ISSN 1859-1531 - TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, S 10(131).2018 35
MỸ HỌC TRUYỀN THỐNG NHẬT BẢN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
JAPANESE TRADITIONAL AESTHETICS FROM CULTURAL PERSPECTIVE
Nguyễn Phương Khánh
Trường Đại học Sư phạm Đại học Đà Nẵng; npkhanh@ued.udn.vn
Tóm tắt - Bàn v mỹ học Nhật Bản, người ta nghĩ đến hàng loạt các
phạm trù nh chất đặc thù như: mono no aware, yugen, wabi,
sabi, miyabi, okashi… như những hiệu n hóa tiêu biểu gắn
với đời sống tinh thần, thẩm mỹ của con người Nhật. Mỹ học truyền
thống của xứ sở hoa anh đàonhiều điểm vô cùng khác biệt với
phương Tây kể cả với các nền văn hóa cùng khu vực. Trong đó
quan niệm về cái đẹp những giá trị thẩm mỹ khác của đời sống
gắn với thiên nhiên, với sinh mệnh thường ngày, với quan niệm của
Thần đạo Phật giáo. i viết đi vào phân ch những biểu hiện của
tinh thần mỹ học Nhật Bản, đặc bit là quan niệm về cái đẹp, từ góc
nhìn văn hóa và đặt trong đối sánh mỹ học Đông – Tây.
Abstract - In terms of Japanese aesthetics, it is thought that there
are a number of categories of mono no aware, yugen, wabi, sabi,
miyabi, okashi... as typical cultural symbols associated with the
spirit of Japanese people. Traditional aesthetics in the country of
cherry blossom has a lot of differences from the West and even
with the other cultures in Eastern Asia. The concept of beauty and
other aesthetic values of life in Japan is seen as an integral part of
the nature, with daily life’s beings, with the concept of Shinto and
Buddhism. The article analyzes the expressions of Japanese
aestheticism, especially the notion about the beauty, from a cultural
perspective and in East-West aesthetic comparison.
Từ khóa - mỹ học truyền thống Nhật Bản; niềm bi cảm; vô thường;
Thiền tông; Thần đạo.
Key words - Japanese traditional; Aesthetics; mono no aware;
mujo; Zen; Shinto.
1. M hc Nht Bản trong cái nhìn đối sánh Đông - Tây
Lch s m hc Nht Bn nói riêng và các nước phương
Đông nói chung không có điểm xut phát và quá trình phát
triển như mỹ học phương Tây. Khoa học M hc ra đời
chính thc vào thế k XVII châu Âu cũng đi một con
đưng hoàn toàn khác với các nưc vùng Viễn Đông bên
kia. Tt nhiên nhng khát vng thuyết minh v m học đã
t thi c đại. tưởng ca các triết gia Hy Lạp xưa trong
tác phẩm “Đối thoại” của Platon, “Thi học” và “Tu từ học”
ca Aristote đều được xây dng tng kết trên sở kinh
nghim của văn nghệ thc tin thời xưa. Không có thn thoi,
điêu khắc, s thi và bi kch c Hy Lp phn vinh rc r thì
th không tưởng m hc ca Platon, hay Aristote
các nhà m hc sau này. Tương tự, những người thầy vĩ đại
ca người Trung Quc như Lão Tử, Khng T, Trang T...
đều đưa ra hàng lot các phm trùảnh hưởng rt lớn đến
h thng m hc Trung Quc c đin.
Tuy nhiên thời đó mỹ hc c Đông Tây chưa thành
môn khoa học độc lp riêng r.
Thut ng M hc (Aesthetics) xut phát t tiếng Hy Lp
nghĩa “cảm giác”. Nhận thc thm m tt yếu liên
quan đến giác quan, đặc bit th giác thính giác. Quan
niệm căn bn ca A. Baumgarten (1714-1762) mt nhà m
học người Đức trong thế k XVII, người đu tiên viết b sách
tên M hc m ra giai đoạn mt chính thc ca b
môn khoa học này, đặt song song vi các nghiên cu ngh
thut hay triết hc nói ngn gn trong một định nghĩa: “M
hc khoa hc v cái Đẹp”. Immanuel Kant (1724 - 1804)
phê phán nh thuần y và đề cao s cảm nh trong đánh
giá cái đẹp: “Cái đp không phi trên đôi má hng của ngưi
thiếu n mà trong con mt ca k si tình”. Hay Hegel, người
đề cao cái đẹp ngh thut n cái đẹp t nhiên, li khẳng định:
“M hc triết hc ca ngh thuật”, tức ông cho rằng đối
ng nghn cu ca m hc ch là cái m ca ngh thut. Có
th i, lun v đời sng thm m của con người, trung tâm
1 John Keats là một hiện tượng thi ca đặc biệt của Anh quốc thế kỉ XIX. Điều làm nên sự khác biệt giữa Keats và các nhà thơ lãng mạn nổi tiếng cùng
thời chính là quan niệm beauty is truth. Thi sĩ nhấn mạnh vào sự hợp nhất giữa sự thực và cái đẹp (The Oneness of Truth and Beauty).
