
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA NGÂN HÀNG
MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHUYÊN ĐỀ:
CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG QUYẾT ĐỊNH CHO VAY TRUNG – DÀI HẠN
CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐBSCL CHI NHÁNH TRÀ VINH
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh
HVTH: Kim Hữu Nghĩa
Lớp: Ngân hàng 4 - ngày 1 - K17
TP.HCM, tháng 02/2009

I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ – CHO VAY DỰ ÁN:
1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư:
Thẩm định dự án đầu tư là một quá trình áp dụng kỹ thuật phân tích toàn diện nội dung dự
án đã được thiết lập theo một trình tự hợp lý và theo những tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật đòi hỏi
của ngành và của quốc gia để đi đến kết luận chính xác về hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế
xã hội môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu mục tiêu phát triển của quốc gia và của chủ đầu tư.
Như vậy, thẩm định dự án đầu tư là một quá trình giải quyết các công việc sau:
- Rà soát lại toàn bộ nội dung dự án đã được lập xem có đầy đủ hay không? nếu còn thiếu
thì yêu cầu chủ đầu tư bổ sung theo đúng qui định.
- So sánh một cách có hệ thống các tính toán và các chỉ tiêu của dự án với các tiêu chuẩn
qui định của Nhà nước, hoặc các tiêu chuẩn mà nhà đầu tư kỳ vọng.
- Kết luận dự án có được chấp nhận đầu tư hay không?
2. Mục tiêu, đối tượng thẩm định tín dụng trung và dài hạn:
Tín dụng trung hạn là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 cho đến 5 năm. Tín
dụng dài hạn là những khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Ngân hàng cấp các khoản tín
dụng trung hoặc dài hạn cho khách hang nhằm mục đích tài trợ cho đầu tư vào tài sản cố định
hoặc đầu tư vào các dự án đầu tư. Ngoài ra ngân hàng cũng có thể cấp các khoản tín dụng trung
hoặc dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế
cho thấy rằng đa số các khoản tín dụng trung và dài hạn nhằm mục đích đầu tư vào các DA ĐT.
Khi có nhu cầu vốn trung hoặc dài hạn, khách hang sẽ lien hệ và lập hồ sơ vay vốn gởi
vào ngân hang. Nhìn chung, hồ sơ vay vốn cũng tương tự như hồ sơ vay vốn ngắn hạn chỉ khác
ở chỗ khách hang phải lập và nộp cho ngân hàng dự án đầu tư vốn dài hạn, thay vì gởi cho
ngân hàng phương án sản xuất kinh doanh hoặc kế hoạch vay vốn như khi vay ngắn hạn. Dự án
đầu tư là căn cứ quan trọng để ngân hàng xem xét và quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn
trung, dài hạn hay không. Dự án đầu tư có thể do doanh nghiệp lập hoặc thuê chuyên gia lập.
Nhìn chung một dự án đầu tư thường bao gồm các nội dung chính sau:
+ Giới thiệu chung về khách hàng vay vốn và về dự án.
+ Phân tích sự cần thiết phải đầu tư dự án.
+ Phân tích sự khả thi về mặt tài chính của dự án.
+ Phân tích các yếu tố kinh tế xã hội của dự án.

Trong những nội dung trên, phân tích sự khả thi về tài chính của dự án cực kỳ quan trọng
vì dựa vào đây ngân hàng có thể phân tích và đánh giá khả năng trả nợ và lãi của khách hàng.
Để thấy được sự khả thi về tài chính của dự án, khách hàng phải nêu bật những căn cứ sau:
+ Phân tích và đánh giá tình hình nhu cầu thị trường và giá cả tiêu thụ để làm căn cứ báo
doanh thu từ dự án.
+ Phân tích và đánh giá tình hình thị trường và giá cả chi phí để làm căn cứ dự báo chi phí
đầu tư ban đầu và chi phí trong suốt quá trình hoạt động của dự án.
+ Phân tích và dự báo dòng tiền ròng thu được từ dự án.
+ Xác định các chỉ tiêu (NPV, IRR, PP) dung để đánh giá và quyết định sự khả thi về tài
chính của dự án.
+ Nếu dự án lớn và phức tạp cần có them các phân tích về rủi ro thực hiện dự án như phân
tích độ nhạy, phân tích tình huống và phân tích mô phỏng.
Tóm lại, đối tượng cần thẩm định khi cho vay dự án đầu tư là tính khả thi của dự án về
mặt tài chính. Mục tiêu thẩm định là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng sinh
lợi của một dự án, qua đó, xác định được khả năng thu hồi nợ khi ngân hàng cho vay để đầu tư
vào dự án đó.
3. Các nội dung thẩm định tín dụng trung và dài hạn:
Thẩm định tín dụng trung hoặc dài hạn thực chất là thẩm định dự án đầu tư, do khách
hàng lập và nộp cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn, dựa trên quan điểm của ngân hàng.
Nhiệm vụ của nhân viên tín dụng khi thẩm định dự án là phát hiện những điểm sai sót, những
điểm đáng nghi ngờ hay những điểm chưa rõ rang của dự án và cùng với khách hàng thảo luận,
làm sang tỏ thêm nhằm đánh giá chính xác và trung thực được thực chất của dự án. Để có sự
phối hợp tốt với khách hàng, nhân viên tín dụng cần nắm vững qui trình lập và phân tích dự án
đầu tư của khách hàng. Qui trình phân tích và ra quyết định đầu tư của khách hàng có thể được
mô tả như sau:
Xác định dự án: Đánh giá dự án: Lựa chọn tiêu chuẩn quyết định:
Tìm cơ hội và đưa ra Ước lượng ngân lưu liên quan Lựa chọn luật quyết định
đề nghị đầu tư vào dự án và suất chiết khấu hợp lý NPV, IRR, PP)
Ra quyết định:
Chấp nhận hay từ chối dự án

