intTypePromotion=1
ADSENSE

Những vấn đề chung về giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học

Chia sẻ: Nguyen Duc Ninh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:46

21
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu bàn về việc giảng dạy tích cực giúp cho người học trở nên chủ động, tự tin, biết cách học, biết cách làm, biết cách giao tiếp xã hội, biết cách khẳng định chân lí, tạo nên con người rất thực tế, thích hoạt động, dẫn đến sự năng động và sáng tạo trong tư duy, trong hoạt động cuộc sống. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những vấn đề chung về giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học

  1. CHUYÊN ĐỀ 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢNG DẠY THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ NGƯỜI HỌC 1.1. Phương pháp giảng dạy tích cực - lấy người học làm trung tâm Đổi mới phương pháp giảng dạy trong giáo dục, đào tạo ở Việt Nam trong những năm qua thực chất là bước chuyển đổi từ chương trình đào tạo tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Để thực hiện theo cách tiếp cận đó, người dạy chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Cho đến ày, tồn tại hai quan niệm về phương pháp giảng dạy với nhiều nét khác biệt rõ rệt. Quan niệm thứ nhất: giảng dạy theo lối “truyền thụ một chiều”- người thầy đóng vai trò trung tâm. Hoạt động chính của giảng dạy là thầy giảng, trò ghi, thầy nói, trò nghe. Người giảng dạy thì truyền đạt chủ yếu bằng độc thoại những kiến thức đóng khung trong khuôn khổ định sẵn và áp đặt, người thầy làm mẫu và người học làm theo, người giảng dạy độc quyền đánh giá người học và cho điểm. Điều này dễ dẫn tới việc nhồi nhét kiến thức, làm cho người học bị “nghẹn”, thậm chí khó có thể tiếp thu. Quan niệm thứ hai: giảng dạy là hoạt động của thầy và trò, được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Đây là hoạt động tương tác, có tính đặc thù, thầy trò cùng nhau - gọi là “Giảng dạy có sự cùng tham gia”. Ở đó, người thầy không áp đặt, không giáo điều cứng nhắc, mà chỉ dẫn cho trò biết cách học và suy nghĩ do chính mình. Người thầy khuyến khích chứ không ngăn chặn những đáp ứng thông minh và có tính cách phê phán của trò. Với mô hình này, đóng vai trò trung tâm trong hoạt động giảng dạy không phải là thầy, mà là trò. Chính vì thế, mô hình giảng dạy này có tên gọi khác là giảng dạy “Lấy người học làm trung tâm”, hay còn gọi là “Giảng dạy tích cực” vì phát huy được tính tích cực, chủ động của nhân vật trung tâm - người học. Thực tế cho thấy, cách thức giảng dạy truyền thụ một chiều, “lấy người thầy làm trung tâm” vẫn tồn tại trong giáo dục. Ở đó, vai trò của người thầy được đặt quá cao, thầy quyết định mọi điều trên lớp. Thầy giảng, trò nghe, người học tiếp thu vô điều kiện. Với phương pháp giảng dạy này, người học có thể nắm vững lí thuyết một cách rất hệ thống nhưng khả năng “tiêu hóa” thấp và kĩ năng thực hành khó được hình thành. Do 3
  2. vậy, khó có thể nói đến sự linh hoạt trong tư duy giải quyết các tình huống trong thực tiễn, đồng thời dễ gây nhàm chán, mệt mỏi, dẫn tới tâm lý “sợ học”. Phương pháp giảng dạy tích cực - lấy người học làm trung tâm có nhiều điểm khác biệt với phương pháp giảng “lấy người thầy làm trung tâm”. Mô hình giảng dạy này đòi hỏi phải xây dựng lại các hình thức tổ chức và các phương pháp giảng dạy phù hợp. Ở đây, người học không thể chỉ đến lớp nghe, ghi chép một cách thụ động, mà phải tham gia vào mọi hoạt động một cách tích cực, từ chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm, đến thực hành; từ giải quyết các tình huống đến các hoạt động vận động, thực hiện các yêu cầu phục vụ cho bài học dưới sự điều khiển, hướng dẫn của người thầy. Họ được phát huy những hiểu biết, kinh nghiệm, vốn sống của mình, được khám phá tiềm năng của bản thân. Họ cảm thấy hứng thú, vui vẻ, hạnh phúc khi được học, được sáng tạo, được thể hiện và được làm. Họ sẽ hiểu sâu, nhớ lâu, tăng khả năng áp dụng kiến thức vào vào thực tiễn. Họ có được sự tự tin, có trách nhiệm với bản thân và chia sẻ với cộng đồng. Lấy người học làm trung tâm không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy, đưa người thầy xuống vị trí người “quan sát”, “chứng kiến” hoạt động của người học. Mà ngược lại, vì “lấy người học làm trung tâm” nên càng yêu cầu cao hơn đối với năng lực của người thầy. Bởi khi đó, người thầy phải là người có khả năng tổ chức, điều khiển hoạt động của người học, giúp người học học tập tốt nhất. Ở bất kì thời đại nào, và với bất cứ phương pháp giảng dạy nào, vai trò của người thầy luôn luôn được đề cao, thầy giỏi mới có thể giúp trò giỏi, và ngược lại, trò giỏi cần phải có thầy giỏi. Mối quan hệ giữa dạy và học là mối quan hệ biện chứng, là quy luật cơ bản để tạo nên chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học. Để giảng dạy hiệu quả, người học phải thực sự “là trung tâm”, và người thầy phải là chủ đạo trong tiến trình dạy học. Vì thế, người thầy hơn bao giờ hết, phải tự mình phải trau dồi kiến thức chuyên môn, cập nhật thông tin, để có thể đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của người học, để đủ khả năng hỗ trợ, giúp đỡ người học khai thác tiềm năng trí tuệ của chính họ. Có thể khẳng định rằng: Giảng dạy tích cực giúp cho người học trở nên chủ động, tự tin, biết cách học, biết cách làm, biết cách giao tiếp xã hội, biết cách khẳng định chân lí, tạo nên con người rất thực tế, thích hoạt động, dẫn đến sự năng động và sáng tạo trong tư duy, trong hoạt động cuộc sống. Và để thực hiện hiệu quả mô hình giảng dạy này, cần phải chuẩn bị các điều kiện cơ bản (giảng viên, thời gian, cơ sở vật chất, phương 4
