
LUẬN VĂN:
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Ngân sách Quận Hai Bà Trưng,
Thành phố Hà Nội

Mở Đầu
Đất nước ta đang bước vào năm thứ mười sáu của quá trình đổi mới kể từ
Đại hội Đảng VI năm 1986. Trong những năm qua, mọi mặt đời sống kinh tế xã
hội được cải thiện đáng kể, tạo cho đất nước ta một diện mạo mới trong mắt bè
bạn quốc tế.
Trong những năm tới đây, phát triển kinh tế vẫn là quan điểm chủ đạo của
Đảng dựa trên nội lực là chính. Chúng ta đang đẩy mạnh cải cách, phát triển tài
chính nhằm tạo dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, cơ chế tài chính phù hợp
với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ
chiến lược là công nhgiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền
vững; giữ vững an ninh tài chính quốc gia trong phát triển và hội nhập. Mặt khác,
Đảng cũng chủ trương phát triển toàn diện giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng
và miền núi, thu hẹp tối đa khoảng cách giầu nghèo.
Ngân sách nhà nước với tính cách là nội lực tài chính để phát triển, trong
những năm qua đã khẳng định vai trò của mình đối với toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế hàng năm lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
Trên tinh thần phát triển kinh tế của Đại Hội Đảng IX, Ngân sách nhà nước
hơn lúc nào hết hiểu rõ trách nhiệm, vai trò của mình trong tình hình mới - là động
lực của sự phát triển.
Với chủ trương phát triển toàn diện của Đảng, cấp ngân sách Quận-Huyện
đang ngày càng thể hiện rõ chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình trên địa bàn
quận, huyện. Ngân sách Quận-Huyện là một cấp ngân sách trung gian, ở giữa
ngân sách cấp Tỉnh, Thành phố và ngân sách cấp Xã, Phường. Chính vì vậy mà
Ngân sách Quận - Huyện chưa thể hiện được vai trò của mình đối với kinh tế địa
phương.
Hiện nay, trên cả nước có 263 đơn vị cấp ngân sách Quận - Huyện. Vừa
qua đã có rất nhiều quan điểm, kiến nghị về việc tổ chức, đổi mới lại hệ thống
hành chính nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính qủyền. Mỗi

phương án đều có những ưu điểm, hạn chế riêng. Tuy nhiên theo em, dù có thay
đổi theo phương án nào, Ngân sách nhà nước phải đảm bảo hai nguyên tắc: Tập
trung thống nhất và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền.
Sau ba tháng thực tập tại Phòng Tài Chính-Vật Giá, Quận Hai Bà Trưng,
Thành phố Hà Nội, em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức thực tế để củng cố
thêm lý luận đã học của mình. Trước những đòi hỏi bức xúc về Ngân sách Quận-
Huyện như đã nêu, em đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu
quả công tác quản lý Ngân sách Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội”
Chương I: Một vài vấn đề lý thuyết về
Ngân sách Quận - Huyện
I/ Khái quát Ngân sách nhà nước(NSNN).
1. Khái niệm NSNN .
Quá trình chuyển đổi, xây dựng và phát triển thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta không những đòi hỏi sự chuyển đổi thể chế và cơ cấu
kinh tế nói chung mà còn đòi hỏi những chuyển đổi cần thiết về cả nhận thức và
thể chế tài chính, ngân sách. Việc nhận thức đúng đắn bản chất, chức năng NSNN,
sẽ cho phép xác định đúng vai trò, đặt đúng vị trí để sử dụng có hiệu quả công cụ
sắc bén NSNN trong điều hành kinh tế vĩ mô. Do vậy, việc nghiên cứu và khẳng
định bản chất, chức năng, vai trò của NSNN trong kinh tế thị trường là hoàn toàn
cần thiết. Tuy nhiên, trước hết cần phải thống nhất định nghĩa về NSNN để trên cơ
sở đó mới có thể nhìn nhận NSNN một cách đúng đắn hơn.
Pháp: “NSNN là văn kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê
chuẩn mà trong đó, các ngiệp vụ tài chính (thu, chi ) của một tổ chức công (Nhà
nước, chính quyền địa phương, đơn vị công ) hoặc tư ( doanh nghiệp, hiệp hội)
được dự kiến và cho phép”.
Trung Quốc: “NSNN là kế hoạch thu - chi tài chính hàng năm của Nhà
nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”.

ở Việt Nam, ít nhất cũng có hai định nghĩa khác nhau về NSNN :
Giáo trình lý thuyết tài chính ( 2000- ĐH TC-KT Hà Nội ): “NSNN là
phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử. NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của
các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
của Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ
yếu”.
Luật NSNN: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước rong dự
toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện
trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Hầu hết các khái niệm đều quan niệm ngân sách là kế hoạch thu, chi được
xác định trong một thời gian xác định, thường là một năm.
Pháp và Trung Quốc chú trọng đến khía cạnh pháp lý, chỉ rõ những yếu tố
căn bản, cụ thể để hiểu một cách thống nhất về NSNN, có lợi cho công tác điều
hành. Tuy nhiên, khái niệm có phạm vi hẹp, chỉ nhìn nhận ngân sách dưới góc độ
tài chính, kế toán, pháp lý, chưa chỉ ra được bản chất, chức năng, vai trò của ngân
sách. Đối với định nghĩa NSNN trong Giáo trình lý thuyết Tài chính mang tính
bác học, trừu tượng. Tuy nhiên cách diễn đạt dễ dẫn tới hiểu rằng mọi hoạt động
tài chính gắn liền với sự vận động của các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước thì
đều thuộc NSNN. Thực tế, các Nhà nước thường định ra nhiều quỹ tiền tệ tuy vẫn
tập trung nhưng vẫn để ngoài ngân sách.
Trong khi đa số đều dừng ở khâu dự toán thì quan niệm của Luật NSNN đã
đề cập đến khâu lập và thực hiện dự toán ngân sách. Quan niệm của Luật ngân
sách là sâu sắc hơn cả, vừa phản ánh được nội dung cơ bản của ngân sách ( toàn
bộ các khoản thu, chi ) vừa thể hiện được tính chất “dự kiến” chưa xảy ra của
ngân sách (trong dự toán ) đồng thời cũng phản ánh quá trình chấp hành ngân sách
( được thực hiện ); vừa phản ánh tính niên độ của ngân sách ( trong một năm )
đồng thời thể hiện được tính pháp lý của ngân sách ( đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định ); vừa thể hiện quyền chủ sở hữu ngân sách (thu, chi nhà

nước ) đồng thời cũng thể hiện vị trí, vai trò, chức năng của NSNN (đảm bảo thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước ).
Như vậy định nghĩa về ngân sách như trong Luật NSNN sửa đổi năm 1998
là đúng đắn. Định nghĩa này đã nhìn nhận NSNN một cách toàn diện theo nhiều
góc độ khác nhau.

