Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
450
TÌM HIỂU VÀ ĐỐI CHIẾU BẢN DỊCH CỦA DỊCH GIẢ
NGÔ NGỌC LINH VÀ THẠCH CAN VỚI NGUYÊN TÁC THƠ CHỮ HÁN
TRONG SÁU BÀI THƠ THU CỦA NGÔ THÌ NHẬM
STUDY AND ANALIZE THE TRANSLATIONS OF NGO NGOC LINH
AND THACH CAN OF THE 6 POEMS ABOUT FALL OF NGO THI NHAM
SVTH: Nguyễn Hà Phương
Lớp: 06SPT01, Khoa Tiếng Trung, Trường Đại học Ngoại ngữ
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thanh
Khoa Tiếng Trung, Đại học Ngoại ngữ
TÓM TT
Một trong những năng của việc học ngoại ngữ đó chính dịch thuật. việc dịch t
chữ Hán một phần rất hay rất thú vị trong quá trình học tiếng Hán của sinh viên khoa Trung.
Bản báo cáo này thông qua việc nghiên cứu so sánh những tác phẩm dịch thơ của Ngô Ngọc
Linh và Thạch Can với nguyên tác thơ chữ Hán của Ngô Thì Nhậm sẽ giúp các bạn sinh viên hiểu
hơn: để cho ra đời một tác phẩm dịch thơ hay xuất sắc thì người dịch không chỉ cần đảm
bảo về mặt nội dung đảm bảo về mặt nghệ thuật cũng nhoàn cảnh sáng tác của tác phẩm
cũng rất quan trọng.
ABSTRACT
One of many language skills during the process of learning a foreign language is
translating. For students learning Chinese, translating the Chinese poems into Vietnamese is a
useful and interesting part in their learning Chinese process. By doing research and making a
comparison between the translated versinons of Ngo Ngoc Linh and Thach Can and the original
versions of Ngo Thi Nham. This seport will help the students have a wider knowledge about this
fact: To make an excellent and perfect translated version, the translator must assure not only the
meaning, the artistic means but also the background of the poem, which is very important.
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Đối với bản thân nói việc chọn thơ của Ngô Thì Nhậm làm đề tài xuyên suốt
đơn giản khởi nguồn từ sự yêu thích thơ, sự muốn khám phá một bức màn thơ đại của
một vị anh hùng vĩ đại.
Thông qua sự gần gũi từ những tác phẩm thơ của Ngô Thì Nhậm đối với con người
Việt Nam, Ngô Ngọc Linh Thạch Can đã những phần dịch thơ rất hay, lột tả
được phần nào ý tứ của tác phẩm. Nhưng từ những kiến thức đã được học từ trường phổ
thông suốt những m đại học, tôi cũng hiểu giữa phần nguyên tác phần dịch thơ
một chặng đường đầy gian nan vất vả, sẽ phần dịch sát nghĩa với ý gốc, nhưng
cũng có câu thơ không thể dịch theo đúng những gì mà nhà thơ muốn nói, đó là một vấn đề
vô cùng khó khăn. Mà nguyên nhân chính, chính là chữ Hán có rất nhiều tầng nghĩa. Trong
mỗi bài thơ, Ngô Thì Nhậm sử dụng cung bậc nghĩa nào, người dịch có dịch sát không? Đó
là câu hỏi lớn luôn khiến tôi day dứt.
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
451
1.2. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của bản nghiên cứu này nhằm tìm ra những ưu điểm và nhược điểm trong
6 tác phẩm dịch thơ của Ngô Ngọc Linh Thạch Can, thông qua đó chứng minh quá
trình dịch một tác phẩm thơ chữ Hán là không d dàng. Để có được một tác phẩm dịch hay
không chỉ cần bảo đảm nội dung mà nghệ thuật của nó cũng cần được chú trọng. Bên cạnh
đó cũng nhằm một mục đích nữa muốn giới thiệu đến các bạn trẻ, đặc biệt các bạn
muốn tìm hiểu tiếng Hán thêm một nhà thơ Việt Nam nữa lấy chữ Hán là ngôn ngữ chủ
đạo trong sáng tác văn chương của mình.
