
1
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN TƢ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ: KHUYNH HƢỚNG DÂN CHỦ TƢ SẢN
TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX
ĐẾN NĂM 1930
1. Lời giới thiệu
Việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, đa phƣơng hóa, đa
dạng hóa quan hệ hợp tác với nƣớc ngoài, tiến tới hội nhập nền kinh tế toàn cầu,
chúng ta cần có những con ngƣời đủ đức, đủ tài, năng động, sáng tạo để xây dựng
và phát triển đất nƣớc. Đó cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối
với nền giáo dục Việt Nam nói chung và trƣờng phổ thông nói riêng: Phải đào tạo
những con ngƣời mới có đủ đức, tài, nắm vững khoa học công nghệ, tiến kịp sự
phát triển nhƣ vũ bão của thế giới, có ý thức chủ động, tích cực bày tỏ quan điểm,
lập trƣờng trƣớc những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, hƣớng tới chân lí của
mọi vấn đề. Trong dạy học, tất cả các bộ môn cần rèn luyện cho học sinh biết tranh
luận, phản biện vấn đề, tạo thói quen tốt trong nhìn nhận,đánh giá các vấn đề trong
cuộc sống, góp phần thực hiện mục tiêu kết hợp dạy “ngƣời” với dạy “chữ”, lí
thuyết phải gắn với thực hành. Khả năng phản biện của học sinh trong quá trình
học tập sẽ giúp học sinh phát huy đƣợc tính chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn
luyện đƣợc khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm.
Lịch sử là môn học có nhiều ƣu thế giúp HS phát triển loại năng lực này.
Bởi, lịch sử là nhận thức của con ngƣời về cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ với
những nguồn sử liệu phong phú và nhận thức lịch sử đa chiều. Học tập lịch sử
không chỉ để hiểu quá khứ đã diễn ra nhƣ thế nào mà còn là cơ sở để nhận thức
thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm để giải quyết các tình huống trong cuộc sống,
dự đoán các vấn đề sẽ xảy ra trong tƣơng lai với mục tiêu phấn đấu xây dựng một
xã hội tƣơng lai tốt đẹp hơn.

2
Thực tế cho thấy, học sinh tích cực trong học lịch sử, đặc biệt là khả năng
phản biện vấn đề ở học sinh THPT ở nông thôn còn tồn tại dƣới dạng tiềm năng,
chƣa đƣợc khai thác. Nhiều học sinh muốn phản biện, hoặc đã từng phản biện
nhƣng chƣa đƣợc giáo viên tạo điều kiện, chƣa đƣợc các bạn trong lớp hƣởng ứng.
Có nhiều lí do khác nhau khiến cho khả năng này chƣa trở thành kỹ năng. Phát huy
đƣợc tính tích cực của học sinh, đặc biệt là khả năng phản biện vấn đề của học sinh,
chắc chắn chất lƣợng dạy và học sẽ đƣợc nâng lên một mức đáng kể. Trong môi
trƣờng giáo dục ở nông thôn hiện nay, các trƣờng THPT không ngừng đổi mới
phƣơng pháp để phát huy tính tích cực của học sinh, hình thành năng lực phản biện
cho học sinh, tạo kỹ năng tự chủ cho học sinh. Trên thực tế giảng dạy, học sinh
trƣờng THPT Phạm Công Bình còn yếu về kỹ năng phản biện, thiếu sự chủ động tƣ
duy trong giờ học. Học còn mang tính thụ động, một chiều.
Trong khi đó, xu hƣớng chung của những nền giáo dục tiến bộ trên thế giới
là xây dựng một nền giáo dục thực sự dân chủ. Phản biện của học sinh trong quá
trình dạy học là một biểu hiện tích cực của một giờ học dân chủ và một nền giáo
dục dân chủ. Phát huy khả năng phản biện của học sinh là một trong những cách
góp phần xây dựng những giờ học dân chủ và một nền giáo dục dân chủ, tiến bộ
Thực hiện chủ trƣơng của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đổi mới cách dạy
học và kiểm tra - đánh giá, thay vì giáo viên truyền đạt tri thức một cách thụ động
cho học sinh, mà cần phải hình thành các năng lực và phẩm chất cho ngƣời học.
Đồng thời, với mong muốn “hiện đại hóa” giờ học lịch sử, khiến cho giờ học hấp
dẫn hơn và tạo cơ hội cho học sinh có điều kiện thể hiện bản thân, rèn luyện kĩ
năng thuyết trình, tranh luận, và tự tin bảo vệ chính kiến của mình trên cơ sở những
tài liệu khoa học, tôi lựa chọn chủ đề: Một số phương pháp phát triển tư duy phản
biện của học sinh trong dạy học chủ đề: khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong
trào cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1930.
2. Tên sáng kiến
MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN TƢ DUY PHẢN BIỆN CỦA HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ: KHUYNH HƢỚNG DÂN CHỦ TƢ SẢN
TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN
NĂM 1930

