intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Chia sẻ: Cẩn Ngôn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:79

4
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong luận văn này tác giả tập trung vào vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc ở Việt Nam theo những quy định của pháp luật trong nước trong mối tương quan về nội dung pháp lý với các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia và một số văn bản pháp lý liên quan.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HỒNG THÁI BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM KIẾN TRÚC LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HỒNG THÁI BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM KIẾN TRÚC Chuyên ngành: Luật kinh tế Mã số: 60380107 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Hưng TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi tên là Nguyễn Hồng Thái, mã số học viên 7701261001A, là học viên lớp Cao học Luật Khóa 26 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc” (sau đây gọi tắt là “Luận văn”). Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Văn Hưng. Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả. Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng. Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực. Học viên thực hiện Nguyễn Hồng Thái
  4. MỤC LỤC Trang TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TÓM TẮT LUẬN VĂN PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM KIẾN TRÚC .............................................................................................................. 4 1.1. Tổng quan về vấn đề Quyền tác giả ..................................................................... 4 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm Quyền tác giả .............................................................. 4 1.1.2. Chủ thể, nội dung, đối tượng của quyền tác giả ................................................ 6 1.1.3. Hành vi xâm phạm quyền tác giả .................................................................... 10 1.1.4. Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả .............................................................. 11 1.2. Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc .......................................................... 12 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm ....................................................................................... 12 1.2.2. Đối tượng và phạm vi bảo hộ .......................................................................... 14 1.2.3. Chủ thể và nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc ....................... 25 1.2.4. Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc ......................... 32 Tiểu kết chương 1...................................................................................................... 37 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM KIẾN TRÚC: KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN .................................. 38 2.1. Thực trạng bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam hiện nay ............................................................................................................................. 38 2.1.1. Thực trạng đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc ........................ 38 2.1.2. Thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc - Các trường hợp tranh chấp điển hình ............................................ 40 2.2. Nguyên nhân ...................................................................................................... 50
  5. 2.3. Giải pháp, kiến nghị và hướng hoàn thiện ......................................................... 55 2.3.1. Giải pháp ......................................................................................................... 55 2.3.2. Hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc ................. 58 2.3.3. Những vấn đề cần lưu ý để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc thông qua hợp đồng ................................................................................................... 63 Tiểu kết chương 2...................................................................................................... 67 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  6. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS Bộ Luật dân sự BLTTDS Bộ Luật tố tụng dân sự NĐ Nghị định TT Thông tư TTLT Thông tư liên tịch NQ Nghị quyết VHTTDL Văn hóa thể thao và Du lịch BXD Bộ Xây dựng SHTT Sở hữu trí tuệ QHPLDS Quan hệ pháp luật dân sự GCN Giấy chứng nhận QTG Quyền tác giả KTS Kiến trúc sư
