
Kinh nghiệm giảng dạy Ngữ văn Lý Thị Hòa
=1=
TĂNG CƯỜNG TÍNH THỜI SỰ, TÍNH GIÁO DỤC
QUA BÀI BẢN TIN - NGỮ VĂN 11
(Chương trình Chuẩn)
Người viết : LÝ THỊ HÒA
Chức vụ : Giáo viên – Tổ trưởng chuyên môn
Năm học : 2011 – 2012
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Bối cảnh của đề tài
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời còn hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để giáo dục thực hiện được chức năng, vai trò của
mình thì đòi hỏi công tác giáo dục trong các nhà trường nói chung và việc đổi
mới phương pháp giảng dạy của từng giáo viên nói riêng phải có những bước đi

Kinh nghiệm giảng dạy Ngữ văn Lý Thị Hòa
=2=
lên, những giải pháp thiết thực hiệu quả, hoàn thiện để đạt mục tiêu yêu cầu đề
ra.
Trong đó, bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông có vai trò, vị trí
rất quan trọng, nó là bộ môn giúp hình thành nhân cách, giáo dục lý tưởng sống,
nâng cao tư duy, lý luận, sáng tạo... cho mỗi học sinh. Đứng trước nhiệm vụ lớn
lao đó, đòi hỏi việc dạy và học Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông phải không
ngừng chuyển biến tích cực, hiệu quả hơn.
II/ Lý do chọn đề tài.
- Xuất phát từ mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam nói chung, của tỉnh
nhà và địa phương nói riêng, bản thân luôn ý thức trong vấn đề tìm tòi những
biện pháp tốt nhất để học sinh ngày càng yêu thích môn văn, hứng thú trong giờ
học văn. Ngoài cái hay, cái đẹp qua cảm nhận tác phẩm văn học, bản thân còn
nhận thấy mảng kiến thức về báo chí được giảng dạy trong chương trình Ngữ
văn 11 có vai trò giáo dục cao đối với học sinh. Đây là mảng kiến thức mới
được đưa vào chương trình phổ thông từ khi cải cách về sách giáo khoa năm
2008. Có lẽ vì vai trò, tầm quan trọng của báo chí đối với xã hội phát triển. Bản
thân rất tâm đắc và hứng thú khi dạy hai thể loại báo chí là bài “Bản tin” và bài
“Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”. Ngoài việc giúp các em nhận biết cơ bản về
Bản tin, giáo viên cố gắng đem những yếu tố thời sự vào bài giảng tạo sự sinh
động hấp dẫn nhằm tăng cường tính giáo dục qua bài học.
- Cũng từ mục tiêu học tập mà UNESCO đã đề ra: “Học để biết, học để
làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình”.
- Đồng thời mục tiêu dạy học không chỉ “dạy chữ” mà còn chú trọng cả
“dạy người”.
Từ những lí do trên, bản thân đã lựa chọn vấn đề “Tăng cường tính thời
sự, tính giáo dục qua bài Bản tin- Ngữ Văn 11” làm đề tài nghiên cứu.
III/ Phạm vi và đối tượng của đề tài
1- Phạm vi của đề tài:

