intTypePromotion=1

Nghiên cứu sử dụng phân compost cho rau muống cạn vụ hè thu ở miền Trung

Chia sẻ: ViUzumaki2711 ViUzumaki2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
23
lượt xem
1
download

Nghiên cứu sử dụng phân compost cho rau muống cạn vụ hè thu ở miền Trung

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Các phế thải hữu cơ gồm bã thải cá, rơm rạ, bã đậu, hèm bia,… được nhóm nghiên cứu chúng tôi xử lý và ủ cùng với chế phẩm sinh học EM tạo nguồn phân compost có chất lượng, sau đó bón thử nghiệm cho rau muống cạn vụ hè thu các năm 2012-2013 tại Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu sử dụng phân compost cho rau muống cạn vụ hè thu ở miền Trung

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHÂN COMPOST CHO RAU<br /> MUỐNG CẠN VỤ HÈ THU Ở MIỀN TRUNG<br /> TS. Nguyễn Đình Thi1<br /> ThS. Lê Thị Hương Xuân2<br /> ThS. Trần Thị Ngân3<br /> ThS. Trần Thị Mai4<br /> Tóm tắt: Các phế thải hữu cơ gồm bã thải cá, rơm rạ, bã đậu, hèm bia,… được nhóm<br /> nghiên cứu chúng tôi xử lý và ủ cùng với chế phẩm sinh học EM tạo nguồn phân<br /> compost có chất lượng, sau đó bón thử nghiệm cho rau muống cạn vụ hè thu các năm<br /> 2012-2013 tại Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy,<br /> công thức bón 30 tấn phân compost/ ha + 50% phân vô cơ cho các chỉ tiêu về thân<br /> lá, khả năng tích lũy chất khô và năng suất không sai khác thống kê so với công thức<br /> bón 100% phân vô cơ. Bón 30 tấn phân compost+50% phân vô cơ cho rau muống an<br /> toàn đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm một lượng đáng kể phân hóa học bón, phù<br /> hợp với nhu cầu tiêu thụ rau an toàn đang gia tăng của người tiêu dùng và giải quyết<br /> vấn đề rác thải hữu cơ trong nông nghiệp.<br /> Từ khóa: rau muống, phân compost, sinh trưởng phát triển, năng suất<br /> 1. Đặt vấn đề<br /> Sự lạm dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật nhằm tăng năng suất và sản<br /> lượng cây trồng đã làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm và ảnh hưởng nghiêm<br /> trọng đến khỏe của người sản xuất lẫn người tiêu dùng (Kumar et al., 2001) [6].<br /> Chính vì thế ngày càng có nhiều nghiên cứu và tìm kiếm nguồn phân bón sinh học<br /> thay thế phân hóa học (Okon và Kapulnik, 1986) [8], (Molla et al., 2001) [7]. Tận<br /> dụng các phế thải hữu cơ để tạo ra nguồn phân compost bón cho cây trồng là một<br /> trong những giải pháp hiệu quả hiện nay. Phân compost bên cạnh việc giải quyết nạn<br /> rác thải gây ô nhiễm môi trường còn góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm<br /> và giảm bớt chi phí sản xuất cho nông dân. Nó vừa có tác dụng cải tạo đất bởi trong<br /> thành phần phân compost không chứa hóa chất gây hại vừa chứa nhiều chất hữu cơ tự<br /> nhiên bổ sung cho đất (Carter et al, 2004) [1]. Thực tiễn cho thấy phân compost mang<br /> lại nhiều hiệu quả thiết thực cho sản xuất nông nghiệp. Điển hình như trung tâm Ứng<br />                                                             <br /> 1<br /> <br /> TS, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế<br /> ThS, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế<br /> 3<br /> ThS, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế<br /> 4<br /> ThS, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế<br /> 2<br /> <br /> NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHÂN COMPOST CHO RAU MUỐNG CẠN …<br /> dụng tiến bộ khoa học công nghệ Long An đã thực hiện dự án sử dụng phân compost<br /> tạo ra từ quá trình ủ rác thải hữu cơ vào sản xuất hoa màu. Kết quả đã cho những<br /> thành công bước đầu và được nhiều nông dân đồng tình hưởng ứng. Đây là một chủ<br /> trương đúng đắn, phù hợp với việc hướng đến một nền nông nghiệp sạch và an toàn<br /> đối với sức khỏe người tiêu dùng.