  3. tiện, phương pháp kiểm tra đánh giá) một cách tương thích, đồng bộ, đủ khả năng đáp ứng cho việc triển khai. 1.2. Đặc điểm học viên là người trưởng thành 1.2.1. Người trưởng thành học như thế nào? Học viên ở các khoá đào tạo, bồi dưỡng của Agribank là những người đã trưởng thành, có chuyên môn và có vị trí việc làm nhất định. Họ là những cán bộ, công chức, viên chức, được xếp vào một ngạch bậc, hạng chức danh nghề nghiệp nhất định trong hệ thống Agribank, có trách nhiệm và thẩm quyền rõ ràng. Học viên là người trưởng thành thường có mặt bằng tri thức không giống nhau, phần lớn đã tốt nghiệp đại học và sau đại học với các chuyên ngành phù hợp với vị trí việc làm. Sự đa dạng về lứa tuổi, thời gian công tác khác nhau nên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm công việc cũng rất khác nhau. Hơn nữa, xuất phát từ vị thế, vai trò của mình, người trưởng thành đi học có tính mục đích rõ ràng, cụ thể và có tính thực dụng cao. Họ muốn học tập những nội dung kiến thức có thể vận dụng ngay được vào thực tế cuộc sống, lao động sản xuất và kinh doanh. Học viên là người trưởng thành chỉ học khi có nhu cầu, học thông qua làm việc, qua giải quyết các vấn đề thực tế. Hơn nữa, việc học của người trưởng thành chịu tác động khá nhiều bởi kinh nghiệm của chính họ. Vì thế, người trưởng thành sẽ học tốt hơn trong môi trường học tập không chính thức, họ muốn sự hướng dẫn chứ không phải điểm số, và đáp ứng tốt với sự đa dạng của các phương pháp giảng dạy. Nhìn chung, người trưởng thành đi học là những người đã trưởng thành về mặt sinh học (thể lực và tâm lý), là người tự nhận thức, tự điều khiển bản thân, tự chịu trách nhiệm. Đồng thời họ cũng trưởng thành về mặt xã hội - đủ tư cách của một người làm việc, đã có vị thế xã hội, có nhiều kinh nghiệm sống được tích lũy tùy theo lĩnh vực mà họ hoạt động. Ưu điểm của học viên người trưởng thành: - Có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống và công tác, đây là một lợi thế cần được khai thác trong giảng dạy. - Có kinh nghiệm thực tế cả trong quan hệ xã hội và công việc chuyên môn, những kinh nghiệm ấy nếu có cơ hội cho họ trao đổi, tranh luận trong nhóm sẽ làm cho chất lượng bài giảng tốt hơn. - Có khả năng liên hệ logic, hệ thống giữa lý luận và thực tế. Đối với học viên là người trưởng thành luôn mong muốn được tiếp cận vấn đề cụ thể để vận dụng vào thực 5
  4. tế, họ không muốn lý luận hình thức, giáo điều. Ngược lại, những kinh nghiệm thực tế của họ sẽ kiểm nghiệm tính khoa học của lý luận, tính khả thi của các chính sách, các văn bản. - Mạnh dạn nêu vấn đề và trao đổi, thảo luận các vấn đề. Người trưởng thành đi học luôn muốn bộc lộ chính kiến của bản thân, họ không e ngại, thích tranh luận, thích trao đổi tìm ra cái đúng, sai nên thuận lợi khi thảo luận nhóm. - Có nhu cầu được học, được cung cấp thông tin. - Có nhu cầu cần cái cụ thể để vận dụng vào công việc. - Có khả năng lưu giữ thông tin lâu. - Có lòng tự trọng và tự giác cao. - Có quan hệ, ứng xử đúng mực thân thiện. Hạn chế của học viên người trưởng thành: - Chịu nhiều áp lực từ công việc cơ quan, vì trước khi đi học họ đang đảm nhận những công việc cụ thể, là một trong những mắt xích quan trọng trong dây chuyền hoạt động của cơ quan. Mặc dầu đi học, song những công việc cần giải quyết luôn là áp lực không nhỏ, đã tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập. - Chịu nhiều áp lực từ công việc gia đình vì người học hầu hết là những người lao động chính, là chủ gia đình, nhiều khi ngồi học trên lớp nhưng tâm trí lại nghĩ về công việc gia đình mà không thực tập trung cho học tập. - Các giác quan suy giảm, khi tuổi càng cao thì hệ thần kinh càng ỳ, các giác quan như tai, mắt có biểu hiện suy giảm dần, không còn thính và tinh như khi ít tuổi. Quá trình này diễn ra theo quy luật, vì vậy trong giảng dạy, người thầy phải hiểu được sự thay đổi trên ở người trưởng thành để tìm những phương pháp bù đắp lại những hạn chế đó. - Tiếp nhận thông tin chậm, không nhanh nhạy như khi còn ít tuổi, vì vậy khi giảng cần trình bày rõ, mạnh lạc, cụ thể để người học vừa có khả năng nghe, vừa ghi chép những kiến thức cơ bản. - Ít sáng tạo trong tư duy, ngại khám phá, thường dễ bằng lòng, thỏa mãn với những gì đã có, kết hợp với những áp lực công việc chuyên môn, công việc gia đình và sức ỳ của thần kinh nên lười tư duy, ngại khám phá cái mới. - Tính năng động của người lớn tuổi cũng giảm, nên trong tư duy ít sáng tạo so với người nhỏ tuổi. 6
  5. Thực tiễn cho thấy, học viên là người trưởng thành vừa có kiến thức, vừa có kinh nghiệm làm việc, họ là những người cọ sát thực tiễn quản lý hành chính từng ngày, từng giờ, phải xử lý các khó khăn, các tình huống xảy ra, thậm chí các xung đột phát sinh trong thực thi nhiệm vụ. Trước khi đến lớp học, học viên đã có sự am hiểu, ham khám phá cái mới, văn minh tiến bộ. Chính vì thế, trong quá trình giảng dạy, nếu giảng viên chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình thì vô hình chung đã truyền tải thông tin một chiều mà triệt tiêu mối quan hệ trao đổi qua lại giữa thầy và trò, triệt tiêu đi những kiến thức, kinh nghiệm và những ý tưởng độc đáo từ phía người học. Điều này sẽ giảm hiệu quả trong mỗi giờ lên lớp, đồng thời hạn chế mục tiêu đào tạo bồi dưỡng về rèn luyện kỹ năng cho người học. Hiện nay, cán bộ, công chức, viên chức đi học không chỉ với mục đích hoàn thành khóa học để được cấp chứng chỉ, bằng tốt nghiệp mà bên cạnh đó, họ còn thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, nhu cầu tự khẳng định mình trước cơ quan, tổ chức. Do vậy, chỉ thực sự tham gia tích cực vào bài giảng khi những vấn đề đưa ra đúng với nhu cầu và sát với thực tiễn công vụ nơi mà họ đang công tác. Hơn nữa, trình độ nhận thức và học thức của người học ngày càng được nâng cao. Nếu giảng viên không thường xuyên tự mình, đồng thời được bồi dưỡng