c quan nim v cái đẹp và ngh thut, phương Tây cực
kì phong phú, nhiều thay đổi đầy khát vọng “lật đổ” (tạo
lp i mi) trong mi triết thuyết. Tinh thần đặc trưng của
Tây phương lý tính, thế m hc ca phương yng có
hình thái lý lun rõ,tính phânch và tính h thng. Trong
khi đó, mỹ học phương Đông nói chung, đặc bit là Nht Bn,
thiên v hình thái kinh nghim, cm nh, trực quan. Phương
Tây coi trọng “tái hiện”, mô phỏng”, Nhật và cáccng
khu vc chuộng tính “biểu hin”, trữ nh, do đó luận ý -
cnh phát trin. Ý cnh đây nm trong triết lý “Cnh sinh vi
ng ngoại” (cnh sinh ngoài tượng), diễn đạt s thng nht
gia hu hn và vô hạn, và thc...
tưởng m học phương Tây từ thi Hy Lp c đại qua
thi Trung c, Phc hưng, Cổ điển, Ánh sáng... đến m hc
dân ch Cách mng Nga, m hc Mác Lenin mt con
đưng dài vi nhiều tưởng đa dạng. Căn bản, m hc ca
các nước phương Tây tập trung o gii quyết các vấn đề
nhn thc v i đẹp, trong đó đề cao tính Chân, M, trong
nhiều trường hp th tuyệt đối hóa cái đẹp cm tính
đối lp ngh thut với đạo đức (trong khi đó, mỹ hc c đin
Trung Hoa thng nht coi trọng “mỹ thiện”).
M hc Nht Bn gn bó nhiều hơn vi cái Chân, tc cái
T nhiên bn th (khác vi ý nghĩ về cái Chân trong s “mô
phỏng”, tái hiện”, “mimesis ca phương Tây). i Chân
gin d mc mạc này, như chính nó, ch bn th
(insubstantiel) nhưng đồng thời cũng nơi mọi khía cnh ca
hin hữu đưc biu hin qua nó. thế, không s phng
hin thc nào th din gii trc tiếp đầy đ v t nhiên.
Mi khát vng biu hin nó, phải như tinh thần haiku, bng
s ám gi (suggestion). Donald Richie cm nhn v văn a
Nht: “Things as they are, or Nature itself”[4, 16]. Ngay c
thiên tài thơ ca lãng mạn Anh John Keats (1795-1821)
trong ni tuyt vng kh đau tuyên b tụng ca cái đẹp tuyt
đối tn tinh thn s thc là cái đẹp: “Beauty is truth, truth is
beauty”1, có l ông đã rất gn vi tinh thn châu Á.
36 Nguyễn Phương Khánh
M hc Nht Bản cũng khá “dị biệt” trong khu vực
Đông Á mà trung tâm là Trung Hoa. Theo sách Đại cương
lch s m hc Trung Quc, khoa hc m hc c đin Trung
Quc lấy “ý tượng” thẩm m làm ct lõi, ch “mỹ” không
phi phm trù trung m, cũng không phải phm trù
cao nht. Các khái nim m hc ca Lão T, Khng T,
Trang T hay Tuân T như “đạo”, “khí”, “tượng”, “diệu”,
“thần”, “phú”, “t”, “hứng”, v.v... thc ra b phn ca
triết học. Cái “mỹ” thực chất để ớng đến cái “diệu”, đến
“đạo”, “khí” của sinh mệnh. Còn tưởng thm m ca
Nht Bản cũng truyền ti qua các khái nim riêng gn vi
thi ca, các sn phm m ngh th công, kiến trúc, hi ha,
đình viên, trà đạo hay vũ đạo, l hội... Trong đó trng tâm
vẫn là hướng đến các sc thái biu hin khác nhau ca cái
đẹp trong tinh thn u hoài, thường, tàn khuyết, không
hoàn ho mà gin d, cô tch.
Nht thc ra không t ng nào din t tương
đương khái nim Aesthetics với ý nghĩa như phương Tây.
mt t Bigaku 美学 đưc s dng khong t m
1883 (sau giai đoạn tiếp xúc mnh m với các nước Âu
M) ý ch v b môn M hc. Mc dù, thi nhân Ki no
Tsurayuki (872 - 945) t thời Heian, người viết li m đầu
cho thi tuyn Kokin waka shu (C kim hòa ca tp) đã được
xem nm hc Nht Bản đu tiên vi lun “thơ ca
mc lên t trái tim con ngưi”2.
Thêm na, những rung đng tế vi ca tâm hn Nht
Bn vn được thc hành trong nhiều phương din ngh
thuật đi sng, tính truyn thng lâu dài ít thay đổi
và thường không “nguyên khối”, khác vi s phát trin và
các quan nim ca m học phương Tây. Các phẩm chất đp,
bun, u tịch, đơn, gin dị, không... trong cảm thc
Nht Bn li luôn hòa quyn kết ni với nhau, cùng hướng
v cái ưu nhã, vô thường, chân như của cái đẹp. Bi vy rt
khó đ s dng các thut ng ca M học phương Tây để
din gii các cm thức phương Đông.
Trong rt nhiu phm chất đại din cho tinh thn m
hc Nht Bn, nhà nghiên cu Donald Keene m li bn
đặc trưng cơ bản nhất. Đó là:
- Tính ám th, gi ý (suggestion);
- Tính bt quy tc (irregularity);
- Tính gin phác (simplicity);
- Tính tàn li, phai phôi (perishability) hay tính
thường (impermanence).
M học phương Tây đôi lúc cũng gặp g Nht Bn
tinh thn ti gin, bt quy tc hay tính ám gợi. Nhưng
lẽ, ý ng v cái đẹp trong s tàn phai, biến dch
(vanishing) thì hơi xa lạ. Tuy nhiên phm cht này chính là
ký hiệu đặc trưng của n hóa Nhật Bn, vn gn bó với
ng mujo ca Pht giáo trong i nhìn vn vật đều đi
dời, không nh cửu, như Kamo no Chomei (1153-1216)
viết trong m đầu cun tùy bút Hojoki (方丈記 Phương
2 Kokin waka shu là thi tuyển tập hợp hơn 1000 bài thơ, được biên soạn theo chiếu chỉ của triều đình trong khoảng từ năm 904 đến 914. Ki no Tsurayuki
là một trong những nhà phụ trách chính của thi tuyển này, người đã viết lời mở đầu cho tập thơ và cũng là tác giả của rất nhiều bài thơ trong tập.
3 Phương trượng (方丈記) là tên tập tùy bút của thi nhân Nhật Bản Kamo no Chomei (Kamo no Naga Akira) viết năm 1212 vào đầu thời Kamakura.
Những năm cuối đời, Chomei lui về ẩn cư ở núi Hino thuộc vùng ngoại ô Kyoto. Tại đây ông dựng một cái am nhỏ, bốn bề mỗi bề một trượng (chừng
3m) nên mới gọi là phương trượng. Chomei ẩn cư trong am, quan sát thế sự đương thời và ghi chép lại nên gọi tác phẩm của mình là “phương trượng
ký”. Đây là tập tùy bút tiêu biểu cho nền văn học Nhật Bản thời trung đại, và được tôn xưng là “Nhật Bản tam đại tùy bút cùng với tập tùy bút Makura
zoshi (Chẩm thảo tử) thời Heian và tập Tsurezuregusa (Đồ nhiên thảo) sau thời đại của Chomei chừng trăm năm.
4 Ksurezuregusa ( Đồ nhiên thảo) là một tập tùy bút gồm 243 đoạn, do Kenko sáng tác, vào thời Nam Bắc Triều Nhật Bản (thế kỉ XIV).
trượng ký)3:
“Dòng sông vốn chy mãi không ngừng, nước vn
chng phải nước ban đầu. Lại nghĩ bong bóng nổi lên ch
ớc đọng, va tan biến đã lại ni lên, chng ln nào ging
lần nào. Người sng trong đi nhà ca trú ng ca h
cũng chẳng khác chi.”
Hay cun Ksurezuregusa ( Đồ nhiên tho)4 ca
ẩn Urabe Kenko (khoảng 1283-1350) vào thế k XIV:
“Sương trên cánh đồng Adashi khô ngay, khói núi
Toribe mới nhìn đã không thấy na thế con người
không mun mình biến mất như giọt sương, ngn khói. Tuy
nhiên, nếu cuộc đời c kéo dài vĩnh viễn thì còn gì đáng đ
xúc động nữa. Chính đời thường nên mi tuyt
vời.” (Đồ nhiên tho, đoạn 7, Nguyn Nam Trân dch).
Ngay phương Đông, đặc trưng thẩm m của ngưi
Nhật cũng khá d bit vi các quc gia còn lại. Điều này
gn vi truyn thống văn hóa ca tng n tc. th nhn
ra rng, trung m của đời sng tinh thần người Ấn Độ
tình yêu tôn giáo; với người Trung Quốc, đó là triết hc v
hi, v cách “tu thân, tề gia, tr quc, bình thiên hạ”. Còn
đất nước ca n thn Mt tri Amaterasu, tôn giáo hay
triết học đều nghiêng v thm m, v ngh thuật, đó là tôn
giáo triết hc v cái Đẹp. thế, Tadao Umesao trong
công trình Lch s nhìn t quan điểm sinh thái hc Văn
minh Nht Bn trong bi cnh thế gii cho mt ví d liên
quan đến vic cm nhận cái đẹp của người Nhật người
Ấn khi thưởng thc mt bức tranh tường trong mt ngôi
đền. Ông cho rằng, người Nht th đánh giá n giáo
bng ngh thuật, còn người n lại đánh giá nghệ thut bng
thước đo tôn giáo. Ông viết: “Dù trong bt c trường hp
nào, chúng ta cũng không thể hiểu được mt hoạt động tôn
giáo mà li không kèm theo v đp. Nht Bn, thm chí
chúng ta n xu ng coi khoa hc mt kiu ca
kinh nghim thm m. Các ntoán hc hoc nhà khoa hc
ờng như thường theo đuổi mt lý thuyết v đẹp ca
nó hơn là chính thuyết đó. Đối với người Nht, khoa
hc có th là mt loi hình ngh thut” [7, trang 58].