  7. TÓM TẮT LUẬN VĂN Quyền tác giả là vấn đề không mới, tuy nhiên thời gian vừa qua rộ lên nhiều tranh cãi liên quan đến bản quyền. Trong lĩnh vực kiến trúc, vấn đề quyền tác giả đang được nhắc đến và ngày càng có nhiều kiến trúc sư quan tâm đến lĩnh vực của mình. Phần lớn các ý kiến đều cho rằng phải coi kiến trúc là tác phẩm để làm cơ sở cho việc bảo vệ quyền tác giả và xa hơn là giữ gìn di sản kiến trúc. Vậy làm thế nào để hiểu rõ hơn về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc qua đó hiểu được các nội dung thường xảy ra trong tranh chấp quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, thực trạng hiện nay của việc đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc và áp dụng các biện pháp nào để bảo vệ các tác phẩm kiến trúc. Với các nội dung giới hạn mà Luận văn đề cập hy vọng rằng giải quyết phần nào các vấn đề cơ bản nói trên, luận văn được trình bày trong 02 chương, cụ thể: - Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc. - Chương 2: Thực tiễn bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc tại Việt Nam - kiến nghị và hướng hoàn thiện. Từ khóa: Tác phẩm, tác giả, kiến trúc, quyền tác giả, sở hữu trí tuệ
  8. 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, việc bảo vệ quyền tác giả nói riêng, quyền sở hữu trí tuệ nói chung đang là một vấn để ngày càng trở nên nóng bỏng. Đứng trước yêu cầu đó và thực tế phát triển kinh tế xã hội của nước ta, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (bao gồm quyền tác giả, các quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng) đang được Nhà nước ta quan tâm, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong đó quyền sở hữu trí tuệ là một bộ phận quan trọng trong các nội dung được đem ra đàm phán và Việt Nam ta cần phải cam kết thực hiện. Bên cạnh đó, việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả đang ngày càng gia tăng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đang gây ra những hậu quả và hệ lụy xấu cho sự phát triển của đất nước. Hiện nay, tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, hội họa, văn học, khoa học kỹ thuật được đề cập đến khá nhiều, tuy nhiên bên cạnh đó việc vi phạm quyền tác giả ở một số mảng sáng tạo khác có thể rất ít được đề cập đến, có thể kể ra đây chính là các tác phẩm kiến trúc. Hiện nay, pháp luật về sở hữu trí tuệ Việt Nam ghi nhận vấn đề bảo hộ quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc nói riêng trong nhiều văn bản pháp lý như Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ và các Nghị định, Thông tư liên quan…, bên cạnh đó Việt Nam cũng đã rất nổ lực trong việc tham gia vào nhiều điều ước quốc tế đa phương về quyền tác giả, quyền liên quan như công ước Berne, Genever, Brussels, TRIPs… nhưng thực tiễn cho thấy việc vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc còn khá phổ biến không ít chủ đầu tư sử dụng lại bản vẽ thiết kế cho công trình này để xây dựng nên một công trình khác, tác giả sử dụng lại bản vẽ thiết kế kiến trúc cho chủ đầu tư này để phân phối cho chủ đầu tư khác, chụp ảnh một tác phẩm kiến trúc và sử dụng ảnh chụp đó mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; Chủ đầu tư sửa chữa, cắt xén tác phẩm kiến trúc,…
  9. 2 Tuy nhiên, số liệu thực tế cho thấy tranh chấp tại Tòa án và Trung tâm bảo vệ quyền tác giả chỉ đếm trên đầu ngón tay, hoặc vì một lý do nào đó mà các tranh chấp này bị đình chỉ một cách khó hiểu. Cơ chế pháp luật bảo vệ quyền tác giả chưa được hoàn thiện, cũng là nguyên nhân không nhỏ ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ quyền tác giả trong lĩnh vực còn khá mới mẻ này. Cũng chính từ bối cảnh và thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc”, các thực trạng, nguyên nhân và giải pháp đưa ra trong đề tài vẫn mang tính chủ quan, không tránh khỏi đánh giá một chiều, không thể tránh khỏi thiếu sót. 2. Giả thiết, câu hỏi nghiên cứu Trong quá trình thực hiện bản luận văn này, tác giả đã đi tìm, sưu tầm tài liệu nhưng hầu như, rất ít. Văn phòng đại diện của Cục bản quyền tác giả tại Tp.HCM, Hội kiến trúc sư Tp.HCM, Hội kiến trúc sư Việt Nam, Tòa án nhân dân các cấp tại Tp.HCM hầu như không cung cấp được nhiều số liệu liên quan đến đề tài. Chính vì vậy, trong khuôn khổ đề tài luận văn, chỉ mong muốn làm rõ các câu hỏi sau: Thứ nhất: Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc là gì? Các nội dung thường xảy ra tranh chấp trong quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc?”. Thứ hai: Thực trạng giải quyết tranh chấp về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc?” và Giải pháp nào để tăng cường bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc?”. Luận văn đã nghiên cứu các quy định pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc. Trên cơ sở lý luận kết hợp với việc nghiên cứu thực tiễn xử lý của các cơ quan tài phán để đưa ra phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc. Nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan dẫn đến sai sót trong việc cấp bản quyền về tác giả, từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Luận văn cũng đề ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc và hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng liên quan tới giải quyết tranh chấp về quyền tác giả.
