
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Báo cáo Dự án
013/06VIE
Thay thế phân bón N hóa học bằng chế phẩm vi sinh cố
định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu nhập
cho nông dân và cải thiện môi trường
MS2: BÁO CÁO SÁU THÁNG LẦN THỨ NHẤT
Ngày 24 tháng 9 năm 2007
1

1. Thông tin các cơ quan tham gia
Tên dự án: Thay thế phân bón N hóa học bằng chế phẩm vi sinh cố
định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu nhập
cho nông dân và cải thiện môi trường
Cơ quan Việt nam chủ trì dự án Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI)
Chủ nhiệm dự án Việt nam Ths. Trần Yên Thảo
Cơ quan Úc NSW Department of Primary Industries
Đại học Sydney
Nhân sự phía Úc Dr David Herridge
Dr Roz Deaker
Bà Elizabeth Hartley
Ông Greg Gemell
Thời gian bắt đầu Tháng 3/2007
Thời gian hòan tất (đầu tiên) Tháng 3/2009
Thời gian hòan tất (sửa đổi) Như trên
Báo cáo giai đọan Thảng 3 – 9/2007
Cán bộ liên lạc
Tại Úc: trưởng nhóm
Tên: Dr David Herridge Điện
thọai:
02 67631143
Chúc
danh:
Principal Research
Scientist
Fax: 02 67631222
Cơ quan: NSW Department of
Primary Industries
Email: david.herridge@dpi.nsw.gov.au
Tại Úc: liên lạc quản lý
Tên: Mr Graham Denney Telephone: 02 63913219
Chức
danh
Manager External
Funding
Fax: 02 63913327
Cơ quan NSW Department of
Primary Industries
Email: graham.denney@dpi.nsw.gov.au
Tại Việt nam
Tên: Ths. Trần Yên Thảo Điện thọai: 08 9143024 -
8297336
Chức vụ: Cán bộ nghiên cứu Khoa học Fax: 08 8243528
Cơ quan: Viện Nghiên cứu Dầu và Cây
có dầu (OPI)
Email: yenthao@opi.org.vn
yenthao@hcm.fpt.vn
yenthao9@yahoo.com
2

2. Tóm lược nội dung dự án
Nông dân Việt nam hiện bón phân đạm hóa học cho cây họ đậu như cây đậu tương và lạc
thay vì sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm. Thay thế phân đạm hóa học bằng các chế
phẩm vi sinh cố định đạm sẽ tiết kiệm cho nông dân Việt nam khoảng 50-60 triệu đô la
Úc hàng năm và cùng lúc việc này hỗ trợ thực hiện mục tiêu mở rộng sản xuất cây đậu
tương và lạc của nhà nước. Hơn nữa, rõ ràng có các lợi ích đối với môi trường khi thay
thế phân đạm hóa học bằng N được tổng hợp bởi chính cây họ đậu thông qua quá trình
cố định đạm sinh học. Mục đích của dự án này là tăng sản xuất các chế phẩm vi sinh cố
định đạm có chất lượng cao tại Việt nam thông qua tăng cường năng lực sản xuất tại
Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (NISF) và Đại học Cần Thơ (CTU), thực hiện chương trình
quốc gia về bảo đảm chất lượng sản phẩm tại Viện Nghiên cứu Dầu thực vật (OPI) và
Viên Khoa học Nông nghiệp Miền Nam (IAS), và tăng cường năng lực nghiên cứu
R&D. Dự án này sẽ phát triển và thực hiện một chương trình khuyến nông và đào tạo
hiệu quả cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và nông dân. Thông qua chương
trình này nông dân sẽ biết đến và sử dụng nhiều hơn chế phẩm vi sinh cố định đạm. Lợi
ích của các chế phẩm vi sinh cố định đạm và cố định đạm sinh học sẽ được trình diễn
trên đồng ruộng của nông dân, thông qua hội thảo, hội nghị đầu bờ và các ấn bản khuyến
nông. Để đảm bảo tính bền vững của sản xuất và sử dụng chế phẩm, các công ty tư nhân
sẽ tham gia trong dự án để marketing và ‘sản xuất thử’ các chế phẩm, với mục đích là
các công ty này sẽ mở rộng sản xuất và việc cung cấp chế phẩm sẽ tăng dần lên cùng lúc
khi công nghệ và thị trường phát triển.
3. Tóm tắt các họat động dự án
Dự án này bắt đầu vào tháng hai/ba 2007 với tập huấn về Quản lý Chất lượng Chế
phẩm vi sinh cố định đạm công sinh cho cây họ đậu, tổ chức tại phòng thí nghiệm của
Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam (IAS) tại thành phố Hồ Chí Minh và 2 ngày
hội thảo giới thiệu và bàn kế họach thực hiện của dự án tại Viện Nghiên cứu Dầu
Thực vật Tp HCM.