S khác biệt văn hóa, thm m ch:
“Khi thăm một ngôi đền Nht Bản, người ta thường
nghe thy li bình phm v ngh thut ca một pho tượng
hay nhng bc tranh Pht giáo. Li bình phm bao hàm
nhng s gii thích v ngh sĩ, trường phái ngh thut ca
ông ta, và liu tác phẩm đó có phi là báu vt quc gia hoc
mt tài sản văn a quan trọng hay không, v.v... Không ai
mun nghe mt bài lun dài dòng v ý nghĩa tôn giáo của
bc tranh. Tuy nhiên, Ấn Độ, người ta sn sàng nghe gii
thích v tôn giáo hơn là bình luận v ý nghĩa ngh thut. Mi
quan tâm chính là v lời răn dạy tinh thần được miêu t qua
bc tranh. S gii thích v mt tác phm ngh thut thưng
b coi là mt bài thuyết trình triết học khó” [7, trang 58].
Câu chuyn của giáo Tadao Umesao chia sẻ cho
ISSN 1859-1531 - TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, S 10(131).2018 37
chúng ta v lòng ham cái đẹp ngh thut của người
Nhật. Không riêng gì thái độ vi tôn giáo hay khoa hc, thc
cht mi khía cnh ca thế giới đối với người Nhật đều để
li nhng du n rung cm tế vi và đều được soi sáng dưới
các cm thc thm m. Chính thế, nhng s vt, hot động
thường nht s đưc óc thm m sp xếp, sáng to sao cho
đậm cht ngh thut. Vic b trí một bàn ăn, một hộp cơm
bento, mt chiếc qut giy, mt chiếc bánh ngt... cũngcả
mt công trình tinh tế, gây ấn tưng th giác. M hc truyn
thng Nht Bn ớng đến mt cm quan rt riêng v cái
đẹp gia cuộc đời nhân thế, đó cũng chìa khóa để c
o toàn b nền văn hóa nghệ thut và tâm hn sâu thm ni
nim ca con người Phù Tang.
2. Đặc trưng cái Đẹp trong m hc truyn thng Nht
Bn
Cái Đẹp dưới đôi mt Nht Bn không phi ch là đóa
hoa rc r mãn khai hay vng trăng sáng vằng vc không
gn mt bóng mây, không phi ch đền đài đại hay
tiếng rn rã của các điệu nhy mùa xuân. Cái Đẹp đơn giản
có th bắt đầu t mt n hoa sm mai, mt hòn si cô đơn,
mt ngn đèn đá trong vườn trà, cho đến sc áo thanh tao
ca chiếc kimono, âm điệu man mác t cây đàn shamisen
hay mt cun sách trường thiên k v cuộc đời trm luân
ca hoàng t ánh sáng Genji.
2.1. Cái đẹp nh nhn, gin phác, thun khiết
Người Nhật có khuynh hướng thu nh, ý thc thm m
đặc biệt ưa chuộng nhng cái nh bé, xinh xn, đến ni
chúng ta th thốt lên “kawaii!”. Cái nhỏ nhn này lin
vi s tinh tế, cht lọc và ưu nhã trong cái nhìn và sự biu
hin trong ngh thut Nht Bn. Thơ haiku, truyện trong
lòng bàn tay, cánh hoa anh đào nh mng, chiếc qut gp
sensu, cơm nắm, đèn lồng gp chochin, cây cnh bonsai...
ợng trưng cho khuynh hướng giản lược, ct gt, chung
cái nh nhn tế vi trong cm thc v cái đẹp của người Nht.
Khu vườn khô karesansui cũng biểu hin cho vic kéo
núi non, bin c vào trong khoảng vườn nh hp.
N sĩ tài hoa của văn học thi Heian, Sei Shonagon (c.
9661017/1025), nói rằng: “Cái cũng vậy, nhng vt
nh đều đẹp”.
Cái đẹp nh xinh gn vi s tế nh, duyên dáng và nhã
nhn trong tâm hồn người dân đảo quc này, luôn mun
tìm đến v giản đơn, nh d n trong mi biu hin t nhiên,
thun khiết ca s vt. Cm quan v cái đẹp như thế đã tạo
nên yếu t gin phác trong m hc Nht. Ngh thut tn ti
nhng khong trng thinh lng ca không gian, thi gian,
hòa vào t nhiên, không mưu cầu k xo phc tp, hoa m.
Đó cũng lý do hội ha Nht Bn không s dng nhiu
màu rc r chói sáng. Ch đề chính yếu ca ngành hi ha
Nht Bn vn c dáng v ca thiên nhiên trời đt qua
bn mùa. Những hoa văn trang trí có trên lụa vi, tranh v,
gm s truyn thống đều là nhng hình nh thc vt, hoa,..
vi màu sc t thc. Soi chiếu cuc sng bng cái nhìn ca
t nhiên, bng trái tim yêu t nhiên tha thiết nhãn quan
của người ngh Phù Tang để to nên nhng tác phm
bình d, nh bé và thm nhun v đẹp truyn thng.
