LÝ THUYT DÂY
Thu vien Hoc Lieu Mo Viet Nam module: m35957 1
thuyết dây
Văn Tám
This work is produced by Thu vien Hoc Lieu Mo Viet Nam and licensed under the
Creative Commons Attribution License
Tóm tắt nội dung
thuyết y một thuyết hấp dẫn lượng tử, được y dựng với mục đích thống nhất tất cả các
hạt bản cùng các lực bản của tự nhiên, ngay cả lực hấp dẫn. Các nhà vật thuyết hiện đại đặt
rất nhiều hy vọng vào thuyết y thể giải quyết được những câu hỏi như tính đối xứng của
tự nhiên, hiệu ứng lượng tử tại các lỗ đen (black hole), cũng như tại các điểm kỳ dị, sự tồn tại và phá
v siêu đối xứng... đồng thời cũng mở ra những tia sáng mới cho học lượng tử, không gian và thời
gian. Trong thuyết y, tất cả các lực và các hạt được miêu tả theo một lối hình học phong nhã, như
ước của Einstein v việc thiết lập vạn vật từ khung hình học của không-thời gian.
thuyết y dựa trên các tiên đề được thiết lập thang Planck nơi các hiệu ứng lượng tử của hấp
dẫn biểu lộ một cách mạnh mẽ, nơi các hạt được cho những vật một chiều. Khác với quan điểm của
thuyết hạt, thuyết y bị chế ngự bởi các tương tác, siêu đối xứng và các nhóm gauges. Trên thực tế, tất cả
các hạt đã biết được đều biểu hiện tính dao động của dây, và các tương tác của chúng đều thể biểu diễn
bằng việc cắt và nối các khung hình học của các dây . Giống như giản đồ Feynman trong thuyết trường
lượng tử, việc tổng quát hóa các mặt Riemann khác nhau.
Hình 1: Tương tác trong thế giới vi mô: trong hình chuẩn, các hạt như chất điểm trong không
gian hai chiều hay các vật thể hai chiều được gom lại trong thuyết y
Version 1.2: Feb 10, 2011 7:58 pm GMT+7
http://creativecommons.org/licenses/by/3.0/
http://voer.vn/content/m35957/1.2/
Thu vien Hoc Lieu Mo Viet Nam module: m35957 2
Hiện tại các nghiên cứu đang tập trung vào lớp màng D (D-branes). Một màng D một đa tạp của
không-thời gian với các tính chất đó các y thể điểm đầu và điểm cuối.
Khác với thuyết siêu hấp dẫn, (thuyết hấp dẫn thuần túy), thuyết y một thuyết hấp dẫn lượng tử
nền tảng toán học vững chắc, và các nhà thuyết hy vọng thể đo được giá trị của hằng số trụ dựa
trên các tiên đề của nó. Mặt khác, số lượng các trạng thái chân không, một khái niệm được đưa ra trong
thuyết y, dường như khá lớn, và các nhà thuyết cho rằng không một trạng thái nào thích hợp với 3
chiều không gian lớn chúng ta đang sống, sự phá v của siêu đối xứng, hay sự tồn tại của một hằng số
trụ nhỏ. Hiện tại, nhiều do để tin tưởng rằng trạng thái chân không thực trong thuyết y tồn tại
dưới dạng cặp (coupled), nhưng kết quả không như mong đợi các nhà thuyết tìm ra, thể xuất phát
từ do kỹ thuật chứ không phải từ ý tưởng.
thuyết y tồn tại dựa trên các tiên đề, như việc số chiều phải lớn hơn 4 chiều của không-thời
gian chúng ta biết đến. Quá trình nghiên cứu tính đối ngẫu trong các đối xứng đã tạo ra 5 thuyết siêu
y khác nhau, mỗi thuyết đều 10 chiều không gian, đó các dạng I, dạng IIA và dạng IIB, cùng với
dạng nghịch đảo của các nhóm gauge E(8) x E(8) và SO(32), tồn tại dưới siêu dây 11 chiều, hay còn gọi
thuyết M. mỗi dạng trên, kết quả với số chiều không được compact tối đa, các không-thời gian phẳng,
cùng một trạng thái chân không bền vững, nơi tính siêu đối xứng của chúng được bảo toàn. Để thuyết
y gần gũi hơn với tự nhiên, các chiều không gian cần phải được compact hóa trên một đa tạp, nơi
tensor Ricci bị loại bỏ. Nếu như SUSY - supersymmetry được bảo toàn, thì năng lượng chân không sẽ 0.
Thực tế tồn tại một đa tạp của trạng thái này, người ta gọi đó moduli space.
Thuyết y thể không miêu tả được thế giới tự nhiên, muốn miêu tả được thế giới của chúng ta,
thì các siêu đối xứng trong thuyết y phải bị phá v những kết quả trong thực nghiệm đã chỉ ra được
sự không hoàn hảo của tấm gương vạn vật CP. Tuy nhiên, thuyết y thể giải quyết được bài toán hằng
số trụ tồn tại bấy lâu nay, như những ý tưởng được đặt ra trong thuyết hấp dẫn lượng tử vòng hay việc
tổ hợp các graviton. Các nhà vật tin tưởng rằng cần phải một sự hiểu biết sâu sắc hơn về vật
bản để thể tả được những tính chất của trạng thái chân không trong khi thuyết y chỉ thể tả
được những trạng thái siêu đối xứng.
