
1
Tổ Ngữ văn
ĐỀ CƯƠNG ÔNG TẬP KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ I
MÔN: NGỮ VĂN 10
NĂM HỌC: 2022 – 2023
A. PHẦN KIẾN THỨC
I. Tri thức ngữ văn
1. Tri thức về truyện
a. Cốt truyện: Cốt truyện trong tác phẩm tự sự ( thần thoại, sử thi, cổ tích, truyện ngắn, tiểu thuyết,…) và
kịch được tạo nên bởi sự kiện (hoặc chuỗi sự kiện). Sự kiện là sự việc, biến cố dẫn đến những thay đổi
mang tính bước ngoặt trong thế giới nghệ thuật hoặc bộc lộ những ý nghĩa nhất định với nhân vật hay
người đọc - điều chưa được họ nhận thấy cho đến khi nó xảy ra.
b. Truyện kể : Sự kiện trong cốt truyện được triển khai hoặc liên kết với nhau theo một mạch kể nhất
định. Mạch kể này thống nhất với hệ thống chi tiết và lời văn nghệ thuật (bao gồm các thành phần lời kể,
lời tả, lời bình luận,...) tạo thành truyện kể.
c. Người kể chuyện
+ Truyện kể chỉ tồn tại khi có người kể chuyện. Trong nhiều loại hình tự sự dân gian, người kể
chuyện có thể là người trực tiếp tiếp diễn xướng để kể lại câu chuyện cho công chúng. Trong tự sự của
văn học viết, người kể chuyện là “vai” hay “đại diện” mà nhà văn tạo ra để thay thế mình thực hiện việc
kể chuyện.
+ Nhờ người kể chuyện, người đọc được dẫn dắt vào thế giới nghệ thuật của truyện kể để tri nhận
về nhân vật, sự kiện, không gian, thời gian,…Người kể chuyện cũng khơi dậy ở người đọc những suy tư
về ý nghĩa mà truyện kể có thể gợi ra.
d. Nhân vật : Nhân vật là con người cụ thể được khắc họa trong tác phẩm văn học bằng các biện pháp
nghệ thuật. Cũng có những trường hợp nhân vật trong tác phẩm văn học là thần linh, loài vật, đồ
vật,…nhưng khi ấy, chúng vẫn đại diện cho những tính cách, tâm lí, ý chí hay khát vọng của con người.
Nhân vật là phương tiện để văn học khám phá và cắt nghĩa về con người.
e. Thần thoại:
+ Thần thoại là thể loại truyện kể xa xưa nhất, thể hiện quan niệm về vũ trụ và khát vọng chinh
phục thế giới tự nhiên của con người thời nguyên thủy. Căn cứ vào chủ đề, có thể chia thần thoại thành
hai nhóm: thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và muôn loài (thần thoại suy nguyên); thần thoại kể về cuộc
chinh phục thiên nhiên và sang tạo văn hóa (thần thoại sáng tạo). Ra đời trong “tuổi ấu thơ” của loài
người nên thần thoại mang tính nguyên hợp: chứa đựng các yếu tố nghệ thuật, tôn giáo, triết học, lịch
sử,…Vì vậy, thần thoại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lưu giữ di sản văn hóa nguyên thủy của
cộng đồng.
+Thần thoại thường có cốt truyện đơn giản: có thể là cốt truyện đơn tuyến, tập trung vào một nhân
vật hoặc là một tổ hợp nhiều cốt truyện đơn (tạo thành một “hệ thần thoại”). Nhân vật chính của thần
thoại là các vị thần, hoặc những con người có nguồn gốc thần linh, có năng lực siêu nhiên nên có thể
được miêu tả với hình dạng khổng lồ, hoặc với sức mạnh phi thường,...Chức năng của nhân vật trong thần
thoại là cắt nghĩa, lý giải các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội, thể hiện niềm tin của con người cổ
sơ cũng như những khát vọng tinh thần có ý nghĩa lâu dài của nhân loại. Câu chuyện trong thần thoại gắn
liền với thời gian phiếm chỉ, mang tính ước lệ và không gian vũ trụ với nhiều cõi khác nhau. Lối tư duy
hồn nhiên, chất phác, trí tưởng tượng bay bổng, lãng mạn đã làm nên sức cuốn hút và sức sống lâu bền
cho thần thoại.