Nhà nhân chng học người Pháp ni tiếng Claude Lévi-
5 Truyện ngắn Trăng Tây hồ (Seiko no tsuki, 1919) của Tanizaki Junichiro.
Strauss khi nghiên cu Nht Bản đã nhận ra “mt khác ca
trăng”. Sự khác bit ca ngh thut truyn thng Nht ngay
phương Đông, theo Lévi- Strauss, đóý đồ biểu đạt và
s gin d trong cách thc hin, khác vi tính cht phc tp
ca ngh thut Trung Quc. Ý thc thm m của người dân
đảo quốc vùng Đông Á này đặc biệt hướng v thế gii vn
vt trạng thái nguyên sơ, những b cc thô ráp, nhng
hình thù không đều nhau hoc không đối xứng (nghĩa
hoàn toàn t nhiên, không trau chuốt đẽo gt), hay nhng
tác phm ti gin táo bạo. Đó chính là “nghệ thut ca cái
không hoàn hảo” – ngh thut nguyên thy cái đẹp thun
khiết t nhiên nht.
Cái đẹp thanh đạm, sâu sc, không rc r b ngoài
chính là điểm đc bit trong cm thc v cái đẹp của người
Nht. T tranh v, kiến trúc đến hoa đạo, trà đạo, thư đạo…
đều ngp tràn thanh sc mc mc, thanh tnh cùng.
Trong thi hc c đin, hình nh t nhiên thanh nhã hu tình
của ánh trăng, núi non phong cnh, chim ca, hoa tng
mùa… xuyên thấm nhng vn thơ bé nhỏ hay nhng trang
nht ký, nhng cun vt ng trưng thiên. Ngay c nhà văn
được xem người chuyên miêu t “cái đẹp đồi phế” như
Tanizaki Junichiro (1886-1965) thực ra cũng cc rung
động trước v thanh tao, thoát tc. Trên chuyến tàu đến
Hàng Châu đầy khách Trung Quc, con mt tinh tế ca n
văn quan sát nhng cô gái áo la sc sấn tưng ch
dng li bi mt cô tr tuổi ăn vận thanh thoát hơn cả vi
cánh áo màu xanh men s nhàn nhạt và đôi giày trắng. Cái
màu sắc y nhà văn cảm tưởng hình dáng cô ntan loãng
vào màu xanh ca núi h man mác5.
2.2. Cái Đẹp trong khuynh hưng biu hiện tượng trưng
Cái bình đạm, tinh tế, nh nhn ca i đẹp đưa đến
khuynh hướng ợng trưng trong cảm thc thm m trong con
mt ca ngưi Nht. Khác vi m học phương Tây thường đề
cao tng th, hình khi nguyên vẹn thì ngườin x s ngàn
nh hc li chú trng nh mc mc và đường nét gin phác
kiểu “ch v mt nhánh c mà thấy đưc ngọn gió đi qua”.
thế, trong ngh thut Nht Bn, người ta thy cách
biu hin khiêm nhường, gin dị, thanh đạm, nhiu khong
trống đầy ý nghĩa, gây cảm động sâu xa. Cái hư không, cái
“rỗng”, hồ được đề cao hơn cái thực. Một bài thơ
haiku nh nhn thực ra không hướng đến vic k nhng
câu chuyện phong phú, đầy p hin thực, ngược lại, ưa ghi
li nhng khonh khc, nhng phút lóe sáng, những đường
nét mong manh ca thế gian. Trong không gian khiêm
nhường ca trà tht, mt bức thư pháp, một ng hoa di
hái bên đường... nhc nh cm thức “hòa – kính thanh
tịch” trong tâm hồn trà nhân. Tt c mối giao hòa đó đt
đưc t s không phân bit cái thực hư, cái đầy đủ
s thiếu vng, cái c th và cái tượng trưng, cái thẩm m
và cái bình thường...
Trong kết cấu “ý ợng” của thi ha thi c đại Trung
Quốc, cái “hư không” có vị trí quan trọng. Không có cái hư
không, ý cnh hi ha Trung Quc, k c thi ca, không
th sinh ra. Người Nhật cũng đồng điệu điểm này. Ngh
thut biu din truyn thng ca x s Mt tri mc bi vy
chung s n d u huyền hơn thực. Dùng tiết tu âm
nhc phi hp với động tác biu din, không cn kch tính
38 Nguyễn Phương Khánh
(theo nhn thc của người phương Tây), Nht Bn lại được
xem là cùng chân thc. Bi chân thc vi ch th, mt
mi giao tình thâm sâu của đời sống tâm trí được biu hin
thông qua các nhn thc có v hồ này.
Điu nói trên khiến cho bc tranh qu đậu cành khô ca
Basho6 tr thành mt công án siêu vit. Nhng nét phác
quá ít i của bài haiku kinh điển này lại khơi dậy bao bí
mt trong h thm, bi ngh thut không cn ngôn ng
m rà. Mi s phô bày c th quá s mất đi tính ám thị,
sc ám th, th nói, chính sc mnh bn th ca
ngh thut Nht Bn.