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu
Muốn đạt được mục đích trên thì bản nghiên cứu y sẽ đi phân tích sâu hơn về
những thiếu sót trong quá trình dịch 6 bài thơ Thu dựa vào việc đối chiếu so sánh giữa bản
dịch thơ với nguyên tác và phần dịch nghĩa của bài thơ.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
Thơ văn Ngô Thì Nhậm cùng phong phú rộng lớn nhiều thể loại phú, thơ,
văn xuôi…Trong cuộc đời sáng tác của mình Ngô Thì Nhậm đã để lại một lượng thơ tương
đối lớn gồm hai phần: Thơ làm trong nước và thơ làm trong chuyến đi sứ nhà Thanh. Tổng
cộng các bài thơ chữ Hán mà Ngô Thì Nhậm để lại cho đời trên dưới 800 bài.
1. 送秋 Tiễn thu
2. 惜秋 Tiếc thu
3. 秋思四 其一 Thu tứ tứ tuyệt – kỳ nhất
4. 秋思四 其二 Thu tứ tứ tuyệt – kỳ nhị
5. 秋思四 其三 Thu tứ tứ tuyệt – kỳ tam
6. 秋思四 其四 Thu tứ tứ tuyệt – kỳ tứ
1.4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Cơ sở lý luận:
Vận dụng luận về dịch thuật, đặc biệt dịch tác phẩm văn học. Ngoài ra còn sử
dụng lý luận về Hán ngữ cổ đại cũng như Hán Nôm Việt Nam vào quá trình phân tích.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp định tính trong việc phân tích, đánh giá, đối chiếu 6 bản dịch
thơ của Ngô Ngọc Linh và Thạch Can với nguyên tác thơ chữ Hán.
1.5. Cơ sở văn bản
1.5.1. Giới thiệu về nguồn gốc sáu bài thơ thu.
Trong 6 bài thơ Thu của Ngô Thì Nhậm thì có hai bài là 送秋, 惜秋nằm trong tập
Cúc hoa thi trận còn gọi (Cúc hoa bách vịnh). Tuyển tập gồm 50 bài Ngô Thì Nhậm
cùng Phan Huy Ích vịnh thơ theo một vần “phương”, “đường”, chương”, “dương”.
một trong 6 tập thơ ông làm trong giai đoạn còn ở trong nước khoảng năm 1796.
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
452
秋思四 其一
秋思四 其二
秋思四 其三
秋思四 其四
Đây bộ thu tứ tứ tuyệt, được Ngô Thì Nhậm viết trong tập “Ngọc đường xuân
khiếu”, tập thơ này chép 67 bài thơ với các thể loại thơ khác nhau. thể tác giả sáng c
trong giai đoạn sau ngày họ Trịnh bị lật đổ ( ít nhất là từ sau 1786), năm Nguyễn Huệ đem
quân ra Bắc Hà lần thứ nhất trở đi.
(Nguồn từ: Trang 57_Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm của Cao Xuân Huy Thạch Can
chủ biên)
1.5.2. Giới thiệu 6 bài dịch thơ của dịch giả Ngô Ngọc Linh và Thạch Can.
Sáu bài thơ dịch này được in trong tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm của nhà xuất
bản Khoa học hội Nội 1978. Hai bài thơ Thu 送秋, 惜秋 Ngô Ngọc Linh dịch,
còn bộ Thu tứ tứ tuyệt do Thạch Can đảm nhận dịch.
2. Nội dung
2.1. Giới thiệu sơ lược cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Thì Nhậm
Ngô Thì Nhậm sinh ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần (25/10/1746) tại làng Tả Thanh
Oai (tục gọi làng Tó) trấn Sơn Nam (nay Đại Thanh, huyện Thường Tín, tỉnh
Sơn Bình), trong một gia đình quý tộc truyền thống văn học. Sau khi Nguyễn Ánh kéo
quân ra Bắc hiềm khích với Đặng Trần Thường, ông đã bị y sai đánh một cách cố ý.
Ông mất ngày 16 tháng 2 năm Quý Hợi (7/3/1803).
thể nói, thơ Ngô Thì Nhậm tượng trưng của hai giai đoạn lịch sử trong cuộc
đời ông. Trước ngày đi với phong trào Tây Sơn, thơ văn của ông chủ yếu nói về cuộc sống
xã hội lầm than rối ren. Sau này đi theo cuộc khởi nghĩa của nông dân, niềm tự hào dân tộc
hòa quyện vào trong từng tứ thơ từng suy nghĩ của ông. Ông viết về thiên nhiên cuộc sống,
về những lần đi sứ qua nhà Thanh về vua Quang Trung người ông kính mến
gửi gắm niềm trung tín cho đến chết.
