
Ministry of Agriculture & Rural Development
Báo cáo tiến độ
Tên dự án: NUÔI THÂM CANH CÁ BIỂN TRONG AO BẰNG
MƯƠNG NỔI (062/04VIE)
BÁO CÁO KẾT QUẢ SỐ 2 & 4
Gồm 2 báo cáo kỹ thuật được trình bày chung để tiện lợi cho người đọc
Michael Burke (QDPI&F, Australia)
Tung Hoang (Nha Trang University, Vietnam)
12/2006
1

Thiết kế và đánh giá hiệu quả của mương nổi sử dụng để
ương giống cá biển ở Việt Nam
Hoàng Tùng1*, Lưu Thế Phương1,
Huỳnh Kim Khánh2, Bành Thị Quyên Quyên1, Nguyễn Đình Mão3, Michael Burke4
1 Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Nha Trang, Việt Nam
2 Trung tâm Khuyến ngư Khánh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam
3Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
4 Department of Primary Industries and Fisheries, Bribie Island Aquaculture Research Centre,
Bribie Island, Queensland, Australia
1. GIỚI THIỆU
Sự phát triển của nghề nuôi cá biển ở Việt Nam đòi hỏi một số lượng lớn con giống.
Trong những năm gần đây, con giống nhân tạo của các đối tượng kinh tế như cá Mú
(Epinephelus spp.), cá Giò (Rachycentron canadum), cá Chẽm (Lates calcarifer) và một số
loài khác đã được sản xuất phần nào đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của người nuôi.
Ngoài hạn chế về số lượng thì kích thước của con giống cũng là một khó khăn. Đa số các
đối tượng nuôi biển đều được nuôi trong lồng. Kích thước con giống vì thế phải đủ lớn, cỡ
80÷100 mm hoặc lớn hơn. Ương cá bột đến cỡ này trong trại sản xuất giống rất tốn kém và
khó có thể cung cấp được số lượng lớn do hạn chế về diện tích bể ương. Các thử nghiệm
ương trong ao cho thấy tỉ lệ sống không cao và khó quản lý.
Mương nổi gần đây đã được thử nghiệm khá thành công trên các đối tượng nuôi là cá
nước ngọt ở Mỹ, Úc và Đức. Mặc dù chi phí đầu tư và vận hành tương đối cao nhưng dùng
mương nổi để ương cá biển có nhiều thuận lợi. Đó là: (i) mật độ ương lớn, hạn chế tối đa
địch hại; (ii) dễ dàng trong quản lý thức ăn và bệnh dịch; (iii) vận hành đơn giản và cần ít
nhân công; (iv) tận dụng được thức ăn tự nhiên trong ao.
Ở Việt nam mương nổi được Trường Đại học Nha Trang thiết kế và thử nghiệm vận
hành trong năm 2005 – 2006 với sự tài trợ của Dự án “Nuôi thâm canh cá biển trong ao
bằng mương nổi” – CARD VIE 062/04 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản
lý. Báo cáo này trình bày nguyên lý hoạt động của mương nổi; hướng dẫn lắp đặt và vận
hành phiên bản SMART-1 để ương con giống cá biển; kết quả thử nghiệm trên cá Chẽm
(Lates calcarifer), đánh giá hiệu quả kinh tế và khảo sát động thái của mương. Một số kết
quả ban đầu trên cá Hồng bạc (Lutjanus argentimacus), cá Hồng Mỹ và cá Điêu hồng
(Oreochromis sp.) cũng được thảo luận. Các thử nghiệm tiếp theo sẽ nhằm vào cá Giò và
cá Mú.
2