cập nhật những tư liệu, kiến thức mới thì bài giảng sẽ bị lạc hậu. Một trong những nhiệm vụ của giảng viên là tìm hiểu trình độ, kiến thức và hiểu biết của học viên; thường xuyên cập nhật thông tin để xử lý, bổ sung, hoàn chỉnh, cải tiến nội dung, kế hoạch, phương pháp giảng dạy và cơ sở dữ liệu phục vụ cho giảng dạy. 1.2.2. Phong cách học tập của người trưởng thành Từ đặc điểm việc học tập của người lớn như trên, người giảng dạy có thể xác định được phong cách học tập của người lớn để từ đó đưa ra các yêu cầu đối với họ, nhằm đảm bảo cho việc học tập hiệu quả. Các cá nhân khác nhau về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc, có các sở thích, phong cách học tập khác nhau. Mỗi người có một cách học ưa thích riêng của mình, nhưng phong cách nào cũng đều có tác động khá lớn đến kết quả học tập của họ. Trong quá trình học tập, các học viên người lớn có những bộc lộ khá khác nhau: thẳng thắn, trầm tĩnh, nhanh nhẹn, hăng hái, tự giác, chủ động, lệ thuộc… Những biểu hiện phong phú này trực tiếp tạo nên (hay ảnh hưởng tới) những phong cách học tập đa dạng của họ. 7
  6. Các nhà nghiên cứu, đặc biệt là Peter Honey, đã chỉ ra bốn phong cách học tập chủ yếu: (i) Phong cách học tập tích cực. Những người học tập theo phong cách này rất háo hức tìm tòi và dung nạp những điều mới. Họ nghiêm túc và coi trọng những điều mới mẻ được học. Đây là những người có đầu óc phóng khoáng, không hoài nghi, nên họ luôn hồ hởi nhiệt tình với bất kỳ điều gì mới mẻ. Họ thường hành động trước và xem xét hậu quả sau. Họ luôn bận rộn tìm kiếm cái mới, thậm chí phấn khích trước những thử thách mới. Người có phong cách học tập tích cực có ưu điểm là linh động và phóng khoáng, cởi mở. Họ sẵn sàng làm quen với hoàn cảnh mới, luôn lạc quan với những điều mới học và không ngại thay đổi. Nhưng người tích cực cũng có nhược điểm là hay hành động ngay tức thì, không suy nghĩ, không có sự chuẩn bị đầy đủ. Vì thế họ có thể gặp phải những rủi ro không đáng có. Đồng thời họ cũng có xu hướng tập trung quá nhiều vào bản thân, lấn át người khác. Người có phong cách học tập tích cực, khi đến một khoá học mới, thường hay đặt ra các câu hỏi: Tôi có học được điều gì mới không? Có nhiều hoạt động không? Có thời gian nghỉ ngơi, vui đùa không? Có khó khăn, thách thức nào không? Có những người giống tôi không? Bởi thế, người tích cực sẽ học tập tốt nhất khi họ được tham gia vào các hoạt động mới, những nhiệm vụ khó khăn, mang tính cạnh tranh, những bài tập đóng vai. Họ đặc biệt học tốt khi được người khác chú ý và đánh giá cao đóng góp của mình. (ii) Phong cách phản ánh: Đây là phong cách học tập của những người luôn dành thời gian để phân tích, suy nghĩ về những gì mình học được. Những người học tập theo phong cách phản ánh thường thích đứng sau quan sát và suy nghĩ về những thứ đã qua từ nhiều khía cạnh khác nhau. Họ thu thập tư liệu trực tiếp hay từ những người khác, từ những sự kiện đã xảy ra và suy nghĩ kỹ về chúng trước khi đi đến kết luận. Những người học tập kiểu này có xu hướng trì hoãn việc ra quyết định càng lâu càng tốt. Tức là họ thận trọng, suy nghĩ, xem xét sự việc trên mọi khía cạnh trước khi hành động. Họ 8
  7. thích nhường những người khác phát biểu ý kiến. Họ lắng nghe, quan sát kỹ người khác trước khi đưa ra quan điểm của mình. Với phong cách này, ưu điểm của người phản ánh là thận trọng, tỉ mỉ và có phương pháp, thâm trầm, sâu sắc, biết lắng nghe người khác và thu nhập thông tin, hiếm khi đi đến kết luận vội vã. Vì thế, người có phong cách phản ánh thường hay đặt ra những câu hỏi sau đây: Có đủ thời gian cho tôi cân nhắc, suy xét và chuẩn bị không? Có cơ hội để kết nối các thông tin thích hợp khôn? Tôi có cơ hội để lắng nghe quan điểm của những người khác không? Tôi có phải hành động ngay không? Người có phong cách phản ánh sẽ học tập tốt nhất khi họ được khuyến khích xem xét, suy nghĩ, lật đi lật lại các vấn đề, được phép suy nghĩ trước khi hành động, được suy xét kỹ trước khi bình luận. Nếu có cơ hội để xem xét lại điều gì đã xảy ra, đã học được gì, được đưa ra quyết định mà không bị áp lực và bó buộc về thời gian, người phản ánh sẽ thu được kết quả học tập tốt hơn. Bởi vậy, nhược điểm của người học tập theo phong cách phản ánh chính là họ có thể bỏ qua, đánh mất nhiều cơ hội, do luôn dành nhiều thời gian để suy xét, dẫn đến lưỡng lự, do dự quá lâu. (iii) Phong cách lý thuyết: Những người học tập theo phong cách này thường trăn trở tìm tòi về mối liên quan giữa những gì đã học được. Người lý thuyết là những người luôn xem xét vấn đề từng bước, từng bước một theo trình tự logic. Họ có xu hướng hoàn thiện, không chấp nhận những ý tưởng mới cho đến khi họ có thể nhìn thấy những ý tưởng đó hoàn toàn hợp lý, logic. Họ thích phân tích và tổng hợp, thích những giả thuyết, mô hình. Đối với người lý thuyết, sự hợp lý và logic có giá trị cao. Người Lý thuyết tuy bị hạn chế về khả năng tư duy sáng tạo, không thích những vấn đề chủ quan, trực giác thì không chắc chắn, mơ hồ, không trật tự. Họ quá nguyên tắc. Nhưng những người này lại có ưu điểm nổi bật là suy nghĩ logic, lý trí và khách quan. Với việc tham gia học tập, người lý thuyết thường hỏi: Tôi có nhiều cơ hội để tìm hiểu không? Mục tiêu có rõ ràng, trình tự có logic không? Tôi có bị căng thẳng và đối mặt với các ý tưởng và khái niệm phức tạp không? Phương pháp tiếp cận và các khái niệm có đúng đắn không? 9