2.2. Nhận xét bản dịch của Ngô Ngọc Linh Thạch Can với nguyên tác thơ chữ Hán
trong sáu bài thơ Thu của Ngô Thì Nhậm.
2.2.1. Nhận xét bản dịch của Ngô Ngọc Linh
Trong sáu bài thơ được chọn để đi nghiên cứu này thì Ngô Ngọc Linh đảm nhận
dịch hai bài 送秋, 惜秋. Hai bài thơ này đều được Ngô Thì Nhậm sử dụng phương pháp
nghệ thuật điệp vần “ương “đường, chương, dương, phương…”rất tinh tế. Tuy nhiên
trong hai bài thì bài 送秋 thành công hơn cả về mặt nghệ thuật, tính nghệ thuật của ngun
bản được đảm bảo gần như toàn bộ. Nhưng bên cạnh đó, mặt nội dung của bài 送秋 lại
không thành công như của bài 惜秋.
như trong bài 送秋 câu: Từ lầu yểu điệu đát thiên chương”, bản thân từ
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
453
“đát” nó có ý nghĩa là thấy người có sự bất hạnh mà sinh lòng thương, thấy cảnh vật hoang
tàn mà sinh lòng ủ rũ, xót xa. Bản dịch thơ dùng từ “ngại”, ý chỉ người con gái không thích
xuống lầu ngại trời nhiều sương như thế chưa chính xác. Nhưng đối với hai câu dịch
thơ :
“Xô xát giáp vàng tan trận bướm
Chắt chiu tinh ngọc dệt dòng thơ”
(Trích bản dịch bài
惜秋
)
Thì Ngô Ngọc Linh thực sự đã rất thành công trong việc lựa chọn từ ngữ, hai từ “xô
xát” “chắt chiu” như một cái đó đối nghịch nhau vừa cảm thấy đau xót lại vừa cảm
thấy thoả lòng. Đau xót quang cảnh mùa thu tàn úa quá, cái màu vàng của hoa cúc
dường như cũng đang chống chọi lại với thiên nhiên, với quy luật muôn đời của tạo hoá để
cố níu giữ lại chút hơn tàn của mùa thu…Cố chắt chiu chút tinh tuý còn sót lại của mùa thu
này mà dệt nên những trang thơ.
2.2.2. Nhận xét bản dịch của Thạch Can
Dịch giả Thạch Can đảm nhận dịch trọn bộ thu tứ tứ tuyệt bao gồm:
秋思四 其一
秋思四 其二
秋思四 其三
秋思四 其四
Nếu như đối với hai bài 送秋, 惜秋 đặt nặng vấn đề nghệ thuật, thì bộ thu tứ tứ
tuyệt này lại đặt nặng vấn đề lột tả cái thần trong cảm xúc nỗi lòng của Ngô Thì Nhậm.
Bốn bức tranh thu như bốn tâm sự về thế thái nhân tình được Ngô Thì Nhậm trải y vào
những trang thơ. Thạch Can đã rất thành công trong việc truyền tải ý thơ thành ý nh ấy.
Nếu như ở kì một đó là sự xót xa về nỗi buồn ly biệt của những người yêu nhau, thì sang kì
hai đấy chính sự hỗ thẹn lòng đầy danh vọng hão. ba lại miêu tả cái thần cái sắc
của cảnh thu nhưng lại lồng vào đó những lời răn dạy về sự khiêm tốn giản dị bốn
lại nỗi nhớ quê được Ngô Thì Nhậm gởi gắm vào những hình ảnh rất đặc trưng đậm
chất thu “bể biếc, non xanh, trời thu kia với sắc thu này…”.
Tuy nhiên, trong bản dịch của dịch giả Thạch Can vẫn đôi từ ngữ sử dụng chưa
chuyển tải được hết ý nghĩa của ngun bản. như 4 Ngô Thì Nhậm dùng cụm từ
“cộng bình phân” nhằm miêu tả hình ảnh bầu trời thu xanh thẳm, sắc thu trong trẻo, cả hai
như bao trùm lấy không gian mùa thu, tầng thu lớp thu như chia không gian ấy thành
những phần bằng nhau, rồi lại hoà quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh vừa đẹp về tình
lại đẹp về cảnh. Còn Thạch Can dịch: “ Trời thu kia với sắc thu y”, chưa toát lên được ý
tứ của “cộng bình phân” đó.
2.2.3. Nhận xét chung về một bản dịch thơ hay
Một bản dịch thơ hay một bản dịch vừa hội tụ được yếu tố nghệ thuật lại vừa
truyền tải được ý nghĩa về mặt nội dung của nguyên tác. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa đủ,
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
454
người dịch giả cũng cần phải lựa chọn từ ngữ sao cho tinh tế, sắc sảo làm thế nào thể hiện
được cái thần của bài thơ. Cái khó của dịch thơ là làm sao chọn được từ ngữ thích hợp,
đôi khi chỉ cần một từ thôi cũng đủ nói lên hết cái đẹp cái tinh túy của một câu thơ ta
cần phải đến đến bảy tám từ để dịch nghĩa.
2.3. Đề xuất ý kiến trong việc học thơ chữ Hán và quá trình dịch văn bản thơ.
Thơ chữ Hán một mảng rất thú vị trong quá trình học của sinh viên khoa Trung.
Vì những rào cản về kiến thức về khả năng cảm thụ tác phẩm cho nên hầu hết mãi đến
năm học thứ ba, thứ các bạn mới hội được tiếp xúc gần nhất với các tác phẩm thơ
đó. Việc học thơ rất khó thơ không giống văn xuôi thể truyền tải được ý tứ dễ
dàng, ý thơ ẩn trong ý từ. Để có thể học tốt và cao hơn nữa là trở thành một dịch giả tương
lai thì ngay từ y giờ, khi đã nhen nhóm trong mình lòng u thích thơ các bạn nên trang
bị cho mình một lượng kiến thức tiếng Việt thông thạo về ngữ pháp cũng như am hiểu v
từ. Bên cạnh đó cũng không quên tích y từ vựng tiếng Hán. Hoàn cảnh sáng tác, lịch sử
hội, tiểu sử tác giả ng một yếu tố cần để chúng ta thể dịch đúng nội dung i
thơ.
3. Kết luận
Sáu bài thơ thu của Ngô Thì Nhậm là những bài thơ rất hay miêu tả vẻ đẹp của mùa
thu, sáu tác phẩm dịch tđều những bản dịch xuất sắc. Ngô Ngọc Linh Thạch Can
đã rất tinh tế trong việc lựa chọn, sử dụng từ ngữ để diễn tả một cách trọn vẹn nhất vẻ đẹp
của c phẩm gốc. Từ việc tả cảnh mùa thu đến việc lồng tâm tình cảm của tác giả vào
từng ý thơ đều được các dịch giả xử lý một cách rất tinh tế.Tuy nhiên trong quá trình dịch,
những thiếu sót trong việc diễn đạt ý là điều không thể tránh khỏi. Sự truyền tải về mặt nội
dung nghệ thuật của ngun bản vào c phẩm dịch vẫn còn đôi chỗ chưa chuẩn xác.
Một số từ sử dụng chưa thật sát nghĩa, một số cụm từ chưa chuyển tải được hết ý.
Thông qua bản nghiên cứu y, người viết cũng hi vọng rằng các bạn trẻ sẽ một
cái nhìn thiện cảm hơn với những tác phẩm thơ, sẽ rút ra được cho mình một phương pháp
học ngoại ngữ, một phương pháp học dịch luôn luôn đối chiếu so sánh, khởi đầu từ sự
học hỏi kinh nghiệm của các dịch giả chuyên nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Thiều Chửu. (2003), Hán Việt tự điển, Nhà xuất bản Thanh Niên.
[2] Chủ biên: Khổng Đức; cộng sự: Long Cương, Đạt Sĩ, Từ điển Hán Việt hiện đại, Nhà
xuất bản thống kê.
[3] Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm. (1998), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh
Hoá.
[4] Lê Văn Hảo (1984), Huế giữa chúng ta, Nhà xuất bản Thuận Hóa-Huế.
[5] Cao Xuân Huy, Thạch Can (1978), Tuyển tập tvăn Ngô Thì Nhậm tập 1 - tập 2,
Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội- Hà Nội.
[6] Hoàng Dân, Nguyễn An Tiêm, Trịnh Ngọc Ánh (2004), Mrộng vốn từ Hán Việt,
Nhà xuất bản Thanh Niên.