<br /> Rau muống (Ipomoea aquatica) là loại rau ăn lá được ưa chuộng trong bữa ăn<br /> hằng ngày của người dân Việt Nam nói chung và người dân miền Trung nói riêng.<br /> Tuy nhiên, đa số rau muống được trồng ở các ao hồ bị ô nhiễm. Theo Lê Đức (2000),<br /> rau muống có thể hấp thu nhiều độc tố nếu được trồng ở nơi ô nhiễm [3]. Vì vậy, sản<br /> xuất rau muống an toàn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân là nhu cầu bức thiết<br /> hiện nay.<br /> Xuất phát từ thực tiễn, chúng tôi thử nghiệm tạo phân compost từ các nguồn rác<br /> thải hữu cơ phổ biến như: bã đậu, hèm bia, bã cá (loại sau khi đã chiết rút làm phân<br /> bón lá), rơm rạ và các chất phụ gia (NPK, rỉ đường, cám gạo). Đặc biệt là sự bổ sung<br /> chế phẩm EM nhằm tăng hoạt tính phân giải chất hữu cơ của hệ vi sinh vật và rút<br /> ngắn thời gian ủ phân. Sau khi tạo được phân compost, chúng tôi đã thử nghiệm trên<br /> cây rau muống và bước đầu thu được một số kết quả mới trình bày trong bài báo này.<br /> 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu<br /> 2.1. Đối tượng nghiên cứu<br /> Phân compost tạo ra từ các phế thải hữu cơ (thải bã cá, bã đậu, hèm bia, rơm<br /> rạ).<br /> Giống rau muống hạt đang được trồng phổ biến ở các tỉnh miền Trung.<br /> Phân chuồng là phân trâu bò đã được ủ hoai mục; Các loại phân hóa học gồm<br /> đạm ure, supe lân, kali clorua của công ty CP phân bón Bình Điền.<br /> 2.2. Nội dung nghiên cứu<br /> Ảnh hưởng của phân compost tới các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá, khả năng tích<br /> lũy chất khô, năng suất của rau muống vụ hè thu tại một số vùng trồng rau ăn lá ở<br /> Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam.<br /> 2.3. Phương pháp nghiên cứu<br /> 2.3.1. Phương pháp ủ phân hữu cơ (compost)<br /> Phế thải hữu cơ bước đầu xử lý bằng chế phẩm EM thứ cấp sau đó được ủ theo<br /> phương pháp hiếu khí trong 6 tuần để thành bán thành phẩm phân compost theo<br /> hướng dẫn quy trình làm phân ủ của Nguyễn Thanh Hiền (2003) [4].<br /> Quy trình ủ tạo phân compost được chúng tôi thực hiện như sau:<br /> Nguyên liệu: Gồm các phế thải hữu cơ như bã cá, hèm bia, bã đậu, rơm rạ cắt<br /> nhỏ.<br /> Các chất phụ gia bổ sung gồm rỉ đường, cám gạo, NPK.<br />  <br /> <br /> 107<br /> <br /> TS. NGUYỄN ĐÌNH THI - THS. LÊ THỊ HƯƠNG XUÂN…<br /> Chế phẩm vi sinh EM (effective microorganism) thứ cấp được bổ sung vào khối<br /> ủ với liều lượng 0,5 lít/100 kg nguyên liệu.<br /> Cách ủ đống len men tạo phân compost: Trộn đều phế thải hữu cơ gồm hèm<br /> bia, bã đậu, bã cá (tỷ lệ 3:2:1) với rơm rạ. Rải và trộn đều vôi bột (20 kg/tấn nguyên<br /> liệu) vào khối ủ, sau đó bổ sung thêm chất phụ gia (rỉ đường, phân NPK). Hòa dung<br /> dịch EM thứ cấp với nước và phun lên khối ủ, đồng thời tiến hành đảo đều. Dùng bạt<br /> đậy kín khối ủ để tránh mất nhiệt. Khối ủ được đảo đều theo định kỳ 10 ngày/lần để<br /> cung cấp oxy cho hệ vi sinh vật phát triển. Ẩm độ của khối ủ được duy trì ở mức 6570%.<br /> Sau 30 ngày thì các phế thải đã phân hủy thành phân hữu cơ, phân có màu nâu<br /> đen và tơi mịn, trên bề mặt đống ủ xuất hiện một lớp phấn trắng chứng tỏ sự hoạt<br /> động của vi sinh vật trong đống ủ rất mạnh và có thể đem bón cho cây trồng.