
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Báo cáo
037VIE05
Thiết lập vườn ươm và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng
cây giống và trồng khảo nghiệm các mô hình Macadamia
tại 3 tỉnh Miền bắc Việt Nam
MS3: Cơ sở dữ liệu và phân tích
Phần 1 & 2
Phần 1. Thông tin cơ bản mang tính định tính và định lượng chi tiết hoạt động sản xuất (khối
lượng và chất lượng) từ những vườn ươm hiện tại và những trang trại Macadamia có quy mô
khác nhau, bao gồm những chỉ số về tài chính, xã hội và môi trường và hiện trạng bệnh dịch
cũng như loài gây hại.
Phần 2. Phác thảo ngân sách các nhà máy chế biến hạt Macadamia và phân tích tổng biên cho
phạm vi rộng của những khu vực trồng Macadamia và hệ thống sản xuất nhỏ quy mô gia
đình.
Tháng 6 năm 2007

1. Thông tin về tổ chức
Tên dự án Thiết lập vườn ươm và đào tạo nhằm
nâng cao chất lượng cây giống và trồng
khảo nghiệm các mô hình Macadamia
tại 3 tỉnh Miền bắc Việt Nam
Cơ quan phía Việt Nam Trung tâm Môi trường, Du lịch và Phát
triển (CETD)
Trưởng nhóm dự án phía Việt Nam GS. Hoàng Hoè
Tổ chức phía Australia Hội trang trại lâm nghiệp Á nhiệt đới
Nhân sự phía Australia Martin Novak, Kim Wilson
Ngày đề xuất 10 tháng 1 năm 2006
Ngày hoàn thành (nguyên bản) 10 tháng 1 năm 2009
Ngày hoàn thành (xét lại)
Thời gian báo cáo 18 tháng
Liên lạc
Tại Australia: Nhóm trưởng
Tên: Martin Novak Điện thoại: 61 2 66895027
Vị trí: Chủ tịch Fax: 61 2 66895227
Tổ chức Hội trang trại lâm nghiệp Á
nhiệt đới
Email: martin@macanuts.com
Tại Australia: Địa chỉ ban điều hành
Tên: Valda Mitchell Telephone: 61 2 66284372
Vị trí: Nhân viên điều hành Fax: 61 2 66284386
Tổ chức: Hội trang trại lâm nghiệp Á
nhiệt đới
Email: sffa@ceinternet.com.au
Tại Việt Nam
Tên: Hoàng Hoè Điện thoại: 04 8642670,
04 7560233
Vị trí: Giám đốc Fax: 04 7560233
Tổ chức: CETD Email: hoanghoe@fpt.vn
2

2. Tóm tắt những nội dung báo cáo của mốc báo cáo 3 (MS3)
Phần 1. Thông tin cơ bản mang tính định tính và định lượng chi tiết hoạt động sản xuất
(khối lượng và chất lượng) từ những vườn ươm hiện tại và những trang trại Macadamia có
quy mô khác nhau, bao gồm những chỉ thị về tài chính, xã hội và môi trường và hiện trạng
bệnh dịch cũng như loài gây hại.
Dự án 037VIE05 đã thực hiện được 18 tháng. Trong thời gian đó năng lực của các vườn
ươm đã được tăng lên, tạo ra hơn 10.000 cây ghép của 10 – 14 dòng. 3 khu khảo nghiệm
chính đã được thành lập và 16 khu khảo nghiệm khác cũng đã được đề xuất với việc mở
rộng và thông tin ngoài hiện trường và trong những hội thảo. Số liệu sản xuất của vườn
ươm đã được thu thập và chuẩn bị mô hình phổ biến cho Số liệu bán và vận chuyển cây
giống.
Phần 2. Phác thảo ngân sách nhà máy chế biến hạt Macadamia và phân tích tổng biên cho
phạm vi rộng của các khu vực trồng cây và hệ thống sản xuất quy mô nhỏ hộ gia đình.
Mô hình dự toán tài chính và phát triển vốn cho Macadamia đã được chuẩn bị, dựa trên số
liệu về chi phí có sẵn tới thời điểm hiện tại, cho trang trại 20 ha thuần chủng mà cung cấp
những dự đoán về giá trị hiện tại ròng (NPV) và tỷ lệ lãi hồi quy (IRR) trong khoảng thời
gian 20 năm.