  8. Tôi có được học với những người giống mình không? Như vậy, người lý thuyết sẽ học tập tốt nhất khi được tham gia các hoạt động mà họ có thời gian để khám phá, liên hệ các ý tưởng, sự kiện và tình huống. Các hoạt động này phải được trù định trước và có mục đích rõ ràng. Họ sẽ học tốt khi có cơ hội để nghi vấn, xem xét các phương pháp luận cơ bản, các giả định hay logic đằng sau một sự việc. Họ sẽ học tốt nếu không quá căng thẳng về trí tuệ. (iv) Phong cách thực dụng: Những người học tập theo phong cách thực dụng là người luôn luôn đặt câu hỏi về việc vận dụng những gì đã học vào thực tiễn như thế nào. Họ thích thử áp dụng những ý tưởng lý thuyết và kỹ thuật vào thực tế công việc, người thực dụng tự tin và luôn luôn tìm cơ hội áp dụng những ý tưởng mới vào thực tế. Họ thường không kiên nhẫn với những thảo luận đòi hỏi sự suy xét kỹ lưỡng hay tư duy mở. Họ là người thực tế, cơ hội hay vấn đề đều là sự thử thách. Người thực dụng có ưu điểm là luôn thử nghiệm những ý tưởng vào thực tế. Họ không viển vông, mà đi thẳng vào vấn đề, và có đầu óc tổ chức. Nhưng người thực dụng lại có xu hướng phản đối bất cứ những gì không có khả năng áp dụng thực tế rõ rang. Bởi họ không quan tâm đến lý thuyết hoặc những nguyên tắc cơ bản. Họ có xu hướng sử dụng những giải pháp thực dụng nhất đối với một vấn đề. Người thực dụng thường đặt những câu hỏi như: Có cơ hội để thực hành, thử nghiệm không? Có gợi ý và có kỹ thuật để thực hiện không? Có xử lý các vấn đề thực tế và đưa đến một kế hoạch hành động để giải quyết một số vấn đề đang mắc không? Có được tiếp xúc với các chuyên gia giỏi thực tế không? Có thể dễ dàng nhận thấy, người thực dụng sẽ học tập tốt trong môi trường học từ những tình huống thực tế tại nơi làm việc. Họ sẽ hứng thú hơn với việc học tập khi có cơ hội thực hành, làm thử dưới sự hướng dẫn của chuyên gia đáng tin cậy. Các nhà nghiên cứu căn cứ vào bốn phong cách học tập nêu trên của người trưởng thành để xây dựng nên các mô hình học tập hiệu quả cho người học. Bốn phong cách học tập trên gắn với các bước trong quá trình học tập theo kinh nghiệm, thể hiện qua bốn giai đoạn, bao gồm: (1) Mô hình học tập Kinh nghiệm cụ thể; (2) Mô hình học tập Nhận xét phản ánh; (3) Mô hình học tập Lý thuyết hoá trừu tượng; (4) Mô hình học tập Thực nghiệm tích cực. 10
  9. Các nhà sư phạm (người dạy/giáo viên/giảng viên) thì căn cứ vào các mô hình học tập này để xác định, xây dựng các mô hình, nguyên tắc, phương pháp giảng dạy cho phù hợp, nhằm phát huy tối đa năng lực của người học, để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy. 1.3. Vai trò và tác phong của người dạy 1.3.1. Vai trò của người dạy Trong hoạt động giảng dạy theo hướng tích cực hoá người học, lấy học viên làm trung tâm, vai trò của người dạy không đơn thuần là người trình bày, người truyền đạt kiến thức, để hoàn toàn áp đặt lên học viên cả nội dung và phương pháp học tập. Người dạy trở thành người tạo điều kiện, cố vấn, điều phối, người hướng dẫn, định hướng, lập kế hoạch, người đánh giá, người thiết kế chương trình đào tạo, thúc đẩy quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Cụ thể hơn, người dạy tổ chức việc học cho đối tượng giảng dạy (người học) một cách chủ động, tích cực; hỗ trợ họ, giải đáp các thắc mắc, các yêu cầu mà người học đặt ra khi cần thiết. Người dạy là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để người học tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp, người học hoạt động là chính, người dạy chỉ là người hướng dẫn. Nhưng trước khi lên lớp, người dạy phải đầu tư nhiều thời gian để thiết kế bài giảng sao cho đạt được các tiêu chí của một giờ giảng tích cực; chọn lọc phương pháp giảng dạy và phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu và nội dung bài giảng. Trong quá trình giảng dạy, ngoài giờ lên lớp, người dạy còn phải theo dõi các hoạt động tự học của học viên, giúp đỡ họ khi cần thiết, trao đổi, thảo luận và góp ý để người học đi đúng hướng. Trong giảng dạy “lấy người học làm trung tâm”, việc đánh giá người học không phải “độc quyền” của người thầy. Người thầy phải hướng dẫn người học phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học của mình. Liên quan với điều này, người thầy cần tạo điều kiện thuận lợi để người học được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà người học cần được trang bị. Có thể khái quát vị trí của giảng viên trong mô hình giảng dạy lấy người học làm trung tâm ở một số vai trò sau đây: Một là, người dạy là người trình bày - giới thiệu: Dù cách tiếp cận thay đổi như thế nào thì vai trò của người dạy vẫn vô cùng quan trọng. Người dạy luôn được mong đợi với vai trò đầu tiên là người giảng dạy, trình bày, truyền đạt, kỹ năng sử dụng kỹ 11
  10. thuật, phương tiện giảng dạy hiệu quả thông qua kỹ năng, kỹ xảo. Người học cũng luôn mặc định ở người thầy sự hiểu biết sâu sắc về môn học, sự chuẩn bị bài giảng kỹ lưỡng, giao tiếp tốt, có khả năng xác định và đề xuất giải pháp cho các vấn đề của người học một cách thích hợp và hiệu quả. Hai là, người dạy là người định hướng: Đây là vai trò rất quan trọng không thể thiếu, cần khẳng định uy tín, trình độ tri thức, kinh nghiệm người thầy. Trên con đường chiếm lĩnh tri thức, người học rất cần sự định hướng, chỉ dẫn của người thầy về mục tiêu, nội dung, phương pháp học tập. Trên cơ sở định hướng của người dạy, người học sẽ xác định được trọng tâm, giải quyết được những nội dung cơ bản của môn học và đạt được mục tiêu của môn học qua từng bài học. Việc định hướng của người thầy liên quan đến các nội dung học nhóm, thảo luận, chuẩn bị bài và trao đổi giữa những người học. Thầy định hướng cách khai thác nội dung, định hướng kiến thức của bài học cũng như định hướng tư duy cho từng vấn đề. Định hướng là yếu tố thúc đẩy khả năng tự học, giúp người học đi đúng “đường ray” tri thức. Ba là, người dạy là người gợi mở tri thức: Chúng ta đừng bao giờ quên, sự gợi mở của thầy là động lực thúc đẩy tính tích cực và tính say mê tìm tòi của người học. Nghiên cứu một nội dung mới, vấn đề mới, bài học mới, sự gợi mở của người thầy giống như chất xúc tác đẩy mạnh tính chủ động nghiên cứu của người học. Việc gợi mở đó chẳng khác nào tìm lối thoát để người học tự mình đi trên con đường tìm kiếm tri thức. Việc gợi mở chấm dứt sự chây lười, tính ì, sự trì trệ của người học trước những nội dung kiến thức mới. Sự gợi mở của thầy giúp người học tìm hiểu kiến thức đúng định hướng, đúng bản chất của nội dung cần học trong một môn học hoặc một bài học. Bốn là, người dạy là người tạo điều kiện: Có lẽ đây là một vai trò đặc biệt quan trọng trong mô hình giảng dạy tích cực, mô hình giảng dạy “có sự cùng tham gia”. Thầy và trò cùng nhau trong quá trình trò khám phá, lĩnh hội tri thức. Người thầy chính là người tạo điều kiện và là người cùng tham gia học tập với trò, tạo một môi trường học tập thuận lợi để người học đạt được những kết quả học tập cụ thể theo cách hiệu quả nhất và có ích nhất. Người thầy sẽ áp dụng những nguyên tắc học tập phù hợp đối với từng đối tượng, sử dụng các phương pháp giảng dạy, nguồn lực học tập phù hợp với từng điều kiện và từng đối tượng. Bên cạnh sự định hướng giúp người học, ủng hộ, khuyến khích họ, để tạo điều kiện tốt nhất cho người học phát huy việc học của họ. Ben 12
  11. cạnh đó, người thầy còn là người phải hiểu rõ về khả năng của mỗi học trò của mình, hiểu rõ khả năng, phong cách học tập, động cơ học tập của học viên. Năm là, người dạy là người hỗ trợ: Ở vai trò này người dạy đi bên cạnh người học của mình, nhưng không làm thay họ. Với sự hỗ trợ của giảng viên, nội dung của môn học, bài học sẽ được làm sáng tỏ hơn, hấp dẫn hơn trong quá trình người học nghiên cứu, tìm tòi tài liệu, chinh phục kiến thức. Việc hỗ trợ kịp thời của người dạy là giải pháp tối ưu và hiệu quả nhất mỗi khi người học thất bại hoặc không tìm ra đáp án trong bài học, trong các bài tập cụ thể, tình huống cụ thể. Người giảng dạy có thể hỗ trợ trò của mình đọc tài liệu, hỗ trợ tìm tài liệu, hỗ trợ đưa ra phương án tối ưu, hỗ trợ cả về tinh thần trách nhiệm để người học đam mê trong học tập, nghiên cứu. Sáu là, người dạy là người cố vấn: Trong giảng dạy, nhiều trường hợp giảng viên phải đưa ra những lời khuyên cho người học của mình. Ví dụ: người học có thể đề nghị tư vấn cá nhân về việc xác định mục đích học tập, phát triển các kế hoạch đào tạo cá nhân, những phương pháp thích hợp để nghiên cứu, học tập, và các vấn đề tương tự. Người thầy khi đó trong vai trò cố vấn hiệu quả để phát triển, xây dựng được mối quan hệ hợp lý, phù hợp với trò. Bảy là, người dạy là người hướng dẫn: Người thầy hướng dẫn trò khai thác bài học, hướng dẫn đọc tài liệu, hướng dẫn làm bài tập, hướng dẫn tư duy từng vấn đề cụ thể. Bên cạnh đó, người dạy còn hướng dẫn người học làm bài tình huống và thực hành kỹ năng trong thực tiễn. Vai trò này sẽ giúp cho người học biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, biến tri thức nhân loại thành tri thức của mình. Người học có thể cần thảo luận cả những vấn đề và những mối quan tâm của họ với người dạy, trong trường hợp này, người thầy cần phải có những phản hồi trung thực và xây dựng đối với trò. Tám là, người dạy là người điều phối: Với mô hình giảng dạy lấy người học làm trung tâm, việc tự quản lý học tập (tự học) được nhấn mạnh cũng có nghĩa là trách nhiệm của người thầy trong quản lý, điều phối quá trình đào tạo rất quan trọng. Người dạy chính là người điều phối, người chỉ huy, điều phối, trợ giúp một cách chủ động đối với người học trong quá trình giảng dạy; điều phối một cách chủ động đối với sự tham gia của các thành viên khác, những người giám sát và chuyên gia. Sự điều phối có thể trong phạm vi hoạt động của lớp học, có thể trên các phương diện công việc mở rộng, hỗ trợ đào tạo như chọn địa điểm đào tạo, sắp xếp nhân sự, kiểm tra thiết bị, phương tiện và đảm bảo chương trình được diễn ra trôi chảy. 13
  12. Chín là, người dạy là người đánh giá và kiểm tra kết quả học tập: Mục tiêu môn học và mục tiêu bài học chỉ được định lượng thông qua việc đánh giá và kiểm tra của người giảng dạy. Người dạy phải có khả năng kiểm tra, đánh giá người học, xác nhận những thành tích học tập của họ. Với vai trò này người dạy sẽ kịp thời phát hiện những người học yếu kém, thiếu tự giác, học tập sai phương pháp, học tập miễn cưỡng, lười biếng hoặc học đối phó. Cũng từ vai trò kiểm tra đánh giá mà người thầy nhận diện được tư duy của mỗi người học trong quá trình chủ động khai thác môn học, bài học ở mức độ tích cực nhất định. Mười là, người dạy là người lập kế hoạch, thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng: Thông thường, trong các nhà trường, cơ sở đào tạo, chương trình đào tạo có sẵn, giảng viên, giáo viên không cần lập kế hoạch, chuẩn bị, thiết kế chương trình đào tạo. Chúng ta chỉ thiết kế-soạn bài giảng cho các buổi đào tạo của mình. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, giảng viên cũng là người tham gia vào quá trình phân tích các nhu cầu đào tạo và xác định các yêu cầu đào tạo, tham gia thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng. Trong đó bao gồm cả việc xác định kết quả học tập - mục tiêu, lựa chọn và sắp xếp nội dung, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp, chuẩn bị tài liệu học tập và lựa chọn phương pháp đánh giá. Mười một, người dạy là người thúc đẩy quá trình đào tạo: Giảng viên có thể cung cấp những thông tin đào tạo, bồi dưỡng cập nhật khi được yêu cầu. Cũng có thể truyền bá những thông tin đào tạo, bồi dưỡng qua những ấn phẩm, những diễn đàn, hội nghị đào tạo, bồi dưỡng. Khuyến khích, thúc đẩy quá trình đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức mình là một phần vai trò của người giảng dạy chúng ta. 1.3.2. Tác phong người dạy Tác phong của người dạy trên lớp được hiểu là phong cách văn hoá của mọi hành vi, ứng xử, cử chỉ, nét mặt cùng trang phục của người thầy trong quá trình giảng dạy. Đó là sự phối hợp hợp lý, khoa học giữa những thao tác tay, chân, nét mặt, điệu bộ, cử chỉ… và mọi ứng xử của người thầy trong quá trình lên lớp. Các chuyên gia nghiên cứu giáo dục khẳng định rằng: giá trị của người thầy được khẳng định và in dấu, có khi suốt đời trong lòng người học. Đó chính là nét văn hoá thể hiện qua tác phong của người thầy. Từ xưa đến nay, tác phong của thầy luôn ảnh hưởng trực tiếp đến không khí lớp học và ảnh hưởng đến ứng xử của người học. Nếu người thầy có tác phong đúng mực, 14