<br /> 2.3.2. Bố trí thí nghiệm<br /> Thí nghiệm được tiến hành trong vụ hè thu 2013 tại một số vùng trồng rau ăn lá<br /> ở Thừa Thiên Huế (phường Tây Lộc, thành phố Huế), Đà Nẵng (xã Hòa Tiến, Hòa<br /> Vang) và Quảng Nam (xã Cẩm Hà, Hội An). Thí nghiệm tại mỗi vùng được bố trí<br /> theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với 5 công thức và 3 lần nhắc<br /> lại.<br /> Công thức 1 (đối chứng): 15 tấn/ ha phân chuồng+100 % nền phân hóa học<br /> Công thức 2: 30 tấn phân compost/ ha.<br /> Công thức 3: 30 tấn phân compost/ha+50% phân hóa học.<br /> Công thưc 4: 15 tấn phân compost/ha.<br /> Công thức 5: 15 tấn phân compost/ha+50% phân hóa học.<br /> Trong đó nền phân hóa học cho 1 ha là 50kg N+20kg P2O5+15kg K2O. Mật độ<br /> gieo trồng, liều lượng và phương pháp bón phân, quy trình chăm sóc và thu hoạch được<br /> áp dụng theo tài liệu “Kỹ thuật trồng rau sạch, an toàn và chế biến xuất khẩu” [9].<br /> 2.3.3. Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu<br /> Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: Chiều cao cây, đường kính thân, số cành cấp 1,<br /> dài cành cấp 1, số lá xanh trên cây, chiều dài lá, diện tích lá (LA), chỉ số diện tích lá<br /> (LAI), khối lượng diện tích lá (SLW), khối lượng tươi, tỷ lệ chất khô, năng suất kinh<br /> tế thực thu (NSKT), năng suất sinh vật thực thu (NSSV), năng suất lý thuyết (NSLT),<br /> hiệu quả kinh tế. Mỗi chỉ tiêu được theo dõi bằng phương pháp tương ứng đang được<br /> sử dụng trong nghiên cứu rau ăn lá và được trình bày trong Giáo trình cây rau (Lê Thị<br /> Khánh, 2009) [5].<br /> Số liệu thô được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm excel và MSTATC.<br /> 108 <br /> <br /> NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHÂN COMPOST CHO RAU MUỐNG CẠN …<br /> 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận<br /> 3.1. Ảnh hưởng của phân compost đến một số chỉ tiêu thân, cành rau muống<br /> khi thu hoạch<br /> Rau muống là loại rau ăn lá do đó các bộ phận thân, nhánh, lá có vai trò quan<br /> trọng trong việc tăng năng suất. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân compost đến sự sinh<br /> trưởng thân cành rau muống, kết quả thể hiện qua bảng 3.1.<br /> Nhìn chung rau muống được bón 100% phân vô cơ (đ/c) cho các chỉ tiêu về<br /> thân cành lớn nhất. Tuy nhiên các thông số này ở rau muống bón 30 tấn phân<br /> compost+50% phân vô cơ không sai khác có ý nghĩa thống kê so với đối chứng. Điều<br /> này chứng tỏ rằng phân compost có tiềm năng nhất định trong việc thay thế 1 phần<br /> hàm lượng phân bón hóa học mà vẫn đảm bảo được sự sinh trưởng tốt của thân và bộ<br /> khung tán cho cây.<br /> Bảng 3.1. Ảnh hưởng của phân compost đến một số chỉ tiêu sinh trưởng thân,<br /> cành rau muống khi thu hoạch<br /> Số cành cấp 1 Dài cành cấp 1<br /> Chiều cao cây<br /> Đường kính<br /> thân (cm)<br /> (cành)<br /> (cm)<br /> (cm)<br /> a<br /> a<br /> a<br /> I (đ/c)<br /> 58,18<br /> 0,91<br /> 2,03<br /> 41,79a<br /> II<br /> 47,12c<br /> 0,85c<br /> 1,93ab<br /> 37,85b<br /> III<br /> 56,08ab<br /> 0,90ab<br /> 2,00ab<br /> 40,30ab<br /> IV<br /> 44,97c<br /> 0,78d<br /> 1,90b<br /> 33,80c<br /> V<br /> 54,37b<br /> 0,87bc<br /> 2,03a<br /> 38,54b<br /> Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự sai khác có ý<br /> nghĩa thống kê tại α=0,05.