2. Tri thức về thơ
a. Thơ và thơ trữ tình
+ Thơ: là hình thức tổ chức ngôn từ đặc biệt, tuân theo một mô hình thi luật hoặc nhịp điệu nhất
định nhằm làm nổi bật mối quan hệ giữa âm điệu và ý nghĩa của ngôn từ để diễn tả những tình cảm mãnh
liệt hoặc ấn tượng, xúc động tinh tế của con người trước thế giới.
+ Thơ trữ tình: là loại tác phẩm thơ thường có dung lượng nhỏ, thể hiện trực tiếp cảm xúc, tâm
trạng của nhân vật trữ tình.
b. Nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình) : Là người trực tiếp bộc lộ rung động và tình cảm trong bài thơ
trước một khung cảnh hoặc sự tình nào đó, cũng là người có mối liên hệ mật thiết với tác giả song không
hoàn toàn đồng nhất với tác giả
c. Hình ảnh thơ

2
là các sự vật, hiện tượng, trạng thái đời sống được tái tạo một cách cụ thể, sống động bằng ngôn từ, khơi
dậy cảm giác (đặc biệt là những ấn tượng thị giác) cũng như gợi ra những ý nghĩa tinh thần nhất định đối
với người đọc.
d. Vần thơ, nhịp điệu, nhạc điệu, đối, thi luật, thể thơ
+ Vần thơ: sự cộng hưởng, hòa âm theo quy luật giữa một số âm tiết trong hay cuối dòng thơ; có
chức năng liên kết các dòng thơ và góp phần tạo nên nhịp điệu, nhạc điệu cũng như giọng điệu của bài
thơ.
+ Nhịp điệu: những điểm ngắt hay ngừng theo chu kỳ nhất định trên văn bản do tác giả chủ động
bố trí, chứa đựng sự lặp lại có biến đổi của các yếu tố ngôn ngữ và hình ảnh nhằm gợi ra cảm giác về sự
vận động của sự sống và thể hiện cảm nhận thẩm mĩ về thế giới.
+ Nhạc điệu: cách tổ chức các yếu tố âm thanh của ngôn từ để lời văn gợi ra cảm giác về âm nhạc
(âm hưởng, nhịp điệu). Trong thơ, những phương thức cơ bản để tạo nhạc điệu là gieo vần, ngắt nhịp,
điệp, phối hợp thanh điệu bằng-trắc,…
+ Đối: cách tổ chức lời văn thành hai vế cân xứng và song đôi với nhau cả về ý và lời. Căn cứ vào
sự thuận chiều hay tương phản về ý và lời, có thể chia đôi thành hai loại: đối cân (thuận chiều), đối chọi
(tương phản).
+ Thi luật: toàn bộ những quy tắc tổ chức ngôn từ trong thơ như gieo vần, ngắt nhịp, hòa thanh,
đối, phân bố số tiếng trong một dòng thơ, số dòng trong cả bài thơ,…
+ Thể thơ: sự thống nhất giữa mô hình thi luật và loại hình nội dung của tác phẩm thơ. Các thể
thơ được hình thành và duy trì sự ổn định của chúng trong quá trình phát triển của lịch sử văn học.
II. Một vài lưu ý khi đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
1. Đọc hiểu văn bản truyện
+ Xác định được phương thức biểu đạt, thể loại của văn bản/đoạn trích.
+ Xác định được cốt truyện, các sự việc chi tiết tiêu biểu, nhân vật, tình huống truyện trong văn
bản/đoạn trích.
+ Xác định được không gian, thời gian trong văn bản/đoạn trích.
+ Chỉ ra thông tin trong văn bản/ đoạn trích.
+ Hiểu được đặc sắc về nội dung của văn bản/đoạn trích: đề tài, chủ đề, tư tưởng, ý nghĩa của hình
tượng nhân vật, ý nghĩa của sự việc chi tiết tiêu biểu…
+ Hiểu được đặc sắc về nghệ thuật của văn bản/ đoạn trích: nghệ thuật trần thuật, xây dựng nhân
vật, chi tiết hoang đường kì ảo…
+ Hiểu được một số đặc trưng của tự sự dân gian, truyện trung đại, truyện hiện đại thể hiện trong
văn bản/đoạn trích.