  13. mô phạm, cởi mở, thân thiện, sẽ tạo cho lớp học một bầu không khí dễ chịu, thoải mái, vui vẻ, hào hứng. Việc học tập sẽ trở nên dễ dàng, hứng thú hơn, kết quả học tập tốt hơn, và ngược lại. Tác phong người thầy cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ ứng xử của người học: ảnh hưởng đến ứng xử của người học với nhau và ứng xử của người học với giảng viên, giáo viên. Người học sẽ vui vẻ, hào hứng, hợp tác, cởi mở, hay họ trở nên e dè, ngại ngùng, thu mình, lạnh lùng với nhau; người học tự giác, hợp tác, hay họ đối phó, khó chịu với giảng viên, một phần lớn chịu ảnh hưởng từ cách ứng xử, hành vi, biểu hiện ra ngoài của người giảng dạy. Một câu hỏi rất quan trọng mà tất cả các giảng viên cần phải trả lời được để chú ý rèn luyện, hoàn thiện, thực hiện suốt đời làm nghề giảng dạy, đó là: tác phong giảng viên thể hiện ở đâu và cần phải như thế nào? Tác phong của giảng viên là tất cả những biểu hiện bộc lộ ở hình thức bên ngoài và trong cách ứng xử với người học. Vì thế, để chỉ ra đầy đủ những gì thuộc về tác phong quả là rất khó. Tuy nhiên, có thể liệt kê một số biểu hiện tác phong đúng mực (tác phong tốt) rõ nhất của giảng viên trong hoạt động giảng dạy như sau: Những biểu hiện ở hình thức bên ngoài: - Trang phục: lịch sự, gọn gàng - Nét mặt: tươi tắn, vui vẻ - Thái độ: ôn tồn, hoà nhã - Cử chỉ: ân cần - Ánh mắt: thân thiện, bao quát - Tư thế: đường hoàng, đĩnh đạc - Di chuyển: khoan thai, hợp lý - Vị trí: phù hợp, linh hoạt, không che khuất tầm nhìn của người học - Giọng nói: truyền cảm, uyển chuyển, âm lượng vừa đủ, tốc độ vừa phải - Ngôn từ: chính xác, rõ rang, chuẩn mực - Biểu hiện cảm xúc: chừng mực, phù hợp, không thái quá - Cử động tay và cơ thể: linh hoạt, hợp lý, vừa phải, không làm rối hoặc gây ức chế - Khoảng cách với người học: hợp lý, không quá xa (xa cách), không quá gần (suồng sã) 15
  14. Những biểu hiện ở giao tiếp ứng xử với người học: - Tôn trọng người học, tôn trọng ý kiến, quan điểm của họ, không áp đặt - Tin tưởng, đánh giá cao (ghi nhận, khích lệ) khả năng, năng lực của người học - Lắng nghe, ghi nhận - Kiên nhẫn và ân cần - Luôn tạo cơ hội cho người học thể hiện mình - Quan tâm, giúp đỡ, vì người học - Tự tin nhưng khiêm tốn - Bao quát lớp - Tập trung, không làm việc riêng - Thúc đẩy sự gắn kết các thành viên trong lớp - Hiểu, đồng cảm, chia sẻ với người học - Chuẩn bị kỹ bài giảng - Truyền đạt thông tin chính xác, mô phạm, đáng tin cậy - Đúng giờ … Tác phong là biểu hiện của văn hoá, phẩm chất và cả năng lực của người thầy. Người thầy hãy luôn chú ý rèn luyện để có tác phong tốt, để trở nên chuyên nghiệp, tạo được thiện cảm, sự tin tưởng và cảm xúc tích cực của người học, giúp họ học tập hiệu quả hơn. Theo sự phát triển của xã hội, tác phong của người thầy có thể thay đổi linh hoạt. Nhưng dù thay đổi thế nào thì những tiêu chí cơ bản này vẫn luôn tồn tại như một yêu cầu đối với giảng viên. Đáng nói là hiện nay, không ít giảng viên, khi lên lớp hoặc là tỏ ra khá xuề xoà, hoặc quá cầu kỳ, đôi khi có hành vi thiếu chuẩn mực, hoặc quá phóng khoáng, suồng sã, cẩu thả, thạm chí vi phạm cả quy định về tác phong cán bộ công chức. Chúng ta đừng quên, sự thiếu vắng (dù chỉ một chút) chuẩn mực của người giảng dạy sẽ làm mất đi sự tôn trọng từ phía người học, làm giảm sự tập trung, hứng thú, thoải mái của giờ lên lớp, làm cho hiệu quả học tập giảm sút. 1.4. Nguyên tắc giảng dạy tích cực Trong giảng dạy, bất cứ giảng viên nào cũng đều trăn trở trước khi triển khai hoạt động giảng dạy. Triển khai bài giảng như thế nào để người học vừa có được tri thức, vừa có được trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái, học tập một cách chủ động, say mê, 16
  15. được thực sự là “trung tâm” trong hoạt động giảng dạy…luôn là những câu hỏi tồn tại trong tư duy người thầy trước khi đảm nhiệm giảng dạy một nội dung nào đó. Trong thực tế, mỗi giảng viên đảm nhiệm những chuyên đề, môn học, nội dung khác nhau. Ở mỗi nội dung giảng dạy ấy, do mục đích, tính chất, phạm vi, yêu cầu không giống nhau nên cần được triển khai bằng những cách thức khác nhau. Tuy nhiên, có thể chỉ ra những điều mà bất cứ giảng viên, nào nếu thực hiện tốt trong quá trình triển khai bài giảng trên lớp, chắc chắn sẽ tạo nên một giờ giảng vui vẻ, thoải mái, hiệu quả, dù đó là giảng dạy môn học gì, tính chất nội dung thế nào, yêu cầu ra sao, đối tượng người học là ai. Đó chính là những nguyên tắc giảng dạy tích cực mà giảng viên cần thực hiện trong suốt quá trình giảng dạy của mình. 1.4.1. Nguyên tắc Liên hệ với thực tế Goethe đã đúc kết từ trải nghiệm qua câu nói kinh điển: “Lý thuyết chỉ là màu xám, còn cây đời là mãi mãi xanh tươi”. Trong giảng dạy, nếu chúng ta chỉ nói lý thuyết, người học khó lòng tiếp thu được vấn đề. Người học sẽ dễ dàng hiểu (thậm chí chỉ hiểu) thấu đáo lý thuyết khi những lý thuyết đó được phân tích, chứng minh bằng ví dụ thực tế. Và chính những luận điểm, vấn đề được làm rõ bằng thực tế ấy mới có khả năng nằm lại trong tâm trí người học. Họ sẽ hiểu sâu và nhớ lâu. Mục đích của đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu là giúp cho người học có được năng lực tư duy và năng lực hành động, trên cơ sở đó họ có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của họ. Cái đích cuối cùng là những gì người học học được phải vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cuộc sống. Vì thế, những gì được giảng dạy trên lớp phải luôn luôn gắn với cuộc sống bên ngoài, trong quá khứ, hiện tại, hoặc tương lai của người học. Người học liên tưởng, đặt mình vào đó, tiếp nhận, cảm nhận, thực hiện, giải quyết, như một lợi ích sát sườn của mình. Thực tế bao giờ cũng có sức hấp dẫn đặc biệt với người học. Họ thấy quan tâm hơn, hứng thú hơn. Nhất là với đối tượng người học là người lớn, nếu nội dung học không liên quan đến công việc đang làm, đến nghề nghiệp họ đang theo đuổi, họ sẽ không muốn học. Nguyên tắc liên hệ với thực tế cần được thực hiện trong suốt quá trình triển khai bài giảng, từ khi bắt đầu bài giảng (mở đầu bài giảng), trong quá trình khai triển nội dung bài giảng, tới khi kết thúc bài giảng. 17
  16. 1.4.2. Nguyên tắc Tạo bầu không khí tích cực trong giờ giảng Trong giảng dạy, chúng ta cần phải chú trọng cả hai phương diện: truyền tải nội dung và duy trì không khí tích cực cuả lớp học. Khi người học có được nội dung tri thức ích lợi với mình từ bài học, họ sẽ tập trung, hào hứng, chủ động. Điều này góp phần tạo nên không khí thoải mái, vui vẻ. Bầu không khí tích cực - tức là bầu không khí thoải mái, dễ chịu, sẽ là một yếu tố vô cùng quan trọng giúp người học tiếp thu bài tốt hơn. Ở trong một bầu không khí nghiêm khắc, căng thẳng, người học sẽ cảm thấy bị ức chế, khó chịu. Họ có thể phải gồng lên để tự điều tiết cảm xúc, có thể hướng suy nghĩ của mình về những gì liên quan đến thái độ của người thầy, đến trạng thái của lớp học, đến thứ khác xung quanh, mà không tập trung vào bài học. Họ rất khó để tập trung suy nghĩ, tìm tòi, khám phá nội dung bài học, mà chỉ cố gắng thực hiện những yêu cầu của người thầy, để mong đáp ứng tình trạng khó chịu trên. Họ có thể có những phản ứng đối phó tiêu cực với giảng viên, giáo viên của mình. Họ học không hiệu quả. Tương tự, trong một bầu không khí trầm lắng, đơn điệu, người học sẽ cảm thấy buồn tẻ, nhàm chán, mất động lực. Họ dễ có xu hướng xao nhãng với vấn đề mà giảng viên đang triển khai. Họ trở nên thụ động và mệt mỏi, học không hiệu quả. Việc tạo ra bầu không khí tích cực trong giờ giảng trở thành một nguyên tắc vô cùng quan trọng mà giảng viên phải cố gắng thực hiện để người học được học tập một cách hiệu quả. Điều quan trọng là, người dạy làm thế nào để người học cảm thấy thoải mái, dễ chịu nhất, họ không phải phân tán tư tưởng vào những điều không thuộc về bài giảng, chỉ dành toàn bộ tâm trí vào mục tiêu, nội dung bài học cùng người thầy. Nói cách khác, khi được động viên, khuyến khích, ủng hộ, quan tâm, người học sẽ có cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình. Ngược lại, mọi hình thức kiểm soát bằng đe doạ, trừng phạt, gây sợ hãi, xấu hổ chỉ khiến người học cảm thấy không phù hợp, tổn thương, ngượng ngùng và bất an. Để tạo được bầu không khí tích cực, giảng viên chúng ta nên sử dụng các kỹ thuật như: - Thiết lập các quy ước hợp tác, làm việc trong quá trình cùng hoạt động (các dấu hiệu thông báo) - Thể hiện lắng nghe tích cực, tạo sự tin cậy, tôn trọng ở người học - Khơi dậy cảm giác an toàn, bình yên cho người học (âm nhạc nhẹ nhàng, giọng nói nhẹ nhàng, sâu lắng) 18
  17. - Giải quyết mẫu thuẫn một cách nhân văn, cho người học có cảm giác được tôn trọng, thấu hiểu, an toàn. Mọi yếu tố tạo nên bầu không khí tích cực trong giờ giảng đều cần được giảng viên cân nhắc, chọn lựa, sắp xếp một cách hợp lý, với từng nội dung bài giảng, từng thời điểm thích hợp, từng đặc điểm người học và tình hình lớp học. 1.4.3. Nguyên tắc Trực quan hoá bài giảng Trong văn hóa dân gian có câu: “trăm nghe không bằng một thấy”. Trên phương diện nghiên cứu, các nhà nghiên cứu giáo dục khẳng định: “Nếu người học chỉ nghe thì lĩnh hội được 20 phần trăm lượng thông tin, nếu chỉ nhìn thì lĩnh hội được 30 phần trăm. Nếu phối hợp cả nghe, nhìn, hành động thì lượng thông tin tiếp thu được là 80”. Nói cách khác, nếu các nhà sư phạm chỉ giảng dạy bằng thuyết trình, thì lượng kiến thức bị thất thoát là 80 phần trăm. Và do đó, giảng dạy bằng trực quan vô cùng quan trọng hơn bao giờ hết. Phương pháp trực quan là cầu nối giữa lý thuyết và thực hành, là sự phản ánh khách quan, chân thực nhất về những kiến thức lý thuyết, phát huy tính tích cực, chủ động học tập của người học. Trực quan hoá bài giảng giúp người học hiểu rõ các khái niệm, đặc điểm, quy trình, thủ tục và thao tác trong từng môn học cụ thể, thông qua đó, họ hứng thú học tập hơn, tiếp nhận tri thức mới dễ dàng hơn, tạo sự tò mò, say mê nghiên cứu hơn. Trực quan hoá bài giảng có tác dụng rất lớn trong giảng dạy: - Thời gian trình bày ít, hiệu quả cao - Tạo sự thoải mái trong giờ học - Dễ dàng sử dụng kết hợp với các phương pháp khác, đặc biệt là phương pháp thuyết trình - Các ý kiến đã đóng góp không bị mất đi (trường hợp thu thập thông tin, ý kiến người học, viết trên giấy khổ lớn, trên bảng) - Kích thích trí tưởng tượng của người học - Khuyến khích tính chủ động, tích cực tham gia học tập của người học Giúp giờ học đạt được mục tiêu đề ra. Người giảng dạy có thể sử dụng các hình thức trực quan sau đây: - Tranh ảnh, hình vẽ chuyển tải chủ đề nội dung giảng dạy - Video clip, đoạn phim tư liệuđể minh hoạ nội dung bài giảng 19