<br /> Công thức<br /> <br /> 3.2. Ảnh hưởng của phân compost đến một số chỉ tiêu về lá rau muống khi<br /> thu hoạch<br /> Sự phát triển bộ lá rau muống có liên quan chặt chẽ đến năng suất cuối cùng bởi<br /> nếu rau có bộ lá khỏe sẽ tăng khả năng tổng hợp chất dinh dưỡng và tích lũy vật chất<br /> khô. Bên cạnh đó rau muống là loại rau ăn lá nên chỉ tiêu này liên quan đến năng suất<br /> và phẩm chất rau. Số liệu ở bảng 3.2 cho thấy so với công thức đối chứng (bón 100%<br /> phân vô cơ), các công thức bón phân compost cho các chỉ tiêu về số lá xanh, dài lá,<br /> rộng lá, diện tích lá, chỉ số diện tích lá và khối lượng diện tích lá thấp hơn. Tuy nhiên,<br /> bón phân compost kết hợp bón 50% lượng đạm vô cơ sẽ kích thích sự phát triển của<br /> bộ lá rau muống so với chỉ bón thuần phân compost. Cụ thể là bón 30 tấn phân<br /> compost + 50% phân hóa học làm tăng đáng kể các chỉ số về bộ lá, đặc biệt là số lá<br /> và khối lượng diện tích lá không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê so với đối chứng.<br /> <br />  <br /> <br /> 109<br /> <br /> TS. NGUYỄN ĐÌNH THI - THS. LÊ THỊ HƯƠNG XUÂN…<br /> Bảng 3.2. Ảnh hưởng của phân compost đến một số chỉ tiêu về lá rau muống<br /> khi thu hoạch<br /> Công<br /> thức<br /> <br /> Số lá<br /> Xanh<br /> <br /> Dài lá<br /> (cm)<br /> <br /> Rộng lá<br /> (cm)<br /> <br /> LA<br /> (dm2/cây)<br /> <br /> I (đ/c)<br /> II<br /> III<br /> IV<br /> V<br /> <br /> 14,03a<br /> 11,53c<br /> 13,73a<br /> 11.43c<br /> 12.80b<br /> <br /> 24,66a<br /> 21,26c<br /> 22,68b<br /> 19,90d<br /> 21,89bc<br /> <br /> 2,41a<br /> 1,96d<br /> 2,19b<br /> 1,92d<br /> 2,09c<br /> <br /> 2,456a<br /> 2,134d<br /> 2,329b<br /> 2,267c<br /> 2,292bc<br /> <br /> LAI<br /> (m2<br /> lá/m2đất)<br /> 1,769a<br /> 1,536d<br /> 1,677b<br /> 1,632c<br /> 1,651bc<br /> <br /> SLW<br /> (g/dm2<br /> lá)<br /> 0,316a<br /> 0,257c<br /> 0,301ab<br /> 0,280b<br /> 0,309a<br /> <br /> 3.3. Ảnh hưởng của phân compost đến sự tích lũy và phân bố vật chất của<br /> cây rau muống<br /> Khối lượng tươi trên cây lúc thu hoạch là kết quả hoạt động tích lũy vật chất<br /> trong suốt đời sống của cây, đồng thời biểu hiện khả năng hút nước và chất dinh<br /> dưỡng của tế bào. Khối lượng tươi của rau muống ở các công thức thí nghiệm dao<br /> động trong khoảng 33,68 - 44,58 g/cây. Trong đó tổng khối lượng tươi của cây và của<br /> các bộ phân thân, lá, rễ ở công thức bón 100% phân vô cơ cao hơn so với các công<br /> thức bón phân compost. Trong các công thức sử dụng phân compost, việc bón kết<br /> hợp phân compost với phân vô cơ (15 - 30 tấn phân compost/ha + 50% phân vô cơ)<br /> đã cho các chỉ tiêu về khối lượng tươi hơn cao hơn so với các công thức chỉ bón<br /> thuần phân compost.<br /> Tương tự, tỷ lệ chất khô của các công thức bón phân compost cũng đều thấp<br /> hơn so với công thức đối chứng (9,33%), dao động trong khoảng 8,86 - 9,04%. Các<br /> công thức II, III, V có tỷ lệ chất khô không sai khác nhau về mặt thống kê.<br /> Bảng 3.3. Ảnh hưởng của phân compost đến sự tích lũy và phân bố vật chất của<br /> rau muống<br /> Khối lượng tươi (g/cây)<br /> Công<br /> thức<br /> I (đ/c)<br /> II<br /> III<br /> IV<br /> V<br /> <br /> 110 <br /> <br /> Thân<br /> <br /> Lá<br /> <br /> Rễ<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> Tỷ lệ chất<br /> khô (%)<br /> <br /> 24,54a<br /> 19,67d<br /> 23,05b<br /> 18,05e<br /> 21,19c<br /> <br /> 15,91a<br /> 13,17c<br /> 14,38b<br /> 12,51c<br /> 14,03b<br /> <br /> 4,14a<br /> 3,59b<br /> 4,03a<br /> 3,12c<br /> 3,97a<br /> <br /> 44,58a<br /> 36,42d<br /> 41,46b<br /> 33,68e<br /> 39,16c<br /> <br /> 9,33a<br /> 9,09b<br /> 9,03bc<br /> 8,86c<br /> 9,04bc<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2