Sắn thuyền
Sắn thuyền còn có tên khác là sắn
xàm thuyền, là cây nhỡ, thân thẳng
đứng, có thể cao tới 15m. Cành mảnh
và dài. Lá mọc đối từng đôi, phiến lá
hình bầu dục. Hoa mọc thành chùm ở
nách lá. Quxếp từng chùm, khi chín
màu tím đỏ, có vị ngọt, chát chát.
Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta, lấy lá non và quả ăn, lấy vỏ để
xàm thuyền và phối hợp với củ nâu để nhuộm i. Bộ phận dùng làm thuốc là lá
và vỏ cây. Theo y học cổ truyền, sắn thuynvị đắng chát, tính mát; có tác dụng
thup, kháng khuẩn, tiêu viêm, làm lành vết thương.
Điều tr vết thương phn mm, chống nhiễm trùng: Sau khi rửa sạch vết thương lấy
lá sắn thuyền tươi, bỏ cọng, rửa sạch, giã nhỏ đắp lên vết thương, băng lại. Hai
ngày thay băng một lần. Hoặc lấy lá sắn thuyền, bỏ cọng, phơi khô, giã nhỏ, rây
mịn, khi dùng rắc lên vết thương, không phải băng. Về mùa hè dùng dạng bột tốt
hơn vì rắc được khắp kẽ vết thương; vết thương không băng kín nên thng, chóng
lành.
Chữa tiêu chảy: Lá sắn thuyn 50g, hoa chuối tiêu 1 cái, nam mộc hương 100g, sắn
dây 150g, hạt dành dành 100g. Mộc hương đem tán sống, sắn dây, sắn thuyn sao
giòn tán bột. Hoa chuối tiêu thái mỏng phơi khô, để mt đêm phơi sương, sao giòn,
tán bột. Lấy các thứ bột trộn li, rây mịn. Người ln cho dùng 100g/ngày chia làm
2 lần uống. Trẻ em tùy tuổi từ 50g/ngày chia 2 lần uống
Chữa bạch đới: Vỏ sắn thuyền 30g, búp ổi 30g, rễ cỏ tranh 30g. Sắc uống ngày 1
thang chia 3 ln, uống 5 - 7 ngày.
Bác sĩ Nguyễn Thị Nga
y sắn thuyn. Ảnh: TL