  10. 3 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Bản luận văn này tác giả tập trung vào vấn đề bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc ở Việt Nam theo những quy định của pháp luật trong nước trong mối tương quan về nội dung pháp lý với các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia và một số văn bản pháp lý liên quan. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tác giả lựa chọn xuất phát từ nguyên tắc chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và cố gắng kết hợp thêm những phương pháp của lo- gic hình thức như so sánh, tổng hợp, phân tích, loại trừ, phương pháp nghiên cứu Luật đã được học, phương pháp Roccipi… Về việc tìm tài liệu, ngoài các tài liệu được giáo viên hướng dẫn cung cấp, tác giả dựa vào một nguồn quan trọng là internet, giáo trình, sách về quyền tác giả, và một phương pháp thu thập thực tế tại các cơ quan tòa án, trung tâm trọng tài,... đây là một phương pháp mất nhiều thời gian và công sức, nhiều khi lại không có được những kết quả ưng ý về mặt pháp lý nhưng là những số liệu thực tiễn rất quý giá, một điểm nhấn của bản luận văn. Việc tác giả cố gắng sáng tạo để tìm một phương pháp tiếp cận mới - khía cạnh chuyên môn, nó có thế sẽ không được đánh giá cao về chuyên môn luật học nhưng thể hiện được một góc nhìn khác gắn với thực tiễn nghiên cứu của đề tài. 5. Ứng dụng khoa học và tính thực tiễn của đề tài Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: Đăng ký với Sở Quy hoạch kiến trúc Tp.HCM, Đại học Kiến trúc Tp.HCM, Hội kiến trúc sư Tp.HCM thực hiện hội thảo, bàn giải pháp bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc thông qua những dữ liệu trong đề tài luận văn đã được hoàn thiện, qua đó giúp cho các KTS nói riêng và giới kiến trúc nói chung trang bị các biện pháp bảo vệ thành quả lao động sáng tạo nghệ thuật của mình.
  11. 4 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM KIẾN TRÚC 1.1. Tổng quan về vấn đề Quyền tác giả 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm Quyền tác giả Hiến pháp Việt Nam 2013, có quy định “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”1. “Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” 2 và “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”3. Quyền tác giả được hiểu theo nghĩa hẹp là tác giả, chủ sở hữu, người được sử dụng tác phẩm, các chủ thể có quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định của pháp luật. Hiểu theo nghĩa rộng, Quyền tác giả được hiểu là một chế định pháp luật tổng hợp các quy phạm pháp luật xác nhận và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm hại. Như vậy, hiểu theo cách đơn giản nhất thì quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu Quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm chống lại việc sao chép bất hợp pháp4. Quyền tác giả đã khuyến khích nhiều nhà văn, nghệ sĩ, nhà khoa học sáng tạo, nói như vậy không có nghĩa là phải một nhà văn, đạo diễn nổi tiếng mới có quyền tác giả. Quyền tác giả xuất hiện không phụ thuộc vào nội dung hay chất lượng của tác phẩm, Quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm ra đời mà không cần đơn yêu cầu công nhận, không phải trải qua bất kỳ thẩm định nào của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hay bất kỳ thủ tục đăng ký nào (trừ một vài ngoài lệ). Thí dụ: Bài thi của 1 Điều 40, Hiếp pháp 2013 2 Khoản 2, Điều 62, Hiến pháp 2013 3 Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005, Sửa đổi bổ dung 2009 4 Đại học Luật Tp.HCM (2016), Giáo trình Luật SHTT, NXB Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam, tr.49.
