
1
Kỹ thuật nuôi cá lóc
trong bể
Cá lóc là loại cá nước ngọt chất lượng thịt ngon, dễ nuôi, hộ nghèo, trun
g
bình, khá,
g
iàu,
đều nuôi được. Tron
g
điều kiện nôn
g
hộ có diện tích đất hạn hẹp hoặc khôn
g
có đất ta có
thể nuôi cá lóc với nhiều loại hình khác nhau: Có thể nuôi cá lóc trong vèo ha
y
nuôi tron
g
bể lót bạt, bể xi măng. Mô hình nuôi này các hộ nghèo, cận nghèo có thể tham gia cùn
g
cộng đồng xung quanh để phát triển kinh tế hộ.Dù dưới hình thức nuôi nào điều đầu tiên ta
phải am hiểu kỹ thuật của từng loại hình nuôi mới đạt hiệu quả kinh tế.
Đặc điểm sinh học cá lóc
- Là loài cá dữ điển hình của thuỷ vực nước ngọt, ăn động vật tươi sống: Tất cả các loại cá, tép,
cua, ốc...vừa với kích cỡ bắt mồi, kể cả đồng loại. (Do đó khi nuôi cá lóc, tiêu chuẩn đầu tiên là
chọn cá đồng cỡ, nhập giống một lần đủ số lượng để tránh tình trạng cá không đều cỡ sẽ ăn lẫ
n
nhau hoặc cá lớn rượt táp cá nhỏ làm xây xát. Đây chính là một trong những nguyên nhân gây
bệnh cho cá). Hiện nay, trong điều kiện nuôi thuần dưỡng, ta có thể tập cho cá lóc ăn thức ăn
công nghiệp ngay khi cá bắt đầu ăn thức ăn của loài. Do đó có thể nuôi cá lóc bằng thức ăn công
nghiệp để chủ động hơn trong sản xuất.
- Cá có cơ quan hô hấp phụ (nên có thể nuôi với mật độ dầy). Cá có thể sống được trên cạn vài
giờ nếu giữ da luôn ẩm ướt, cá lóc giống thông thường là vận chuyển hở.
- Cá lóc có tốc độ lớn tương đối nhanh, thời gian nuôi có thể từ 3 - 5 tháng có thể xuất bán. Tuỳ
loại thức ăn, khả năng đầu tư, giá cả thị trường, có thể xuất bán ở nhiều kích cỡ khác nhau.
- Tùy thị trường tiêu thụ ở từng khu vực và thời giá mà người dân có thể chọn nuôi cá đầu nhím
hay cá đầu vuông. Cá đầu vuông tăng trọng nhanh hơn cá đầu nhím.

2
Điều kiện nuôi bể:
- Không cần diện tích lớn, nhưng nơi đặt bể hạn chế chấn động. Có nguồn nước cấp: sông, kênh,
rạch chính. Có nơi thoát nước thích hợp.
- Khu vực có điện: Nuôi cá lóc trong bể lót bạt do tận dụng diện tích nhỏ nuôi với mật độ cao
nên cần phải trao đổi nước thường xuyên để cung cấp Oxy đầy đủ cá mới phát triển tốt. Do đó
mô hình nuôi này đòi hỏi phải có moteur bơm nước thông thường công suất từ 0,5CV - 2 CV tùy
bể nuôi nhỏ lớn.
Những chuẩn bị cần thiết:
- Dọn sạch, làm phẳng khu vực bố trí bể. Cát đổ nền đáy bể cho phẳng để thoát bã tốt.
- Bao cũ hoặc đệm cũ lót ngăn giữa cát và mủ để không thủng mủ và là lớp đệm tốt. Trụ đứng,
cọc, cây đóng ngang, ván, nẹp, mê bồ hoặc lưới kẽm B40.
- Mủ 2 da, dây chằng bể, lưới che bảo vệ cá.
- Ống nhựa Bình Minh dài 60cm, phi 60, có nắp đậy (nếu đường thoát nước gần). Dài 60cm; phi
90 (nếu đường dẫn thoát nước xa.