2. THIẾT KẾ HỆ THỐNG MƯƠNG NỔI
2.1 Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý hoạt động của mương nổi khá đơn giản. Mương có thể được chế tạo bởi
nhiều loại vật liệu khác nhau và thực chất là một chiếc bể dài, hẹp tự nổi hoặc được hỗ trợ
bởi dàn bè trong ao chứa. Nước từ ao chứa được bơm liên tục vào một đầu mương và thoát
ra ở đầu đằng kia. Để tiết kiệm chi phí điện năng và kết hợp với việc làm giàu oxy hòa tan
trong nước, người nuôi thường sử dụng hệ thống cột nâng nước (airlifts) vận hành bằng
máy nén khí hoặc máy thổi khí để chuyển nước từ ao chứa vào mương. Cá được ương hoặc
nuôi trong mương với mật độ cao, sử dụng thức ăn công nghiệp. Khi cá ương có kích
thước nhỏ thì sinh vật phù du theo nước ao chứa vào mương sẽ là những nguồn bổ sung
quan trọng. Lưới chắn được gắn ở cửa thoát của mương. Mặt mương cũng được phủ lưới
để đảm bảo cá không nhảy ra ngoài hoặc địch hại xâm nhập vào trong mương. Thiết kế
mương nổi phải đảm bảo sao cho nước luân chuyển đều trong mương, dễ dàng trong việc
thu gom chất thải và tạo khoảng lặng thích hợp để cá bắt mồi. Khi cần thiết phải xử lý hóa
chất, mương sẽ chuyển thành bể “kín” rất tiện lợi nếu ta dừng hoạt động của hệ thống cột
nâng nước và bịt cửa thoát.
Mương nổi có thể được đặt trong các ao chứa có độ sâu tương đối ở các khu vực nước
ngọt, lợ hoặc mặn tuỳ theo yêu cầu sinh thái của đối tượng ương nuôi. Tiềm năng sử dụng
mương nổi ở các hồ chứa nước là rất lớn. Tuy nhiên, cần thiết phải có điện để vận hành
máy móc.
2.2 Ao nuôi
Ao nuôi có diện tích 2.000 m2, hình chữ nhật (Hình 1). Ao phải được xây dựng trên
nền đất có khả năng giữ nước tốt hoặc được phủ bạt. Hệ số mái bờ là 1,5. Mặt bờ rộng 1,8
- 2 m để dễ dàng vận chuyển mương và thu hoạch cá. Đáy ao bằng phẳng và nghiêng về
phía cống thoát. Độ sâu của mực nước trong ao càng lớn càng tốt, tối thiểu phải ổn định
trong khoảng 1,6 ÷ 1,7m. Nếu mực nước trong ao thấp thì hệ thống ống nâng nước sẽ hút
các chất bẩn và bùn đáy ao vào mương. Giữa ao có một tường ngăn làm bằng bạt cao hơn
mực nước của ao nhằm tạo dòng chảy tròn trong ao khi sử dụng xe quạt nước để đảo nước.
2.3 Mương nổi
Mương nổi phiên bản SMART-01 là kiểu mương nổi nhỏ, được chế tạo để ương cá
biển từ cỡ hương lên cỡ giống. Mương được làm bằng vật liệu composit. Đây là loại vật
liệu phù hợp nhất tại Việt Nam nhờ ưu điểm dễ tạo hình, tuổi thọ cao, khả năng chống chịu
tốt với điều kiện môi trường nắng nóng nhiều sinh vật bám, dễ vệ sinh. Giá thành tuy có
3

cao hơn các loại vật liệu đơn giản khác nhưng xét về hiệu quả sử dụng thì ưu việt hơn rất
nhiều. Mương có dạng hình thang với thể tích khoảng 3,5 m3 (3,5×0,8×1,0m) hai đầu vát
30o (Hình 2). Một đầu của mương được gắn hệ thống ống nâng nước, đầu còn lại gắn lưới
chắn chống cá ra ngoài và địch hại xâm nhập vào mương. Phía đầu cấp nước của mương
có một tấm chắn để hướng cho nước lùa xuống đáy mương.
a
b
Hình 1: Ao nuôi và hệ thống mương đặt trong ao
(trên: nhìn từ trên xuống; dưới: mặt cắt ngang)
2.4 Hệ ống nâng nước
Hệ thống ống nâng nước bao gồm 04 ống nhựa PVC ∅90. Mỗi ống dài 100 cm, được
gắn kết với nhau một khung chữ nhât làm bằng ống nhựa PVC ∅21, cố định vào mương.
Khung nhựa ∅21 này còn đảm nhận chức năng dẫn khí vào từng ống nâng nước (Hình 3).
Cạnh trên của khung được nối với máy nén hoặc thổi khí bằng ống nhựa mềm. Lượng khí
vào khung được điều chỉnh nhờ một van khí đặt tại đây. Cạnh dưới của khung có khoan lỗ
nhỏ, mỗi ống nâng nước có một lỗ. Đường kính của lỗ thoát khí là 3,0 mm. Độ sâu của lỗ
thoát khí so với mực nước ao là 80 cm. Khả năng nâng nước của ống phụ thuộc vào công
suất của máy nén hoặc thổi khí.
4

2.5 Hệ thống máy nén khí
Nước được đẩy vào trong mương nhờ hoạt động của máy nén khí. Công suất của máy
nén khí phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng của người nuôi và số lượng ống nâng nước. Hệ
thống SMART-01 (gồm 6 mương nổi với tổng cộng 24 ống nâng nước) sử dụng máy nén
khí ANLET BSR 40 của Nhật Bản có công suất là 3 HP (2,2 Kw). Lượng khí nén 66 m3
khí/giờ. Khi hoạt động, mỗi ống nâng nước sẽ đẩy được khoảng 86÷87 L/phút.
Hình 2: Cấu tạo mương nổi phiên bản SMART-01
Hình 3: Cấu tạo hệ thống ống nâng nước
Để đảm bảo an toàn cho cá ương và giảm thiểu rủi ro hỏng hóc, hai máy nén khí được
sử dụng luân phiên. Mỗi máy hoạt động 12 h trong ngày. Hệ thống ống dẫn khí từ máy nén
5