  12. 5 sinh viên cũng được bảo hộ quyền tác giả, cho dù kết quả thi có như thế nào đi chăng nữa. Ngoài những đặc điểm chung giống như quyền SHTT như: - Đối tượng của quyền tác giả là thành quả của lao động sáng tạo, là sản phẩm của hoạt động trí tuệ của con người. - Đối tượng của quyền tác giả là tài sản vô hình phi vật chất chỉ có thể được thể hiện và nhận biết thông qua một hình thức vật chất hữu hình nhất định. Thì quyền tác giả còn có hai đặc điểm riêng: - Thứ nhất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo. Không ai bảo hộ một câu nói, hay một động tác đơn giản thể hiện trong sinh hoạt hằng ngày. Cùng một nội dung như nhau có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức sáng tạo khác nhau, và mỗi hình thức thể hiện khác nhau đó đều có thể được bảo hộ quyền tác giả. Nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nội dung ý tưởng đó thì hình thức cũng không được bảo hộ, ví dụ câu nói đơn giản “anh yêu em”, “tôi đang ăn cơm” sẽ không được bảo hộ quyền tác giả. Quyền tác giả chỉ tập trung bảo vệ hình thức thể hiện, không bảo hộ nội dung tác phẩm. Vì thế, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định5, thậm chí, tác phẩm được hưởng sự bảo hộ quyền tác giả bất chấp chất lượng hay giá trị của tác phẩm, ví dụ: bức tranh của bé mẫu giáo vẽ cũng được bảo hộ quyền tác giả đầy đủ. không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”6. Việc đăng ký quyền tác giả không tạo nên giá trị pháp lý xác lập quyền nhưng có giá trị chứng cứ trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan, nghĩa là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đã đăng ký được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh tác phẩm đã đăng ký đó là thuộc về mình. - Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chước tác phẩm khác. Sự sao chép, bắt chước ở đây chỉ giới hạn về mặt hình thức của tác phẩm, chứ không đề cập đến sự sao chép, bắt chước về ý tưởng hay nội dung của tác phẩm. Bởi vì, theo đặc điểm quyền đã nêu, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo chứ không bảo hộ nội dung hay ý tưởng sáng tạo, nên việc tác giả 5 Đại học Luật Tp.HCM (2016), Giáo trình Luật SHTT, NXB Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam,tr.51. 6 Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009
  13. 6 này ngẫu nhiên có cùng ý tưởng, sao chép, phát triển ý tưởng của tác giả khác là hành vi được phép. Từ đó, có thể khẳng định nếu tác giả có những lao động trí óc, lao động sáng tạo nhất định của riêng mình để hình thành nên tác phẩm nguyên gốc về mặt hình thức, thì tác phẩm đó vẫn được bảo hộ quyền tác giả. “Tác phẩm gốc được hiểu là bản vật thể hóa tác phẩm do chính tay tác giả làm ra hoặc các bản được tác giả cho phép và trực tiếp giám sát làm ra, cụ thể trong thể loại tác phẩm nghệ thuật tạo hình, tác phẩm gốc rất dễ bị nhầm lẫn, được hiểu nó chính là tác phẩm của nghệ thuật tạo hình. Các tòa nhà công trình kiến trúc, xây dựng là những bản vật thể hóa của tác phẩm kiến trúc, xây dựng. Khi chúng được tạo bởi những người được chính tác giả ủy quyền giám sát việc xây dựng, thì cũng được coi là tác phẩm gốc và được hưởng sự bảo hộ đặc biệt dành cho tác phẩm gốc”7. 1.1.2. Chủ thể, nội dung, đối tượng của quyền tác giả 1.1.2.1. Chủ thể Khoản 1 Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả”. Như vậy, có hai loại chủ thể tham gia vào QHPLDS về quyền tác giả là: (i) Tác giả Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học8. Điểm mấu chốt trong việc xác định một người có phải là tác giả của một tác phẩm hay không, là ở chỗ người đó có trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm hay không. Một người chỉ được bảo hộ quyền tác giả trong phạm vi mà người đó trực tiếp sáng tạo. Do đó, vì không trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm nên những người làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả. Vấn đề trực tiếp sáng tạo trong khái niệm tác giả và khái niện nguyên gốc có liên quan đến nhau. Khi tác giả sáng tạo một tác phẩm thì đương nhiên tác phẩm được sáng tạo đó mang tính nguyên gốc, trừ khi tác giả sao chép từ một tác phẩm khác. Cho rằng việc tác giả phải trực tiếp sáng tạo không có nghĩa là tác giả không có 7 Nguyễn Vân Nam (2016), Quyền tác giả: Đường hội nhập không trải hoa hồng, NXB Trẻ, tr.79. 8 Khoản 2 Điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 9 năm 2006 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật dân sự luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan;