3. Tóm tắt thực hiện
Ngành công nghiệp Macadamia ở Việt Nam đang ở trong thời kì sơ khai nhất, hầu như
không diễn ra hoạt động thương mại của hạt (NIS) hay buôn bán nhân của những cây
trồng tại Việt Nam. Rõ ràng là hiện tại đang có khoảng 200 ha trang trại trồng
Macadamia độ tuổi từ 1 đến 4. Vào thời điểm này cũng có khoảng 30-40.000 cây khác
trong các vườn ươm sẽ bổ sung thêm khoảng hơn 100 ha nữa. Có vài hoạt động thương
mại dưới dạng chế biến hạt từ Australia và những nơi khác và lượng nhỏ nhân đang
được tiếp thị. Tuy nhiên, điều này nằm ngoài mục tiêu của bản báo cáo nhưng chúng có
thể được xem xét thông qua dự án bổ sung biết đến tại thời điểm hiện tại.
Ba vườm ươm thương mại chủ yếu đã tạo ra và bán được một số cây ghép với giá từ 30-
40.000 VND/cây và một lượng nhỏ đã được dùng tại những vườn khảo nghiệm và thí
điểm. Chất lượng của những cây này có thể thay đổi và dự án này đã giúp tập trung vào
vấn đề này. Số liệu về khối lượng sẵn có hơn số liệu về chất lượng. Chât lượng cây
phần lớn được xác định dựa vào sự sống sót của cây ở thời điểm này. Dự án đang hoạt
động theo chiều hướng tán thành những định nghĩa này về chất lượng. Đây là vấn đề
nhạy cảm và sẽ cần được xúc tiến đồng bộ nếu cách tiếp cận từ trên xuống dướI bị né
tránh.
Vườn ươm mớI tại Yên Thuỷ, được hỗ trợ bởi dự án này, đang trồng những cây giống
có chất lượng tốt hơn những nơi được quan sát khác. Tuy nhiên, với việc tăng nguồn
thông tin từ cả Australia và giữa những nhà nghiên cứu và những ngườI thực hiện ở
Việt Nam, vườn ươm này đang dẫn đầu trong việc tăng năng suất chất lượng chung.
3

Chi phí thành lập và điều hành vườn ươm mới cung cấp số liệu chi phí quan trọng. Số
liệu này cung cấp những chỉ số có giá trị như chỉ số tài chính cho chính các xưởng chế
biến.
Dịch bệnh và loài sâu gây hại đang được theo dõi và dễ liên quan đến lối đi trong vườn
ươm nếu Mô hình Số liệu bán và vận chuyển cây giống được sử dụng. Còn khá sớm để
đánh giá tính hiệu quả của hoạt động quan trắc bệnh dịch và loài gây hại này trong các
trang trại. Những vấn đề đặc biệt quan trọng nhất là liên quan đến lượng mưa trong thời
kì ra hoa và sự đủ nước trong thờI kì tạo hạt. Điều đầu tiên trong số đó có thể được làm
để giảm bớt bệnh dịch đó là áp dụng thuốc diệt nấm và thứ đến là có thể bù nước thông
qua việc tưới tiêu nếu sẵn có.
Quan trắc và đánh giá môi trường và xã hội cũng cần được tiến hành. Tuy nhiên, cần có
khoảng thời gian dài hơn để đưa ra triển vọng quan trọng cho những điều đang xảy ra.
4. Giới thiệu & Bối cảnh
Như đã đề cập trong dự án này, có rất ít thông tin liên quan tới Macadamia tại Việt Nam
và những thông tin có sẵn thường không đầy đủ và/ hoặc mâu thuẫn nhau. Để xác định
những bản ghi và những nguồn thông tin sẵn có và thu thập thông tin này nhằm tạo ra
dữ liệu cơ sở, sự nỗ lực đã được thực hiện để chuẩn bị cho dự án này. Có sẵn các thông
tin liên quan đến khí hậu, thổ nhưỡng và những xưởng sản xuất nông nghiệp tương đối.
Phần nhiều trong số thông tin đó được đối chiếu với các dữ liệu từ Australia. Tuy nhiên,
biểu hiện của Macadamia (đặc biệt là dữ liệu năng suất) được dựa trên khoảng 10 cây
mà những cây già nhất trong số đó cũng chỉ dướI 10 năm tuổi. Thêm vào đó, chỉ có một
lượng thử nghiệm nhỏ với cây Macadamia tạI 3 vườn ươm chính bao gồm 2 vườn tại Ba
Vì và 1 vườn tạiiLạng Sơn. Dự án đã khuyến khích quan trắc, ghi chép lại và thu thập
số liệu. Dự án đã cung cấp các bản dữ liệu và số mô hình, tuy nhiên, sự tiếp thu còn
chậm và thay đổI mặc dù quy trình được cố định hiển nhiên.
Tình hình này khá trầm trọng do thiếu vốn thanh toán trước để cung cấp và khuyến
khích các thành viên tham gia. Tuy nhiên, hiện nay điều này đã được quan tâm do sự
sửa đổI trong bản hợp đồng. Vốn sẽ được chuyển đến dựa trên sự phê chuẩn và báo cáo
tiến trình. Vì thời gian dự án tương đối ngắn và nguồn quỹ cho những công việc khác
nhau lạI nhỏ nên có vài sự chậm trễ trong việc nộp báo cáo giai đoạn này cũng như giai
đoạn 5 & 6. Hiện nay, dự án dành thời gian để tạo tiền đề dưới dạng các hoạt động và
xây dựng dữ liệu, do đó, dự án hiện đang chuẩn bị về phương thức.