Nhìn vào qui trình trên, chúng ta thấy rằng khi quyết định đầu tư dự án, khách hàng dựa
vào các chỉ tiêu NPV, IRR, PP. Thế nhưng, việc xác định các chỉ tiêu này tùy thuộc vào mức
độ chính xác của ước lượng ngân lưu và suất chiết khấu.
4. Thẩm định các thông số dự báo thị trường và doanh thu:
Các thông số dự báo thị trường là những thông số dùng làm căn cứ để dự báo tình hình thị
trường và thị phần của doanh nghiệp chiếm lĩnh trên thị trường; qua đó, có thể ước lượng được
doanh thu của dự án. Do vậy, mức độ chính xác của doanh thu ước lượng phụ thuộc rất lớn vào
những thong số này. Các thông số dự báo thị trường sử dụng rất khác nhau tùy theo từng ngành
cũng như từng loại sản phẩm. Nhìn chung, các thông số thường gặp bao gồm:
+ Dự báo tăng trưởng của nền kinh tế.
+ Dự báo tỷ lệ lạm phát.
+ Dự báo tỷ giá hối đoái.
+ Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu.
+ Dự báo tốc độ tăng giá.
+ Dự báo nhu cầu thị trường về loại sản phẩm sắp đầu tư.
+ Ước lượng thị phần của doanh nghiệp.
+ Ngoài ra, còn nhiều loại thông số dự báo khác tùy theo từng dự án, chẳng hạn như công
suất máy móc thết bị, …
Nhìn chung, các loại thông số này có thể chia thành hai loại: Các thông số có thể thu thập
được từ dự báo kinh tế vĩ mô và các thông số chỉ có thể thu thập từ kết quả nghiên cứu thị
trường. Tuy nhiên, do tập quán quản lý, các doanh nghiệp ở Việt Nam ít khi thực hiện nghiên
cứu thị trường nên các thông số như tốc độ tăng nhu cầu thị trường, thị phần, tốc độ tăng giá,
… chỉ có thể ước lượng dựa vào kinh nghiệm hay số liệu quá khứ hơn là dựa vào kết quả khảo
sát. Chính điều này, làm cho công việc thẩm định mức độ tin cậy của các thông số sử dụng để
dự báo thị trường và doanh thu trở nên khó khăn và phức tạp. Để vượt qua khó khăn này và để
hoàn thành tốt công việc thẩm định các thông số dung để dự báo thị trường và doanh thu. Từ
kinh nghiệm cho thấy, nhân viên tín dụng nên làm những công việc sau:
+ Nhận thẩm định dự án thuộc những ngành nào mà mình có kiến thức và am hiểu kỹ về
tình hình thị trường của ngành đó.
+ Tổ chức tốt cơ sở dữ liệu lưu trữ những thong tin lien quan đến ngành mà mình phụ
trách.

+ Liên hệ các thông số của dự án đang thẩm định với các thông số tương ứng ở các dự án
đã triển khai hoặc cơ sở sản xuất tương tự đang hoạt động.
+ Viếng thăm, quan sát, thảo luận và trao đổi thêm với các bộ phận liên quan của doanh
nghiệp để có thêm thông tin, hình thành kỳ vọng hợp lý về các thông số đang thẩm định.
5. Thẩm định các thông số xác định chi phí:
Các thông số này rất đa dạng và thay đổi tùy theo đặc điểm công nghệ sử dụng trong từng
loại dự án. Thông thường các thông số này do các chuyên gia kỹ thuật và chuyên gia kế toán
quản trị ước lượng và đưa ra. Các thông số dung để làm cơ sở xác định chi phí thường thấy bao
gồm:
+ Công suất máy móc thiết bị.
+ Định mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, sử dụng lao động, …
+ Đơn giá các loại chi phí như lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, …
+ Phương pháp khấu hao, tỷ lệ khấu hao.
+ Ngoài ra còn có nhiều loại thông số dự báo khác tùy theo từng dự án, chẳng hạn như
công suất máy móc thiết bị, …
Việc thẩm định mức độ tin cậy của các thông số này không đơn giản. Để hoàn thành tốt
công việc này. Từ kinh nghiệm cho thấy, nhân viên tín dụn nên làm những việc sau đây:
+ Nhận thẩm định dự án thuộc những ngành nào mà mình có kiến thức và am hiểu kỹ về
tình hình chi phí hoạt động của ngành đó.
+ Tổ chức tốt cơ sở dữ liệu lưu trữ những thông tin lien quan đến chi phí hoạt động của
ngành mà mình phụ trách.
+ Liên hệ các thông số của dự án đang thẩm định với các thong số tương ứng ở các dự án
đã triển khai hoặc cơ sở sản xuất tương tự đang hoạt động.
+ Viếng thăm, quan sát, thảo luận và trao đổi thêm với các bộ phận liên quan của doanh
nghiệp để có thêm thông tin, hình thành kỳ vọng hợp lý về các thông số đang thẩm định.
6. Thẩm định dòng tiền hay ngân lưu của dự án:
Ngân lưu hay dòng tiền là bảng dự báo thu chi trong suốt thời gian tuổi thọ của dự án. Nó
bao gồm những khoản thực thu hay dòng tiền vào (Inflows) và thực chi hay dòng tiền ra
(Outflows) của dự án tính theo từng năm.
Trong công tác lập và phân tích dự án đầu tư, người ta qui ước ghi nhận dòng tiền vào và
dòng tiền ra của dự án đều ở thời điểm cuối năm. Kết quả là, dòng tiền sử dụng để phân tích