  14. 7 quyền kế thừa sáng tạo của người khác. Pháp luật Việt Nam cũng công nhận người dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể từ những tác phẩm khác cũng được coi là tác giả. Sáng tạo hay nguyên gốc trong khái niệm về quyền tác giả không là phải mới như trong quyền sở hữu công nghiệp. Như vậy khi thấy hai tác phẩm giống nhau đừng vội xác định ngay đó là có việc sao chép hay không, biết đâu lại là ngẫu nhiên. Bên cạnh khái niệm tác giả chúng ta còn có đồng tác giả. Đó là những cùng trực tiếp sáng tạo ra một tác phẩm được công nhận là các đồng tác giả của tác phẩm đó. Dựa trên tính chất phần sáng tạo của các đồng tác giả vào tác phẩm chung, đồng tác giả được phân thành hai loại: - Thứ nhất: Các đồng tác giả cùng sáng tạo ra một tác phẩm nhưng phần sáng tạo của mỗi người không thể tách ra thành từng phần riêng biệt để sử dụng độc lập. Trường hợp này tương ứng với khái niệm sở hữu chung hợp nhất đối với quyền sở hữu thông thường. Khi quyết định bất cứ vấn đề gì liên quan đến tác phẩm cần phải có sự đồng thuận của tất cả các đồng tác giả. - Thứ hai: Các đồng tác giả cùng sáng tạo ra một tác phẩm nhưng phần sáng tạo của mỗi người có thể tách ra thành từng phần riêng biệt để sử dụng độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác. Trường hợp này tương ứng với khái niệm sở hữu chung theo phần đối với quyền sở hữu thông thường. Khi quyết định các vấn đề liên quan đến tác phẩm, ví dụ chuyển nhượng hay chuyển giao quyền tác giả, nếu không đạt được sự đồng thuận của các đồng tác giả đồng thời là đồng chủ sở hữu khác thì đồng tác giả vẫn có toàn quyền quyết định đối với phần tác phẩm do mình sáng tạo ra. Mỗi người có đầy đủ các quyền tài sản, quyền nhân thân của mình đối với phần riêng biệt đó. (ii) Chủ sở hữu quyền tác giả Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản9 đối với tác phẩm như sao chép, phân phối, nhập khẩu tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh... Hay nói cách khác, chủ sở hữu là người độc quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm10. 9 Điều 36 Luật SHTT 2005 10 Đại học Luật Tp.HCM (2016), Giáo trình Luật SHTT, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr.59.
  15. 8 Các căn cứ để xác định vai trò chủ sở hữu quyền tác giả: - Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm thì tác giả đó cũng đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả. - Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo ra tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu quyền tác giả. - Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu quyền tác giả. - Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả là chủ sở hữu quyền tác giả. - Tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền tác giả là chủ sở hữu quyền tác giả. - Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả trong các trường hợp như đối với tác phẩm khuyết danh; tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản; tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao cho nhà nước11. Điểm quan trọng xác định vai trò chủ sở hữu quyền tác giả, là sự đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật…để tạo nên tác phẩm. Cũng từ đó, chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng các quyền tác giả có liên quan đến tài sản để thu lại những lợi ích vật chất tương ứng với sự đầu tư đã bỏ ra trước đó. Việc phân biệt giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả rất quan trọng, vì chủ sở hữu quyền tác giả mới là người có quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm, xét về gốc độ kinh tế thì vai trò của chủ sở hữu quyền tác giả quan trọng hơn vai trò tác giả, vì khi sử dụng hay trình diện tác phẩm các chủ thề khác phải xin phép hoặc trả thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả. 1.1.2.2. Nội dung Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân (Điều 19 Luật SHTT 2005) và quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT 2005). (i) Quyền nhân thân Là quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác 11 Điều 37,39,40,41,42 Luật SHTT 2005 và Luật sửa đổi bổ sung 2009,
  16. 9 phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc sản phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả12. (ii) Quyền tài sản Là quyền làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bảo sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm13. Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả có toàn bộ các quyền nhân thân, quyền tài sản như liệt kê trên đây. Trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, các quyền nhân thân phi tài sản gồm quyền đặt tên cho tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm là thuộc về tác giả, còn các quyền tài sản và quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm hay còn gọi là quyền nhân thân gắn với tài sản thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả. Các quyền nhân thân phi tài sản được bảo hộ vô thời hạn, còn các quyền tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo kể từ ngày tác giả hoặc đồng tác giả cuối cùng chết. Riêng đối với các tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh thì thời hạn bảo hộ quyền tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản là 50 năm kể từ ngày tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Sự quy định thời hạn bảo hộ như trên là nhằm dung hòa lợi ích giữa một bên là các chủ thể quyền tác giả và bên kia là cộng đồng xã hội nói chung. Bảo hộ quyền tác giả nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền tác giả, kích thích sự sáng tạo nhằm tạo ra ngày càng nhiều giá trị tinh thần đóng góp cho xã hội. Tuy nhiên nếu bảo hộ vô thời hạn hoặc thời hạn bảo hộ quá dài thì sẽ ngăn cản những người còn lại trong xã hội tiếp cận, sử dụng, khai thác…các tác phẩm đó, làm cho mục đích tạo ra nhiều giá trị tinh thần đóng góp cho xã hội vì thế không thể thực hiện được. Vì vậy, pháp luật quy định một thời hạn hợp lý để các chủ thể quyền tác giả khai thác lợi ích từ lao động sáng tạo của chính mình, hết thời hạn đó, tác phẩm thuộc về công chúng. 12 Điều 19 Luật SHTT 2005 13 Điều 20 Luật SHTT 2005
  17. 10 1.1.2.3. Đối tượng Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo Luật SHTT 2005 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2009 quy định tại Điều 14 và được hướng dẫn rõ thêm tại Nghị định 100/2006/NĐ-CP và số 85/2011/NĐ-CP, cụ thể như sau: “Điều 14. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả 1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: a)……………….;… i) Tác phẩm kiến trúc; …………………….”14. Ngoài ra, còn quy định các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả gồm tin tức thời sự thuần túy đưa tin; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, nguyên lý, số liệu 15 ... Bởi vì hoặc chúng không phải là thành quả của lao động sáng tạo hoặc chúng là những thông tin cơ bản cần thiết mà bất cứ cá nhân, tổ chức nào trong xã hội cũng có quyền tiếp cận, nếu bảo hộ quyền tác giả cho những đối tượng này sẽ gây phương hại đến quyền được thông tin của những người khác trong xã hội, không đảm bảo được sự dung hòa lợi ích giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với cộng đồng xã hội nói chung. 1.1.3. Hành vi xâm phạm quyền tác giả Các hành vi sử dụng tác phẩm nhằm mục đích kinh doanh mà không có sự đồng ý của chủ thể quyền tác giả, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Các hành vi này còn gọi là hành vi ăn cắp bản quyền hay sao chép lậu16, Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 liệt kê đầy đủ các hành vi xâm phạm quyền tác giả, là các hành vi vi phạm một trong các quyền nhân thân không gắn với tài sản, quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, trên thực tế việc liệt kê hành vi xâm phạm quyền tác giả vẫn chưa 14 Điều 14 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009; 15 Điều 15 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009; 16 Đại học Luật Tp.HCM (2016), Giáo trình Luật SHTT, NXB Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr.32.
  18. 11 phải là phương pháp tối ưu nhất xét về khía cạnh lập pháp thì việc liệt kê 16 hành vi tại Điều 28 Luật SHTT không thể bao quát hết các hành vi xâm phạm quyền tác giả, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay. Ngoài ra, vẫn có các trường hợp ngoại lệ: cũng như tất cả mọi lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, việc bảo hộ quyền tác giả cũng có một số trường hợp ngoại lệ tuy có hành vi sử dụng không xin phép, không trả thù lao đối với tác phẩm đã công bố của người khác vẫn không bị coi là vi phạm, như “Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học của cá nhân; Tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã được công bố để giảng dạy; Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp thông tin; Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm thời để phát sóng khi được hưởng quyền phát sóng”17. Các ngoại lệ này còn được gọi là hành vi sử dụng hạn chế, là một giới hạn quan trọng của quyền tác giả, theo đó mọi người đều được sử dụng một tác phẩm mà không phải xin phép chủ thể quyền nếu việc sử dụng nói trên đáp ứng các điều kiện nhất định. Cụ thể, các điều kiện cần và đủ để các hành vi sử dụng không xin phép, không trả thù lao nói trên không bị coi là xâm phạm quyền tác giả: Tác phẩm được sử dụng phải là tác phẩm đã công bố; - Việc sử dụng tác phẩm như trên không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; và - Khi sử dụng phải thông tin về tên tác giả, nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. 1.1.4. Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả 1.1.4.1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả Loại hợp đồng này được hiểu là việc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản của mình theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan. Đối với chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chuyển nhượng toàn bộ các quyền mà mình có được đối với tác phẩm, cụ thể là quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản. Không được chuyển nhượng các quyền 17 Điều 32, Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009