Tính giản phác tượng trưng này hoàn toàn hp vi
tinh thn ca Thin ( một c đ nào đó, Thiền th
được xem điểm u nhất trong văn hóa Nhật Bn
th đưc quy thành mt th tâm dân tc). Tính duy m
Thiền đưa đến một đặc trưng văn hóa Nhật, đó so với
những xung động t đạo đc (cái Thiện) thì xung động t
ngh thut mi ci ngun, bn tính vn ca cuc
sống, thúc đẩy s sáng to, s suy nghim. Thin t chi
nhng li din dch dài dòng, sáo rng, trung thành vi trc
giác siêu vit tuyệt đối, bng kinh nghim s giác ng
t thân. Ngh thut Thiền đưa đến các đặc điểm điển hình
như “tính phi đi xng, tính tàn khuyết tính nhất giác”
như D.T.Suzuki đã nói. S ưa chuộng i bất đối xng
(Fukinsei) biu hin cho s phn kháng vi quyn lc
ca nh, ca mi khái nim tn tại như một định chế
trong tưởng con người. V đẹp của “tàn khuyết” chính
cái đẹp không hoàn chnh, t nhiên, nguyên thy. nh
“nhất giác” phong cách hội ha truyn thng vn dùng
rt ít nét v để to hình to nên tinh thn sabi cô tch trong
tâm hồn người Nht. S giản phác, tượng trưng này, Suzuki
nói rng nó xut phát t quan niệm “Một là tt c, tt c
một” trong phương pháp duy ca Thin. Trong rng có
đầy, trong chân không vn vt, trong h thm giác
ng, trong ta tha nhân. thế, không cn gii thích dài
dòng trc tiếp, Thiền ng ng án đ đệ t phi trầm
tìm kiếm, hoặc dùng đấm, gy gc, tiếng thét (thin Lâm
tế) đ đệ t hn lon tinh thn và kéo thoát h ra khỏi cơn
mê hình tướng vô thường.
tưởng m hc kiu Thin này v thn bí, xa l
với tư duy phương Tây, bởi như lời ca Lévi-Strauss:
“T thi Hy Lp c đại, phương Tây tin rằng con người
quan năng nắm bt thế gii bng cách s dng ngôn ng
phc v cho lý tính: mt s bin luận đưc cu to trùng
khít vi thc ti, nó tim cn và phn ánh trt t ca nhng
s vật. Ngược li, theo quan nim của phương Đông thì
mi s bin luận đều không tương liên một cách bt kh
vãn hi vi cái thc tn. Bn cht ti hu ca thế gii, gi
định khái nim này một ý nghĩa, bị vut khi chúng
ta. vượt lên bên trên kh ng suy ng diễn đạt ca
chúng ta. Ta không th biết bt c điu v do đó
không th nói được bt c cái gì v nó”[5, trang 46].
Nhà văn Nhật Bản đu tiên nhn giải Nobel Văn
chương năm 1968 Kawabata Yasunari cũng phát biu
rng tinh thần phương Đông nằm khong trng, chân
6 Trên cành khô/ Quạ đậu/ Chiều thu (Basho, Nhật Chiêu dịch).
7 Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “hư vô.
8 Một loại hoa màu tím ngát giống hoa bìm bìm dại. Người Trung Quốc gọi là hoa khiên ngưu.
không, “Hư vô”. Nhưng i này hoàn toàn khác
vi ch nghĩa (nihilism) của phương Tây nnhân
vt bồi già đại biu cho thế h mt mát (lost generation)
trong truyn ngn Một nơi sạch s sáng sa ca Ernest
Hemingway đã lẩm nhm: Nada! Nada!7... Bởi như nhà
văn giải thích, n bản “do những ci r tinh thn ca chúng
ta khác nhau”.
2.3. Cái đẹp đm phong cách tao nhã, n tính
“Ưu nhã” tâm thế cao q quyết định nn tng ca
m hc truyn thống Phù Tang, được gi miyabi. Nhng
phạm trù bản trong m hc Nhật đều nm trong bu
không khí tinh tế huyn diu ca ch miyabi y. Nhng t
tinh y t thiên nhiên, t cnh sắc xung quanh đến lòng
người được phô y bng mt cm quan hết sc thanh thoát,
ưu ncùng. Ngay cả cm thc phù du cuc thế cũng
không khác n chính s ng x đầy thanh tao, bi
h quan nim, hãy sng và chết như một đóa hoa.
Xut phát t cm quan ưa chuộng những cái đẹp nh
nhn, tinh tế, mc mc, ngh thut Nht Bn tr nên đm
v n tính, mm yếu, thiên v tr tình ni tâmctrng
khc ha các hình tượng ngh thuật dưới góc độ m
thm m hơn là quan điểm đạo đức hay các triết thuyết đầy
tính cách mng. Vì vy nhiu nhà nghiên cứu phương Tây,
chng hn Michael F. Marra, gi đó một kiu sùng bái
cái đẹp (a cult of beauty) đậm cm thc n tính feminine
sensibility [3].