Hội thảo tập huấn Quản lý Chất lượng Sản phẩm, tại IAS, Tp Hồ Chí
Minh
Hội thảo tập huấn ( 26 tháng 2 – 9 tháng 3) có mục tiêu là trang bị cho các cán bộ
nghiện cứu Việt nam và kỹ thuật viên các kiến thức và các bước tiến hành kiểm tra
chất lượng chế phẩm vi sinh cố định đạm và nâng cao kỹ năng của họ để mà chế
phẩm cố định đạm sản xuất tại Việt nam được kiểm tra chất lượng thường xuyên.
Thông hiểu các thông số của kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng sẽ cải thiện kỹ thuật
sản xuất, tăng số lượng và sự ứng dụng tại Việt nam. Các tài liệu tập huấn dựa vào
chương trình kiểm tra chất lượng chế phẩm được áp dụng bởi NSW Department of
Primary Industries - Australian Legume Inoculant Research Unit (ALIRU) tại Úc.
Tập huấn này được chia làm 2 phần. Đầu tiên các học viên được trang bị các kinh
nghiệm thực hành trong kiểm tra chất lượng. Sau đó, các cách tiến hành được thảo
luận và được chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện của Việt nam.
Danh sách cán bộ giảng dạy tập huấn và học viên được ghi trong phần Phụ lục 1. Tập
huấn này được xây dựng bởi các cán bộ ALIRU và được trình bày bởi Elizabeth
3

Hartley (ALIRU), Greg Gemell (ALIRU) và Rosalind Deaker (Đại học Sydney). Mỗi
học viên được trang bị một tập bài giảng và một tài liệu thực hành chi tiết:
Bài giảng: Tập huấn Kiểm tra Chất lượng Chế phẩm Vi sinh Cố định đạm ở cây họ
Đậu, 26/2 đến 9/3/2007, sọan thảo bởi E. Hartley, G. Gemell, J. Hartley
(01/02/2007). 37 trang.
Tài liệu thực hành: Tập huấn Kiểm tra Chất lượng Chế phẩm Vi sinh Cố định đạm ở
cây họ Đậu, sọan thảo bởi E. Hartley, G. Gemell, J. Hartley (01/02/2007). 32 trang.
Tổ chức hội thảo và lựa chọn thành viên tham gia hội thảo được thực hiện bởi Chủ
nhiệm dự án Việt nam Trần Yên Thảo. Thành viên tham gia được lựa chọn đại diện
cho tất cả các cơ quan nghiên cứu và các công ty tư nhân sản xuất/phân phối chế
phẩm vi sinh đang tham gia trong dự án 013/06VIE. Tất cả các học viên có kinh
nghiệm với công việc về vi sinh vật.
Hội thảo giới thiệu và phân công thực hiện dự án, OPI, TP HCM
Tham dự hội thảo này gồm có các thành viện của Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có
dầu (OPI), Trường Đại học Cần Thơ (CTU), Viện Nông Nghiệp Miền nam (IAS),
Viện Nônh hóa Thổ nhưỡng (ISF), Bộ Công nghiệp (MOI), Trung tâm Khuyến nông
Quốc gia (NAEC). Ngòai ra còn có các đại diện của ba công ty tư nhân –
Fitohoocmon, Humix và Củ Chi – đây là các công ty hiện đang sản xuất hoặc phân
phối chế phẩm vi sinh tại Việt nam. Kết quả của hội thảo và các thảo luận tiếp sau đó
đã xác định rõ ràng tiến độ thực hiện dự án, chương trình nghiên cứu và kinh phí cho
các họat động tại Việt nam, Úc và Thái Lan trong suốt 2 năm họat động của dự án. Ba
bản copy hợp đồng giữa Viện Dầu và Cây Có Dầu (OPI), cơ quan chủ trì dự án tại
Việt nam với NSW DPI đã được mang về Úc.
Đào tạo về Sản xuất Chế phẩm vi sinh, trường Đại học Công nghệ
Suranaree Thái Lan
Mục tiêu của lớp đào tạo này (4 – 22 tháng 6 năm 2007) là để tăng cường kỹ năng của
cán bộ nghiên cứu Việt nam để mà cải thiện kỹ thuật sản xuất chế phẩm vi sinh cố
định đạm tại Việt nam. Hy vọng rằng thực hành và nguyên lý của đào tạo này sẽ
mang đến sự áp dụng công nghệ nhanh chóng tại Việt nam. Các họat động đào tạo
chú trọng đến bài giảng, thực hành và thăm viếng cơ sở sản xuất tại Thái Lan. Nội
dung của đào tạo này bao gồm thông tin cơ bản về rhizobia, công nghệ lên men bao
gồm hệ thống lên men công nghiệp và đơn vị sản xuất nhỏ (MPU), nguồn C cho
rhizobia trong quá trình lên men, các vi sinh vật tăng cường sự phát triển của cây khác
ngòai rhizobia (PGPR) (xem phụ lục 2).
Các cán bộ nghiên cứu của Việt nam tham gia trong lớp đào tạo:
- Trần Minh Hiền, cán bộ nghiên cứu cửa Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam
(IAS), Tp Hồ Chí Minh, là người chính chịu trách nhiệm cho nghiên cứu và sản xuất
chế phẩm vi sinh cố định đạm tại viện IAS.