1 Lịch sử thuyết y
Năm 1968, Gabriele Veneziano, một nhà vật trẻ người Ý, đã trăn trở rất nhiều để tìm những lời giải thích
phù hợp với các tính chất khác nhau của lực hạt nhân mạnh. Khi y, ông đang làm việc tại trung tâm hạt
nhân của châu ˆ
Au, CERN, đặt tại Geneva, Thụy Sĩ. Trong nhiều năm ròng rã, ông đã nghiên cứu vấn đề
y, và rồi một hôm trong đầu ông chợt lóe lên một phát hiện lạ lùng. Ông cùng ngạc nhiên khi nhận
thấy rằng công thức của nhà toán học người Thụy Leonard Euler y dựng trước đó hơn hai trăm năm
với mục đích toán học thuần túy với tên gọi Hàm Beta Euler, song lại tả được nhiều tính chất của
các hạt tham gia trong tương tác mạnh. Phát hiện của Veneziano đã thâu tóm một cách rất hiệu quả bằng
toán học nhiều đặc trưng của tương tác mạnh, nhằm sử dụng hàm Beta và các dạng tổng quát hóa của
để tả một chuỗi những dữ liệu thu được từ thực nghiệm. Tuy nhiên, phát hiện khi đó của Veneziano vẫn
chưa đầy đủ, giống như một công thức một sinh viên học thuộc lòng nhưng lại không hiểu hết được
ý nghĩa sâu xa của nó. Hàm Beta Euler sau đó được sử dụng rất hiệu quả, nhưng không một ai khi ấy hiểu
được tại sao lại như vậy.
http://voer.vn/content/m35957/1.2/
Thu vien Hoc Lieu Mo Viet Nam module: m35957 3
Hình 2: Yoichiro Nambu
Hình 3: Holger Bech Nielsen
Mãi tới năm 1970, những công trình của Yoichiro Nambu Đại học Chicago, Holger Nielsen thuộc Viện
Niels Bohr và Leonard Susskin Đại học Stanford mới chỉ ra được ý nghĩa vật ẩn sau công thức Euler.
Hai nhà vật này đã chứng minh được rằng, nếu một hạt cấp được hình hóa như các dây nhỏ
một chiều dao động, thì tương tác mạnh của chúng thể được tả chính xác bởi hàm Beta Euler. Theo
lập luận của họ, nếu các y y đủ nhỏ thì chúng vẫn được xem các hạt điểm và do vy phù hợp với
những quan sát thực nghiệm.
Mặc thuyết mới được khai sinh giản dị về mặt trực giác, và khởi đầu với nhiều hào hứng, nhưng sự
tả tương tác mạnh của thuyết y ban đầu đã bị thất bại. Những năm đầu của thập niên 1970, các
thí nghiệm năng lượng cao với độ thăm hạ nguyên tử đã chứng tỏ rằng hình y đưa ra nhiều tiên
đoán mâu thuẫn với thực nghiệm. Trong khi đó sắc động lực học lượng tử dựa trên các hạt điểm đã được
phát triển và những thành công vang dội của trong việc tả tương tác mạnh đã làm mờ đi thuyết
y.
http://voer.vn/content/m35957/1.2/
Thu vien Hoc Lieu Mo Viet Nam module: m35957 4
Trình tự nghiên cứu cấu tạo vật chất của trụ:
1. Các vật thể (chính xác hơn, các vật thể thông thường hàng ngày quan sát được bằng mắt
thường)
2. Cấu trúc phân tử
3. Cấu trúc nguyên tử với hạt nhân (proton và nơtron) với điện tử
4. Các hạt bản
5. Các quark
6. Các y
Nhiều nhà vật nghĩ rằng thuyết y đã bị ném vào sọt rác của khoa học, nhưng một số ít các nhà vật
vẫn kiên trì bám theo nó. Trong số đó Schwarz, người cảm thấy rằng "cấu trúc toán học của thuyết
y rất đẹp và nhiều tính chất rất tuyệt diệu, nên phải hướng tới một cái đó hết sức bản". Một
trong số các thiếu sót của thuyết y các nhà vật tìm thấy sức bao quát của thuyết y lớn
hơn những họ nghĩ. Do thuyết dây chứa đựng những mẫu hình dao động của y, và những tính
chất quan hệ chặt chẽ với các gluon nên đã được tuyên bố quá sớm như thuyết của tương tác mạnh.
Nhưng không chỉ vậy, thuyết y còn chứa đựng cả những hạt truyền tương tác khác, những hạt nằm
ngoài mục tiêu quan sát của các thực nghiệm trong tương tác mạnh.
Năm 1974, Schwarz và Joel Scherk trường Cao đẳng phạm Paris đã thực hiện một bước nhảy táo
bạo, bằng việc cải biến những nhược điểm b ngoài của thuyết y thành các ưu điểm mang tính đặc trưng.
Họ đã nghiên cứu đặc điểm của những mốt dao động và nhận thấy rằng những tính chất y phù hợp tuyệt
đối với hạt truyền tương tác giả định của trường hấp dẫn, tên graviton. Mặc hạt truyền tương tác
y chưa từng được quan sát, nhưng các nhà thuyết tiên đoán một cách vững chãi v một số đặc tính
bản graviton cần phải có. Và họ rút ra kết luận: thuyết y nguyên sinh thất bại do các nhà vật
hạn chế phạm vi ảnh hưởng của nó. thuyết y không chỉ dừng lại như một thuyết của tương tác
http://voer.vn/content/m35957/1.2/