Phong cách n chương Nhật điển hình bởi tính mơ hồ,
thun khiết nh nhàng, không phù hợp để mô t nhng cung
bc cm xúc d di, hành vi quái hay những tưởng
tàn bo. Phong cách tao nhã y gi wabun, vn là truyn
thng của thơ tanka, truyn vt ng monogatari, các trang
tùy bút zuihitsu hay thơ haiku... Tt nhiên không phi
không nhng hiện tượng bit, bi tính cách ca con
người trên đất nước của “hoa cúc và lưỡi kiếm” là sự tương
phn mnh m. Việc đối lp giữa thanh gươm bên mình
đạo với hoa anh đào trong vườn quý tộc cung đình không
làm mất đi nỗi khao khát nâng niu một làn hương, một
áo mng hay mt bông hoa asagao8 ban sm.
Yếu t n tính này cũng căn bản bt ngun t tinh thn
ca tng lp quý tộc đặc bit thi Heian (794-1192). Cái
tên Heian (Bình An) gi lên mt thi thanh bình an lc
trong lch s Nht Bản. Văn hc phn ánh nhng nim vui
cung đình của giai cp quý tc trong mt xã hi duy m
hưởng lc, nhng mối tình say đm, ttiêu khin tao
nhã như cầm k thi ha, nhng cuc du ngoạn núi đồi
thưởng hoa, ngm lá, ch tuyết rơi... Tt c nhiều khi đượm
mt ni bun ngao ngán v cái phù du ca trn thế (do nh
ng ca Pht giáo). Ph n được đ cao, các tác phm
văn chương chủ yếu do gii n lưu sáng tác. Các kiệt tác
văn chương thời k này hướng v cái đẹp, chứa đựng cm
thc aware (bi cm) vi những rung đng tâm hn sâu kín
tinh tế. Công lao ln thuc v các ph n quý tc, nhng
người đã sáng tạo các tác phm ni tiếng, tht có giá tr bt
t như Genji monotagari (Murasaki Shikibu), Chm tho
t (Sei Shonagon) ng hàng lot các tác phẩm thơ ca, nhật
ISSN 1859-1531 - TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, S 10(131).2018 39
ký, tùy bút, tiu thuyết y n tượng mnh m khác như
tuyn tp Kokinshu (C kim tp, biên soạn năm 905), Nht
ký Murasaki, Nht ký Izumi... S n r ca các thiên tài n
gii khiến không ít người phi cho rằng văn hóa Heian
văn hóa của cái Đẹp, văn hóa của n phái.
Nhng thành tu ngh thut rc r ca gn 400 năm an
bình qtc y ch yếu rơi vào tay nữ giới. Nhưng ngay
c khi giai cấp võ thống tr sut những năm binh đao chia
ct ca thi trung thế, tt c chiu sâu ca v thm m nh
nhàng, trầm tĩnh, quý phái vẫn không mất đi. Giữa dao
gươm la lon, m hc Nht vẫn hướng v ni u huyn
thâm sâu, cng ci hơn, bớt xa hoa hơn, song vẫn
màng, cô tch và phong nhã.
t n s pdu ca cuc thế, các ngh thut gia
Nht Bản thường trc mt nim tin vào s phong nhã du
dàng của đời thc trong ni vô, trong s đơn, nhàn
tịch và hưởng th cái đp t nhiên, lấy hoa trăng tuyết mây
làm bn m giao. Tính ngh thuật đưc t nim gin d,
tao nhã n nh, vô kĩ xảo đó. Cái uyên nguyên thăm thẳm
ca m hc Nht Bn biu hin qua hi họa, trà đo, t
đạo, hài đạo... đôi khi đượm v mm yếu su lng bên
ngoài, nhưng chính ni tao nhã dịu dàng không đấy li
làm nên ct cách phong lưu và đt s giác ng gia thế gian
không sai biệt. Như cánh bướm biết đời ngn ngi vn hn
nhiên ng thiếp trên chiếc chuông đồng nh cửu trong
haiku ca họa sư, nhà thơ Yosa Buson (1716-1783).
Trên chuông chùa
Ng say sưa
Một con bướm nh.
2.4. Cái đẹp và ni bun m hc ca phù thế
Như đã nói phần đu, m hc Nht Bn chu s chi
phi của tưởng Pht giáo vi triết v bn cht
thường của đời sng. Cộng hưởng vi thc tế thiên nhiên
dim l nhưng nhiều sóng gió của đảo quc bên b Thái
Bình Dương, truyền thng Nht Bn mi gi nhn thc v
s hư mong manh của “phù thế” (thế gian trôi ni). Song,
đó không phải là ni nim tuyt vng hay bi quan đau khổ
mà là s nhc nh nim trân trng vi thc ti, vi bao v
đẹp t nhiên đương huy hoàng trong cõi sống ca chúng ta
và s biết ơn đối vi mi khonh khc.
V đẹp của nh anh đào luôn gợi nhc cho chúng ta
ni bun v s ngn ngi ca tt c mi kiếp nhân sinh.
