh tuyên ra từ tòa án. Nó thường bao gồm một hoặc hai điều, một hình thức tương tự như luật. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là phần quyết định là phần duy nhất của phán quyết được hưởng nguyên tắc phán quyết của toà có giá trị pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp (res judicata), mặc dù thẩm quyền đó đã được các tòa án mở rộng theo các mô típ là cơ sở cần thiết của phần quyết định. 5. Chỉ dẫn thi hành án (Formule exécutoire): là một mệnh lệnh, được gửi đến một số cơ quan công quyền để thi hành bản án. Ở cuối bản án, có thể tìm thấy ngày phán quyết, tòa án đã xét xử, tên của chủ tọa phiên tòa, cố vấn của các bên và tên của công tố viên (ministère public) người có thể trình bày tại phiên xét xử. Đó là cấu trúc của bản án điển hình của Pháp. Tất nhiên, nó không phải lúc nào cũng được tuân thủ chặt chẽ, và gần đây các tòa án đã trở nên táo bạo hơn trong việc thay đổi cấu trúc khuôn mẫu của một bản án. III. KẾT LUẬN Tóm lại, án lệ tư pháp của Pháp không được công nhận là một nguồn luật chính thức, mà những người nghiên cứu luật chỉ thừa nhận nó như một thực tế khách quan. Thực tiễn cho thấy Thẩm phán thường có xu hướng lựa chọn cách giải quyết đã từng được áp dụng trước đây cho các vụ việc tương tự, nếu như giải pháp này phù hợp và đã được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực tư pháp. Thực tế là, án lệ không có một vị trí độc lập như các nguồn luật khác, và những người hành nghề luật luôn cố che giấu việc sử dụng án lệ dưới lớp vỏ diễn giải các điều khoản luật định76. Không có quyết định tư pháp nào của Pháp đề cập đến án lệ. Do đó, các bản án đã được xét xử ở Pháp chưa bao giờ là án lệ, mà là sự giải thích của luật thực định, vì thế học thuyết về án lệ không phải là kết quả của một phán quyết cụ thể, mà là từ một chuỗi dài các quyết định nối tiếp nhau. 75 Michel Troper, Christophe Grzegorczyk, Precedent in France in INTERPRETING. PRECEDENTS (Ashgate Publishing, 1997), trg.107 76 Marc Ancel, Case Law in France, 16 J. COMP. Legis. & INT'l L. 3D ser. 1 (1934) 54
  11. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Anon, Quel est le rôle de la jurisprudence? Juri'Predis. Available at: https://www.juripredis.com/fr/la-jurisprudence-dossier/comment-definir-la- jurisprudence/quel-est-le-role-de-la-jurisprudence- [Accessed November 21, 2021]. 2. Brigid McArthur, French judicial decisions, 14 V.U.W.L.R. (1984) 3. Cohen-Tanugi, L. and Avocats, T., 2016. Case Law in a Legal System Without Bind- ing Precedent: The French Example | China Guiding Cases Project. [online] China Guid- ing Cases Project. Available at: [Accessed 17 August 2021]. 4. Coing, Zur Ermittlung von Sätzen des Richterrechts (1975) 15 Juristische Schulung 277. 5. Conflit sur renvoi de la cour administrative d’appel de Paris, http://www.tribunal- conflits.fr (Tribunal des conflits March 9, 2015). http://www.tribunal- conflits.fr/PDF/3984_Decision_3984.pdf. 6. Công ty Luật Dương Gia, 2020. Vị trí của án lệ trong các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Civil Law. Luật Dương Gia. Available at: https://luatduonggia.vn/vi-tri-cua-an- le-trong-cac-he-thong-phap-luat-thuoc-dong-ho-civil-law/ [Accessed November 21, 2021]. 7. French Civil Code. 8. Guy Canivet, The Court of Cassation: Looking Into The Future, Law Quarter Review, 2007, 123 (JUL), p.p. 401-416. 9. Hans W. Baade, Stare Decisis In Civil-law Countries: The Last Bastion, in ‘The Themes In Comparative Law In Honour Of Bernard Rudden, Edited by Peter Birks and Arianna Pretto, Oxford University Press, 2000. 10. Jacques Nunez, ‘Thẩm phán và Bộ luật Dân sự Pháp’ trong Tham luận Hội thảo 200 năm Bộ Luật Dân sự Pháp,Nhà Pháp Luật Việt Pháp, Hà Nội, tháng 11, 2004, trang 87. 11. John Henry Merryman, The Civil Law Tradition: An Introduction to the Legal Sys- tems of Western Europe and Latin America, 2nd ed., Stanford: Stanford University Press, 1985, 22-23 12. John Bell, Comparing Precedent, 82 Cornell L. Rev. 1243 (1997) 13. Lücke, H.K. (1989) "Ratio Decidendi: Adjudicative Rational and Source of Law," Bond Law Review: Vol. 1: Iss. 1, Article 2 14. Marc Ancel, Case Law in France, 16 J. COMP. Legis. & INT'l L. 3D ser. 1 (1934). 15. Michel Troper, Christophe Grzegorczyk, Precedent in France in INTERPRETING. PRECEDENTS (Ashgate Publishing, 1997) 55
  12. 16. Ở Đức, đọc thêm: Esser, Grundsatz und Norm in der richterlichen Fortebildung des Privatrechts (1956); ở Pháp đọc thêm: Gény, Methode d’interpretation et sources en droit priv positif (2nd edn 1954, Mayda transl) 17. Platon, S., 2015. Dr. “Law-Discoverer” and Mr. “Law-Maker”: the Strange Case of Case-Law in France. Verfassungsblog. Available at: https://verfassungsblog.de/dr-law- discoverer-and-mr-law-maker-the-strange-case-of-case-law-in-france/ [Accessed No- vember 21, 2021]. 18. René David, Les Grands systèmes de Droit Contemporains “Dalloz”, Paris, 1978. 19. Steiner, Eva, French Legal Method, Oxford University Press, 2002.p.p.37-40. 20. Trần Đức Sơn, 2018. Hệ thống án lệ của cộng hòa pháp. Tạp chí Toà án. Available at: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/an-le/he-thong-an-le-cua-cong-hoa-phap [Accessed No- vember 21, 2021]. 21. Unjf, Section 1. La jurisprudence. UNJF. Available at: https://cours.unjf.fr/repository/coursefilearea/file.php/105/Cours/05_item/globalprintcom. htm [Accessed November 21, 2021]. 22. Universalis, E., Jurisprudence. Encyclopædia Universalis. Available at: https://www.universalis.fr/encyclopedie/jurisprudence/1-fonctions-de-la-jurisprudence/ [Accessed November 21, 2021]. 56
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2