3
3. Tác giả sáng kiến
- Họ và tên: PHẠM THỊ KIM DUNG
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trƣờng THPT Phạm Công Bình – Nguyệt Đức – Yên
Lạc – Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0973823132 Email: phamdunghdk1986@gmail.com
4. Chủ đầu tƣ tạo ra sáng kiến: Phạm Thị Kim Dung
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
- Kiến thức lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX thuộc các bài 22,23 của lịch sử
11 ban cơ bản; một phần kiến thức thuộc các bài 12,13 trong lịch sử 12 ban cơ bản.
Sáng kiến này đƣợc áp dụng cho học sinh lớp 12.
- Sáng kiến giải quyết đƣợc vấn đề còn yếu hiện nay của học sinh THPT ở
nông thôn, đặc biệt là ở trƣờng THPT Phạm Công Bình, đó là hình thành và phát
triển tƣ duy phản biện của học sinh trong công tác dạy và học. Từ đó, hình thành kỹ
năng mềm cho học sinh, tạo điều kiện cho các em chủ động trong việc rèn luyện
sau này khi đã ra trƣờng.
6. Ngày sáng kiến đƣợc áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
- Ngày áp dụng lần đầu: 6/11/2019, thực hiện tại lớp 12D1.
7. Mô tả bản chất sáng kiến

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay là đào tạo con ngƣời
Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp,
trung thành với lí tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dƣỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, căn cứ vào vị
trí, nội dung, chức năng, nhiệm vụ của bộ môn, chƣơng trình giáo dục phổ thông.
Đồng chí Đỗ Mƣời - nguyên Tổng bí thƣ BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam từng
nhấn mạnh: “Phải coi trọng giáo dục lịch sử dân tộc, phải coi lịch sử là tài nguyên
giáo khoa số một trong nhà trường. Nếu không làm tốt giáo dục lịch sử, thanh thiếu
niên sẽ chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi ích khác, có hại cho sự nghiệp
chung”.“Bởi vì, tri thức lịch sử là một yếu tố của nền văn hóa chung của loài
người và không thể coi việc giáo dục con người đã hoàn thành đầy đủ nếu không
trang bị cho học sinh những hiểu biết cần thiết về lịch sử…”.Nhƣ vậy, môn Lịch sử
ở trƣờng phổ thông có vị trí rất quan trọng, nó giúp cho học sinh có đƣợc những kiến
thức cơ bản cần thiết về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, góp phần hình thành ở học
sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hƣơng đất nƣớc, truyền thống dân
tộc, cách mạng, bồi dƣỡng các năng lực tƣ duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn
trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên, thực tiễn của việc dạy - học của môn Lịch sử ở trƣờng phổ thông
hiện nay chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu đặt ra, mặc dù đã đạt đƣợc nhiều tiến bộ, có
nhiều sự đổi mới. Do đặc trƣng của bộ môn, kiến thức lịch sử là những kiến thức của
quá khứ, học sinh khó học, khó nhớ, “khô khan”, học sinh thƣờng nảy sinh tâm lí
“chán”, “sợ” học môn lịch sử. Hàng năm, số thí sinh tham dự các kì thi môn Lịch
sử đạt điểm dƣới trung bình rất lớn. Hiện nay, số lƣợng HS đăng kí môn Sử làm
môn thi tự chọn trong kì thi THPT quốc gia đã tăng hơn trƣớc, nhƣng kết quả đạt
đƣợc chƣa cao. Theo thống kê điểm thi THPT QG năm 2019 thì điểm trung bình
môn Lịch sử rất thấp, chỉ cao hơn so với điểm trung bình của môn Tiếng anh. Điều
đó cho thấy, việc dạy – học lịch sử ở các trƣờng trung học THPT hiện nay cần phải

2
khắc phục, phát huy có hiệu quả hơn nữa các biện pháp đổi mới.
Theo tôi, có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, nhƣ do quan niệm
của xã hội, tƣ tƣởng học sinh coi Lịch sử là “môn phụ” và “thi gì thì học đấy”,…
Song chủ yếu vẫn là phƣơng pháp tổ chức dạy - học của thầy - trò. Nhiều ngƣời
cho rằng giáo viên chậm đổi mới, không tích cực hƣởng ứng và vận dụng các
phƣơng pháp đã cải tiến. Trong đó, giáo viên chƣa khơi dậy đƣợc tƣ duy phản biện
của HS trong dạy học. Đổi mới phƣơng pháp dạy học lịch sử phải mang tính toàn
diện, cốt lõi, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo trong tƣ duy và hoạt động của
học sinh, nhất là tƣ duy phản biện của HS. Tại trƣờng THPT Phạm Công Bình, sức “ỳ
tƣ duy” của học sinh là rất lớn, các em chƣa tƣơng tác tốt trong các giờ học.
Theo ma trận kiến thức môn Lịch sử trong đề thi tham khảo THPT quốc gia
2019:
Chủ đề
Mức độ nhận thức
Tổng
Nhận
biết
Thông
hiểu
Vận
dụng
Vận
dụng
cao
Cách mạng tháng Mƣời Nga năm
1917: Công cuộc xây dựng CNXH ở
Liên Xô (1921- 1941)
1
1
Sự hình thành trật tự thế giới mới sau
CTTGII (1945-1949)
1
1
Liên Xô và các nƣớc Đông Âu (1945-
1991). Liên bang Nga (1991-2000)
1
1
Các nƣớc Á, Phi, Mĩ latinh (1945-
2000)
1
2
1
4
Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản (1945-2000)
1
1
2
Quan hệ quốc tế (1945-2000)
2
1
3
Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918
2
1
1
4
Việt Nam từ 1919-1930
2
1
1
4
Việt Nam từ 1930- 1945
2
2
2
1
7
Việt Nam từ 1945- 1954
1
1
1
1
4
Việt Nam từ 1954-1975
2
3
1
2
8
Việt Nam từ 1975-2000
1
1
Tổng
12
13
7
8
40