Những tóm tắt của dữ liệu này được giới thiệu ở phần dưới trong các bảng biểu và các
bảng tính. Dữ liệu bổ sung và một số phân tích được cung cấp bởi những thành viên
tham gia dự án trong hội thảo tại Lạng Sơn tháng 10 năm 2006. Vì thê, hiện nay có thể
tiến hành một số phân tích xa hơn trong Phần 2 của báo cáo này thông qua việc sử dụng
Mô hình dự báo tài chính và phát triển vốn cho ngành Macadamia. Mô hình này dựa
trên mô hình được phát triển tại Australia và đã được chấp nhận trong trường hợp của
Việt Nam. Dữ liệu năng suất được sử dụng tromg mô hình này dựa trên những sô liệu
của Australia. Một số số liệu về năng suất của Trung Quốc được dùng để tham khảo,
cho tới khi dữ liệu năng suất có ở Việt Nam thì kết luận về số liệu tỷ lệ lãi hồi quy
4

(IRR) và giá trị hiện tại ròng (NPV) cần được xử lý với trình độ chuyên môn đáng kể.
Không nên sử dụng chúng để tạo ra những giả định nghiên cứu hoặc thương mại
nghiêm túc. Thậm chí dữ liệu đắt giá cần được công bố rộng rãi và dần được hợp lý hoá
khi dự án tiến triển và ngành công nghiệp non trẻ phát triển ở Việt Nam.
Áp dụng tình huống tương tự cho dữ liệu liên quan tới Phần 1. Trong phần sau của dự
án, nên công khai nhiều dữ liệu hơn từ những thành viên tham gia dự án nói riêng và từ
ngành công nghiệp đang phát triển nói chung. Mô hình vận chuyển Macadamia hàng
tháng cũng dựa trên phiên bản của Australia và sẽ tạo ra một bức tranh về hoạt động sản
xuất trong vườn ươm bao gồm cả chất lượng của tỉ lệ cây sống sót. Vào thời điểm hiện
tại, cần xem xét lại các vườn ươm xem chúng hợp với những hệ thống của chúng như
thế nào. Do đó, không có dữ liệu nào được nhập vào trong bản đính kèm.
5. Phần 1: Cơ sở dữ liệu và phân tích đến thời điểm hiện tại
Thêm vào đó, những thông tin xem xét phía bên dưới được đưa ra cho thông tin cung
cấp trong báo cáo thứ nhất và thứ hai, đặc biệt là những báo cáo của những thành viên
tham gia dự án được lưu trong biên bản HộI thảo tạI Lạng Sơn.
Hai mô hình bảng tính được đính kém trong báo cáo này. Vận chuyển cây hàng tháng
liên quan tới Phần 1 và được thiết kế để cung cấp thông tin cho sản xuất cây, tỷ lệ thành
công và buôn bán cây. Mô hình đính kèm này được để trống vì không có vườn ươm nào
có đầy đủ dữ liệu đầu vào. Tuy nhiên, đây là công cụ hữu ích trong gian đoạn sau của
dự án.
Mô hình bảng tính ngân sách Macadamia (thống kê tài chính) liên quan tới Phần 2 của
báo cáo này và cung cấp giá trị hiện tại ròng và tỷ lệ lãi hồi quy (IRR %) dựa trên cả
những giả định về chi phí, thu nhập và năng suất. Quan trọng là phải nhận ra giới hạn
của độ chính xác tại thời điểm này do sự khan hiếm dữ liệu và sự đa dạng trong những
giả định. Tuy nhiên, nó có thể chứng minh đây là công cụ có giá trị khi dữ liệu ngày
càng phổ biến như sự phát triển đi lên của ngành công nghiệp này.
5.1 Thông tin vườn ươm cơ sở
Cây ghép của năm 2005: 850
2006: 6160
2007: 1910
Tổng số cành ghép được là 8900 ( trong 3 vườn ươm hiện tại)
1. Lạng Sơn : đã trồng 294 cây
Tràng Định đã trồng 793 cây
Vạn Linh đã trồng 375 cây trong khu thử nghiệm
Cũng đã có 2100 cây ghép được bán ( giá bán: 40.000 VND/mỗi cây)
2. Vườn ươm Ba Vì: năm 2006 ghép được 1137 cây ghép; năm 2006 nhân giống
được 5500 gốc ghép
600 cây đã được trồng trong khu thử nghiệm
5