- Ống nhựa Bình Minh dài 90cm, phi 60, ống nối phi 60, làm ống tràn.
Thiết kế bể:
Quy cách bể: Làm khung hình chữ nhật bể nuôi tốt từ 15m2 trở lên, bể nhỏ quá, nhiệt độ nước dễ
biến động, cá dễ bệnh và không có sản lượng.
- Tùy theo khổ mủ có bán ở thị trường ta sẽ tính trước mới thiết kế bể nuôi để không lãng phí
thừa hoặc thiếu mủ. Cách tính:
* Dài đáy bể + 2 lần cao (vách đứng)
* Rộng đáy bể+2 lần chiều cao.
* Chiều nào vừa với khổ mủ thì lấy chiều đó làm khổ, chiều còn lại là số mét mủ phải mua.
Khoảng cách trụ đứng: 0,5m – 1,2m một cây, đảm bảo cho chắc chắn để khi bơm nước vào
không bị sạt. Chiều cao được tính từ mặt đất trở lên là 1m - 1,2m. Trụ đứng là cọc tre. Nếu chiề
u
cao bể nuôi là 1,5m, phải làm trụ đứng bằng nống đá, khoảng cách giữa 2 trụ gần hơn. Có thể
làm trụ nống đá chen thêm cọc tre (cây) để chắc chắn và giảm chi phí.
- Bốn vách có thể đóng nẹp ván, tre hoặc có thể bện đăng tre. Khoảng cách giữa 2 nan: 1-2cm
hay lưới kẽm B40. Lót mê bồ xung quanh theo khung đã cố định sẵn, sau đó lót mủ 2 da. Khi lót
mủ, xếp góc sao cho sát mí, những li nhỏ cho ở bên trong, bên ngoài chỉ chừa một li lớn ốp sát
vào đóng nẹp cho phẳng để sau này dễ vệ sinh bể.
Đáy đổ lớp cát cho bằng phẳng, lót lớp đệm hoặc bao cũ giữa lớp cát bảo vệ mủ khỏi thủng khi
trong cát có vật cứng.
Phần đáy bể là kỹ thuật cần quan tâm trong việc thiết kế bể, đáy có độ dốc nghiêng về phía thoát,
độ dốc là 10/9, nơi thoát nước làm một vùng trũng để khi xả nước sẽ tạo dòng xoáy như thế sẽ
rút bả tốt hơn làm phẳng. Nơi đây nên bện một cái hom tre, khoảng cách giữa 2 nan hom dầy,
thưa tùy theo cá nhỏ lớn để chắn cá và thoát bả tốt.
Có ống tràn để ổn định mực nước khi mưa đêm. Đường cấp và thoát về 2 phía đối xứng và
không chung với nguồn cấp.
Mật độ nuôi:
Từ 60-100 con/m2 bể. Nếu khu vực nào cúp điện thường xuyên có thể nuôi với mật độ thấp (60
con/m2), cỡ cá lồng 10.

3
Từ tháng 1 đến tháng 6: Mùa nước trong, có thể thả từ 80-90con/m2 bể.
Từ tháng 7 đến tháng12: Mùa nước đổ, có thể thả 90-100con/m2.
Cách thả cá:
a-chuẩn bị nguồn nước:
- Khi lót mủ xong, vô nước. Ngâm 1-2 ngày cho sạch hoá chất từ mủ, xả bỏ nước. Cũng có thể
ngâm mủ trước khi lót vào bể nếu có điều kiện, cấp nước mới vào và xử lý nguồn nước.
- Xử lý sát trùng nguồn nước: Avaxide 1cc/m3 (Công ty Anova)
b. Nhập giống:
- Phải chọn hộ làm giống có uy tín, nên tìm hiểu kỹ và kiểm tra cá bố mẹ, quan sát đàn cá, đều c
ỡ
đồng nhất màu, lội thành bầy, màu sắc bóng mượt đặc trưng của từng giai đoạn. Có thể bắt c
á
bầy (lồng 4-5) để ương lên rồi lọc lồng. Để hạn chế bắt nhầm cá đã lượt nhiều lần sẽ chậm lớn.