+ Nhận xét giá trị của các yếu tố nội dung, hình thức trong văn bản/đoạn trích.
+ Rút ra được thông điệp, bài học cho bản thân từ nội dung văn bản/đoạn trích.
2. Đọc hiểu văn bản thơ trữ tình
+ Xác định được phương thức biểu đạt, thể thơ, các biện pháp tu từ trong văn bản/đoạn trích thơ
Đường luật trung đại Việt Nam/ thơ Đường/thơ hai-cư/thơ hiện đại...
+Xác định được đề tài; chi tiết, hình ảnh nghệ thuật đặc sắc, hình tượng nhân vật trữ tình của bài
thơ/đoạn thơ.
+ Nhận diện được từ ngữ, chi tiết, hình ảnh,... trong bài thơ/đoạn thơ.
+ Chỉ ra được thông tin trong bài thơ/đoạn thơ.
+ Hiểu được đặc sắc về nội dung của văn bản/đoạn trích: bức tranh thiên nhiên, đời sống; tâm sự
của tác giả,...
+ Hiểu được đặc sắc về nghệ thuật của văn bản/đoạn trích: hình ảnh, ngôn ngữ, biện pháp tư từ,...
+ Hiểu được một số đặc trưng của thơ Đường luật trung đại Việt Nam/ thơ Đường/thơ hai-cư/thơ
hiện đại thể hiện trong văn bản/đoạn trích; bày tỏ quan điểm của bản thân về vấn đề đặt ra trong bài
thơ/đoạn thơ.
+ Nhận xét ý nghĩa, giá trị của các yếu tố nội dung, hình thức của bài thơ/đoạn thơ.
+ Rút ra được thông điệp, bài học cho bản thân từ nội dung bài thơ/đoạn thơ.
III. Một vài lưu ý khi viết bài văn nghị luận xã hội
1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
+ Xác định được tư tưởng đạo lí cần bàn luận.
+ Xác định được yêu cầu trình bày bài văn.

3
+ Diễn giải về nội dung, ý nghĩa của tư tưởng đạo lí.
+ Vận dụng các kĩ năng dùng từ, viết câu, các phép liên kết, các phương thức biểu đạt, các thao
tác lập luận phù hợp để triển khai lập luận, bày tỏ quan điểm của bản thân về tư tưởng đạo lí.
+ Huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về tư tưởng đạo lí.
+ Có sáng tạo trong diễn đạt, lập luận làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh; bài văn giàu sức
thuyết phục.
2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
+ Nhận diện hiện tượng đời sống cần nghị luận.
+ Xác định được yêu cầu trình bày bài văn.
+ Hiểu được thực trạng/nguyên nhân/ các mặt lợi - hại, đúng - sai của hiện tượng đời sống.
+ Vận dụng các kĩ năng dùng từ, viết câu, các phép liên kết, các phương thức biểu đạt, các thao
tác lập luận phù hợp để triển khai lập luận, bày tỏ quan điểm của bản thân về hiện tượng đời sống.
+ Huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về hiện tượng đời sống.
+ Có sáng tạo trong diễn đạt, lập luận làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh; bài văn giàu sức
thuyết phục.
B. PHẦN THỰC HÀNH – LUYỆN TẬP
Đề 01:
I. ĐỌC – HIỂU (6.0 điểm)
* Đọc văn bản sau : Chử Lầu
(Thần thoại H’Mông)
Chử Lầu1 sau khi sáng tạo ra trời đất bèn làm một lúc 10 mặt trời, 9 mặt trăng và rất nhiều sao để
chiếu rọi cho khô ráo và cho sáng. Về sau vì loài người sợ rằng những thứ đó rơi xuống có thể làm nguy hại
cho trần gian nên xin Chử Lầu cất đi nhưng Chử Lầu không cất, chỉ làm thêm một cái màng xanh ngăn giữa
đất và tinh cầu để cho loài người an tâm. Mười mặt trời là nữ, chín mặt trăng là nam được Chử Lầu cho một
cái hồn vào miệng và thổi hơi cho hoạt động. Những tinh cầu2 ấy hun đốt trong bảy năm liền. Trong thời gian
đó, chỉ có ngày mà không có đêm.