Tấm gương soi hay bt c vt th nào kh năng phản
chiếu trong văn chương Kawabata đu miêu t nhng màu
sc phi thc, s mt mát tình yêu không thành. Câu
chuyn ca Akutagawa, Mishima hay Haruki Murakami...
luôn hin hu cái chết. Nhng thi phm c xưa nhất ca
người Nht trong tp Manyoshu cũng đầy p các khúc bi
ca, tiếng thơ thổn thc than khóc trên bia mộ. Khu vườn đá
tch mch trong chùa Ryoanji c đô Kyoto cũng khiến du
khách không khi trm mc, thm cnhói n nhng k
niệm đánh mất... Các cm thc v s ưu nhã, thanh tao, cô
tịch... đã nhắc phn trên cũng đã hàm chứa trong đó du
n của xúc động u uẩn. Nói chung, cái đẹp trong ngh thut
truyn thng Nht Bản thường đượm ni bun ca thi
gian, ca ký c và suy nghim sâu xa.
9 Cỏ mùa hạ đầy/ Giấc mơ người tráng sĩ/ Còn vương đâu đây (Basho, Nhật Chiêu dịch)
M học đượm v bun này của văn hóa Nhật Bn (đã
truyn thống hơn ngàn năm mang tên cảm thc - aware)
cũng dẫn ta ti triết lý v cái chết. Người ta vẫn thường hay
nhắc đến tinh thn d dội, “không sợ chết” của người võ sĩ
đạo Nht Bản. Đất nước hoa cúc (hoa cúc 16 cánh biu
ng ca Hoàng gia Nht Bản) cũng nổi tiếng vi các nghi
thc t sát và t l người t t. Mc dù rt trân trng rt tha
thiết với i đẹp sinh đng trong thế gian, song người Nht
cũng sẵn sàng đón nhận s ra đi luôn rèn giũa lý tưng
dâng hiến cuộc đời cho cái chết. Chúng ta không thy trong
văn hóa Nhật triết c th v cách sống, nhưng lại
m hc ca cái chết. Vấn đ không phi là s hay không s
cái chết, điều ct yếu tinh thần đối din vi s ra đi ca
thân th. Thm chí người ta còn dy các samurai ngày nào
cũng phải nghĩ đến cái chết, phi gi tư tưởng “chết trong
lòng” để đến lúc đối mt sinh tử, người võ sĩ không còn run
s na. H s thản nhiên bước vào cuc chiến vi trng
thái “nhất tâm”, như một đóa anh đào sẵn ng rụng rơi
theo gió mà vẫn huy hoàng đến phút cui.
Cái chết đối với người Nht không phi là s t giã hay
chm dt. mt khía cạnh nào đó là cách để gt ra thanh
danh, để gi phm giá gi giri. Đồng thi, mt khía
cnh khác, do tính ch nhy cm u xa của người Nht
(mà vì thế nên s lý gii v ni buồn trong con người Nht
khó th xut phát t nguyên nhân đ v giữa tưởng
hin thực như các nhà lãng mạn phương Tây), cái chết
(t sát) cũng là cách họ ng s cực đoan về chính mình,
hy hoi chính mình thay vì hy hoại người khác. Đối vi
hu hết mọi người trên thế gii, vic t t là ni tht vng,
bt lc, song với người Nht, nh vi đó được chp nhn
như một nguyên lý có mc đích và đầy tính thm m.
Tt nhiên, không s mt mát nào không y thn
thc. Bi vy, nhng chiến binh lnh lùng của văn hóa
bushido (võ đạo) li cc nhy cm vi s trôi chy
biến đổi không ngng ca thế cuc. Và hiểu được điều này,
chúng ta s không ngạc nhiên trước di sn ngh thuật độc
đáo tao nhã của giới Nht xuyên sut thời trung đi,
đồng thi cm nhn được m trng ca h khi ngi trưc
v din tuồng No đầy ám th trước cái chết (v kch No đầy
p bóng ma, bởi hòa điệu trong âm nhc ai oán là cái chết
ngay lúc m màn ca nhân vật chính), hay đồng điệu vi
li m đầu trong u chuyện binh đao khói lửa khc lit
ca thi Mc ph (Heike monogatari, 1233): Tiếng chuông
chùa Gion/ Vng lên nỗi thường/ Những người đầy tham
vng/ Như gic mộng đêm xuân/ Anh hùng ri tuyt dit/
Như bụi gia cuồng phong… (Nht Chiêu dch).
Truyn viết v đề tài chiến tranh, song li mang cm
thc lng l của nhân sinh như mộng o m màn bng
bài k v s vô thường. Tt c đưc - mt, không, danh
vng vô rồi s như bụi trước cuồng phong, đ li sau
này là nhng ngn c mùa hè lp vùi giấc mơ người tráng
sĩ trong thơ Basho9.
3. Tm kết
Nn thi hc và ngh thut nói chung ca Nht Bn luôn
gn vi các cm thc thm m truyn thng. Không th lý
giải được c hình tượng ngh thut Nht nếu không hiu