- Cá đem về phải xử lý: Tắm cá bằng muối hột hoặc thuốc có gốc iode để phòng, trị ngoại ký
sinh như nấm, sán lá, trùng bánh xe... Nếu có xây xát sẽ mau lành vết thương.
Thí dụ: Iodine – complex: Nồng độ ngâm là 1cc/m3 (1 khối =1.000lít; nồng độ tắm là 10cc/m3 thời
gian 5-10 phút, như vậy ta có nồng độ là 10cc/1000l =1cc/100lít nước thời gian 5-10 phút). Nếu
thau nước chứa cá để tắm chỉ có 10lít, tức là dùng 0,1cc thuốc hay 1/10 cc. Rất khó rút thuốc. Do
đó ta sẽ pha loãng như sau:
- Cách pha: Rút 1cc thuốc pha trong 1lít nước sạch, lúc này ta có 1.000cc thuốc đã pha. Như vậy
ta có 1.000cc/1.000 lít (1m3=1.000 lít), làm phép tính đơn giản, ta có 1cc/1 lít, lúc này nồng độ
thuốc đã pha cũng y như nồng độ thuốc nguyên chất 1cc/m3 .Thau chứa cá 10lít. Nếu ngâm ta lấy
10cc, nếu tắm ta lấy 100cc thời gian 5-10 phút.
Chú ý: Khi tắm cá, chú ý có thời gian nhất định; tính nồng độ thuốc cần dùng; pha sẳn thuốc, cho
thuốc từ từ vào cá, theo dõi phản ứng của cá để xử lý kịp thời, vì đôi khi nhắm chừng không
đúng, hoặc cá bị mệt do vận chuyển xa. Sau khi tắm cá thì đưa cá vào bể nuôi, ngày sau mới cho
cá ăn hoặc nếu nhập giống sớm thì chiều tối cho ăn.
Cho ăn và chăm sóc
Thức ăn là cá tạp, xay, bằm, cắt khúc tuỳ theo kích cỡ cá, cá mồi có ngạnh phải cắt bỏ ngạnh.
Cũng có thể tập cho cá sử dụng thức ăn công nghiệp loại chuyên dùng cho cá lóc. Kích cỡ hạ
t
thức ăn tùy giai đoạn phát triển của cá.
Khi cho cá ăn phải quan sát hoạt động của cá và quan sát nguồn nước để xử lý kịp thời:
- Nếu thấy cá nổi trên mặt nước nhiều là nguồn nước dơ. Nếu cá nổi dàn đều trên mặt nước,
nhưng phản xạ nhanh khi có tiếng động là cá thiếu Oxy, thiếu oxy kéo dài cá kháng bệnh kém, sẽ
dễ bệnh.
- Sức ăn của cá phụ thuộc: Thời tiết; chế độ trao đổi nước, chất lượng mồi, hay cá bị bệnh.
Chú ý cho ăn theo 4 đúng: Đủ số lượng để cá phát triển (nếu thiếu mồi cá ăn lẫn nhau sẽ hao đầ
u
con hoặc rượt táp làm cá dễ bệnh ); đủ chất lượng để cá khoẻ, đúng vị trí và thời gian để tạo phả
n
xạ có điều kiện giúp cá hấp thu thức ăn tốt, hệ số tiêu tốn thức ăn sẽ thấp.
Khi thời tiết xấu, trộn Vitamine-C, men tiêu hoá, betaglucan cho cá ăn 3-5 ngày.
Cá lồng 10 nên tẩy giun hoặc trộn thuốc trị nội ngoại ký sinh (có bán ở hiệu thuốc Thú y). Định
kỳ 15 ngày tẩy giun một lần, để cá lớn nhanh và phòng bệnh tốt.Vì giun là một trong những tác