Khi đất đã khô ráo, Chử Lầu làm ra mọi thứ cỏ cây, muôn vật và người. Con người do Chử Lầu dùng
đất nặn thành, cho hồn vào bụng, tiếng nói ở cổ họng và thổi hơi vào cho sống. Mọi vật phát triển rất chóng,
chả mấy lúc mà đầy cả mặt đất. Nhưng vì nóng quá, con người bèn chặt cây lớn làm cung tên khổng lồ, bắn
vào các mặt trời và mặt trăng. Chín mặt trời và tám mặt trăng trúng tên ngay còn hai cái nữa trốn thoát.
Trong khoảng đó có đêm không ngày người ta sống trong cảnh đen tối, lạnh lẽo. Họ cố nài3 mặt trời
và mặt trăng trở lại nhưng chúng không nghe. Các giống vật cử cọp đi gọi, nhưng cũng không được. Sau bảy
năm, nhờ có gà gọi mãi đến lần thứ bảy, chúng mới chịu trở về, Chử Lầu thưởng cho gà một cái mào đỏ vì có
công trạng ấy.
Con người lúc đó sống đến 900 tuổi, đến hạn cũng chết, nhưng được vào vườn Din-giang-ca4 của Chử
Lầu. Ở đó tròn 12 ngày tự nhiên lột da, sống và trẻ lại rồi trở về nhà cũ. Nhưng có một nhà nọ, nàng dâu xích
mích với mẹ chồng, thường hắt hủi và xỉ vả5 nên mẹ chồng giận, quyết ở luôn tại vườn Din-giang-ca không về.
Ở đây bà ta ăn quả đào trắng, uống nước suối, phạm vào lệnh cấm của Chử Lầu. Chử Lầu giận, bèn cấm loài
người không được đến vườn của mình nữa. Từ đó, loài người hễ chết là chết luôn.
Lúc đó công việc làm đồng áng rất nhẹ nhàng. Cỏ không có, cây cối tự nhiên mọc và có quả. Ngô ăn
được cả lá. Người ta chỉ mất công gieo ngô và lúa là có ăn. Mỗi lần lúa chín tự nhiên nó bay về, không phải
gặt. Nhưng có một người kia phần việc là mang cơm ra đồng cho mọi người ăn, thấy nhóm mình làm việc quá
chóng: vừa đặt cơm ở chỗ này thì họ đã tiến cách đó rất xa. Người ấy bèn xin Chử Lầu hiện cỏ ra mặt đất để
cho công việc chậm lại. Chử Lầu nghe lời. Vì thế mà từ đó công việc đồng áng rất chật vật. Lại có một nhà
khác có người đàn bà nhác6 không chịu quét dọn nhà cửa để đón lúa nên lúc lúa bay về thấy bẩn thỉu bèn rủ
nhau từ đấy quyết không tự về nữa
(Theo Bùi Văn Nguyên, Đỗ Bình Trị, Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam,
Tập I : Văn học dân gian, phần III, NXB Giáo dục, 1976. Tr.93 – 96)
1 Chử Lầu: như Ngọc Hoàng trong thần thoại của người Kinh (Việt)
2 Tinh cầu: ngôi sao
3 Nài: nằn nì, yêu cầu
4 Din-giang-ca: vườn của Chử Lầu, tức là “thiên đường” theo quan niệm thần thoại.
5 Xỉ vả: mắng nhiếc thậm tệ.
6 Nhác: lười biếng

4
*.Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
A. Truyền thuyết
B. Sử thi
C. Thần thoại
D. Truyện cổ tích
Câu 2. Đề tài của truyện là gì?
A. Ngọc Hoàng
B. Mặt Trời và Mặt Trăng
C. Người anh hùng
D. Các vị thần
Câu 3. Để chiếu dọi cho khô ráo và cho sáng trời đất, Chử Lầu đã tạo ra cái gì?
