
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TỐNG THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU SỰ LƢU HÀNH CÁC TYP HUYẾT THANH
VÀ KIỂU GEN KHÁNG KHÁNG SINH CỦA Streptococcus
pneumoniae GÂY BỆNH BẰNG KỸ THUẬT PCR ĐA MỒI
TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 62420107
DỰ THẢO TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội, 2017

2
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội
và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Đặng Đức Anh
2. GS. TS. Phạm Văn Ty
Phản biện 1:
................................................................................................
................................................................................................
Phản biện 2:
................................................................................................
................................................................................................
Phản biện 3:
................................................................................................
................................................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm
luận án Tiến sĩ họp tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
vào hồi.. …giờ .…, ngày ..…tháng ...…năm 201.....
Có thể tìm hiểu luận án tại:
-
Thư viện Quốc gia Việt Nam;
-
Trung tâm thông tin thư viện - Đại học Quốc gia Hà Nội

3
MỞ ĐẦU
Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là tác nhân vi khuẩn chủ
yếu gây nhiễm khuẩn nghiêm trọng ở trẻ em và người già như viêm phổi, viêm
màng não mủ và nhiễm khuẩn huyết. Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae có
thể có vỏ hoặc không có vỏ polysaccharide. Kháng nguyên vỏ là kháng
nguyên quan trọng để phân loại S. pneumoniae, đồng thời kháng nguyên này
đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh bệnh và lan truyền bệnh trong
cộng đồng. Dựa trên sự khác biệt tính kháng nguyên vỏ, người ta phân loại vi
khuẩn S. pneumoniae thành trên 90 typ huyết thanh khác nhau. Kháng thể
kháng vỏ thường là kháng thể đặc hiệu và có hiệu lực bảo vệ. Vắc xin phế cầu
đang sử dụng là vắc xin cộng hợp, bao gồm một số loại kháng nguyên vỏ
polysaccharide của vi khuẩn S. pneumoniae.
Phương pháp kinh điển cho chẩn đoán typ huyết thanh của vi khuẩn
Streptococcus pneumoniae là phản ứng phồng vỏ Quellung. Phương pháp này
thường rất tốn kém, mất nhiều thời gian, dễ gây dương tính giả do phản ứng
chéo giữa các kháng huyết thanh, lại không phát hiện các trường hợp đồng
nhiễm nhiều typ. Phương pháp xác định typ huyết thanh sử dụng cho các
nghiên cứu trước đây ở Việt Nam cũng chỉ là những kỹ thuật nuôi cấy kinh
điển. Trong vài năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã phát triển kỹ thuật
PCR để định typ huyết thanh có ưu điểm là nhanh, nhạy, ít tốn kém, có tỉ lệ
phát hiện cao và tỉ lệ đồng nhiễm các typ huyết thanh nhiều hơn so với phương
pháp thông thường. Tuy nhiên, các kỹ thuật PCR đã công bố thường chỉ phù
hợp cho từng khu vực nghiên cứu cụ thể và còn hạn chế về số lượng các typ
huyết thanh được phát hiện. Việc tìm ra một quy trình xét nghiệm không dựa
trên nuôi cấy có độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho chẩn đoán phần lớn các typ
huyết thanh lưu hành của phế cầu ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia là vấn đề hết
sức cần thiết.

4
Nhiễm trùng do S. pneumoniae có thể dự phòng vắc xin và điều trị
bằng kháng sinh thích hợp. Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh đã làm xuất
hiện và lan truyền gen kháng thuốc gây cản trở tiến trình và hiệu quả điều trị.
Mặc dù tình hình kháng kháng sinh có thể thay đổi theo từng khu vực hay từng
quốc gia, nhưng châu Á là một tâm điểm của kháng kháng sinh. Trong khi đó,
nguồn lực cũng như cơ sở hạ tầng cho giám sát y tế cộng đồng còn rất nghèo
nàn. Với hơn 70% dân số trên thế giới sống ở khu vực Châu Á Thái Bình
Dương thì kháng kháng sinh ở khu vực này trở thành một gánh nặng toàn cầu.
Chương trình giám sát về tỉ lệ mắc, sự lưu hành các typ huyết thanh và
tính kháng kháng sinh của S.pneumoniae đã được thiết lập ở nhiều nước trên
thế giới nhưng chưa có ở Việt Nam. Xuất phát từ tính cần thiết và ý nghĩa thực
tiễn, chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu sự lưu hành các typ huyết thanh
và kiểu gen kháng kháng sinh của Streptococcus pneumoniae gây bệnh
bằng kỹ thuật PCR đa mồi tại một số địa phương ở Việt Nam.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Xác định sự phân bố các typ huyết thanh của các chủng phế cầu gây bệnh
tại một số địa phương ở Việt Nam;
2. Xác định tình trạng kháng kháng sinh của các chủng phế cầu gây bệnh tại
một số địa phương ở Việt Nam;
3. Mối liên quan giữa typ huyết thanh và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn
Streptococcus pneumoniae.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Nghiên cứu đã áp dụng và cải tiến được quy trình PCR đa mồi xác định
typ huyết thanh phù hợp với điều kiện tại Việt Nam. Kỹ thuật này có ưu điểm
là nhanh, nhạy, ít tốn kém, có tỉ lệ phát hiện cao và tỉ lệ đồng nhiễm các typ
huyết thanh nhiều hơn so với phương pháp thông thường.

5
Đưa ra được số liệu tổng quan về các typ huyết thanh lưu hành và tình
trạng kháng kháng sinh giúp hoạch định chiến lược triển khai vắc xin dự
phòng và lựa chọn kháng sinh thích hợp. Cung cấp số liệu cho các chương
trình giám sát trong nước và các nước trong khu vực.
Hiện nay chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam có những phân tích về mối
liên quan giữa typ huyết thanh và gen kháng kháng sinh. Phân tích này bên
cạnh việc cho thấy được hiệu quả của vắc xin trong việc làm giảm sự lưu hành
các gen kháng kháng sinh, còn dự đoán được xu hướng các typ huyết thanh nổi
trội sau khi triển khai tiêm vắc xin cho trẻ để có biện pháp thay đổi chiến lược
dự phòng.
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm 120 trang không kể tài liệu tham khảo và phụ lục; gồm
3 chương, 30 bảng, 38 hình, tham khảo 185 tài liệu trong và ngoài nước. Bố
cục luận án gồm: Mở đầu 4 trang, tổng quan 45 trang, vật liệu và phương pháp
nghiên cứu 20 trang, kết quả và bàn luận 50 trang, kết luận 1 trang, kiến nghị 1
trang; 3 bài báo có liên quan trực tiếp đến luận án đã được công bố.
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 1 Tổng quan chung về vi khuẩn Streptococcus pneumoniae
Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae (S.pneumoniae), còn gọi là phế cầu
khuẩn, là vi khuẩn Gram dương, kỵ khí tuỳ tiện, tan huyết alpha, có khả năng
tan trong muối mật và không sinh enzym catalase. Phế cầu có thể có vỏ hoặc
không vỏ. Vỏ polysaccharide là yếu tố độc lực của tế bào, đến nay đã phát
hiện được trên 93 typ huyết thanh vỏ khác nhau. Chủng mang các typ huyết
thanh khác nhau về độc lực, tỷ lệ lưu hành theo từng vùng địa lý và tính kháng
kháng sinh. Ngoài viêm phổi, phế cầu còn là nguyên nhân gây nhiều căn bệnh
xâm lấn khác như viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm xương, viêm tai