- Lê Thị Thanh Thủy, cán bộ nghiên cứu tại Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (ISF) tại Hà
nội.
- Trần Yên Thảo, cán bộ nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Dầu và Cây Có dầu (OPI),
Tp Hồ Chí Minh, trưởng nhóm nghiên cứu cố định đạm sinh học tại OPI và là chủ
nhiệm dự án 013/06VIE.
4

Chương trình Nghiên cứu Phát triển (R&D) và chương trình Khuyến
nông
Chương trình R&D đã bắt đầu vào tháng 4/2007 với các thí nghiệm đồng ruộng tại
vùng đất cao phía Bắc (tỉnh Sơn La) và trong tháng 8/2007 tại vùng đất cao miền
trung (tỉnh Dak Nong và Dak Lak). Tại Sơn La, có ba thí nghiệm của đậu tương đã
được thực hiện. Kết quả cho thấy có hiệu quả đối với nhiễm rhizobium. Các thí
nghiệm này đã thu họach và đang phân tích số liệu. Các mẫu hạt và sinh khối đang
chuẩn bị để phân tích N. Tại Dak Nong và Dak Lak ba thí nghiệm của đậu tương và
ba thí nghiệm của lạc đã gieo vào tháng 8/2007. Cho đến nay cây sinh trưởng tốt và
đang chuẩn bị thu họach nốt sần. Ngòai ra, còn có hai thí nghiệm đang thực hiện về
nhiễm rhizobium cho cây đậu tương rau tại Dak Lak.
Chương trình khuyến nông bắt đầu vào tháng 4/2007 với các thí nghiệm trình diễn
đồng ruộng tại vùng đất cao phía bắc (Sơn La) và vào tháng 8/2007 tại vùng đất cao
miền trung (tỉnh Dak Nong and Dak Lak). Tại Sơn La, trình diễn tại 3 điểm. Nông
dân, cán bộ khuyến nông và cán bộ địa phưoơng đã được mời tham dự. Một cách tổng
quát, họ quan tâm đến việc nhiễm chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây và hy vọng
được cung cấp chế phẩm sớm để áp dụng. Tại Dak Lak và Dak Nong, trình diễn được
thực hiện tại 6 điểm, 3 điểm đối với đậu tương và 3 điểm đối với lạc. Nông dân và cán
bộ khuyến nông được mời đế các điểm trình diễn này tại lúc gieo hạt để họ tìm hiểm
về chế phẩm vi sinh cố định đạm, để biết nó được bao vào hạt và gieo như thế nào.
Nông dân rất tò mò về chế phẩm này. Họ sẽ được mời trở lại các điểm trình diễn này
khi nốt sần được thu họach sắp tới.
Điều tra đã được thực hiện trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 8/2007 để xác định
mức độ hiểu biết của nông dân và cán bộ khuyến nông về chế phẩm vi sinh cố định
đạm, sử dụng nó bởi nông dân và thái độ của họ đối với sử dụng chế phẩm trong
tương lai, và cuối cùng, là sản xuất và quản lý chất lượng hiện nay tại Việt nam. Kết
quả đang biên sọan cho báo cáo vào tháng 10/2007.
4. Giới thiệu và nguồn gốc dự án
Mục tiêu dự án và các kết quả dự kiến
Nhà nước Việt nam (Bộ Công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã
có kế hoạch thực hiện tăng diện tích trồng các cây họ đậu từ diện tích hiện tại là
780.000 ha lên đến hơn 1.000.000 ha vào năm 2010, đặc biệt đối với cây đậu tương và
cây lạc tại vùng Đồng bằng sông Cửu long, Duyên hải miền Trung và các vùng đất
cao Bắc, Trung và Nam. Cây họ đậu sử dụng làm thực phẩm, dầu ăn và bánh dầu cho
gia súc, và trồng luân canh với lúa (ở Đồng bằng sông Cửu long), xen canh với sắn,
mía, cao su, cây ăn quả và bắp trên các vùng đất cao, trồng như cây phủ đất trên đất
cát ven biển. Dự án nhỏ ACIAR LWR2/98/27 (Tăng năng suất và cố định đạm của
đậu tương, lạc và đậu xanh thông qua sử dụng chế phẩm vi sinh Rhizobium) đã chỉ ra
rằng sản xuất cây họ đậu tại Việt nam hiện tại phụ thuộc vào phân N hóa học đắt tiền
mà không áp dụng chế phẩm vi sinh rẻ tiền. Thay thế phân N hóa học bằng chế phẩm
vi sinh cố định đạm, nông dân Việt nam sẽ tiết kiệm được khoảng 50-60 triêu đô la
Úc hàng năm, và cùng lúc sẽ thúc đẩy mở rộng sản xuất cây họ đậu. Hơn nữa, còn có
lợi cho môi trường khi thay thế phân đạm khoáng bằng N được tạo ra bởi chính cây
họ đậu.
5