A. 7 mặt trời và 5 mặt trăng
B. 10 mặt trời và 9 mặt trăng
C. 5 mặt trời và 10 mặt trăng
D. 9 mặt trời và 10 mặt trăng
Câu 4. Chử Lầu thưởng cho gà cái mào đỏ vì công trạng nào?
A. Gà có công gọi được mặt trời
B. Gà gáy báo hiệu thời gian cho mọi người
C. Gà gáy giục mọi người đi làm
D. Gà gọi được mặt trời và mặt trăng trở về
Câu 5. Nhân vật Chử Lầu trong chuyện này có chức năng gì?
A. Sáng tạo ra mặt trời, mặt trăng
B. Sáng tạo ra loài người
C. Sáng tạo ra muôn vật
D. Sáng tạo ra trời đất, muôn vật và con người
Câu 6. Mục đích của người xưa khi sáng tạo ra nhân vật Chử Lầu là gì?
A. Giải thích nguồn gốc của cây lúa
B. Giải thích vì sao con người chết
C. Giải thích nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc con người
D. Giải thích vì sao gà có mào đỏ
Câu 7. Từ nội dung câu chuyện, có thể thấy một đặc điểm nào nổi bật của thần thoại?
A. Uớc mơ về cuộc sống tốt đẹp
B. Khát vọng trường sinh bất tử
C. Giải thích các hiện tượng tự nhiên
D. Giải thích nguồn gốc của vũ trụ.
*Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Trong truyện Chử Lầu, người xưa bày tỏ ước mơ gì?
Câu 9. Hãy lí giải vì sao truyện Chử Lầu vừa có yếu tố của thần thoại suy nguyên (suy xét, tìm hiểu, cắt
nghĩa nguyên nhân), vừa có yếu tố của thần thoại sáng tạo?
Câu 10. Qua văn bản Chử Lầu, anh/chị có suy nghĩa gì về cuộc sống hiện thực và khát vọng của con
người thời cổ? Viết đoạn văn 8-10 dòng trình bày ý kiến của anh/chị về vấn đề này?
II. VIẾT (4.0 điểm)
Trong cuộc sống, có muôn vàn khó khăn thử thách, con người cần sống có tinh thần lạc quan. Hãy
viết bài văn nêu suy nghĩ của anh/chị về vấn đề này.
Đề 02:
I. ĐỌC – HIỂU (6.0 điểm)
*Đọc văn bản sau :
Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng
Vua trên trời là Ngọc Hoàng có hai con gái đẹp. Ngọc Hoàng yêu quý hai nàng lắm nên cho các
nàng hàng ngày luân phiên nhau đi xem xét mọi việc của hạ giới để báo lại cho nhà Trời. Cô gái đầu tên
là Mặt Trời được ngồi kiệu hoa có bốn người khiêng. Bốn người này chia làm hai tốp: một tốp già và một
tốp trẻ. Tốp các cụ già khiêng kiệu luôn luôn lo làm tròn phận sự, chăm chỉ vào công việc nên cô Mặt

5
Trời thường đi một vòng rất nhanh. Còn tốp trẻ bản tính la cà nên những lần được phân công khiêng kiệu
thường về muộn. Vì thế, mỗi lần Mặt Trời đi với tốp trẻ thì ngày dài, và đi với tốp già thì ngày lại ngắn.
Mặt Trăng là cô em tính tình nóng nảy còn hơn cả cô chị. Sức nóng của cô đã làm hại cho người
và muôn vật khá nhiều. Ấy thế mà cô vẫn cứ chỏng lỏn, đi đâu cũng sà vào khiến cho nhân dân vô cùng
kinh hãi. Trần gian khổ sở vì cô Mặt Trăng, họ đã kêu ca rất nhiều, tiếng thấu lên Thượng giới khiến cho
bà mẹ đã định lấy tro mà bôi lên mặt cô để giảm bớt sức nóng đi. Nhưng Ngọc Hoàng chiều con, nên
không để cho vợ làm việc ấy.