  18. - Đồ vật, mẫu vật, sản phẩm chứa đựng nội dung, chủ đề trình bày - Sơ đồ, bảng biểu để cấu trúc hoá thông tin, nội dung bài giảng - Các vật liệu để thí nghiệm, thực hành - Bản thân người thầy với những biểu hiện cảm xúc, hỗ trợ ngôn từ… Nhưng không phải cứ đưa thật hiều công cụ trực quan vào bài giảng là tốt. Phải thừa nhận rằng, trực quan có tác dụng đáng kể đối với việc học tập. “Một bức tranh hơn cả ngàn lời nói” quả là không sai. Để giúp cho giờ giảng luôn hiệu quả, giảng viên đừng bao giờ bỏ qua phương tiện chuyển tải nội dung tuyệt vời này. 1.4.4. Nguyên tắc Khuyến khích người học tự làm Trong phần trình bày Nguyên tắc thứ ba (Trực quan hoá bài giảng), đã có nhắc đến câu châm ngôn dân gian “trăm nghe không bằng một thấy”. Nhưng nửa thứ hai của câu nói này lại là một khẳng định về một phương diện giảng dạy còn mang sức mạnh to lớn hơn: “trăm thấy không bằng một làm”. Với bất cứ một trường hợp truyền đạt nội dung hay rèn kỹ năng nào, nếu người học được tự mình thực hiện, thể hiện (làm), họ sẽ thực sự hiểu và nhớ lâu. Vì thế, trong giảng dạy, giảng viên cần khuyến khích người học “tự làm” để họ học tập hiệu quả. Khuyến khích người học tự làm nghĩa là làm cho họ trở nên chủ động, tích cực trong mọi hoạt động học tập. Trong giảng dạy tích cực, điều cốt yếu là giảng viên cần tạo điều kiện để người học tự xây dựng kiến thức cho mình, phát triển tính độc lập, tháo vát, sôi nổi. Chúng ta có thể khuyến khích người học tự làm bằng nhiều cách khác nhau: - Tạo cơ hội cho người học tự làm - Đặt câu hỏi, giao bài tập, giao nhiệm vụ thực hành cho người học - Giao cho người học truyền đạt một nội dung vừa học cho người khác Trong thực tế, rất nhiều giảng viên còn giữ thói quen tự thuyết giảng, truyền đạt mọi thông tin, nội dung cho người học, với tâm lý “sợ người học không biết”. Thói quen làm thay này của thầy cô càng khiến họ trở nên thụ động và ỉ lại. Để người học tự làm sẽ là đòn bẩy, tạo động lực cho người học “bật” khỏi vị trí thụ động ấy. Người học lúc này được tham gia vào bài giảng một cách chủ động, với tư cách là nhân vật “trung tâm”. Họ học tập hiệu quả hơn. 1.4.5. Nguyên tắc Chốt nội dung giờ giảng Chốt nội dung giờ giảng là nhân tố quan trọng để chúng ta giúp người học của mình đúc kết lại kiến thức để từ đó vận dụng được kiến thức vào thực tiễn. Một nhà sư phạm 20
  19. nổi tiếng từng khẳng định: Nếu giảng viên không chốt lại nội dung bài giảng, sau 3 ngày, người học chỉ nhớ được 30 % thông tin. Nếu người thầy chốt nội dung trước khi ra về, 3 ngày sau, người học có thể nhớ được 80%. Sau đây là một số cách phổ biến để chốt nội dung giờ giảng: Giảng viên thực hiện chốt nội dung bài giảng: - Tóm tắt nội dung chính bài giảng - Nhấn mạnh các nội dung quan trọng - Giao nhiệm vụ cho người học - Đặt ra các yêu cầu, nhiệm vụ tiếp theo cho người học Học viên thực hiện chốt nội dung bài giảng: - Trả lời câu hỏi kiểm tra của thầy - Làm bài tập - Thực hành - Liên hệ thực tế - Giảng lại từng phần theo yêu cầu của người thầy - Đóng vai (thể hiện lại nội dung bài học) - Bầu chọn nội dung quan trọng nhất với mình - Đặt câu hỏi làm rõ thêm nội dung - Giải câu đố (do thầy đưa ra, hoặc người học tự đố tự giải với nhau)… Dù chốt nội dung giờ giảng bằng cách nào thì đó cũng chính là phần kết thúc bài giảng, buổi giảng, nên giảng viên hãy cố gắng neo chốt thật hiệu quả và ấn tượng. Đừng chốt nội dung một cách qua loa, nhạt nhẽo. Người học sẽ ghi nhớ bài giảng tốt hơn khi được kết thúc bài học trong lắng đọng, sâu sắc và vui vẻ. Trên đây là 5 nguyên tắc cơ bản của giảng dạy theo hướng tích cực hoá người học- giảng dạy “lấy người học làm trung tâm”. Để người học thực sự là “trung tâm”, được học tập tích cực, khi triển khai bài giảng, giảng viên hãy thực hiện tốt những nguyên tắc này, và có thể quan tâm đến các nguyên tắc khác nữa, đảm bảo các tiêu chí, mục đích, yêu cầu giảng dạy của mình. 21
  20. CHUYÊN ĐỀ 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÍCH CỰC 2.1. Phương pháp Thuyết trình hiệu quả Phương pháp Thuyết trình xưa nay vẫn được coi là phương pháp giảng dạy “truyền thống”, và là một trong những phương pháp lâu đời nhất, quen thuộc nhất đối với mọi giảng viên, giáo viên. Phương pháp Thuyết trình vốn là một phương pháp được ví bằng hình ảnh “rót nước vào bình”, trong đó, người dạy là người rót, còn người học là những chiếc bình. Hình ảnh này cũng cho thấy giảng dạy ở đây là hoạt động một chiều và người học hoàn toàn thụ động trong quá trình đó. Tuy nhiên, Thuyết trình là một phương pháp mà cho phép người giảng dạy chúng ta có thể chuyển tải một lượng thông tin lớn trong một khoảng thời gian ngắn, cùng một lúc tới nhiều người. Mặt khác, Thuyết trình cũng là một phương pháp rất cần thiết để giới thiệu một chủ đề, hoạt động, hoặc nhiệm vụ mới; để giải thích và làm sáng tỏ các thuật ngữ, khái niệm, nguyên tắc, hoặc cơ chế; để cập nhật thêm các thông tin hoặc các kinh nghiệm thực tế không có trong tài liệu; để ôn lại bài cũ trước khi vào bài mối hoặc tóm tắt bài ở cuối buổi học. Với rất nhiều ưu điểm và thế mạnh đó, Thuyết trình là một phương pháp cơ bản, quan trọng để tryền tải kiến thức, cung cấp thông tin cho người học, là một phương pháp thường được đa số các giảng viên ưu tiên áp dụng trong giảng dạy. Với phương pháp Thuyết trình, nếu giảng viên biết cách sử dụng đúng và biết phối hợp với các phương pháp khác nhất là sử dụng thêm một số công cụ nghe nhìn hỗ trợ để minh hoạ, hoặc cải tiến để tăng cường sự tham gia của người học, thì vẫn đem lại hiệu quả. Những người giảng dạy cần phải làm cho phương pháp Thuyết trình trở nên tích cực, bằng cách kết hợp sử dụng Thuyết trình với các phương pháp khác như phương pháp Hỏi đáp, Đóng vai, Nêu ý kiến ghi lên bảng, Nghiên cứu tình huống, Làm việc nhóm, Trực quan… Khi Thuyết trình được kết hợp với các phương pháp khác để minh họa, chứng minh, trao đổi, thể hiện…tức là khi đó người học đựơc học tập một cách chủ động, tích cực, được là trung tâm trong hoạt động giảng dạy. Thuyết trình không còn là phương pháp truyền thụ một chiều, thụ động nữa. Nó trở thành một phương pháp giảng dạy tích 22
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2