  19. 12 nhân thn khác không phải là quyền công bố tác phẩm như quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, vì những quyền này thuộc về tác giả chứ không thuộc về chủ sở hữu tác phẩm. Đối với chủ sở hữu đồng thời là tác giả, các quyền đặt tên tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm cũng không được chuyển giao vì đó là những quyền nhân thân phi tài sản, không gắn cũng như không mang lại bất kỳ một giá trị thương mại nào mà chỉ gắn với giá trị tinh thần của chính người sáng tạo ra tác phẩm bằng lao động trí óc của mình. Do đó, những quyền này phải luôn được gắn với chính người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm mà không thể chuyển giao cho người khác. 1.1.4.2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả Trong trường hợp này chủ sở hữu không chuyển giao toàn bộ quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm của mình cho người khácâ, mà chỉ cho phép người khác sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm của mình. Tất nhiên, vì những lý do đã phân tích ở trên, các quyền nhân thân phi tài sản cũng không thể chuyển quyền sử dụng cho người khác. Khác với chuyển giao quyền tác giả, sau khi chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, người chuyển giao vẫn là chủ sở hữu quyền tác giả, người nhận chuyển giao chỉ là người sử dụng hợp pháp chứ không có tư cách chủ sở hữu. Hợp đồng ghi nhận thỏa thuận giữa các bên về việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả được gọi là hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả hay hợp đồng sử dụng tác phẩm và phải được lập thành văn bản. Ngoài các điều khoản cơ bản, trong hợp đồng sử dụng tác phẩm các bên có thể thỏa thuận rằng chủ sở hữu quyền tác giả chỉ được chuyển quyền sử dụng cho một người sử dụng độc quyền hay có thể chuyển cho nhiều người khác nhau, và người sử dụng có thể chuyển giao lại quyền sử dụng cho bên thứ ba hay không. 1.2. Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm Từ khái niệm chung về quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc được hiểu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm kiến trúc do sáng tạo ra hoặc sở
  20. 13 hữu. Là một dạng của quyền tác giả nói chung, quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc cũng có hai đặc điểm: - Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung, ý tưởng sáng tạo; - Tác phẩm kiến trúc được bảo hộ là tác phẩm có tính nguyên gốc, do chính tác giả sáng tạo ra, không bắt chước hay sao chép của người khác. Mối quan hệ giữa quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc nói riêng là mối quan hệ biện chứng giữa hai cặp phạm trù cái chung và cái riêng. Cái chung là cái sâu sắc, bản chất hơn cái riêng vì nó phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ bên trong, tất nhiên, ổn định, phổ biến tồn tại trong các cái riêng cùng loại. Ngược lại cái riêng phong phú hơn cái chung bởi vì ngoài những đặc điểm gia nhập vào cái chung, cái riêng còn có những đặc điểm riêng biệt mà chỉ riêng nó có. Do đó bất cứ cái chung nào khi áp dụng vào từng trường hợp riêng cũng cần được cá biệt hóa. Từ mối quan hệ cái chung - cái riêng trên đây ta thấy quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc ngoài những đặc điểm chung của quyền tác giả, còn có những điểm riêng biệt mà chỉ riêng nó mới có. Những điểm riêng biệt này xuất phát từ những điểm khác biệt về bản chất của đối tượng bảo hộ là tác phẩm kiến trúc so với các tác phẩm thông thường khác. Từ đó, khi áp dụng quyền tác giả với tư cách là cái chung vào trường hợp riêng là đối với tác phẩm kiến trúc, thì quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc cũng cần phải được cá biệt hóa để phù hợp với đối tượng mà nó áp dụng. Luận văn này tập trung nghiên cứu về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc như một cách thức góp phần giúp cho quá trình cá biệt hóa quyền tác giả vào trường hợp riêng đối với tác phẩm kiến trúc được diễn ra đúng đắn và hiệu quả, phù hợp với các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội. Trong việc nghiên cứu quá trình cá biệt hóa này, điểm mấu chốt được tập trung phân tích khái niệm và bản chất của tác phẩm kiến trúc với tư cách là đối tượng của quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, từ những điểm khác biệt về khái niệm và bản chất của tác phẩm kiến trúc sẽ dẫn đến những yêu cầu, đặc điểm khác biệt của quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2