Bấy giờ ở dưới trần có một chàng trai tên là Quải. Quải là con mồ côi nhưng lại có một thân thể
cực kỳ to lớn và sức khỏe tuyệt vời. Trước những hành động tai ác của cô Mặt Trăng, Quải quyết tâm trị
cho một mẻ. Anh ta đón đường cô Trăng trên một đỉnh núi cao và trữ sẵn một đống cát thật lớn. Hôm ấy,
cô Mặt Trăng vẫn quen thói cũ vừa đi vừa sà xuống để nhìn muôn vật, Quải chờ cho cô ta đến gần rồi bất
thình lình bốc cát ném túi bụi vào mắt, vào mặt mũi cô. Cô Trăng đang rong chơi, bị tấn công đột ngột,
nhắm mắt lại nhưng đất đã dính đầy mặt và chui cả vào trong mắt. Cô ta hốt hoảng vội vụt bay lên cao,
lảng ra xa chỗ Quải đứng.
Từ đó trở đi cô không dám sà xuống gần mặt đất nữa. Mặt mũi cô bị cát dính chặt nên không còn
sáng được như xưa. Sau này tính tình của cô trở nên dịu dàng, hiền lành hơn, ở dưới trần ai cũng thích.
Người ta nói mỗi lần cô ngoảnh mặt xuống nhân gian thì lúc đó là trăng rằm, cô quay lưng tức là ba
mươi, mùng một, còn cô trở sang trái, sang phải tức là thời kỳ trăng hạ huyền hoặc thượng huyền. Còn
những khi trăng quầng, ấy là lúc cát bụi trát mặt bị gió thổi bay tung ra.
Lại nói chuyện chồng của hai nữ thần này. Đó là một con gấu rất to khoẻ. Không rõ gấu từ đâu
đến và Ngọc Hoàng đã gả các cô con gái của mình cho gấu từ bao giờ. Chỉ biết rằng gấu rất hay ghen
nên theo dõi sự đi lại của hai vợ mình rất chặt chẽ. Thỉnh thoảng, gấu lại đòi chung tình với một người.
Lúc đó là lúc ở dưới trần gian thường gọi là nhật thực hay nguyệt thực. Gặp những ngày này, nhân gian
lại phải đánh chiêng, đánh trống rầm rĩ để cho gấu sợ mà lui ra mau. Vì gấu làm như vậy thì có hại cho
mùa màng và các nữ thần này cũng vì vậy mà xao nhãng công việc.
(Theo Viện Văn học, Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập 1 :
Thần thoại – truyền thuyết, NXB Giáo dục, 1999)
*Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
A. Truyền thuyết
B. Sử thi
C. Thần thoại
D. Truyện cổ tích
Câu 2. Đề tài của truyện là gì?
A. Ngọc Hoàng
B. Mặt Trời và Mặt Trăng
C. Người anh hùng
D. Nữ thần
Câu 3. Thứ tự các sự việc được kể trong văn bản trên là:
(1) Mặt Trăng vội lánh ra xa chỗ Quải đứng, không dám sà xuống gần mặt đất nữa.
(2) Nhứng ngày nhật thực hay nguyệt thực , nhân gian đánh chiêng, đánh trống để gấu sợ mà lui ra.
(3) Mặt Trăng bị chàng Quải tấn công, bốc cát ném túi bụi vào mắt, vào mặt và mũi.
(4) Mặt Trăng và Mặt Trời hàng ngày luân phiên nhau đi xem xét mọi việc ở hạ giới.
(5) Mặt Trăng sà xuống để nhìn muôn vật làm cho họ sợ hãi vì sức nóng của mình.
A. (1) – (2) – (3) – (4) – (5)
B. (4) – (5) – (3) – (1) – (2)
C. (2) – (3) – (4) – (5) – (1)
D. (4) – (5) - (2) - (1) - (3)
Câu 4. Theo cách lí giải của dân gian, vì sao Mặt Trăng không còn nóng như Mặt Trời?
A. Vì mẹ nữ thần Mặt Trăng đã lấy tro bôi lên mặt cô để giảm bớt sức nóng.
B. Vì Mặt Trăng đã trưởng thành, tính tình thay đổi, trở lên hiền lành dịu dàng.
C. Vì sau khi bị chàng Quải tấn công, Mặt Trăng sợ quá bay lên cao, không dám xà gần xuống mặt
đất.
D. Vì gió thổi cát bụi dính chặt vào mắt, mũi của Mặt Trăng, khiến Mặt Trăng không còn sáng được
như xưa.