Kinh nghiệm giảng dạy Ngữ văn Lý Thị Hòa
=3=
Với đề tài “Tăng cường tính thời sự, tính giáo dục qua bài Bản tin - Ngữ
Văn 11”, người viết nghiên cứu trong phạm vi bài dạy cụ thể. Đó là thông qua
các lớp mình phụ trách 11CB3, 11CB7
+ Tiết 56 – Bản tin – Ngữ Văn lớp 11 – chương trình chuẩn.
+ Tiết 59 – Luyện tập viết bản tin - Ngữ Văn lớp 11 – chương trình chuẩn
2 - Đối tượng nghiên cứu:
- Qua những tiết dự giờ của đồng nghiệp.
- Qua cách học của học sinh lớp 11.
- Kiểm nghiệm tính khả thi và kết quả của đề tài qua phiếu thăm dò và bài
kiểm tra của học sinh.
IV/ Mục đích của đề tài
- Nhằm đổi mới phương pháp dạy học.
- Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.
- Hình thành và rèn luyện một số kĩ năng sống cho học sinh.
- Đặc biệt tăng cường tính thời sự, tính giáo dục qua bài học.
Tất cả những điều trên, đều hướng tới các mục tiêu giáo dục mà toàn
ngành đã đề ra: “Lấy học sinh làm trung tâm”; “Xây dựng Trường học thân
thiện, học sinh tích cực”; “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học
để tự khẳng định mình” … Với đề tài này bản thân thực hiện một cách nghiêm
túc và khoa học từ việc dự giờ rút kinh nghiệm qua tiết dạy của đồng nghiệp,
đến khâu chuẩn bị của giáo viên, học sinh và cuối cùng là thực hiện tiến trình
giờ dạy, học.
V/ Điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu; Tính sáng tạo về
khoa học và thực tiễn của vấn đề.
- Giáo viên đã tích hợp được những bản tin có tính thời sự đang trong thời
điểm thực hiện bài giảng tuần học 14 (ngày 14/11). Không chỉ những bản tin
bằng văn bản như sách giáo khoa đã dẫn mà bài dạy được đưa vào bản tin có
hình ảnh và âm thanh, nhằm đạt được mục tiêu: từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng.
- Tính thực tiễn, tính giáo dục qua bài học được phát huy triệt để.

Kinh nghiệm giảng dạy Ngữ văn Lý Thị Hòa
=4=
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng là rất cần thiết đối với
bài dạy và đối với nhu cầu của thời đại.
- Để học và tập viết bản tin có kết quả, học sinh không được sống thờ ơ,
dửng dưng, mà phải thường xuyên, chăm chú theo dõi những sự kiện nổi bật, có
ý nghĩa quan trọng đang diễn ra hàng ngày trong cuộc sống. Điều này còn hỗ trợ
đắc lực về kiến thức khi học sinh thực hành viết bài văn nghị luận xã hội. Rèn
luyện thói quen cập nhật tin tức, thông tin là một trong những nhu cầu không thể
thiếu.
- Đề tài nghiên cứu không đơn thuần là lí thuyết suông mà mang tính thực
tiễn cao. Nó trực tiếp tham gia vào việc “nâng cao hiệu quả” dạy và học môn
Văn trong nhà trường phổ thông, đồng thời còn góp phần “nâng cao chất lượng”
của bộ môn.
B. PHẦN NỘI DUNG
I/ Cơ sở lí luận
1. Khái lược về phương pháp dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết TW2 khoá VIII (12/1998) và được thể chế hoá trong Luật Giáo dục.
Điều 28/2 Luật Giáo dục đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm
từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận

Kinh nghiệm giảng dạy Ngữ văn Lý Thị Hòa
=5=
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
học tập cho học sinh ”.
Phương pháp dạy học là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa
giáo viên và học sinh, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục
đích dạy học. (theo cuốn “Giáo dục kĩ năng sống qua bộ môn Ngữ Văn” – NXB
GD tr27)
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Khoa: Phương pháp dạy học là cách thức
làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự lãnh đạo của
thầy làm cho trò tự giác, tích cực tự học nhằm đạt tới mục đích dạy học.
Tóm lại, có thể nói, cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là
hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động, nghĩa là
phải phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập.
2. Về kĩ thuật dạy học tích cực
Phương pháp dạy học ở bình diện vi mô là kĩ thuật dạy học. Hay nói
cách khác kĩ thuật dạy học là những thành phần của phương pháp dạy học. Ví dụ
trong phương pháp thảo luận nhóm có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia
nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thật các mảnh ghép…
Vậy kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo
viên trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình
dạy học
Phương pháp dạy học rất đa dạng nhưng những kĩ thuật dạy học càng
phong phú, đa dạng hơn. Theo cuốn “Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ
văn” Trung học phổ thông đã đưa ra 19 kĩ thuật dạy học tích cực. Tuy nhiên
không phải bài nào, đối tượng nào, bộ môn nào chúng ta cũng vận dụng hết các
kĩ thuật dạy học này. Bản thân nhận thấy một số kĩ thuật cơ bản sau thường
được áp dụng vào trong giảng dạy bộ môn Ngữ văn: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật
giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật động não, kĩ thuật trình bày một
phút, kĩ thuật hỏi và trả lời…

